Hiển thị các bài đăng có nhãn tài sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tài sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

KÊ KHAI TÀI SẢN: CHỚ ĐỂ CHÁY NHÀ MỚI RA MẶT CHUỘT

“Thu nhập không trung thực” là một trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ” chỉ mặt, điểm tên. Đây cũng là vấn đề được Đảng ta rất quan tâm lãnh đạo chấn chỉnh, khắc phục; được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Căn bệnh đã di căn

Chắc hẳn nhiều người vẫn còn nhớ cựu Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai rơi vào vòng lao lý với nhiều sai phạm, trong đó có việc kê khai tài sản không trung thực. Trước khi bị xử lý, cán bộ này thuộc diện phải kê khai tài sản và đều đặn thực hiện qua mỗi năm. Ấy nhưng, khi cơ quan điều tra vào cuộc mới phát hiện hành vi tham nhũng, nhận hối lộ với số tiền lên tới hàng chục tỷ đồng; tài sản kê khai và tài sản thực chênh nhau một cách bất thường.

Những câu chuyện tương tự như trường hợp nêu trên không hề hiếm. Hàng loạt quan chức hầu tòa trong thời gian qua thì có ngần ấy cán bộ phạm phải việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; biển thủ, trục lợi khối tài sản khổng lồ của Nhà nước, của nhân dân thành của riêng. Nhiều người lý giải, sở dĩ những cán bộ này không trung thực bởi đây là phần việc “bất khả thi”, vì không thể lý giải nguồn gốc tài sản. Mặt khác, làm vậy thì chẳng khác gì câu chuyện “lạy ông tôi ở bụi này”.

Đáng nói là hiện nay, dù đã có khá đầy đủ, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề kê khai tài sản, thu nhập và công tác quản lý, kiểm soát sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ thuộc diện phải kê khai nhưng vấn nạn kê khai giả dối, thiếu trung thực vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Điều đó cho thấy, cốt tử của vấn đề nằm ở phẩm chất, đạo đức của cán bộ kê khai tài sản, thu nhập. Họ đã thực sự bị suy thoái, biến chất, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Năm 2022, các bộ, ngành, địa phương xác minh tài sản, thu nhập với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên cho thấy: Có 7.662 người được xác minh tài sản, thu nhập, 4.934 cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được kiểm tra việc thực hiện và có 74 người kê khai chưa đúng quy định, đã được chấn chỉnh, kiểm điểm, xử lý theo quy định. Như vậy, nếu cấp có thẩm quyền tiến hành xác minh kê khai tài sản, thu nhập thì tất yếu sẽ lòi ra những cá nhân kê khai không đúng, không trung thực. Trong khi phần việc này chỉ được tiến hành ngẫu nhiên trong số vài phần trăm cán bộ, càng cho thấy việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực đã và đang là vấn nạn đáng báo động.

Sự nguy hại từ kê khai tài sản, thu nhập không trung thực của cán bộ trước hết gây ra việc thất thoát khối lượng tài sản khổng lồ của Nhà nước, nhưng lớn hơn là gây mất niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ. Thế mới có chuyện, người dân kháo nhau về tài sản cán bộ giống như những tảng băng trôi. Tài sản được kê khai chỉ là phần nổi, còn phần chìm lớn hơn gấp nhiều lần. Thế mới có chuyện, dân không tin những cán bộ giàu lên một cách chính đáng, mà thường suy diễn, quy chụp cán bộ giàu là bởi tham nhũng mà có. Nhiều người dân cũng mặc định đã là cán bộ lãnh đạo cấp cao thì tất yếu phải giàu có hơn quần chúng. Và nếu thấy cán bộ gặp hoàn cảnh khó khăn thì quy chụp rằng cán bộ ấy đang cố tình mị dân, giả nghèo giả khổ, chứ chắc hẳn tài sản thực đã được chia năm xẻ bảy, lấp liếm, trá hình bằng nhiều hình hài khác nhau.

Cũng bởi tâm lý xã hội ấy mà không ít cán bộ giàu có thật sự lại sinh ra tâm lý e ngại khi kê khai tài sản. Họ thậm chí giấu giếm đi sự giàu có chính đáng để tránh “miệng lưỡi thế gian” không cần thiết. Đây cũng là một thực tế cần được nhận diện, phê bình, khắc phục. Bởi lẽ, cán bộ cũng là con người, là công dân của một đất nước. Ngoài thực hiện các nhiệm vụ theo chức trách, nhiệm vụ tổ chức giao, cán bộ còn tham gia các hoạt động xã hội khác, trong đó có hoạt động phát triển kinh tế. Việc cán bộ có tài-đức, làm kinh tế đúng pháp luật, gặt hái thành công, trở nên giàu có chính đáng là rất đỗi bình thường. Thực tế cho thấy, có không ít cán bộ, đảng viên năng động trong công tác và trong phát triển kinh tế tư nhân đã mang lại động lực tích cực cho đồng nghiệp, bà con xóm giềng và nhân dân ở địa phương nơi họ công tác, sinh sống. Cũng có không ít mô hình phát triển kinh tế, phong trào tăng gia sản xuất, kinh doanh hiệu quả ở các địa phương được hình thành, được thúc đẩy và truyền cảm hứng từ chính những người cán bộ, đảng viên có tư duy năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với cộng đồng.

Gắn chặt “kê” với “kiểm”

Phải nhận rõ một thực tế là chúng ta đang duy trì nền nếp việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, thế nhưng tổ chức và cơ quan chức năng chưa thật sự coi trọng việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ. Đến hẹn lại lên, cán bộ điền vào những mẫu phiếu có sẵn về nguồn thu và những phát sinh tài sản, nhưng chưa có cơ quan, tổ chức nào (cả trong nội bộ) thực hiện chức năng thẩm định, kiểm kê, kiểm soát một cách thường xuyên nhằm xác minh kịp thời tính trung thực của nó. Thành thử, tích tiểu thành đại, đến khi khối tài sản của cán bộ trở nên bất thường thì mới sinh ra hoài nghi, lật ngược vấn đề rồi đi đến xử lý kiểu “mất bò mới lo làm chuồng”. Trong nhiều tình huống khác, đến khi cán bộ rơi vào vòng lao lý, vi phạm pháp luật Nhà nước thì cháy nhà mới ra mặt chuột.

