Hiển thị các bài đăng có nhãn giám sát. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giám sát. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

KÊ KHAI TÀI SẢN: CHỚ ĐỂ CHÁY NHÀ MỚI RA MẶT CHUỘT

“Thu nhập không trung thực” là một trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ” chỉ mặt, điểm tên. Đây cũng là vấn đề được Đảng ta rất quan tâm lãnh đạo chấn chỉnh, khắc phục; được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Căn bệnh đã di căn

Chắc hẳn nhiều người vẫn còn nhớ cựu Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai rơi vào vòng lao lý với nhiều sai phạm, trong đó có việc kê khai tài sản không trung thực. Trước khi bị xử lý, cán bộ này thuộc diện phải kê khai tài sản và đều đặn thực hiện qua mỗi năm. Ấy nhưng, khi cơ quan điều tra vào cuộc mới phát hiện hành vi tham nhũng, nhận hối lộ với số tiền lên tới hàng chục tỷ đồng; tài sản kê khai và tài sản thực chênh nhau một cách bất thường.

Những câu chuyện tương tự như trường hợp nêu trên không hề hiếm. Hàng loạt quan chức hầu tòa trong thời gian qua thì có ngần ấy cán bộ phạm phải việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; biển thủ, trục lợi khối tài sản khổng lồ của Nhà nước, của nhân dân thành của riêng. Nhiều người lý giải, sở dĩ những cán bộ này không trung thực bởi đây là phần việc “bất khả thi”, vì không thể lý giải nguồn gốc tài sản. Mặt khác, làm vậy thì chẳng khác gì câu chuyện “lạy ông tôi ở bụi này”.

Đáng nói là hiện nay, dù đã có khá đầy đủ, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề kê khai tài sản, thu nhập và công tác quản lý, kiểm soát sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ thuộc diện phải kê khai nhưng vấn nạn kê khai giả dối, thiếu trung thực vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Điều đó cho thấy, cốt tử của vấn đề nằm ở phẩm chất, đạo đức của cán bộ kê khai tài sản, thu nhập. Họ đã thực sự bị suy thoái, biến chất, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Năm 2022, các bộ, ngành, địa phương xác minh tài sản, thu nhập với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên cho thấy: Có 7.662 người được xác minh tài sản, thu nhập, 4.934 cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được kiểm tra việc thực hiện và có 74 người kê khai chưa đúng quy định, đã được chấn chỉnh, kiểm điểm, xử lý theo quy định. Như vậy, nếu cấp có thẩm quyền tiến hành xác minh kê khai tài sản, thu nhập thì tất yếu sẽ lòi ra những cá nhân kê khai không đúng, không trung thực. Trong khi phần việc này chỉ được tiến hành ngẫu nhiên trong số vài phần trăm cán bộ, càng cho thấy việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực đã và đang là vấn nạn đáng báo động.

Sự nguy hại từ kê khai tài sản, thu nhập không trung thực của cán bộ trước hết gây ra việc thất thoát khối lượng tài sản khổng lồ của Nhà nước, nhưng lớn hơn là gây mất niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ. Thế mới có chuyện, người dân kháo nhau về tài sản cán bộ giống như những tảng băng trôi. Tài sản được kê khai chỉ là phần nổi, còn phần chìm lớn hơn gấp nhiều lần. Thế mới có chuyện, dân không tin những cán bộ giàu lên một cách chính đáng, mà thường suy diễn, quy chụp cán bộ giàu là bởi tham nhũng mà có. Nhiều người dân cũng mặc định đã là cán bộ lãnh đạo cấp cao thì tất yếu phải giàu có hơn quần chúng. Và nếu thấy cán bộ gặp hoàn cảnh khó khăn thì quy chụp rằng cán bộ ấy đang cố tình mị dân, giả nghèo giả khổ, chứ chắc hẳn tài sản thực đã được chia năm xẻ bảy, lấp liếm, trá hình bằng nhiều hình hài khác nhau.

Cũng bởi tâm lý xã hội ấy mà không ít cán bộ giàu có thật sự lại sinh ra tâm lý e ngại khi kê khai tài sản. Họ thậm chí giấu giếm đi sự giàu có chính đáng để tránh “miệng lưỡi thế gian” không cần thiết. Đây cũng là một thực tế cần được nhận diện, phê bình, khắc phục. Bởi lẽ, cán bộ cũng là con người, là công dân của một đất nước. Ngoài thực hiện các nhiệm vụ theo chức trách, nhiệm vụ tổ chức giao, cán bộ còn tham gia các hoạt động xã hội khác, trong đó có hoạt động phát triển kinh tế. Việc cán bộ có tài-đức, làm kinh tế đúng pháp luật, gặt hái thành công, trở nên giàu có chính đáng là rất đỗi bình thường. Thực tế cho thấy, có không ít cán bộ, đảng viên năng động trong công tác và trong phát triển kinh tế tư nhân đã mang lại động lực tích cực cho đồng nghiệp, bà con xóm giềng và nhân dân ở địa phương nơi họ công tác, sinh sống. Cũng có không ít mô hình phát triển kinh tế, phong trào tăng gia sản xuất, kinh doanh hiệu quả ở các địa phương được hình thành, được thúc đẩy và truyền cảm hứng từ chính những người cán bộ, đảng viên có tư duy năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với cộng đồng.

Gắn chặt “kê” với “kiểm”

Phải nhận rõ một thực tế là chúng ta đang duy trì nền nếp việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, thế nhưng tổ chức và cơ quan chức năng chưa thật sự coi trọng việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ. Đến hẹn lại lên, cán bộ điền vào những mẫu phiếu có sẵn về nguồn thu và những phát sinh tài sản, nhưng chưa có cơ quan, tổ chức nào (cả trong nội bộ) thực hiện chức năng thẩm định, kiểm kê, kiểm soát một cách thường xuyên nhằm xác minh kịp thời tính trung thực của nó. Thành thử, tích tiểu thành đại, đến khi khối tài sản của cán bộ trở nên bất thường thì mới sinh ra hoài nghi, lật ngược vấn đề rồi đi đến xử lý kiểu “mất bò mới lo làm chuồng”. Trong nhiều tình huống khác, đến khi cán bộ rơi vào vòng lao lý, vi phạm pháp luật Nhà nước thì cháy nhà mới ra mặt chuột.

Dư luận cho rằng: Nếu việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát được thực hiện đồng thời với việc kê khai tài sản, thu nhập thì chắc chắn việc cán bộ kê khai gian dối, thiếu trung thực sẽ được khắc phục cơ bản; những tài sản bất minh, không rõ nguồn gốc cũng được phát hiện từ sớm, giúp kịp thời phê bình, uốn nắn cán bộ, ngăn chặn tiêu cực lớn. Ngược lại, nếu chỉ đơn thuần coi trọng việc kê khai mà chưa chú trọng đến công tác xác minh, kiểm kê, kiểm soát tài sản, thu nhập thì coi như chúng ta chỉ làm nửa vời, thiếu tròn khâu và đây là kẽ hở cho những gian dối, thiếu trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc cần làm hiện nay là nên triển khai một đợt xác minh, kiểm kê, kiểm soát rộng khắp ở mọi đối tượng cán bộ, trước hết là những người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt. Cần tiến hành đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị và xem đây là một việc hết sức bình thường của tổ chức, chứ không chờ đến khi có dấu hiệu vi phạm mới xúc tiến, triển khai. Nguyên tắc xác minh, kiểm kê, kiểm soát tài sản cần vận hành từ trên xuống dưới; cấp trên kiểm soát tài sản của cấp dưới; tổ chức kiểm tra, kiểm soát tài sản của cá nhân... Đây chính là một bước xốc lại chất lượng của việc kê khai tài sản, thu nhập nhằm biết được toàn cảnh thực trạng tài sản của cán bộ, tạo cơ sở vững chắc cho các bước triển khai tiếp theo.