Dư luận cho rằng: Nếu việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát được thực hiện đồng thời với việc kê khai tài sản, thu nhập thì chắc chắn việc cán bộ kê khai gian dối, thiếu trung thực sẽ được khắc phục cơ bản; những tài sản bất minh, không rõ nguồn gốc cũng được phát hiện từ sớm, giúp kịp thời phê bình, uốn nắn cán bộ, ngăn chặn tiêu cực lớn. Ngược lại, nếu chỉ đơn thuần coi trọng việc kê khai mà chưa chú trọng đến công tác xác minh, kiểm kê, kiểm soát tài sản, thu nhập thì coi như chúng ta chỉ làm nửa vời, thiếu tròn khâu và đây là kẽ hở cho những gian dối, thiếu trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc cần làm hiện nay là nên triển khai một đợt xác minh, kiểm kê, kiểm soát rộng khắp ở mọi đối tượng cán bộ, trước hết là những người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt. Cần tiến hành đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị và xem đây là một việc hết sức bình thường của tổ chức, chứ không chờ đến khi có dấu hiệu vi phạm mới xúc tiến, triển khai. Nguyên tắc xác minh, kiểm kê, kiểm soát tài sản cần vận hành từ trên xuống dưới; cấp trên kiểm soát tài sản của cấp dưới; tổ chức kiểm tra, kiểm soát tài sản của cá nhân... Đây chính là một bước xốc lại chất lượng của việc kê khai tài sản, thu nhập nhằm biết được toàn cảnh thực trạng tài sản của cán bộ, tạo cơ sở vững chắc cho các bước triển khai tiếp theo.

Thực tế cho thấy, không ít bộ, ngành, địa phương đã xác minh tài sản, thu nhập với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên; có địa phương tiến hành việc bốc thăm để kiểm kê, kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập thì đã thu được kết quả thấy rõ. Những cán bộ không trung thực sớm bị phát hiện; có cá nhân bị mất chức, bị điều chuyển công tác, miễn nhiệm, xử lý kỷ luật. Đây là cách làm đúng đắn, hợp lòng dân, là cơ sở để cơ quan chức năng Trung ương nghiên cứu, nhân rộng, vận hành trong toàn hệ thống. Bởi thế, đông đảo người dân cho rằng, về lâu dài, việc xác minh, kiểm tra, kiểm soát tài sản tất yếu phải tiến tới thực hiện đồng bộ chứ không thể bốc thăm, hay lựa chọn ngẫu nhiên. Trước mắt, cần quan tâm thực hiện triệt để, đồng bộ ở đối tượng người đứng đầu và cán bộ phụ trách những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Từ đó sẽ tạo ra tác động rất lớn để cơ quan chức năng có những đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm, giúp đội ngũ công chức, viên chức không dám tiêu cực.

Sờ gáy “tài sản chìm”

Việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ cần quan tâm sâu sát, kỹ lưỡng cả "tài sản nổi" và "tài sản chìm" của từng cá nhân. Đây là phần việc cần thiết, bởi nhiều năm trước, chúng ta thường nhận diện, đánh giá cán bộ giàu có qua những căn biệt thự, xe sang, cuộc sống sung túc, đầy đủ... Thế nhưng, với mức sống hiện tại, những câu chuyện ấy không còn là tâm điểm dư luận. Một phần vì chất lượng đời sống xã hội đi lên, cả người dân, nhất là chủ doanh nghiệp cũng đã có cuộc sống dư dả, đầy đủ. Trong khi những cán bộ vốn "biến hình" thu vén cá nhân, có tài sản bất minh lại đủ hiểu "sức mạnh cuồng phong" của cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Trung ương lĩnh xướng. Bởi thế, họ tìm mọi cách điều chỉnh, thích nghi, tạo hình hài cuộc sống phù hợp. Họ không thể hiện sự giàu có, thậm chí còn giả nghèo giả khổ. Trong khi đó, khối tài sản của không ít cán bộ rất lớn, được phân tán, biến hình ở nhiều nơi-đó được xem là “tài sản chìm”.

Chính vì vậy, cơ quan chức năng cần có giải pháp, biện pháp phù hợp để kiểm soát, xác thực kê khai; chú trọng phối hợp, liên thông giữa các cơ quan trong khâu xác minh; tăng cường các biện pháp xử lý mạnh mẽ, đủ sức răn đe đối với các tài sản bất minh, không chứng minh được nguồn gốc. Đặc biệt, cần sớm thực hiện “số hóa kê khai tài sản”. Tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV, Quốc hội yêu cầu Chính phủ, Thanh tra Chính phủ tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Sau năm 2025, thực hiện chuyển đổi số 100% công tác kiểm soát tài sản, thu nhập bằng việc sử dụng công nghệ số, dữ liệu số. Đây được xem là bước tiến mới cả về lý luận và thực tiễn công tác kiểm soát tài sản, thu nhập, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bởi lẽ, khi số hóa các dữ liệu liên quan đến việc kê khai sẽ giúp lưu trữ tốt hơn và các cơ quan chức năng dễ dàng tìm kiếm, truy xuất các thông tin liên quan đến tài sản, thu nhập của cán bộ khi có yêu cầu.

Tuy nhiên, việc số hóa cũng chỉ là một giải pháp để kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, cần đồng thời thực hiện hiệu quả các giải pháp khác; quan trọng là hoàn thiện các chính sách, pháp luật trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội; chú trọng đẩy mạnh lộ trình vận hành, duy trì xã hội “không tiền mặt”; hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong các giao dịch toàn xã hội, nhất là những giao dịch có giá trị lớn như mua nhà, bất động sản, xe ô tô, chứng khoán và các hoạt động đầu tư, cổ phần, góp vốn... của cán bộ. Đa dạng các kênh chính thống tiếp nhận thông tin của quần chúng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, khu dân cư nơi cán bộ, đảng viên cư trú. Đặc biệt là phải có biện pháp quản lý sự minh bạch nguồn gốc tài sản trong sở hữu và giao dịch toàn xã hội chứ không chỉ dừng lại ở việc kiểm soát tài sản, thu nhập đối với từng cán bộ, đảng viên.