Thực tế cho thấy, không ít bộ, ngành, địa phương đã xác minh tài sản, thu nhập với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên; có địa phương tiến hành việc bốc thăm để kiểm kê, kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập thì đã thu được kết quả thấy rõ. Những cán bộ không trung thực sớm bị phát hiện; có cá nhân bị mất chức, bị điều chuyển công tác, miễn nhiệm, xử lý kỷ luật. Đây là cách làm đúng đắn, hợp lòng dân, là cơ sở để cơ quan chức năng Trung ương nghiên cứu, nhân rộng, vận hành trong toàn hệ thống. Bởi thế, đông đảo người dân cho rằng, về lâu dài, việc xác minh, kiểm tra, kiểm soát tài sản tất yếu phải tiến tới thực hiện đồng bộ chứ không thể bốc thăm, hay lựa chọn ngẫu nhiên. Trước mắt, cần quan tâm thực hiện triệt để, đồng bộ ở đối tượng người đứng đầu và cán bộ phụ trách những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Từ đó sẽ tạo ra tác động rất lớn để cơ quan chức năng có những đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm, giúp đội ngũ công chức, viên chức không dám tiêu cực.

Sờ gáy “tài sản chìm”

Việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ cần quan tâm sâu sát, kỹ lưỡng cả "tài sản nổi" và "tài sản chìm" của từng cá nhân. Đây là phần việc cần thiết, bởi nhiều năm trước, chúng ta thường nhận diện, đánh giá cán bộ giàu có qua những căn biệt thự, xe sang, cuộc sống sung túc, đầy đủ... Thế nhưng, với mức sống hiện tại, những câu chuyện ấy không còn là tâm điểm dư luận. Một phần vì chất lượng đời sống xã hội đi lên, cả người dân, nhất là chủ doanh nghiệp cũng đã có cuộc sống dư dả, đầy đủ. Trong khi những cán bộ vốn "biến hình" thu vén cá nhân, có tài sản bất minh lại đủ hiểu "sức mạnh cuồng phong" của cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Trung ương lĩnh xướng. Bởi thế, họ tìm mọi cách điều chỉnh, thích nghi, tạo hình hài cuộc sống phù hợp. Họ không thể hiện sự giàu có, thậm chí còn giả nghèo giả khổ. Trong khi đó, khối tài sản của không ít cán bộ rất lớn, được phân tán, biến hình ở nhiều nơi-đó được xem là “tài sản chìm”.

Chính vì vậy, cơ quan chức năng cần có giải pháp, biện pháp phù hợp để kiểm soát, xác thực kê khai; chú trọng phối hợp, liên thông giữa các cơ quan trong khâu xác minh; tăng cường các biện pháp xử lý mạnh mẽ, đủ sức răn đe đối với các tài sản bất minh, không chứng minh được nguồn gốc. Đặc biệt, cần sớm thực hiện “số hóa kê khai tài sản”. Tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV, Quốc hội yêu cầu Chính phủ, Thanh tra Chính phủ tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Sau năm 2025, thực hiện chuyển đổi số 100% công tác kiểm soát tài sản, thu nhập bằng việc sử dụng công nghệ số, dữ liệu số. Đây được xem là bước tiến mới cả về lý luận và thực tiễn công tác kiểm soát tài sản, thu nhập, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bởi lẽ, khi số hóa các dữ liệu liên quan đến việc kê khai sẽ giúp lưu trữ tốt hơn và các cơ quan chức năng dễ dàng tìm kiếm, truy xuất các thông tin liên quan đến tài sản, thu nhập của cán bộ khi có yêu cầu.

Tuy nhiên, việc số hóa cũng chỉ là một giải pháp để kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, cần đồng thời thực hiện hiệu quả các giải pháp khác; quan trọng là hoàn thiện các chính sách, pháp luật trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội; chú trọng đẩy mạnh lộ trình vận hành, duy trì xã hội “không tiền mặt”; hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong các giao dịch toàn xã hội, nhất là những giao dịch có giá trị lớn như mua nhà, bất động sản, xe ô tô, chứng khoán và các hoạt động đầu tư, cổ phần, góp vốn... của cán bộ. Đa dạng các kênh chính thống tiếp nhận thông tin của quần chúng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, khu dân cư nơi cán bộ, đảng viên cư trú. Đặc biệt là phải có biện pháp quản lý sự minh bạch nguồn gốc tài sản trong sở hữu và giao dịch toàn xã hội chứ không chỉ dừng lại ở việc kiểm soát tài sản, thu nhập đối với từng cán bộ, đảng viên.

Việc kê khai tài sản hiện nay được tiến hành chủ yếu theo “mùa vụ”, đến dịp, đợt thì đồng loạt kê khai, nhưng giải pháp này xem ra chưa phát huy cao nhất trách nhiệm và tính tự giác của cán bộ. Bởi thế, cần có thêm những quy định cụ thể khác mang lại hiệu quả sát thực, ví như việc biến động tài sản, thu nhập theo định mức cụ thể bắt buộc cán bộ phải kê khai bổ sung, báo cáo kịp thời với tổ chức chứ không chờ đến cuối năm, hoặc khi có yêu cầu của cơ quan chức năng. Trong khi đó, nhiều ý kiến đề xuất việc công khai kết quả kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ ở nơi sinh sống và làm việc một cách phù hợp. Chỉ có như vậy thì đồng nghiệp, cấp dưới và quần chúng mới nắm bắt thực chất thu nhập, biến động tài sản của cán bộ để giám sát hiệu quả.

Theo: Nguyễn Tấn Tuân

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2022

“KHOẢNG TRỐNG” NHÂN DÂN GIÁM SÁT

Muốn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (TN, TC) hiệu quả thì phải phát huy tốt vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân, bởi không có gì mà nhân dân không biết và không có gì qua mắt được nhân dân. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Phải biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”.

Nhận thức rõ vấn đề này, suốt quá trình cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt và thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”, đến Đại hội lần thứ XIII vừa qua, Đảng đã bổ sung thêm “dân thụ hưởng”. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy định để phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng nói chung, trong phòng, chống TN, TC nói riêng, như: Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Khiếu nại; Luật Tố cáo; Quy chế dân chủ ở cơ sở… Đặc biệt, ngày 3-10-2017, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quyết định số 99-QĐ/TW về hướng dẫn tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Theo đó, các cấp ủy, tổ chức đảng phải công khai để nhân dân biết về nhiều nội dung, làm cơ sở góp ý và giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững lập trường tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bô, đảng viên (CB, ĐV)…

Tuy nhiên, hiện nay, việc phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân vẫn là khâu yếu, thậm chí còn tồn tại nhiều “khoảng trống” dẫn đến nhân dân rất khó thực hiện quyền kiểm tra, giám sát.

Đầu tiên, việc công khai, minh bạch là cơ sở, điều kiện để phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong tham gia kiểm soát quyền lực, phòng, chống TN, TC, bởi nếu nhân dân không biết thì làm sao có thể kiểm tra, giám sát? Thế nhưng lâu nay, việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương còn mang tính hình thức, đối phó; thậm chí, có tình trạng không thực hiện công khai và hiện tượng cố tình đóng dấu “mật” vào những tài liệu lẽ ra cần công khai. Hình thức công khai cũng chưa phù hợp, người dân khó tiếp cận, dẫn đến rất ít người biết. Đơn cử, việc công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là biện pháp vô cùng hiệu quả để phòng, chống tham nhũng, vì quần chúng sẽ giám sát, kịp thời phát hiện những tài sản bất thường, thông báo cho các cơ quan chức năng kiểm tra xem đó có phải là từ thu nhập phi pháp hay không; nhưng hiện nay, chúng ta chưa quy định công khai rộng rãi bản kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ các cấp để đông đảo nhân dân được biết. Việc phải công khai bản kê khai tài sản, thu nhập của những người có nghĩa vụ kê khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc (và một số trường hợp khác) cũng ít đơn vị thực hiện nghiêm.

“Khoảng trống” nữa là mặc dù Hiến pháp đã quy định rõ: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” và “… Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (Điều 28)… song hiện nay, vừa thiếu những quy định chi tiết để thực hiện, vừa chưa có chế tài thực sự hiệu quả để bắt buộc các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức thực hiện đúng trách nhiệm của mình khi nhân dân thực hiện quyền giám sát và phản ánh, kiến nghị. Thậm chí, khá nhiều người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương còn chưa chấp hành nghiêm quy định tiếp công dân; vẫn còn hiện tượng trù dập, thành kiến với người khiếu nại, tố cáo, chưa thực sự quan tâm giải quyết.

Ngay việc dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là chủ trương nhất quán của Đảng, nhưng chúng ta cũng chưa có đầy đủ quy định để phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân trong công tác này, đặc biệt là chưa có quy định cụ thể để nhân dân tham gia vào việc đánh giá, bổ nhiệm cán bộ và phòng, chống TN, TC trong đội ngũ CB, ĐV, dẫn đến không ít trường hợp chọn nhầm cán bộ hoặc không kịp thời phát hiện cán bộ vi phạm. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã thẳng thắn nhìn nhận: “Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của CB, ĐV chưa hiệu quả”…

Thực tế cho thấy, hầu hết những trường hợp cán bộ vi phạm pháp luật thì dư luận nhân dân đều có ý kiến xì xào về phẩm chất đạo đức, lối sống, về tài sản nghi ngờ bất minh từ trước khi những cán bộ này bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý. Vì thế, khi cán bộ đó bị kỷ luật hoặc truy tố thì người dân ở nơi cư trú và quần chúng cùng cơ quan, đơn vị cũng không mấy bất ngờ, nhất là với những cán bộ ngang nhiên vi phạm hoặc có nhiều dấu hiệu bất thường trong suốt thời gian dài, như: Trịnh Xuân Thanh (thời kỳ công tác tại Tổng công ty Cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam và Bộ Công Thương), Vũ Huy Hoàng (lúc là Bộ trưởng Bộ Công Thương), Tất Thành Cang (khi là lãnh đạo các cấp ở TP Hồ Chí Minh), hay một số cựu lãnh đạo của TP Đà Nẵng, tỉnh Bình Thuận, Bộ Y tế…

Những “lỗ hổng” trong cơ chế kiểm soát quyền lực, cùng với hệ thống pháp luật chưa thực sự chặt chẽ, nhiều kẽ hở là nguyên nhân cơ bản khiến một số cán bộ thiếu bản lĩnh đã vi phạm pháp luật, kỷ luật. Vấn đề này, chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập ở những bài sau. (còn nữa)

Cùng với “nhốt” quyền lực vào trong “lồng” cơ chế, thể chế thì công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình là điều kiện đầu tiên để kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền lực được vận hành đúng đắn, không bị tha hóa. Vì vậy, phải tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị và các biện pháp bảo đảm để công dân thực hiện đầy đủ quyền tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật-Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (2012 - 2022).

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2022

KẾT LUẬN CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ CHIẾN LƯỢC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG ĐẾN NĂM 2030

Bộ Chính trị vừa ban hành Kết luận số 34-KL/TW ngày 18-4-2022 về Chiến lược kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030, trân trọng giới thiệu toàn văn kết luận:

Qua hơn 10 năm thực hiện Kết luận số 72-KL/TW, ngày 17-5-2010 của Bộ Chính trị khóa X về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020 (gọi tắt là Chiến lược), nhận thức của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát được nâng lên; hệ thống văn bản của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát cơ bản được ban hành đồng bộ, thống nhất; nội dung, đối tượng kiểm tra, giám sát được thực hiện toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm.

Ủy ban kiểm tra các cấp được kiện toàn về tổ chức, cán bộ, bổ sung nhiệm vụ, thẩm quyền; tích cực, chủ động tham mưu cho cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật. Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát được nâng lên, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Tuy nhiên, việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chiến lược ở một số nơi chưa thường xuyên, thiếu quyết liệt; có nhiệm vụ, giải pháp chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa toàn diện, đồng bộ, hiệu quả thấp. Một số ban cán sự đảng, đảng đoàn, ban tham mưu của cấp ủy, tổ chức đảng ở cơ sở chưa thực sự quan tâm lãnh đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát; tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập chưa coi trọng đúng mức công tác kiểm tra, giám sát, chất lượng còn nhiều hạn chế. Chưa xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật từ Trung ương tới địa phương.

Những năm tới đây, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đất nước đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Bốn nguy cơ đối với Đảng, chế độ mà Đảng ta đã chỉ ra có mặt còn gay gắt hơn. Tình trạng tham nhũng, vi phạm pháp luật, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ còn diễn biến phức tạp. Đáng chú ý là có sự cấu kết, bao che, tiếp tay của một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, rất tinh vi, phức tạp, nghiêm trọng, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành...

Nhằm không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, tích cực góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đồng thời với việc tiếp tục thực hiện Kết luận số 72-KL/TW, ngày 17-5-2010 của Bộ Chính trị khóa X, Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030, cần tập trung thực hiện tốt các nội dung sau:

I- Mục tiêu

- Tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết, thống nhất và giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn, kiên quyết xử lý suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị.

- Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; bổ sung, hoàn thiện phương pháp, nội dung công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong tình hình mới.

- Đánh giá đúng ưu điểm của tổ chức đảng và đảng viên để phát huy, nhân rộng, kịp thời phát hiện thiếu sót, khuyết điểm để uốn nắn, khắc phục và xử lý nghiêm khi có vi phạm.

II- Nhiệm vụ

1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đối với công tác kiểm tra, giám sát

- Cấp ủy các cấp ban hành đầy đủ, kịp thời các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế... về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật; đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng những nhân tố mới, cách làm hay, điển hình tốt, phát huy sự năng động, sáng tạo của tổ chức đảng, đảng viên trong công tác kiểm tra, giám sát.