Việc kê khai tài sản hiện nay được tiến hành chủ yếu theo “mùa vụ”, đến dịp, đợt thì đồng loạt kê khai, nhưng giải pháp này xem ra chưa phát huy cao nhất trách nhiệm và tính tự giác của cán bộ. Bởi thế, cần có thêm những quy định cụ thể khác mang lại hiệu quả sát thực, ví như việc biến động tài sản, thu nhập theo định mức cụ thể bắt buộc cán bộ phải kê khai bổ sung, báo cáo kịp thời với tổ chức chứ không chờ đến cuối năm, hoặc khi có yêu cầu của cơ quan chức năng. Trong khi đó, nhiều ý kiến đề xuất việc công khai kết quả kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ ở nơi sinh sống và làm việc một cách phù hợp. Chỉ có như vậy thì đồng nghiệp, cấp dưới và quần chúng mới nắm bắt thực chất thu nhập, biến động tài sản của cán bộ để giám sát hiệu quả.

Theo: Nguyễn Tấn Tuân

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

XÁC MINH KÊ KHAI TÀI SẢN - CÓ GÌ MÀ PHẢI ỒN ÀO?

Những ngày qua, nhiều tờ báo đồng loạt đưa tin việc TP Hà Nội, TP Đà Nẵng và một vài địa phương tổ chức bốc thăm chọn ngẫu nhiên một tỷ lệ cán bộ nhất định để xác minh tài sản, thu nhập.

Đây là những cán bộ thuộc diện xác minh tài sản, thu nhập năm 2022. Vậy, có gì ồn ào khiến dư luận quan tâm đến việc làm bình thường đó?

Kê khai tài sản vốn là việc bình thường, một quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Theo đó, người có nghĩa vụ phải ghi rõ ràng, đầy đủ, chính xác các loại tài sản, thu nhập, biến động tài sản, thu nhập phải kê khai, nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm hằng năm của mình. Điều quan trọng nhất của người phải kê khai tài sản là tính trung thực và sự minh bạch.

Việc xác minh kê khai tài sản của người phải kê khai đáng ra cũng chẳng có gì phải ồn ào bởi đây là công việc thường xuyên theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30-10-2020 của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Theo đó, đây là việc kiểm tra, làm rõ nội dung kê khai và xem xét, đánh giá, kết luận của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập theo trình tự, thủ tục quy định luật pháp về tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng của bản kê khai. Trên thế giới, hầu hết quốc gia đều có quy định này, trong đó ở nhiều quốc gia, việc kê khai tài sản và xác minh kê khai tài sản đối với công chức, với người giữ những vị trí nhất định ở các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp rất được coi trọng. Thậm chí, nó còn được xem là một tiêu chí để đánh giá sự minh bạch, liêm chính của cán bộ thuộc cơ quan công quyền hoặc là tiêu chí để cất nhắc, bổ nhiệm vào các vị trí.

Dù vậy, những năm qua, kê khai tài sản và xác minh kê khai tài sản vẫn bị xem là mắt xích yếu trong công tác quản lý cán bộ của chúng ta. Bởi thế, mỗi lần đề cập đến việc này lại gây ồn ào dư luận.

Nó vốn ồn ào bởi lâu nay, nhiều người không tin hoặc chưa tin một số bản kê khai tài sản của cán bộ thuộc diện phải kê khai. Có những cán bộ tài sản tăng nhanh bất thường nhưng lại chưa được thể hiện đầy đủ, minh bạch số tài sản tăng thêm đó trong bản kê khai của họ. Việc giải trình tài sản tăng thêm thì theo kiểu "đánh bùn sang ao". Khi có vụ việc liên quan đến vi phạm pháp luật phải xử lý, phải truy thu, phải đền bù do cán bộ vi phạm đó gây ra, cơ quan thực thi đã không thể thực hiện bởi nhiều tài sản có giá trị lớn được cho là của người đó đã bị tẩu tán, đứng tên người khác. Phải nói rằng, nhiều người "rất có nghề" trong việc che giấu tài sản, nhất là những tài sản được xem là bất minh, bất thường.

Ngay sau khi một số địa phương có chủ trương tổ chức bốc thăm ngẫu nhiên để xác minh kê khai tài sản của cán bộ, dư luận đã quan tâm, chú ý. Nếu việc này làm tốt, sẽ giúp cho mỗi cán bộ thuộc diện phải kê khai tài sản có nhận thức đúng để có một bản kê khai trung thực. Bất kỳ ai cũng có thể bị cơ quan chức năng tổ chức xác minh tài sản của họ nếu “lá thăm may rủi" rơi vào. Làm được thế, những bản kê khai tài sản vốn để cho có, kê khai hình thức, thiếu trung thực sẽ giảm dần. Nó cũng giúp cho một việc làm từng bị xem là hình thức, ngụy biện, tốn giấy mực trở nên thiết thực, vô cùng cần thiết và có giá trị. Nếu tài sản của người phải kê khai là chính đáng, nguồn gốc rõ ràng, minh bạch, đúng pháp luật thì không có gì phải băn khoăn, thậm chí nó càng làm tăng uy tín của cán bộ. Điều này cũng khiến cho bất cứ ai cố tình che giấu tài sản, nhất là những tài sản bị xem là bất thường sẽ không thực hiện được ý đồ của mình. Việc xác minh tốt sẽ giúp cho công tác ngăn ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Dư luận rất đồng tình với một cách làm thể hiện sự minh bạch, công bằng, đồng thời thể hiện tính hiệu quả trong công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức.