- Cấp ủy các cấp ban hành quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với cơ quan điều tra, thanh tra, kiểm toán, viện kiểm sát, tòa án nhân dân cùng cấp; chỉ đạo phối hợp chặt chẽ, không để chồng chéo trong tổ chức thực hiện.

- Cấp ủy, nhất là người đứng đầu thường xuyên làm việc với ủy ban kiểm tra để nắm tình hình, kết quả thực hiện, kịp thời chỉ đạo, định hướng công tác kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra.

2. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát

- Thực hiện kiểm tra, giám sát theo phương châm giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng; các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh vi phạm; việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; kê khai tài sản, thu nhập... Tăng cường kiểm tra, giám sát trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật, kịp thời ngăn chặn vi phạm trong ban hành văn bản pháp luật, lồng ghép "lợi ích nhóm", lợi ích cục bộ. Mở rộng giám sát trên tất cả các địa bàn, lĩnh vực; chú trọng vào những nơi nội bộ có biểu hiện mất đoàn kết, dư luận xã hội quan tâm; nâng cao tính chủ động để kịp thời nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ sớm, từ xa.

- Chủ động kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, tập trung vào những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tham nhũng, tiêu cực, nhất là kiểm tra dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội. Xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời, triệt để, đồng bộ các tổ chức đảng, đảng viên có vi phạm.

- Cấp ủy, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt, cấp ủy viên và cán bộ thuộc diện cấp ủy quản lý phải thường xuyên tự kiểm tra, kịp thời phát hiện những hạn chế, khuyết điểm để chủ động khắc phục, chấn chỉnh không để dẫn đến vi phạm. Kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên không đủ năng lực, uy tín; việc miễn nhiệm, từ chức, trách nhiệm người đứng đầu khi cấp có thẩm quyền kết luận đã để xảy ra tham nhũng, tiêu cực ở cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách.

- Ủy ban kiểm tra cấp trên thường xuyên, kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra cấp dưới trong công tác kiểm tra, giám sát, nhất là trong xử lý các vụ việc nghiêm trọng, phức tạp, dễ xảy ra vi phạm, các vụ việc về tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "lợi ích nhóm"; kịp thời xử lý kỷ luật đối với cán bộ, đảng viên suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ngay tại cơ sở, chi bộ.

3. Chủ động dự báo, kịp thời ban hành các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật

- Đầu tư nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; chủ động dự báo sớm, cung cấp cơ sở khoa học để kịp thời tham mưu cho Đảng về các chủ trương, đường lối, giải pháp có tính chiến lược trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

- Chủ động nghiên cứu, tham mưu, ban hành các văn bản của Đảng bảo đảm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, đồng thời tăng cường trách nhiệm, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Kịp thời thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để tạo sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức; hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật nhằm phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, khuyết điểm; phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực.

- Tập trung xây dựng, hoàn thiện các quy định về cơ chế phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên; cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, việc thực thi quyền lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý; quy định các hành vi vi phạm, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế về kiểm soát tài sản, thu nhập, quyền lực trong công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán...

- Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học-công nghệ trong hoạt động của ngành kiểm tra. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật từ Trung ương đến cơ sở phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, dự báo, tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật.

4. Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra công minh, liêm chính; tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp đồng bộ, tinh gọn

- Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp bảo đảm đồng bộ, thống nhất, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phân định rõ tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ của cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp; quy định cụ thể cơ cấu, số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra kiêm nhiệm ở các cấp.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra liêm khiết, công minh, chính trực, có bản lĩnh, dũng khí đấu tranh, gương mẫu, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, tận tụy, trách nhiệm. Ban hành tiêu chí, tiêu chuẩn, khung năng lực cán bộ làm công tác kiểm tra theo hướng chuyên nghiệp. Thực hiện luân chuyển cán bộ kiểm tra các cấp để đào tạo, rèn luyện cán bộ. Tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh chế độ, chính sách đối với cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp.

- Xây dựng giáo trình, tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật cho cấp ủy viên, cán bộ kiểm tra các cấp. Thường xuyên cập nhật kiến thức, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cấp ủy viên, ủy viên ủy ban kiểm tra các cấp.

- Nghiên cứu để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định thí điểm cơ chế đại hội đảng bộ bầu ủy ban kiểm tra; ủy ban kiểm tra cấp trên lựa chọn, giới thiệu, chuẩn y... thành viên ủy ban kiểm tra cấp dưới.

III- Tổ chức thực hiện

1. Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo quán triệt, xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức thực hiện kết luận này.

2. Giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương xây dựng kế hoạch thực hiện; phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện kết luận này, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021

BỔ SUNG, ĐIỀU CHỈNH LÀ PHÙ HỢP VÀ CẦN THIẾT

Quy định số 37QĐ/TW vẫn bao gồm 19 điều như Quy định số 47. Tuy nhiên, Quy định số 37 bổ sung mới hai điều, đó là Điều 3 và Điều 13.

Tại Điều 3, Đảng ta quy định rõ đảng viên không được: “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;…”. Cũng ở Điều 3, Đảng ta chỉ rõ đảng viên không được: “…không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng”.

Tại Điều 13, Đảng ta quy định, đảng viên không được: “Can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác”.

Ngoài hai điều mới như đã đề cập, Quy định số 37-QĐ/TW còn bổ sung, chỉnh sửa một số nội dung mới trong từng điều cụ thể. Đáng chú ý là những nội dung nêu ở Điều 7 của quy định cũ nay chuyển lên Điều 2 và bổ sung thêm nội dung: “Không chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng”. Sau bổ sung, nội dung Điều 2 của Quy định số 37 như sau: “Không chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử các chức danh của tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ khi chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền cho phép.”

Tương tự tại Điều 6 cũng bổ sung nội dung mới đó là: không được “đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo; không thực hiện các quy định của Đảng và pháp luật về bảo vệ người tố cáo, phê bình, góp ý"; không được "có hành vi chạy chức chạy quyền", "tham ô" ...

Tại Điều 9 bổ sung một số hành vi nghiêm cấm như “không được sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận giả, không hợp pháp; nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Nội dung này theo quy định cũ nêu như sau: “Báo cáo, lập hồ sơ, kê khai lý lịch, lịch sử bản thân không trung thực; kê khai tài sản, thu nhập không đúng quy định; mở tài khoản ở nước ngoài trái quy định; tham gia hoạt động rửa tiền”...

Tại Điều 11 cũng bổ sung nội dung mới đó là, đảng viên không được: “Lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước”.

Nếu so sánh giữa Quy định số 47 với Quy định số 37 và tình hình nhiệm vụ thực tế hiện nay thì thấy nội dung mà Trung ương bổ sung, điều chỉnh như đã nêu trên đều là những vấn đề cơ bản, cốt lõi, quan trọng về rèn luyện tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và những nội dung mới trong các văn kiện mà Đảng, Nhà nước đã ban hành thời gian qua.