NGUYỄN HÀ MY

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

NHẬN DIỆN CHẾ ĐỊNH THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG

Thiệt hại do tham nhũng gây ra đối với ngân sách Nhà nước là rất lớn, nghiêm trọng nhưng giá trị tài sản tham nhũng thu hồi lại rất thấp, điều này khiến dư luận thời gian qua không khỏi bức xúc. Đây cũng là một trong những thách thức, rào cản mà Việt Nam đang phải đối mặt khi giải quyết vấn nạn tham nhũng.

Trong thời gian qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng đã không ngừng được hoàn thiện… Nhiều đạo luật quan trọng đã được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phòng, chống tham nhũng…, tạo cơ sở pháp lý cho việc điều tra, truy tố, xét xử, xử lý thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo đã được thể hiện qua nhiều Văn kiện của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) nêu rõ: “Chú trọng thu hồi tài sản tham nhũng; áp dụng chính sách khoan hồng đối với những người phạm tội nhưng có thái độ thành khẩn, đã bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ quan chức năng; nghiên cứu sửa đổi pháp luật hình sự theo hướng khoan hồng hơn đối với những người đưa hoặc người nhận hối lộ nhưng đã tự giác khai báo và nộp lại tài sản trước khi bị phát hiện; chú trọng tới các chế tài phạt tiền nhằm tăng khả năng thu hồi tài sản tham nhũng”.

Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 07/12/2015 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng”, Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Trong xử lý tham nhũng phải xác minh rõ, chính xác tài sản của người có hành vi tham nhũng; áp dụng kịp thời các biện pháp thu hồi tối đa tài sản do tham nhũng mà có trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Xử lý nghiêm minh những cán bộ không tích cực thu hồi hoặc cản trở hoạt động thu hồi tài sản tham nhũng”. Đặc biệt, ngày 02/6/2021, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế”, yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện nghiêm túc 07 nhiệm vụ, giải pháp, nhiệm vụ nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác này.

Bên cạnh đó, Luật phòng chống tham nhũng (PCTN) và Nghị định 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 có nhiều điểm mới, trong đó trọng tâm là quy định mới về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Luật quy định: “Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật” (Khoản 3, Điều 4) và “Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng; tài sản tham nhũng phải được trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước; người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát hiện hành vi đưa hối lộ thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ” (Điều 70). Đối với vấn đề thu hồi tài sản có yếu tố nước ngoài, Điều 71 Luật PCTN quy định: “Trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp”.

Thể chế hóa quan điểm của Đảng được nêu tại Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), “chú trọng tới các chế tài phạt tiền nhằm tăng khả năng thu hồi tài sản tham nhũng”, Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu: “Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tàisản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”.

Những văn bản chỉ đạo trên thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo, hoàn thiện thể chế pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ta những năm qua. Điều này cũng được hiện thực hóa, hành động hóa qua kết quả thực tế trong các báo cáo của Ban Nội chính Trung ương, cơ quan thi hành án dân sự các cấp.

Nếu trước năm 2013, tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng trung bình chỉ đạt khoảng 10% trên tổng số phải thu hồi, thì đến giai đoạn 2013-2020 kết quả bình quân đã đạt hơn 26%. Đặc biệt là năm 2019 và năm 2020, khi có sự chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, Ban Chỉ đạo đã thành lập 05 Đoàn kiểm tra tại nhiều địa phương, bộ, ngành để kiểm tra, đánh giá đầy đủ, toàn diện kết quả thu hồi tài sản, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế, khó khăn và chỉ đạo khắc phục, kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng do Ban Chỉ đạo Trung ương theo dõi, chỉ đạo năm 2020 thu hồi bằng 61% tổng số đã thu hồi được trước đây. Tính cả giai đoạn 10 năm (2012-2022) đã thu hồi 61.000 tỷ đồng, đạt 34,7%, trong đó riêng trong các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi có gần 50.000 tỷ đồng được thu hồi, cũng chỉ đạt 41,3%.

Một số vụ việc điển hình đã thu hồi được số tiền lớn trong thời gian qua như: Vụ Hứa Thị Phấn, cho đến nay đã thu hồi được hơn 12.000 tỷ đồng; vụ Phạm Công Danh, đã thu hồi được trên 5.405 tỷ đồng. Đáng chú ý, năm 2021, VKSND tối cao đã tham dự phiên điều trần trực tuyến của Tòa án Singapore thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về thu hồi tài sản trong vụ án Phan Sào Nam, kết quả, đã thu hồi được hơn 2,6 triệu USD (gần 2.000 tỷ đồng). Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam thu tiền thi hành án từ nước ngoài. Đặc biệt, trong vụ án AVG, cơ quan chức năng đã thu hồi được 100% số tiền thất thoát (hơn 8.000 tỷ đồng).

Cùng với việc chứng minh tội phạm, các cơ quan tiến hành tố tụng đã tích cực chủ động áp dụng các biện pháp truy tìm, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, hạn chế để các đối tượng có liên quan tẩu tán, che giấu, hợp pháp hóa tài sản tham nhũng; khuyến khích người phạm tội giao nộp tài sản để được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật.

Mới đây nhất, liên quan đến Vụ Việt Á, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã kịp thời phong tỏa, ngăn chặn, kê biên nhiều tài khoản, sổ tiết kiệm của Phan Quốc Việt và các đối tượng thuộc Công ty Việt Á trị giá hơn 320 tỷ đồng, 100.000 USD, 20 bất động sản trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội và các địa phương khác; 8 bất động sản của Phạm Duy Tuyến…

Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra mới đây ngày 30/6/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Chưa bao giờ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lại được thực hiện một cách mạnh mẽ, đồng bộ, quyết liệt, bài bản và hiệu quả như thời gian gần đây. Trong đó,công tác thu hồi tài sản tham nhũng cũng có nhiều chuyển biến tích cực; việc kê biên, thu giữ tài sản trong nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng đạt khá cao; tỉ lệ thu hồi tài sản tham nhũng trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế tăng lên rõ rệt. Qua đó, để lại dấu ấn nổi bật, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Từ thực tiễn công tác thu hồi tài sản tham nhũng thời gian qua, có thể thấy sự quan tâm, quyết tâm rất cao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN mà trực tiếp, thường xuyên là đồng chí Tổng Bí thư – Trưởng Ban Chỉ đạo đối với công tác này; sự nhất quán, quyết liệt trong nhận thức và hành động từ Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương, Chính phủ, các bộ, ngành đến các địa phương, nhất là sự nỗ lực rất cao của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng và các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương… đã tạo ra bước chuyển lớn trong nhận thức về tầm quan trọng của nhiệm vụ thu hồi tài sản ngày càng rõ. Từ chuyển biến về nhận thức đã tạo ra những cú huých quan trọng trong hành động, đến kết quả như ngày hôm nay.