Cái gốc rễ, cơ bản cần phải xử lý để ngăn chặn từ sớm, từ xa những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó là chống tiêu cực trong lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đảng ta xác định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, thế nhưng thực tế thời gian qua, bên cạnh sự chống phá của các thế lực thù địch, trong chính nội bộ ta cũng xuất hiện những tư tưởng, quan điểm sai trái xuyên tạc, phản bác, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Thực tế ấy đòi hỏi cuộc đấu tranh tư tưởng - lý luận, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải được đẩy mạnh hơn.

Mặt khác, Đảng ta quy định như đã nêu tại Điều 3 còn là sự khẳng định giá trị, sức sống của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xác định rõ hơn trách nhiệm của đảng viên trong cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ, phát triển những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới.

Tương tự, việc bổ sung Điều 13 là rất cần thiết, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ. Thực tế cho chúng ta thấy trong công cuộc đổi mới, bên cạnh những nhân tố tích cực, những thành công là cơ bản, tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là ở những đảng viên có chức, có quyền không gương mẫu, thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi… Cùng với đó là những biểu hiện sai trái trong thực hiện nguyên tắc lãnh đạo; trong lề lối, phương pháp, tác phong công tác nổi lên rất rõ. Đây là một trong những nguyên nhân chủ quan cơ bản dẫn đến tình trạng suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta nhiều lần cảnh báo.

Các nội dung khác được điều chỉnh, bổ sung, Ban Chấp hành Trung ương đều nghiên cứu, bàn thảo kỹ lưỡng và đều xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp cách mạng, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng thời gian qua. Chẳng hạn ở Điều 11 của Quy định số 37-QĐ/TW bổ sung nội dung, đảng viên không được: “Lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực…”. Không chỉ xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ, nội dung này chính còn là sự cụ thể hóa chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung đã nêu trong Quy định số 22-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng và Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị.

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021

ĐOÀN KẾT - SỨC MẠNH VÔ ĐỊCH CỦA ĐẢNG

Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc và của Đảng ta. Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh: Đoàn kết là yêu cầu chiến lược để đảng cộng sản thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đoàn kết là sức đề kháng để Đảng phòng ngừa các nguy cơ bè phái, cục bộ, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”...

Ngay từ khi mới thành lập Đảng, những người cộng sản Việt Nam đã thống nhất từ bỏ mọi thành kiến và xung đột cũ, kết thành đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc. Tại Đại hội III của Đảng năm 1960, nhận thức rõ đoàn kết “là sinh mệnh của Đảng”, Đảng ta bổ sung vào Điều lệ Đảng nguyên tắc đoàn kết nhất trí và nhấn mạnh: “Đảng kiên quyết chống lại mọi hiện tượng chia rẽ, bè phái trong Đảng. Mỗi đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt... Tự phê bình và phê bình thành khẩn, thẳng thắn và đúng mức là một bảo đảm cho sự đoàn kết nhất trí đó”. Điều lệ Đảng hiện hành quy định: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động... đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng”. 

Đánh giá kết quả thực hiện nguyên tắc đoàn kết, Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Đảng ta đoàn kết, thống nhất và trong sạch, vững mạnh hơn; niềm tin của nhân dân đối với Đảng được củng cố, tăng cường hơn, tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong những năm tới”. Tuy nhiên, Đảng ta cũng chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm”. Trước đó, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã cảnh báo: “Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty”. Tình hình mất đoàn kết nội bộ trong một số tổ chức đảng có thể gây ra những nguy hại khôn lường. Hơn bao giờ hết, mỗi đảng viên phải nhận thức rõ “chia rẽ, bè phái phải coi là phạm tội lớn nhất đối với Đảng, đối với nhân dân”. Một số biểu hiện sau đây về mất đoàn kết trong nội bộ tổ chức đảng là điều rất đáng chú ý.

Mất đoàn kết do “lợi ích nhóm” giữa các cơ quan công quyền, địa phương. Do lợi ích cục bộ chi phối, có sự vận động tranh thủ, đấu đá, tranh giành giữa cơ quan này với cơ quan khác. Đặc biệt nguy hại nếu sự mất đoàn kết này xảy ra giữa các cơ quan làm chính sách. Mặc dù những biểu hiện chưa nhiều nhưng trên thực tế đã có những cơ quan làm chính sách theo kiểu “cuốc giật vào lòng”, tiến hành tuyên truyền, vận động, tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan, đơn vị, địa phương khác ủng hộ những quyết định, chương trình, dự án... nhằm thu lợi cục bộ cho cơ quan mình.

Hiện tượng “lợi ích nhóm” còn tạo ra sự “đoàn kết xuôi chiều” trong một số cấp ủy. Điều này dẫn đến tình trạng tham nhũng, tiêu cực tập thể. Một số cấp ủy thậm chí còn “quyết nghị” những vấn đề như chi “phần trăm hoa hồng”, “phí bôi trơn”, “quà tặng” trái pháp luật để mưu cầu lợi ích cục bộ cho cơ quan đó. Tình trạng “đoàn kết xuôi chiều” vì “lợi ích nhóm” này rất khó đấu tranh và là vấn đề đáng chú ý nhất trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Mất đoàn kết giữa người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền địa phương. Đây là điều từng xảy ra ở nhiều địa phương và đến nay vẫn là điều cần được cảnh báo. Vấn đề “quyền anh, quyền tôi” luôn được đặt ra trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa hai người đứng đầu. Đã có thời điểm, không ít địa phương có biểu hiện mất đoàn kết ở mối quan hệ này. Hiện nay và lâu dài về sau, cơ chế lãnh đạo của cấp ủy đối với chính quyền địa phương sẽ còn nảy sinh những vấn đề mới, khó hoàn thiện trong một sớm một chiều. Nếu người đứng đầu cấp ủy và người đứng đầu chính quyền địa phương sa vào chủ nghĩa cá nhân, chắc chắn sẽ dẫn đến mất đoàn kết. Đặc biệt, hiện nay Đảng ta đang thực hiện giải pháp luân chuyển cán bộ, nhiều bí thư cấp ủy không phải là người địa phương thì nguy cơ mất đoàn kết càng phải được quan tâm.

Mất đoàn kết do cục bộ địa phương, đặc biệt trong công tác cán bộ (CTCB). Tình cảm quê hương là một giá trị truyền thống đặc sắc của người Việt Nam. Nhưng nếu để tình cảm này chi phối CTCB, dễ dẫn đến mất đoàn kết giữa những người được hưởng lợi và những người không được hưởng lợi. Trong những năm gần đây, vấn đề kiểm soát quyền lực được Đảng ta đặc biệt quan tâm nhưng những tiêu cực trong CTCB chưa phải đã được khắc phục triệt để. Vấn đề mất đoàn kết do cục bộ địa phương trong nội bộ cấp ủy, tổ chức đảng vẫn là một trong những biểu hiện rất đáng lo ngại hiện nay.

Mất đoàn kết do thu nhập và mức sống giữa các đảng viên quá chênh lệch. Đảng viên phải đi thuê nhà đương nhiên suy nghĩ khác xa đảng viên ở trong các biệt thự, lâu đài tráng lệ. Sự phân hóa với khoảng cách ngày càng xa về mức sống của đảng viên sẽ thúc đẩy sự khác biệt về tư tưởng, nhận thức, thậm chí dẫn đến mâu thuẫn, mất đoàn kết trong Đảng. “Đảng ta sau này sẽ là Đảng của ai?” là câu hỏi đầy trăn trở mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt ra. Rõ ràng, rất khó để có được sự đoàn kết, nhất trí cao giữa “kẻ ăn không hết” với “người lần không ra”.