Những biện pháp quyết liệt được Đảng, Nhà nước thực hiện thời gian qua mặc dù đã tạo nên những chuyển biến rõ rệt, đáng ghi nhận trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng song cũng cần phải thẳng thắn thừa nhận việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn còn hạn chế; công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế vẫn còn thấp, chưa mang tính bền vững, chưa đạt yêu cầu đề ra.

Chuyến tàu “vét” Mobifone mua 95% cổ phần AVG trước khi cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son về hưu ít ngày đã khiến hai cựu Bộ trưởng Bộ này là Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn lĩnh án tù và thu hồi được 100% số tiền tham nhũng, chỉ là một đốm sáng nhỏ trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng.

Tính cả giai đoạn 10 năm (2012-2022) mới chỉ thu hồi 61.000 tỷ đồng, đạt 34,7%, như vậy còn khoảng hơn 120 nghìn tỷ đồng chưa được thu hồi; trong đó riêng trong các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi còn gần 70.000 tỷ đồng cần được thu hồi. Đây cũng là một trong những thách thức, rào cản mà Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đang phải đối mặt khi giải quyết vấn nạn tham nhũng.

NGHIÊN CỨU BỔ SUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN CỦA NGƯỜI THÂN KHI CÓ CƠ SỞ NGHI NGỜ

Theo Ủy viên Thường trực Uỷ ban Pháp luật Đỗ Đức Hiển, một bất cập lớn trong hoạt động thanh tra thời gian qua, đó là việc thu hồi tiền, tài sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, sử dụng sai mục đích được phát hiện trong quá trình thanh tra và khắc phục kiến nghị xử lý sau thanh tra đạt tỷ lệ thấp. Tuy nhiên, qua rà soát các quy định của dự thảo Luật thanh tra (sửa đổi) đang được đưa ra lấy ý kiến tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XV cho thấy, dường như giải pháp cho bất cập nêu trên chưa được chú trọng.

Mặc dù dự thảo Luật có quy định về việc tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép (Điều 78) nhưng biện pháp này không được áp dụng trong trường hợp đối tượng thanh tra có hành vi tẩu tán tài sản. Bên cạnh đó, mặc dù khoản 3 Điều 66 dự thảo Luật có quy định việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra, song lại chưa có quy định về việc chuyển tiếp biện pháp ngăn chặn cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan.

Theo quy định của dự thảo Luật thì việc áp dụng biện pháp phong toả tài khoản, tạm giữ tiền, đồ vật sử dụng trái phép chỉ được thực hiện đối với tiền, tài sản trong phạm vi thanh tra. Trường hợp phát hiện tiền, tài sản có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật và phát hiện có dấu hiệu của việc chuyển dịch tài sản nhưng không thuộc phạm vi thanh tra thì người có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra cũng không được áp dụng các biện pháp nêu trên.

Để tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của công tác thu hồi tiền, tài sản nói chung, qua hoạt động thanh tra nói riêng, Ủy viên Thường trực Uỷ ban Pháp luật Đỗ Đức Hiển đề xuất bổ sung một số biện pháp ngăn chặn mà cơ quan thanh tra có thể áp dụng nhằm phòng ngừa nguy cơ tẩu tán tiền, tài sản. Theo đó, cùng với việc nghiên cứu giao trưởng đoàn thanh tra có thẩm quyền quyết định phong toả tài khoản của đối tượng thanh tra, thì cũng cần nghiên cứu giao trưởng đoàn thanh tra có thể áp dụng cả biện pháp tạm giữ tiền, đồ vật, giấy tờ nếu có căn cứ cho rằng đối tượng thanh tra sẽ tẩu tán các tài sản này. Bên cạnh đó, đối với tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản, cần nghiên cứu bổ sung biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản của đối tượng thanh tra nhằm ngăn chặn hoặc tạm dừng các hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản của đối tượng thanh tra.

Đối với trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm, thì cùng với việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để xử lý theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự, cần bổ sung quy định về cơ chế phối hợp, chuyển tiếp đối với các biện pháp ngăn chặn mà trưởng đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra đã thực hiện. Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung quy định cho phép đoàn thanh tra hoặc thanh viên viên thực hiện việc xác minh, kê biên đối với tài sản của đối tượng thanh tra cần thu hồi.

“Các quy định này nếu được bổ sung cũng sẽ góp phần tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của đoàn thanh tra, thanh tra viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ”, ông Hiển nói.

Song ông Hiển cũng lưu ý, đi cùng với việc mở rộng thẩm quyền cũng cần quy định trình tự thủ tục thực hiện chặt chẽ và có cơ chế tăng cường giám sát của các cơ quan có liên quan.

Về lâu dài, theo ông Hiển phải nghiên cứu bổ sung các quy định trong pháp luật phòng chống tham nhũng về trách nhiệm giải trình đối với tài sản của người thân trong gia đình hoặc người có liên quan khi có cơ sở nghi ngờ những người này giúp đối tượng thanh tra tẩu tán, che giấu tài sản có được từ hành vi vi phạm pháp luật.

“Với tài sản tăng thêm mà họ không giải trình được hợp lý thì cơ quan chức năng được quyền khởi kiện vụ án dân sự tại toà án có thẩm quyền để có phán quyết về nguồn gốc của phần tài sản, thu nhập đó theo trình tự khởi kiện vụ án dân sự”, ông Hiển đề xuất.

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu: Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế – xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng, tiêu cực”.

Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Đặc biệt, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thật sự có bản lĩnh, thật sự liêm chính, trong sạch. Phải phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trước hết và ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

“Nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây mới là cái gốc, cái nguy hiểm nhất, dẫn đến tham nhũng, hư hỏng; không chỉ làm mất tiền, mất của, mà còn mất người, thậm chí mất cả chế độ”, Tổng Bí thư lưu ý.

Lời phát biểu của Tổng Bí thư cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo, hoàn thiện thể chế pháp luật trong cuộc đấu tranh PCTN nói chung và công tác thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ta nói riêng; tạo sức lan toả mạnh mẽ trong toàn xã hội, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn, tạo bước chuyển lớn trong cuộc chiến chống tham nhũng.

Có thể thấy, thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng, tiêu cực. Vì vậy, phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; và một cơ chế bảo đảm để “không cần tham nhũng”.

Cần phải khẳng định, đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề rất phức tạp, gay go. Phòng, chống tham nhũng là “chống giặc nội xâm”, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ đấu tranh với những người khác mà ngay cả với chính bản thân mình. Vì vậy, bên cạnh các giải pháp bổ sung, hoàn thiện về thể chế, thì giải pháp quan trọng hơn cả vẫn là yếu tố con người. Bởi các quy định pháp luật dù hoàn hảo đến đâu nhưng người có chức vụ, quyền hạn hay thực thi pháp luật tâm không sáng, lòng không trong, thì vẫn cố tìm mọi cách lợi dụng kẽ hở pháp luật để trục lợi, tham nhũng tiêu cực.

Hơn hết, cần chú trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đối với công tác thu hồi tài sản tham nhũng, chống mọi biểu hiện tiêu cực, tham nhũng. Xử lý nghiêm “không có vùng cấm” đối với các đối tượng tham nhũng nói chung và các sai phạm, tiêu cực trong quá trình thu hồi tài sản tham nhũng nói riêng; đưa nội dung thu hồi tài sản tham nhũng vào chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị mình…

Nếu không thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp này, kẻ tham nhũng không bao giờ từ bỏ ý định lợi dụng kẽ hở pháp luật để vơ vét, che giấu tài sản, thậm chí là “hy sinh đời bố củng cố đời con“…!

Vy Anh

KÊ BIÊN, PHONG TỎA TÀI SẢN KỊP THỜI, KHÔNG ĐỂ LỢI DỤNG TẨU TÁN TÀI SẢN

Đề cập đến khó khăn trong công tác thi hành án tham nhũng, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Mai Lương Khôi chia sẻ: Nhiều vụ việc người phải thi hành án không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị thấp, không đủ để thi hành nghĩa vụ. Một số tài sản kê biên đảm bảo thi hành án có tình trạng pháp lý chưa rõ ràng, phức tạp, gây khó khăn trong việc xác minh và xử lý.

Theo Thứ trưởng Mai Lương Khôi, công tác thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng là công tác có tính chất liên ngành, trong đó khâu thi hành án dân sự (xử lý tài sản) là khâu cuối cùng, nên hiệu quả của công tác này phụ thuộc nhiều vào công tác truy tìm, phong tỏa, kê biên tài sản trong giai đoạn điều tra, thậm chí là từ khâu thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.

“Thiếu một khâu nào đều ảnh hưởng đến kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng. Tài sản bị tội phạm chiếm đoạt trong các vụ án tham nhũng là đặc biệt lớn, đối tượng phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn, người có chuyên môn, nghiệp vụ nên thường sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau để che giấu, tẩu tán tài sản, hợp thức hóa tài sản phi pháp nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án”, Thứ trưởng nói.

“Có kê biên, phong tỏa kịp thời, đúng pháp luật thì đương sự mới không lợi dụng để tẩu tán tài sản và việc xử lý tài sản của các cơ quan THADS sẽ đạt kết quả cao hơn”, Thứ trưởng nói.

Bên cạnh đó, Thứ trưởng Bộ Tư pháp cũng chỉ ra hiện vẫn còn những quy định chưa theo kịp yêu cầu của công tác phòng chống tham nhũng như: chưa có quy định riêng về trình tự, thủ tục trong hoạt động thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng; Cơ chế kiểm soát quyền lực, công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn chưa được quan tâm đúng mức; luật pháp, cơ chế, chính sách còn nhiều kẽ hở, dễ để bị lợi dụng tham nhũng

Khoản 3 Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định “chỉ kê biên bán tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại” cũng làm khó cơ quan tố tụng vì nội hàm rất trừu tượng, bởi khi khởi tố bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thể xác định được ngay thiệt hại mà tội phạm gây ra làm căn cứ quyết định phần tài sản phải kê biên, do đó, cơ quan tố tụng có thể chưa áp dụng biện pháp kê biên, phong tỏa dẫn đến đương sự có thể tẩu tán tài sản trước khi bị phát hiện.

“Thực tiễn cho thấy, nơi nào, vụ việc nào được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, kịp thời thì nơi đó, vụ việc đó tỷ lệ thu hồi cao. Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật còn bất cập, mâu thuẫn hoặc chưa rõ cơ chế xử lý đã dẫn đến khó khăn, kéo dài trong việc thực hiện”, Thứ trưởng nói.

KHÓ THU TÀI SẢN BẤT MINH “ẨN NẤP” NGOÀI XÃ HỘI

Trên diễn đàn Quốc hội, ông Lê Minh Trí – Viện trưởng Viện KSND tối cao thừa nhận, so với yêu cầu thì “rõ ràng số mất với số lấy lại vẫn chưa tương xứng”.

Viện trưởng Viện KSND tối cao cũng cho hay: “Chúng ta chỉ mới có kiểm soát tài sản trong hệ thống chính trị, nhưng tài sản đối tượng ngoài xã hội đang đứng tên, chiếm, sở hữu mà có thể hợp pháp hay không hợp pháp, có chứng minh được nguồn gốc hợp pháp hay không thì vẫn bỏ một khoảng trống rất lớn”.

Vì vậy, nếu chưa có Luật Đăng ký tài sản thì tài sản tham nhũng mà các đối tượng có thủ đoạn che giấu, ẩn nấp ở ngoài xã hội, nhờ người khác đứng tên như xe ô tô, nhà đất thì khó “đụng” vào được.

“Quyết tâm nhưng thu, kê biên không đúng luật thì người ta kiện. Đúng hay không thì phải xác minh, mà trong quá trình xác minh thì họ tẩu tán mất rồi. Cho nên việc này phải giải quyết bằng nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó có biện pháp căn cơ là pháp luật, để chúng ta có thể thu hồi tốt hơn” – Viện trưởng Lê Minh Trí nhấn mạnh.

Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Viện trưởng VKSNDTC Lê Minh Trí nêu rõ: Đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề phức tạp, nhạy cảm nên cần đồng bộ về quan điểm, chủ trương, nhận thức, cách làm và thậm chí cần đổi mới, bổ sung quan điểm, cách làm mới để đạt được hiệu quả tốt hơn. Trên tinh thần đó, Viện trưởng Lê Minh Trí kiến nghị Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương cho chủ trương giao Ban Nội chính Trung ương hoặc VKSNDTC nghiên cứu đề xuất cách làm theo hướng tăng phòng ngừa, giảm xử lý hình sự mà thay thế bằng khởi kiện dân sự và tạo điều kiện cho chủ thể sai phạm khắc phục hậu quả.

“Làm như vậy chúng ta sẽ thu hồi tài sản Nhà nước bị tham nhũng, thất thoát và việc khắc phục hậu quả sẽ tốt hơn nhiều do chủ thể vi phạm sẽ chủ động khắc phục để họ không bị xử lý hình sự nữa và chúng ta cũng không phải xử lý hình sự nhiều. Cách làm này vừa hiệu quả trong phòng chống tham nhũng, tiêu cực, vừa nhân văn và thuyết phục”, Viện trưởng bày tỏ.

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

BÀI HỌC TỪ LỜI NGƯỜI NĂM ẤY

Lịch sử còn ghi câu chuyện về Thiếu tướng, Giáo sư Trần Đại Nghĩa, người thanh niên yêu nước đã đi du học ở Pháp và trở thành kỹ sư của một hãng chế tạo máy bay, kiếm rất nhiều tiền nhưng vẫn ấp ủ ước mơ chế tạo vũ khí để đánh Pháp. Năm 1946, khi Bác Hồ sang Pháp, trong cuộc gặp gỡ kiều bào Việt ở Pháp, Bác Hồ đã lắng nghe nguyện vọng của ông. Bác nói: “Chú về nước chế tạo vũ khí, cách mạng sẽ rất cần. Nhưng trong nước khổ lắm. Chú có chịu nổi không?”. Ông đã nhận vượt qua mọi gian khổ, đã từ bỏ mức lương tương đương 20 lạng vàng một tháng để về Việt Nam theo cách mạng với hành trang là 1 tấn sách. Sau này, những đóng góp của ông cho ngành quân giới và công nghiệp quốc phòng Việt Nam vô cùng to lớn, góp phần làm nên chiến thắng. Thế nhưng, ông sống vô cùng giản dị, chấp nhận mọi kham khổ, chẳng có một đặc quyền đặc lợi nào. Ngày 30-4-1975, khi Tổ quốc hoàn toàn thống nhất, ông ghi vào cuốn sổ tay của mình: “Đã hoàn thành nhiệm vụ”. Hoàn thành nhiệm vụ với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, với ông đó là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời, như sau này ông đã trả lời một nhà báo: "Bạn bè của tôi ở lại bên Pháp, họ đều sung sướng, đầy đủ hơn tôi rất nhiều. Nhưng về khía cạnh phụng sự Tổ quốc, họ chẳng có gì cả".

Ngày này 62 năm trước, ngày 9-12-1959, Bác Hồ viết bài “Tiêu chuẩn của người đảng viên” đăng trên Báo Nhân Dân. Bài viết rất ngắn gọn, với 6 “gạch đầu dòng” nói lên 6 tiêu chuẩn của người đảng viên. Trong đó, tiêu chuẩn thứ ba là “đặt lợi ích của Ðảng lên trên hết, trước hết. Biết đem lợi ích riêng của cá nhân phục tùng lợi ích chung của cách mạng”. Như Giáo sư Trần Đại Nghĩa, khi người đảng viên thực hiện đúng những điều ấy thì họ sẽ tìm thấy hạnh phúc chân chính của mình.

Lịch sử còn ghi những dòng cảm động về Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội ta những ngày đầu thành lập. Nhận thấy một trong những việc đầu tiên là đội cần có tiền để chi tiêu, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho đồng chí Vũ Anh là cán bộ tài chính của Đảng, xuất 500 đồng làm quỹ chi tiêu cho đội. Thời điểm ấy, Đảng ta chưa ra hoạt động công khai, 500 đồng là số tiền không nhỏ, có thể mua được hơn 7 tấn thóc. Đồng chí Lộc Văn Lùng, người Tày, quê Lạng Sơn, tính tình thật thà, chất phác, lại biết căn cơ, được giao quản lý số tiền 500 đồng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này đã nhận xét về người quản lý đầu tiên như sau: “Coi trọng từng đồng xu, từng hạt gạo của công quỹ, chỉ có một nguyện vọng là được trao lại nhiệm vụ quản lý cho một đồng chí khác để trực tiếp cầm súng chiến đấu”.

Khoản chi đầu tiên của Quân đội ta là để mua một cái chảo, đủ nấu cơm cho 34 người. Để tiết kiệm, đồng chí Lùng quyết định không mua chảo mới mà vào bản người Tày mua một cái chảo cũ, người dân dùng để nấu thắng cố, nhưng vẫn còn tốt. Khoản chi thứ hai của Quân đội ta là mua thuốc ký ninh, do lúc bấy giờ, sốt rét đang hoành hành rất dữ dội... Một chi tiết xúc động nữa là đồng chí Dương Mạc Thạch, chính trị viên đầu tiên của đội đã phát huy vai trò đầu tàu gương mẫu khi biết đội gặp rất nhiều khó khăn về tài chính (chỉ được cấp 500 đồng bạc Đông Dương), đồng chí đã đứng ra vận động một số người quyên góp ủng hộ và bàn bạc, vận động gia đình mình ủng hộ đội số tiền rất lớn, lên tới 500 đồng mà không tính toán thiệt hơn.

 Hạnh phúc của những người thuộc hàng khai quốc công thần của đất nước, của Quân đội ta ngày ấy là như thế. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta vẫn luôn nhắc nhở, căn dặn quân đội, lo lắng cái xấu, cái tiêu cực có thể xâm nhập vào mỗi đơn vị. Người hiểu, tiền bạc, châu báu không làm nên giá trị và hạnh phúc cho con người, thậm chí nó còn giết hại chính con người bởi lòng tham vô đáy. Chúng ta đã nhiều lần nhắc đến nỗi trăn trở của Bác Hồ trong đêm trắng trước vụ án Trần Dụ Châu, kẻ đã trả giá khi vơ đầy túi tham trên sự thiếu thốn cùng cực của đồng bào, chiến sĩ.

Cuốn sách “Học tập tấm gương đạo đức Bác Hồ” do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành năm 2006 còn ghi lại một câu chuyện đáng nhớ khác:

Có một lần Bác đến thăm và nói chuyện tại buổi lễ tổng kết lớp học chính trị của bộ đội. Bác lấy ra một cuốn sổ nhỏ, rồi thong thả đọc rõ những số liệu mà Bác đã tìm hiểu được của nhà trường. Sau khi đọc xong, Bác nhắc nhở rằng ở đây chỉ có chừng này cán bộ mà đã lãng phí, tham ô như vậy. Thử hỏi nếu cán bộ trong toàn quân mà cũng phạm khuyết điểm như các chú thì thiệt hại cho Nhà nước, cho nhân dân biết bao nhiêu? Sau đó, Bác hỏi bao nhiêu chú đã có vợ con. Khoảng một phần ba giơ tay. Bác chỉ một đồng chí cả hai lần đều giơ tay và nói:

- Bác hỏi thật chú, chú có bao giờ ăn bớt phần cơm của vợ con chú không?

Đồng chí cán bộ nọ đứng lên thưa không làm điều đó. Chờ cho không khí hội trường lắng xuống, Bác mới nhắc nhở điều thật thấm thía khi vì sao có một số cán bộ thấy tài sản của nhân dân, tiêu chuẩn của chiến sĩ vẫn tìm cách đút túi.

Những lời căn dặn của Người vẫn còn nguyên giá trị ngày hôm nay, nhất là trong bối cảnh tác động của mặt trái thị trường, thời gian qua đã có một số cán bộ trong LLVT sa ngã, bị xử lý theo kỷ luật của Đảng và pháp luật Nhà nước.

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

ĐẢNG VIÊN KHÔNG ĐƯỢC NHẬN HỐI LỘ, ĐƯA HỐI LỘ, MÔI GIỚI HỐI LỘ DƯỚI MỌI HÌNH THỨC

Đối với quy định đảng viên không được tham ô, đưa, nhận, môi giới hối lộ hoặc lợi dụng vị trí công tác để môi giới, hối lộ dưới mọi hình thức; tổ chức, tham gia hoặc tạo điều kiện thực hiện hoạt động rửa tiền, đi vay, cho vay trái quy định của pháp luật, Hướng dẫn 02 nêu rõ: Đảng viên không được chiếm đoạt tài sản của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức kinh tế mà mình được giao phụ trách, quản lý;

Không được nhận hối lộ, đưa hối lộ, môi giới hối lộ dưới mọi hình thức; tiếp tay, bao che, dung túng cho việc đưa, nhận, môi giới hối lộ; gợi ý, đòi hỏi tổ chức, cá nhân đưa chi phí ngoài quy định trong giải quyết các thủ tục hành chính, dịch vụ công.

Đặc biệt, không được tổ chức, tham gia hoặc tạo điều kiện cho việc chuyển đổi các khoản lợi nhuận hoặc tài sản khác có được từ hành vi vi phạm pháp luật trở thành tiền và các tài sản có nguồn gốc hợp pháp; Không được tổ chức, tham gia việc huy động vốn, tài sản và cho vay trái quy định của pháp luật.

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2021

PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG LÀ ĐỂ BẢO VỆ TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC, CỦA NHÂN DÂN VÀ UY TÍN CỦA ĐẢNG TRƯỚC NHÂN DÂN

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi việc chống tham nhũng không chỉ để bảo vệ tài sản của Nhà nước, của Nhân dân mà còn để bảo vệ uy tín của Đảng trước Nhân dân. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) đã chỉ rõ: "Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên nhà nước chưa bị trừng trị nghiêm khắc. Đảng thừa nhận và coi tham nhũng là nguyên nhân gây mất lòng tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), 5 bài học kinh nghiệm rút ra về cơ bản vẫn giữ nguyên như Cương lĩnh 1991. Tuy nhiên, Cương lĩnh đã bổ sung vào bài học kinh nghiệm thứ 2 nội dung rất quan trọng: Quan liêu, tham nhũng, xa rời Nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng. Đây có thể xem là một cam kết chính trị trước Nhân dân về công cuộc phòng, chống tham nhũng.

Việc đưa ra cảnh báo nghiêm khắc về nguy cơ mà tệ tham nhũng gây ra thể hiện bản lĩnh chính trị của Đảng đã thẳng thắn thừa nhận, nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật để có các biện pháp hữu hiệu phòng chống hiệu quả.

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2020

“LỢI ÍCH NHÓM” GÂY THIỆT HẠI LỚN ĐẾN TÀI SẢN CỦA NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI

Những năm gần đây, vấn đề “lợi ích nhóm” được đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng và là vấn đề được dư luận xã hội quan tâm, lên án. Đây là loại lợi ích mang hàm nghĩa không thuận, họ lợi dụng quyền lực, quan hệ để móc nối, kiếm lợi bất chính cho nhóm mình.