Trên đây là một số biểu hiện dẫn đến tình trạng mất đoàn kết trong một số cấp ủy, tổ chức đảng. Nguyên nhân có nhiều, nhưng trước hết và chủ yếu là do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây nên. Nhìn nhận như vậy để thấy rằng, sự nghiệp đấu tranh bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng gắn chặt với sự nghiệp xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà cụ thể hơn là đấu tranh, bảo vệ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Để nguyên tắc đoàn kết trong Đảng phát huy vai trò, tác dụng, trước hết cần tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả 10 nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thực sự coi trọng giáo dục lý luận chính trị cho đảng viên. Sự giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng là cơ sở nền tảng cho việc thống nhất ý chí, thống nhất hành động. Không ngừng hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn. Kiên định và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng cùng với không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng.

Giải pháp đột phá là tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, là hạt nhân đoàn kết của cấp ủy, tổ chức đảng cấp mình. Hoàn thiện thể chế về CTCB; xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; thực sự tiên phong, gương mẫu. Tiếp tục đổi mới CTCB, bố trí đúng người đứng đầu cấp ủy và chính quyền địa phương; chăm lo xây dựng cấp ủy, thường vụ cấp ủy từ cấp cơ sở đến Trung ương.

Cấp ủy các cấp cần chú trọng xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế lãnh đạo. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp; kiên quyết xử lý dứt điểm hiện tượng mất đoàn kết trong các cấp ủy, tổ chức đảng. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách; giảm dần khoảng cách và sự bất bình đẳng về thu nhập, điều kiện làm việc của đảng viên. Đẩy mạnh công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chia rẽ, gây mất đoàn kết trong Đảng của các thế lực thù địch, phản động.

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2021

PHÁ ĐIỂM YẾU Ở “KHÂU THEN CHỐT”

NQTƯ 4, khóa XII đã khẳng định hiệu lực, hiệu quả từ việc hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý nghiêm minh. Nhưng cần khẳng định rằng, Đảng ta không lấy kỷ luật cán bộ là mục tiêu hàng đầu, mà thông qua đó để răn đe, giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, ngăn ngừa sai phạm. Việc kết hợp giữa “xây” và “chống” trên tinh thần lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lấy “chống” là nhiệm vụ thường xuyên thông qua kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện NQTƯ 4, khóa XII với Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong 5 năm qua tạo ra những thay đổi tích cực trong toàn hệ thống chính trị. Việc xây dựng cam kết, kế hoạch rèn luyện, tu dưỡng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với trách nhiệm nêu gương được triển khai đồng bộ, sâu rộng, ngày càng trở thành việc làm chủ động, thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.

Ông Nguyễn Đức Hà, nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở đảng, Ban Tổ chức Trung ương tâm đắc: Điểm mới là trong tự phê bình và phê bình gắn với NQTƯ 4, khóa XII, chúng ta không làm từ trên xuống, không làm từ dưới lên, cũng không làm từ giữa ra mà tiến hành đồng thời ở các cấp, nghĩa là các cấp cùng tiến hành nhưng ở cấp nào cũng lựa chọn những trọng tâm, trọng điểm. Khi các cấp ủy chọn được trọng tâm, trọng điểm thì nhất thiết phải có gợi ý kiểm điểm sâu và cấp ủy phải chỉ đạo theo dõi sát sao. Ví dụ, Bộ Chính trị gợi ý kiểm điểm cho một số ban thường vụ tỉnh ủy. Tất cả những nơi được Bộ Chính trị gợi ý đều phân công một đồng chí ủy viên Bộ Chính trị về dự chỉ đạo, theo dõi và có các cơ quan Đảng chỉ đạo, giám sát. Ở các địa phương, tất cả vấn đề lớn, vấn đề nổi cộm, vấn đề được báo chí, dư luận công luận bức xúc, lên án đều được đưa vào chương trình kiểm điểm gắn với việc thực hiện NQTƯ 4, khóa XII. Các tỉnh ủy, thành ủy có quy định rõ, hằng tháng chi bộ sinh hoạt thì các đảng viên phải đối chiếu với 27 biểu hiện để tự phê bình và phê bình. Đến nay, 27 biểu hiện được hầu hết cán bộ, đảng viên nắm chắc để tự soi chiếu vào mình, từ đó phòng tránh, ngăn ngừa, đấu tranh.

Nhận định về sự chuyển biến tích cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương từng nhiều lần tâm huyết: Việc thực hiện NQTƯ 4, khóa XII không chỉ giúp tầm soát, thanh lọc đội ngũ, mà còn là dấu ấn rõ nét, tạo bước đột phá về nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên, thực hành đạo đức công vụ, từng bước xóa bỏ tình trạng nhũng nhiễu, hành dân, tham nhũng vặt… Về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Cùng với phòng, chống các biểu hiện suy thoái, Đảng ta đặc biệt chú trọng công tác bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ. Thực tiễn cho thấy, nhiều nhiệm kỳ, Đảng nhận thức rất rõ vai trò của cán bộ và công tác cán bộ, nhưng vấn đề cán bộ luôn phức tạp, nhạy cảm, dễ xảy ra tiêu cực và khó phát hiện, xử lý. Công tác cán bộ vẫn là khâu yếu và luôn là một trong những vấn đề bức xúc nhất mà dư luận xã hội quan tâm. Tại nhiều hội nghị, diễn đàn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Phải coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc thường xuyên của Đảng.

Từ những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ đã được NQTƯ 4, khóa XII nêu ra, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tập trung rất cao để lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện việc rà soát, bổ sung, sửa đổi, ban hành hệ thống quy định, quy chuẩn, nguyên tắc, cách thức chấn chỉnh và đổi mới toàn diện về công tác cán bộ, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm số một, là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành gần 130 văn bản quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có nhiều nghị quyết, quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn… về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Để cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của Trung ương, các cấp ủy cấp tỉnh ban hành hơn 6.200 văn bản các loại, trong đó có nhiều văn bản về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Việc ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết của Trung ương và cấp ủy các cấp đã từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ để thực hiện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Nhìn lại kết quả lựa chọn cán bộ từ đại hội đảng các cấp vừa qua cho thấy, trong công tác cán bộ, nhân sự, Đảng ta áp dụng rất nhiều điểm mới quan trọng so với các nhiệm kỳ trước, trong đó có quy định tiêu chuẩn nhân sự tham gia cấp ủy, quy trình công tác nhân sự và đặc biệt là thực hiện giảm 5% số lượng cấp ủy viên cấp tỉnh, cấp huyện. Qua thực hiện cho thấy cấp tỉnh giảm 6,2%, cấp huyện giảm 11,6%, cấp cơ sở giảm 12,5% và qua đó góp phần giảm chi ngân sách hàng trăm tỷ đồng/năm. Điểm đáng chú ý, dù giảm số lượng cấp ủy nhưng chất lượng, hiệu quả lãnh đạo lại tăng lên nhiều. Bởi chúng ta mở rộng dân chủ, tăng cường trách nhiệm của các cá nhân, tập thể trong lựa chọn giới thiệu người tham gia cấp ủy, có sự thẩm định, giám sát của nhiều bên.

Rút kinh nghiệm từ những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ, việc chuẩn bị, giới thiệu nhân sự tham gia vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII được tiến hành chặt chẽ hơn. Qua nhiều lần quy hoạch, bổ sung, điều chỉnh, Trung ương đã bỏ phiếu kín giới thiệu và đưa vào quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Việc quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2021-2026 được tiến hành từng bước thận trọng theo quy trình chặt chẽ, dân chủ. Đây là kết quả của cả quá trình đổi mới công tác cán bộ một cách bài bản, đúng hướng trên tinh thần bám sát cương lĩnh, nghị quyết, Điều lệ Đảng. Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy các cấp những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, phẩm chất năng lực kém, thiếu gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chạy chức chạy quyền, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm.

“Cán bộ lãnh đạo các cấp phải ghi nhớ, bất cứ ai cũng không có quyền lực tuyệt đối ngoài pháp luật, bất kỳ ai sử dụng quyền lực đều phải phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và tự giác chịu sự giám sát của nhân dân”./.

Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2021

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội (QH) và HĐND năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2016 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của QH. So với Luật Hoạt động giám sát của QH năm 2003, luật hiện hành đã bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về hiệu quả hoạt động giám sát, đó là “giám sát của QH, HĐND là hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước”. Đây là điều mới được bổ sung nhằm làm rõ tính chất giám sát của QH, HĐND; làm rõ mối liên hệ giữa hoạt động giám sát của QH và các cơ quan của QH, đoàn ĐBQH và ĐBQH; giữa HĐND, thường trực HĐND, các ban của HĐND và đại biểu HĐND trong việc bảo đảm hiệu quả của hoạt động giám sát.

Nhằm bảo đảm cho kiến nghị giám sát có tính hiệu quả và khả thi cao hơn trên thực tiễn, luật bổ sung quy định về trình tự, thủ tục QH xem xét đối với kiến nghị giám sát của cơ quan của QH, đoàn ĐBQH, ĐBQH; UBTVQH xem xét đối với kiến nghị giám sát của Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của QH, đoàn ĐBQH và ĐBQH trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát không thực hiện kiến nghị giám sát của các chủ thể này. Luật cũng quy định rõ thời hạn các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát phải thực hiện các yêu cầu, kiến nghị giám sát đối với từng hoạt động giám sát để ĐBQH chất vấn tại kỳ họp QH và phiên họp UBTVQH, cách thức xác định số lượng ĐBQH cần thiết kiến nghị QH bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do QH bầu hoặc phê chuẩn. Bổ sung quy định về việc giám sát của đoàn ĐBQH và của ĐBQH trong việc thi hành pháp luật ở địa phương để phù hợp với vị trí, tính chất giám sát của từng chủ thể.

Cùng với hoạt động lập pháp, QH đặc biệt quan tâm đến giám sát việc thực hiện hiến pháp, pháp luật. Sự giám sát của QH không chỉ bảo đảm cho việc thực hiện đúng đắn, đầy đủ các quy định của hiến pháp, pháp luật trong thực tiễn mà còn kịp thời phát hiện bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật để kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện thể chế. Để thực hiện tốt nội dung nói trên, ngày 26-3-2020, UBTVQH đã ban hành Kế hoạch số 519/KH-UBTVQH14 về việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật. Ngay sau khi UBTVQH ban hành kế hoạch, các cơ quan của QH đã xây dựng kế hoạch chi tiết để triển khai thực hiện. Tại Phiên họp thứ 48 (tháng 9-2020), lần đầu tiên UBTVQH nghe báo cáo tổng hợp kết quả giám sát của các ủy ban của QH về nội dung này. Các cơ quan của QH cũng đã chủ động đưa vào chương trình công tác hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực phụ trách.

75 năm qua, QH Việt Nam luôn làm tròn trọng trách của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quyền lực giám sát của QH là thực chất. Cử tri cả nước hãy cảnh giác trước những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch xuyên tạc hoạt động giám sát của QH. Các ĐBQH cũng cần tỉnh táo trước những thông tin sai lệch. Bên cạnh phẩm chất và năng lực cần thiết, ĐBQH cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, theo sát vấn đề giám sát, đôn đốc, nhắc nhở các đối tượng giám sát một cách thường xuyên. Khi các kết luận giám sát chưa được thực hiện, ĐBQH cần kiên quyết phản ánh trước nghị trường, truy đến cùng vấn đề chưa thực hiện tốt để tạo chuyển biến thực sự trong thực tế và kiên quyết đấu tranh với những hành vi xuyên tạc hoạt động giám sát của QH.

ĐẢNG LÃNH ĐẠO NHƯNG KHÔNG ĐỨNG TRÊN QUỐC HỘI

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định vai trò của Quốc hội (QH) là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước. Người viết: “Những vấn đề quan trọng nhất của nhà nước trong phạm vi toàn quốc đều do QH quyết định”.

Theo Điều 4, Hiến pháp năm 2013, Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”; “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QH nói chung và hoạt động giám sát nói riêng không có nghĩa là Đảng đứng trên QH, “Đảng chỉ tay để QH giơ tay” như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Giám sát của QH không chồng chéo với công tác kiểm tra Đảng, công tác thanh tra của Chính phủ và cũng không “làm theo công tác kiểm tra Đảng” như một số người đã phát biểu.

75 năm qua, QH và các cơ quan của QH, đoàn ĐBQH đã tiến hành nhiều nội dung giám sát quan trọng, từ những vấn đề kinh tế vĩ mô đến các vấn đề cụ thể của đời sống xã hội.  

Trong nhiệm kỳ này, cùng với những nội dung giám sát thường xuyên, QH đã chọn những vấn đề “nóng” nhất, được cử tri và nhân dân quan tâm nhất để tiến hành giám sát tối cao, giám sát chuyên đề. Cũng bắt đầu từ nhiệm kỳ này, QH đã trực tiếp thành lập các đoàn giám sát chuyên đề, thay vì ủy quyền cho UBTVQH thành lập và triển khai như trước, được cử tri đánh giá cao. Một số lĩnh vực vốn được coi là nhạy cảm cũng đã được QH xem xét, thảo luận kỹ lưỡng và được truyền thanh, truyền hình trực tiếp, thể hiện tính công khai, minh bạch trong hoạt động giám sát của QH. Kết thúc hoạt động chất vấn, giám sát chuyên đề, QH đều ban hành nghị quyết để làm căn cứ giúp Chính phủ, các bộ, ngành triển khai thực hiện. Đồng thời, tại kỳ họp cuối năm của năm giữa nhiệm kỳ và năm cuối nhiệm kỳ, QH tiến hành xem xét, giám sát lại việc thực hiện các nghị quyết của QH về giám sát chuyên đề và chất vấn trong cả nhiệm kỳ. Qua đó thể hiện thái độ, trách nhiệm của QH trong việc giám sát đến cùng những vấn đề quan trọng của đất nước, những vấn đề cử tri quan tâm, tạo sự đồng thuận, tin tưởng của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động của Chính phủ, các bộ, ngành trong bộ máy nhà nước và hoạt động của QH.

Đi đôi với nhiệm vụ giám sát hoạt động của nhà nước, QH còn tự giám sát mình. Trong nhiệm kỳ QH khóa XIV, cùng với việc quyết liệt đấu tranh chống tham nhũng, chống tiêu cực trong bộ máy hành chính nhà nước nói chung, các ĐBQH cũng rất quyết liệt chống tiêu cực trong đội ngũ. QH khóa XIV ghi nhận số ĐBQH phải rời vị trí khi chưa hết nhiệm kỳ ở mức độ kỷ lục... Việc gương mẫu xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm pháp luật của các ĐBQH cho thấy hiệu lực của QH không chỉ từ vai trò, chức năng theo quy định của hiến pháp, pháp luật mà còn từ phẩm chất, tư cách và năng lực hoạt động của ĐBQH.

Thực tế đó là minh chứng bác bỏ luận điệu của những đối tượng có âm mưu đen tối, cố tình xuyên tạc rằng “hoạt động giám sát của QH không thực chất, chỉ quyết nghị theo chỉ đạo của Đảng, chỉ mang tính hình thức”.

GIÁM SÁT THỰC CHẤT, ĐÁP ỨNG NGUYỆN VỌNG CỦA CỬ TRI

Phiên chất vấn diễn ra ở thời điểm sắp kết thúc nhiệm kỳ khóa XIV trong không khí dân chủ, thẳng thắn và trách nhiệm. Có sự trao đổi, tranh luận sôi nổi để làm rõ thêm những vấn đề mà đại biểu và cử tri quan tâm. Các ĐBQH đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, nghiên cứu kỹ các báo cáo, đặt câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, đi thẳng vào nội dung chất vấn. Các thành viên Chính phủ, các vị trưởng ngành đã trả lời rõ, thẳng thắn về kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém, chỉ rõ nguyên nhân, nhận trách nhiệm và có giải pháp cụ thể để khắc phục.

Phát biểu kết thúc nội dung chất vấn và trả lời chất vấn, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh: “Có thể coi đây như là bước đầu tổng kết, đánh giá cuối nhiệm kỳ đối với hoạt động giám sát của Quốc hội (QH). Chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp thể hiện tinh thần trách nhiệm của QH, các cơ quan của QH, các vị ĐBQH trong việc theo dõi, giám sát đến cùng những nội dung được cử tri và nhân dân quan tâm mà đã được QH giám sát, ra nghị quyết yêu cầu thực hiện”.

Chất vấn chỉ là một trong rất nhiều hoạt động giám sát của QH. Theo Luật Hoạt động giám sát của QH và hội đồng nhân dân (HĐND) thì giám sát là hoạt động “theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát”, “xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”.

Giám sát của QH bao gồm giám sát tối cao và giám sát chuyên đề của QH, giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của QH, đoàn ĐBQH và các ĐBQH.  

Quốc hội giám sát tối cao hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ; giám sát tối cao văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; giám sát tối cao nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông tư liên tịch giữa bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao.

Đoàn ĐBQH tổ chức hoạt động giám sát của đoàn và tổ chức ĐBQH trong đoàn thực hiện nhiệm vụ giám sát tại địa phương; tham gia giám sát với đoàn giám sát của QH, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của QH tại địa phương. Ngoài hoạt động giám sát tối cao, QH còn có chức năng, nhiệm vụ xem xét báo cáo giám sát chuyên đề, xem xét báo cáo của ủy ban lâm thời, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do QH bầu hoặc phê chuẩn; xem xét báo cáo của UBTVQH về kiến nghị giám sát của UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của QH, đoàn ĐBQH và ĐBQH...

Trong những năm qua, nhất là trong nhiệm kỳ này, hoạt động giám sát của QH đã có nhiều đổi mới, mang lại hiệu quả thiết thực. QH đã ban hành nhiều nghị quyết sau hoạt động chất vấn, giám sát chuyên đề với những nội dung xác đáng, thiết thực. Về cơ bản, Chính phủ, Tòa án Nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát khác đã nghiêm túc, có giải pháp phù hợp, nỗ lực chỉ đạo việc thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của QH, UBTVQH và báo cáo đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của QH, UBTVQH. Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của QH đã tiến hành thẩm tra các báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu giám sát về việc thực hiện nghị quyết về giám sát để tham mưu cho QH, UBTVQH xem xét, đánh giá việc thực hiện nghị quyết. Mặc dù còn có những vấn đề chưa thực hiện đầy đủ nhưng về tổng thể đã tạo sự chuyển biến tích cực, một số lĩnh vực có sự chuyển biến mạnh mẽ, được QH và cử tri ghi nhận, đánh giá cao.

Cùng với hoạt động chất vấn, hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do QH bầu hoặc phê chuẩn là hình thức giám sát đặc biệt quan trọng của QH. Cho đến nay, QH đã trải qua 3 lần lấy phiếu tín nhiệm (tại nhiệm kỳ khóa XIII và nhiệm kỳ khóa XIV). Kết quả mức độ tín nhiệm của từng chức danh đã phản ánh chân thực, khách quan ý chí của QH trong việc đánh giá năng lực, phẩm chất, việc hoàn thành nhiệm vụ đối với người được QH bầu, phê chuẩn. Kết quả này giúp những người được lấy phiếu tín nhiệm thấy được trách nhiệm của mình rõ hơn để có phương hướng khắc phục các khuyết điểm, thiếu sót, phấn đấu rèn luyện nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động, thực hiện tốt chức trách, quyền hạn được giao, tạo chuyển biến rõ nét trong ngành, lĩnh vực được giao. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm được công bố công khai, kịp thời để cử tri và nhân dân theo dõi, giám sát, được dư luận xã hội đánh giá cao. Nhiều bộ trưởng, trưởng ngành lần đầu lấy phiếu có kết quả thấp, nhưng sau đó đặt quyết tâm chính trị cao hơn, tạo sự thay đổi rõ nét trong lĩnh vực phụ trách, được ĐBQH và cử tri ghi nhận, đánh giá đúng mức.  

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2020

QUYỀN LỰC VÀ CÁCH THỨC ĐỂ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC

Quyền lực “là quyền hành và thế lực mạnh, đủ để quyết định các công việc: nắm quyền lực trong tay- dùng quyền lực ép người ta phải nghe theo, làm theo”; còn kiểm soát quyền lực là “kiểm tra, xem xét, nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định” và đặt quyền lực “trong phạm vi quyền hành và trách nhiệm” của những người đã được giao/phân công/ủy nhiệm thực thi quyền lực.

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2020

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT KỶ LUẬT TRONG ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức” và “kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần chủ động xây dựng, bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức, làm tốt công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị. Hàng năm, xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát đảng viên, tổ chức đảng sao cho phù hợp với thực tiễn cơ quan, đơn vị. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc cấp ủy cấp trên kiểm tra, giám sát cấp ủy cấp dưới, kiểm tra chéo, kiểm tra định kỳ và không định kỳ. Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng cùng với thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp gắn với kiểm tra, giám sát cấp ủy viên, cán bộ chủ trì về thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy các cấp, việc chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhiệm vụ đảng viên và thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Quá trình kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện ngăn chặn, “xử lý nghiêm mọi cán bộ, đảng viên vi phạm về trách nhiệm, phẩm chất, đạo đức, lối sống” và “Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách đảng viên”, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng.