Thực tiễn cho thấy, cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù giai cấp và dân tộc trên mặt trận tư tưởng- chính trị và cả ngay trong nội bộ Đảng diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp, nhạy cảm, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ hệ tư tưởng - lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng luôn gắn liền với việc bảo vệ các giá trị lợi ích chân chính của quốc gia, dân tộc. Trong lịch sử cũng như hiện tại, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không bao giờ từ bỏ cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại cách mạng Việt Nam với những thủ đoạn, phương thức, hình thức rất tinh vi xảo quyệt, lúc công khai trắng trợn, lúc ngấm ngầm, âm thầm, thậm chí cũng được che đậy dưới nhiều hình thức, núp dưới những vỏ bọc, danh nghĩa, chiêu bài tinh vi. Vì vậy, phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức trách nhiệm chính trị, bản lĩnh và lập trường giai cấp; kiên định cuộc đấu tranh, gắn việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Kịp thời phát hiện và khắc phục những yếu kém, lạc hậu trong công tác tư tưởng- lý luận. Đây là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu đặt ra đối với mọi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng.
Trên mặt trận tư tưởng - chính trị, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tổ chức những đợt tấn công với quy mô lớn, cường độ cao, có tổ chức chặt chẽ, câu kết trong ngoài nhằm chống phá công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước hòng thực ý đồ chuyển hóa chế độ chính trị, tác động thay đổi tư tưởng, tâm lý, làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành “lực lượng chính trị đối lập ở bên trong”, làm ngòi nổ lật đổ, xóa bỏ chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam…Do đó, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn liền với việc không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng, trong xã hội, đề cao trách nhiệm và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình, “tự soi, tự sửa” theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI và khóa XII để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong nội bộ, hạn chế đến mức thấp những nhân tố bất ổn từ bên trongThứ Hai, 19 tháng 2, 2024
Thứ Hai, 25 tháng 9, 2023
PHÁT HUY VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NHÂN DÂN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, dưới tác động
tiêu cực của tình hình thế giới đến đời sống xã hội đất nước ta như: Xung đột Nga
- Ukraine, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc, dân túy, tự do mới, dịch
bệnh… và những nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường đặt ra cho Đảng, Nhà
nước ta nhiều vấn đề mới, hệ trọng cần phải giải quyết. Trong khi đó, các thế lực
thù địch vẫn tăng cường liên kết với những phần tử cơ hội chính trị, không ngừng
xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng xuyên tạc giá trị, tính
khoa học, cách mạng của học thuyết Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng về
chủ nghĩa xã hội. Chúng xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng con đường đi lên CNXH ở Việt
Nam. Đồng thời, đưa ra các kiến nghị nhiều hình thức vào những dịp Đại hội Đảng,
bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp... đòi đổi mới chính trị theo
hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực chất là đòi xóa bỏ vai trò
lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng còn lợi dụng vào những
khó khăn tồn tại, hạn chế, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội, nhất là các
vấn đề y tế, giáo dục, giao thông vận tải, tài nguyên môi trường…, gây hoang
mang, dao động trong quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý,
điều hành của Nhà nước và chính quyền địa phương, thậm chí dẫn đến “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị trong chính đội ngũ cán bộ, đảng
viên của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng cảnh báo: “Sự suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn
tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng
và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”[1].
Vì vậy, để đấu
tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ngoài việc xác định đúng nội dung,
phương thức đấu tranh, thì cần đặc biệt quan tâm đến đối tượng tham gia vào cuộc
đấu tranh này mà chủ thể đầu tiên, trước hết và cốt lõi là Đảng Cộng sản Việt
Nam, mà cụ thể là các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên của Đảng.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở cần phải
phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt cán bộ, đảng viên và nhân
dân nhận thức sâu sắc và đầy đủ, kiên định và tuyệt
đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục quán
triệt, thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, nhất là các
nghị quyết về xây dựng Đảng. Cấp ủy các cấp phải nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý
tư tưởng; chủ động nhận diện, làm rõ các luận
điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của
Đảng trong tình hình mới. Chủ động, kịp thời cung cấp các thông tin chính thống
để định hướng dư luận; nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi cán bộ, đảng viên
viên và quần chúng trước những tác động và ảnh hưởng xấu từ bên ngoài, nhất là
âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động.
Tăng cường tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, lý tưởng cách mạng
cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Thực hiện
nghiêm túc và có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018, của Ban Bí thư
(khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên
cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong
tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai
đoạn hiện nay. Chủ động, sáng tạo thông qua nhiều hình thức tuyên truyền phong
phú, sáng tạo, giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu và nắm vững hơn nữa bản
chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; thấy rõ bản chất phản động của các thế lực thù địch, phản cách mạng. Chú
trọng việc biểu dương, nêu gương các điển hình tiên tiến, các mô hình, tập thể,
cá nhân tiêu biểu, có sức lan tỏa trong xã hội. Bảo đảm sự thống nhất về ý chí
và hành động, sự đoàn kết trong Đảng.
Chúng ta cần
tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt hơn nữa các chính sách, pháp luật liên
quan đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Điển hỉnh như việc và Nhà
nước đã và đang hoàn thiện nền dân chủ XHCN, thực hiện tốt quy chế, pháp lệnh
dân chủ ở cơ sở; quan tâm thực hiện đúng quyền con người theo các công ước quốc
tế và Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam. Quan tâm chăm lo, thực hiện tốt chính
sách tôn giáo, dân tộc nhằm tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng gắn
liền với đoàn kết toàn dân tộc.
Mỗi đồng chí
cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn sự suy thoái của một bộ phận cán bộ,
đảng viên trước hết là do bản thân các đồng chí đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện,
lập trường tư tưởng không vững vàng trước những tác động từ bên ngoài. Chỉ khi
nhận thức đầy đủ về mục tiêu, lý tưởng của mình, hiểu được chân lý “Còn Đảng là
còn mình” để từng bước khắc phục, đấu tranh với những biểu hiện phai nhạt lý
tưởng cách mạng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng, lười học tập, sợ học lý
luận, lười suy nghĩ, để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.
[1] Đảng
Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa
XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.23
Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM THỰC THI CÔNG VỤ HIỆN NAY
Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ,
công chức về trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ trong thi hành công vụ, về trách
nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch. Vì vậy, các cấp ủy đảng cần triển khai thực hiện nghiêm các chỉ
thị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị
khoá XII, ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Chỉ thị
số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “tiếp tục đổi mới,
nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ
nghĩa Mác - Lênin, tu tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”.
Hai là, chú trọng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, quy tắc ứng
xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của
cán bộ, công chức trong thi hành công vụ. Trước hết là sự tự giác tu dưỡng, rèn
luyện đạo đức để xây dựng uy tín của người cán bộ, công chức cũng như năng lực
thực thi công vụ. Đây là yêu cầu đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức thường xuyên, tự
giác thực hiện, phải coi tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là nhu cầu “tự thân” như
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác
học tập, ra sức tu dưỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức,
trở thành những con người có văn hóa, có liêm sỉ”.
Ba là, nâng cao trình độ, năng lực thực thi công vụ. Năng lực thực thi
công vụ được cấu thành bởi ba yếu tố: kiến thức (những tri thức có được qua đào
tạo), kỹ năng (phương pháp, cách thức thực hiện công việc) và thái độ (tinh
thần, ý thức trách nhiệm).
Nâng cao năng lực thực
thi công vụ trước hết là nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, công chức để
bảo đảm tính chuyên nghiệp, khả năng làm việc trong môi trường hội nhập. Cùng
với đó là bồi dưỡng các kỹ năng cần có trong thi hành công vụ và tăng cường
giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, công chức để phát huy tinh thần
trách nhiệm, thái độ tích cực, cầu thị trong thi hành công vụ.
Bốn là, thực hiện nghiêm túc trách nhiệm nêu gương. Quy định số
08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về trách nhiệm
nêu gương của cán bộ, đảng viên: “Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện,
trau dồi đạo đức cách mạng. Mẫu mực về đạo đức, lối sống. Thực sự cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành”. Vì
vậy, mỗi cán bộ, công chức phải trở thành tấm gương thực sự về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, lề lối làm việc, tác phong công
tác, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Năm là, coi trọng công tác đánh giá cán bộ, công chức. Cần phải đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương đã được xác định trong Nghị quyết số 26 NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
TRÁCH NHIỆM THỰC THI CÔNG VỤ - “SỨC ĐỀ KHÁNG” CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRƯỚC ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Sinh thời, Chủ tịch Hồ
Chí Minh rất coi trọng tinh thần trách nhiệm của người cán bộ. Người giải
thích: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao
cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực
lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm
một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao
làm vậy, v.v. là không có tinh thần trách nhiệm”.
Trong Sắc lệnh số
76/SL ngày 20/5/1950 về việc ban hành quy chế công chức cũng thể hiện rõ yêu
cầu của Người về trách nhiệm của công chức: “Công chức Việt Nam phải phục vụ
nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách
nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt
động của bộ máy Nhà nước”.
Hiện nay, Nhà nước ta
đã ban hành các quy định của pháp luật về trách nhiệm thực thi công vụ của cán
bộ, công chức qua đó xác định rõ trách nhiệm, bổn phận của công chức trước Nhân
dân, trước Nhà nước; trong đó, điển hình là Luật cán bộ, công chức đã thông qua
các quy định về nghĩa vụ công chức, về những việc công chức không được làm, cụ
thể là: Cán bộ, công chức phải thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về
kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức tổ chức kỷ luật;
nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo
người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ
chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi
hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý
và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định
của cấp trên. Đồng thời, công chức không được: Trốn tránh trách nhiệm, thoái
thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia
đình công; sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật; lợi dụng,
lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ
lợi; phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo
dưới mọi hình thức.
Nếu cán bộ, công chức
có hành vi thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ sẽ phải chịu trách nhiệm kỷ
luật (theo quy định của Luật Cán bộ, công chức), hoặc phải bồi thường (theo quy
định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước), thậm chí chịu trách nhiệm
hình sự (theo quy định của Bộ luật hình sự).
Như vậy, có thể thấy,
các quy định của pháp luật về trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức khá đầy
đủ, rõ ràng. Đó là hành lang pháp lý quan trọng để cán bộ, công chức thực hiện
nghiêm trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong thi hành công vụ, hoàn thành bổn
phận của mình trước Nhân dân.
Tuy nhiên, hiện nay có
một bộ phận cán bộ, công chức còn tình trạng làm việc một cách cầm chừng, làm
cho xong, cho hoàn thành công việc để cốt sao không phạm phải khuyết điểm, hay
còn tình trạng “vô cảm”, “thờ ơ” của cán bộ, công chức trong giải quyết công
việc của người dân và doanh nghiệp. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII
nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn
diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm
trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”.
Trước thực trạng đó,
nâng cao trách nhiệm thực thi nhiệm vụ, công vụ là yêu cầu cần thiết và cấp
bách trong giai đoạn hiện nay. Đó cũng là “liều thuốc” để tăng sức đề kháng của
cán bộ, công chức trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác
các quan điểm sai trái, thù địch bởi: Trách nhiệm trong thực thi công vụ giúp
củng cố niềm tin của cán bộ, công chức vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước, tin
tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Niềm tin đó giúp cán
bộ, công chức khắc phục tình trạng “vô cảm”, “thờ ơ”, “nhũng nhiễu” trong giải
quyết công việc; là nền tảng để mỗi cán bộ, công chức tận tâm, tận lực với công
việc.
Hơn thế nữa, nâng cao trách nhiệm thi hành công vụ là nâng cao khả năng nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, tạo cho mỗi cán bộ, công chức có khả năng “miễn dịch” để có thái độ đúng đắn trong phản bác các quan điểm sai trái, các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động. Cán bộ, công chức nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công vụ cho thấy sự vững bền của chiếc cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Thông qua công việc đảm nhiệm, mỗi cán bộ, công chức “hiện thực hóa” chủ trương, chính sách, pháp luật đến Nhân dân và qua đó tạo niềm tin, “tiếp sức” cho nhân dân cùng chung tay bảo vệ Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, lợi ích quốc gia, dân tộc.
BẢN LĨNH VƯỢT KHÓ
Lịch sử của dân tộc
Việt Nam là lịch sử đấu tranh để tồn tại và phát triển. Trong đó, bản lĩnh vượt
khó, khả năng vượt nghịch cảnh là một giá trị của dân tộc ta, đã được minh
chứng và luôn phát huy vào những thời điểm thách thức, cam go nhất.
Năm 2022 được ghi dấu
là một năm đầy thử thách đối với dân tộc Việt Nam. Những tưởng khi dịch
Covid-19 dần được khống chế, đất nước bắt đầu mở cửa trở lại từ tháng 3 thì nút
thắt đã được tháo gỡ. Nhưng mọi thứ không đơn giản như vậy. Biến động địa chính
trị trên thế giới đã tạo ra những đứt gãy trong quan hệ quốc tế, trong chuỗi
cung ứng toàn cầu, lạm phát tăng cao, khủng hoảng giá năng lượng khiến kinh tế
thế giới nhìn chung rất chật vật. Việt Nam với vị thế là nền kinh tế có độ mở
hàng đầu thì cũng chịu rủi ro hàng đầu bởi các tác động bất lợi. Trong thế gian
nan ấy, kinh tế Việt Nam vẫn vững vàng với mức tăng trưởng năm 2022 là 8,02%,
cao nhất trong 12 năm qua và cũng cao nhất trong khu vực ASEAN. Lạm phát được
kìm giữ theo đúng mục tiêu đề ra, với chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 3,15%.
Trong khi thị trường xuất khẩu giảm cầu do lạm phát nhưng Việt Nam vẫn xuất
khẩu ước đạt 371,85 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm trước. Xuất siêu là 11,2 tỷ
USD. Đời sống của người dân cơ bản được giữ ổn định.
Những thành công đó đã
thể hiện bản lĩnh vượt khó và trí tuệ của Việt Nam. Việc nhận thức đúng về thế
giới hiện nay đã được kết tinh thành trường phái “ngoại giao cây tre” rất đặc
trưng của Việt Nam, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, không chọn bên mà chỉ chọn
chính nghĩa, lẽ phải. Nhận thức đúng, ứng xử đúng trong quan hệ quốc tế đã tạo
ra động lực phát triển cho đất nước dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào.
Hội nghị Trung ương 5
và Trung ương 6, khóa XIII của Đảng đã đưa ra các chủ trương lớn để tháo gỡ
những điểm nghẽn thể chế, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, là
minh chứng cho thấy các nghị quyết của Đảng luôn nắm bắt hơi thở của cuộc sống,
là tiền đề rất quan trọng cho giai đoạn phát triển sắp tới. Cùng với đó, Đảng
tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, quyết liệt,
không có vùng cấm, để gìn giữ môi trường chính trị-xã hội lành mạnh, giữ vững
niềm tin của nhân dân.
Trong bối cảnh cạnh
tranh chiến lược gay gắt, xung đột quân sự đã xảy ra trên thế giới, Quân ủy
Trung ương, Bộ Quốc phòng và toàn quân đã thực hiện tốt chức năng tham mưu
chiến lược với Đảng và Nhà nước về quân sự, quốc phòng; làm tốt công tác dự
báo, nắm chắc tình hình, từ đó đề xuất nhiều chủ trương, giải pháp phù hợp với
các tình huống, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm, không để bị động, bất
ngờ. Đây là điều rất căn bản để giữ được “trong ấm, ngoài êm”. Chất lượng tổng
hợp, sức mạnh, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội được nâng
cao. Cùng với đó, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng cũng đã phối hợp chặt chẽ
với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương huy động, quản lý, sử dụng hiệu
quả các nguồn lực, phát huy tốt vai trò nòng cốt của Quân đội trong việc xây
dựng “thế trận lòng dân” gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.
Năm 2023 được dự báo
cạnh tranh chiến lược trên thế giới tiếp tục gay gắt và có những trạng thái
nguy hiểm. Nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đối mặt với nguy cơ suy thoái.
Hoàn cảnh đó một lần nữa đặt dân tộc ta, đất nước ta trước những khó khăn,
thách thức mới. Tuy nhiên, các kết quả đã đạt được trong giai đoạn chống dịch
Covid-19, những kết quả của năm 2022 là cơ sở để chúng ta vững tin ở bản lĩnh
vượt khó của đất nước để đạt các mục tiêu đề ra. Muốn vậy, toàn thể dân tộc ta
cần giữ vững khối đại đoàn kết dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng. Mỗi tập thể, cá nhân
cần nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thực hiện tốt vai trò, chức trách của mình.
Mỗi cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần tiếp tục nỗ lực giữ gìn ý thức, kỷ luật,
nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, lao động, học tập, công tác
để tăng cường sức mạnh tổng hợp của Quân đội, tiếp tục xây dựng thế trận quốc
phòng toàn dân vững chắc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển
đất nước.
Theo: QĐND
Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022
NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN
Chủ nghĩa cá
nhân (CNCN) có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng vậy.
CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với lối
nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông qua
tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham muốn
quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể). Những người rơi vào CNCN thường quan niệm
và tuân theo những “triết lý” tự đúc rút; thể hiện sự bảo thủ cao độ, không hạn
chế mục đích và ham muốn bản thân. Họ “phản đối” và bất chấp sự can thiệp từ
bên ngoài lên sự lựa chọn cá nhân, dù sự can thiệp đó là của xã hội, nhà nước,
hoặc bất kỳ một cộng đồng, một tập thể hay một thể chế nào khác. Họ là nhất - hơn
tất cả và chỉ lao động hoặc sáng tạo vì lợi ích của riêng họ mà bất chấp bỏ qua
những mối liên hệ, mối quan hệ xung quanh trong đời sống xã hội. Những dấu hiệu
này đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút, chỉ rõ: CNCN là “miễn là mình
béo, mặc thiên hạ gầy”; là việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước
hết; chỉ biết “mọi người vì mình” mà không lo “mình vì mọi người”.
Chủ nghĩa cá
nhân hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều
mặt tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết,
có thể gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”- điều đó tạo
ra bản sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết
lý “tôi là nhất” của chủ nghĩa cá nhân.
Khác nhau là vậy,
nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao cá tính một
cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản thân thì bấy giờ
cá tính đã trở thành CNCN. Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt (đó là cá tính
đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc, vi phạm dân
chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ trượt chân ngã
vào CNCN. Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê bình là tốt, nhưng
nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh em để tự suy tôn, ngợi
ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn hơn là việc phê bình
không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành “câu chuyện làm quà” thì
khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy...
Ngược lại, CNCN
thường được “ngụy trang” trong dáng dấp của cá tính. Nhiều người vẫn nhầm tưởng,
thậm chí là bày tỏ sự tôn trọng bởi một số cán bộ, đảng viên dám sống đúng với
cá tính của mình; thế nhưng, nếu không biết phân tường đúng đắn thì phía sau cá
tính đáng quý ấy của một ai đó rất có thể là một bức tranh đen đặc CNCN.
Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình, hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản trung kiên.
Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022
LÀM GÌ ĐỀ CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN?
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan
tâm đến vấn đề giặc nội xâm – Chủ nghĩa cá nhân. Một loại giặc xâm lược từ bên
trong vô cùng nguy hại, nó như một loại vi rút ẩn náu bên trong cơ thể con
người, có thể trỗi dậy bất cứ lúc nào, và gây nên hậu quả vô cùng tai hại, làm “mất
người”, mất nước, mất chế độ. Vì vây, phải không ngừng nâng cao đạo đức cách
mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường,
mở của hội nhập hiện nay.
Đấu
tranh quét sách chủ nghĩa cá nhân là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và cả
hệ thống chính trị, để làm được điều đó, cần thực hiện tốt một số nội dung biện
pháp sau:
Một
là, nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng,
nhất là mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá
nhân. Tăng cường, quán
triệt, giáo dục chính trị, đạo đức và pháp luật cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ
và nhân dân; giúp họ nâng cao nhận thức tư tưởng, củng cố lập trường, bản lĩnh
chính trị; thấy rõ hơn nữa vị trí, vai trò “nền gốc” của đạo đức cách mạng:
cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư và tác hại của sự suy thoái, tha hóa,
biến chất và hậu quả phải gánh chịu từ những sai lầm ấy. Từ đó, giúp cán bộ,
đảng viên chủ động, tích cực học tập, tu dưỡng, rèn luyện về mọi mặt, được
“miễn dịch”, có sức đề kháng tốt để không sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cán bộ,
đảng viên cần có kế hoạch phù hợp để học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh thống qua những việc làm cụ thể, thiết thực, hằng ngày
để luôn tiến bộ, trưởng thành; mãi xứng đáng là “công bộc của nhân dân”, “người
đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; được nhân dân tin yêu, ủng hộ.
Hai
là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trước quần chúng nhân dân
trong đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải là tấm gương sáng, mẫu mực trong
chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
quy chế, quy định, điều lệ, chỉ thị, kế hoạch, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Tự
ý thức và tự giác nêu cao tinh thần cách mạng, ý chí phấn đấu vươn lên, thực
hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình, biết “tự soi tự sửa”, không đi
vào “vết xe đổ của người khác”. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, chống chủ nghĩa
cá nhân; gột rửa, tẩy sạch mọi biểu hiện tiêu cực, cực đoạn của cá nhân và đồng
chí, đồng đội. Phấn đấu bền bỉ, dẻo dai, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ; có thực
đức, thực tài; có uy tín và tầm ảnh hưởng cao; sống trong sạch, lành mạnh.
Ba là, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ,
đảng viên.
Mỗi cán bộ đảng viên phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng như
đánh răng, rửa mặt hàng ngày. Có tinh thần, trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật
cao; tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; tránh xa mọi cám dỗ, sự mua
chuộc; việc làm sai trái. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng
viên giữ chức vụ lãnh đạo, chỉ huy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải là
trung tâm đoàn kết xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xứng đáng là người đại
diện chân chính cho lợi ích của tập thể cơ quan, đơn vị và lợi ích quốc gia –
dân tộc. Đề cao sự gương mẫu, làm mẫu về mọi mặt để mọi người tin yêu, ra sức
học tập và noi theo. Thực hiện tốt Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về những điều đảng viên không được làm,
kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc
phương châm “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”, “một tấm gương
sống còn giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
Bốn là, phát huy tinh thần anh dũng đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân của mỗi cán bộ, đảng viên. Kiên quyết, kiên trì dũng cảm đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, suy thoái, biến chất, tha hóa; thực hiện tốt pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng; quy định, quy chế của cơ quan, đơn vị về chế độ quản lý cơ sở vật chất, tài sản công; công khai tài chính, kết hợp chặt chẽ công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng với công tác chuyên môn nghiệp vụ của đơn vị. Không để xảy ra thất thoát tiền của, lãnh phí tiền bạc, mất mát, hư hỏng tài sản công; góp phần bảo vệ cán bộ, đảng viên “từ sớm, từ xa”, từ khi cán bộ, đảng viên chưa bị kỷ luật; không để căn bệnh chủ nghĩa cá nhân – một loại vi rút độc hại có đất tồn tại, gây bệnh, sinh sôi, nảy nở trong cơ quan, đơn vị, gây hại cho cán bộ, đảng viên và sự bất công trong cuộc sống./.
Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022
CHẶN TỪ GỐC XA HOA, LÃNG PHÍ
Mới đây, cựu Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh
Quảng Ninh tổ chức “lễ chia tay” trước khi về hưu một cách phô trương, xa hoa
khiến dư luận không khỏi bức xúc.
“Bản án” kỷ luật cảnh cáo về Đảng và về hành chính đối với chủ
nhân bữa tiệc phần nào đã làm an lòng dân với niềm tin vào sự nghiêm minh của
Đảng, chính quyền. Nhưng quần chúng vẫn còn đó những trăn trở, day dứt về thực
trạng một số cán bộ, đảng viên sống xa hoa, lãng phí-nguồn gốc và cũng là biểu
hiện của tham nhũng, tiêu cực.
Trước đây, từng có nhiều bài học liên quan đến việc cán bộ, đảng
viên tổ chức tiệc tùng rình rang, linh đình, với sự góp mặt của nhiều “xe biển
xanh”, bị nhân dân lên án về thói xa hoa, lãng phí. Trong quá trình đấu tranh
chống tham nhũng, cơ quan chức năng phát hiện nhiều trường hợp nhận hối lộ
không chỉ bằng tiền, vàng, đô-la mà còn thông qua tiêu xài hoang phí, như vụ
một cán bộ cấp cao từng “bảo kê” cho sòng bạc được phục vụ ăn nhậu với tổng số
tiền cả chục tỷ đồng. Lối sống xa hoa của một số cán bộ còn được thể hiện bằng
cách khoe khoang dinh thự lộng lẫy, những buổi yến tiệc cao lương mỹ vị...
Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng Đảng đã xác định,
phải khắc phục ngay tình trạng ăn uống, liên hoan, gặp mặt không lành mạnh.
Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW ngày 29-11-2021 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực
hiện Quy định về những điều đảng viên không được làm, nêu cụ thể: Đảng viên
không được “Tổ chức việc cưới, việc tang và các sự kiện khác của cá nhân, gia
đình (ngày lễ, tết, sinh nhật, lên chức, mừng nhà mới, mừng thọ, chuyển công
tác...) một cách phô trương, hình thức, lãng phí, gây phản cảm, bức xúc trong
xã hội” và đó cũng là một trong các hành vi tiêu cực cần tập trung chỉ đạo
phòng, chống mà Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW ngày 1-8-2022 của Ban chỉ đạo Trung ương
về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã chỉ rõ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở rằng lãng phí là một
căn bệnh, tội lỗi với Đảng, với Nhà nước và nhân dân, sự lãng phí gây ra rất
nhiều tác hại trước mắt và hậu quả lâu dài. Người nhấn mạnh: “Có tiết kiệm,
không hoang phí, xa xỉ, thì mới giữ được liêm khiết, trong sạch. Nếu hoang phí,
xa xỉ, thì ắt phải tìm cách xoay tiền. Do đó mà sinh ra hủ bại, nhũng lạm, giả
dối”.
Vụ việc liên quan đến nguyên Giám đốc CDC tỉnh Quảng Ninh và
những trường hợp bị xử lý kỷ luật về lối sống xa hoa, lãng phí, vi phạm nghiêm
trọng quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và những điều
đảng viên không được làm, là bài học cảnh tỉnh chung cho cán bộ, đảng
viên-những người mang trọng trách làm gương cho quần chúng nhân dân về lời nói,
hành động và giữ gìn thanh danh của Đảng.
Để không phát sinh những vụ việc tương tự, các cấp ủy, tổ chức
đảng cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục; đưa việc thực hành nêu gương trở
thành ý thức tự giác, việc làm hằng ngày của cán bộ, đảng viên. Cùng với xử lý
nghiêm những trường hợp vi phạm để đủ sức răn đe, các cấp ủy, tổ chức đảng theo
thẩm quyền, cần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý cán bộ, đảng
viên, kịp thời ngăn chặn những hành vi có biểu hiện của thói phô trương, xa
hoa, lãng phí.
Xét cho cùng, để chặn từ gốc xa hoa, lãng phí thì ý thức của bản
thân cán bộ, đảng viên đóng vai trò quyết định. Mỗi đảng viên cần nhận thức sâu
sắc vai trò là những người đại diện của Đảng, được quần chúng tin tưởng lựa
chọn đứng trong hàng ngũ của Đảng để không ngừng rèn luyện đạo đức, lối sống từ
những hành động cụ thể. Việc sống giản dị, hòa đồng chính là cách mỗi đảng viên
thể hiện vai trò làm gương và trách nhiệm đạo đức của mình trước dân, trước
Đảng.
ĐÀO HỒNG
KHẮC PHỤC "BỆNH" SỢ TRÁCH NHIỆM
Trong phiên họp thường kỳ của UBND tỉnh Thanh Hóa diễn ra mới
đây, Chủ tịch UBND tỉnh Đỗ Minh Tuấn nhận xét: “Trong đội ngũ cán bộ, công
chức, có cả bộ phận đội ngũ lãnh đạo từ tỉnh đến cơ sở vừa qua xuất hiện tư
tưởng sợ trách nhiệm, sợ vi phạm, đùn đẩy, không làm hết trách nhiệm, vướng là
đẩy lên trên”.
Thực tế, không chỉ ở Thanh Hóa mà nhiều tỉnh, thành phố khác
trên cả nước cũng xảy ra hiện tượng này. Thậm chí, "bệnh" sợ trách
nhiệm còn diễn ra ngay tại một số bộ, ngành cấp Trung ương.
Điển hình là khi một số vụ việc liên quan đến ngành y tế bị phát
hiện, xử lý thì sau đó việc tổ chức đấu thầu, mua sắm thuốc, sinh phẩm và trang
thiết bị y tế bị đình trệ; hợp tác kinh doanh, đầu tư các trang thiết bị y tế
thế hệ mới từ nguồn lực xã hội bị dừng lại... dẫn đến thuốc, sinh phẩm, vật tư
y tế thiếu nghiêm trọng, đe dọa tới an toàn sức khỏe, tính mạng của người dân,
nhưng các cơ sở y tế cũng không dám mua sắm, đấu thầu.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng sợ trách nhiệm. Nguyên
nhân khách quan là do quy định của pháp luật có những điểm thiếu cụ thể, chưa
đồng bộ, chưa có quy định trách nhiệm rõ ràng và quy định cụ thể về bảo vệ
người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Nguyên nhân chủ quan là do năng lực, trình độ của một bộ phận
cán bộ còn hạn chế, không cập nhật quy định của pháp luật có liên quan để tránh
làm sai; người có thẩm quyền quyết định thiếu chuyên môn, lại không tin tưởng
cấp dưới; cấp dưới có trình độ còn hạn chế, tinh thần làm việc thụ động, sợ
trách nhiệm, trông chờ ý kiến cấp trên.
Sợ trách nhiệm đã thành "căn bệnh" ảnh hưởng rất lớn
đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, đơn vị. Lớn hơn, nếu để
"bệnh" sợ trách nhiệm kéo dài thì sẽ làm giảm hiệu lực quản lý của Nhà
nước, giảm lòng tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Để khắc phục “bệnh” sợ trách nhiệm, sợ vi phạm, đùn đẩy, không
làm hết trách nhiệm, vướng là đẩy lên trên, cần tập trung rà soát những bất
cập, nhanh chóng sửa đổi những quy định của pháp luật có liên quan theo hướng
rõ ràng, minh bạch hơn; cá thể hóa trách nhiệm của từng cá nhân và phải được cụ
thể hóa thành luật. Trong đó, cần rà soát, nghiên cứu bảo đảm quản lý chặt chẽ,
có tính răn đe, giáo dục; không để người xấu, người thiếu trách nhiệm lợi dụng
nhưng cũng tạo sự yên tâm cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ.
Cùng với đó, để khuyến khích tinh thần dám đương đầu với khó
khăn, dám sáng tạo, đột phá vươn lên thì cách đánh giá cán bộ cũng cần được đổi
mới, xóa được tư tưởng “an phận thủ thường”, “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai
ít, không làm không sai” trong một bộ phận công chức, viên chức. Cách đánh giá
cần phải giúp người được giao việc, nhất là việc mới, việc khó vững tâm tin
rằng, nếu mình làm vì lợi ích chung thì sẽ được nhìn nhận đúng.
Bên cạnh đó, trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ cần thực hiện
phương châm “6R” (Rõ quy trình, rõ đối tượng, rõ người thực thi, rõ việc, rõ
trách nhiệm, rõ thời gian) một cách triệt để; coi trọng công tác kiểm tra, đánh
giá trên cơ sở mở rộng, đề cao dân chủ nhằm kích hoạt tinh thần dám nghĩ, dám
làm và các nhân tố mới.
Đây cũng là cách thiết thực để cụ thể hóa Kết luận số 14-KL/TW
ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị về “Chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ
năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”. Trong đó, tập thể phải là “bệ đỡ” cho
tinh thần trách nhiệm của từng cán bộ dám nghĩ, dám làm vì sự nghiệp chung, vì
lợi ích của nhân dân.
HOÀNG KHÁNH TRÌNH - QĐND
Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022
NGHIÊN CỨU BỔ SUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN CỦA NGƯỜI THÂN KHI CÓ CƠ SỞ NGHI NGỜ
Theo Ủy viên Thường trực
Uỷ ban Pháp luật Đỗ Đức Hiển, một bất cập lớn trong hoạt động thanh tra thời
gian qua, đó là việc thu hồi tiền, tài sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, sử dụng
sai mục đích được phát hiện trong quá trình thanh tra và khắc phục kiến nghị xử
lý sau thanh tra đạt tỷ lệ thấp. Tuy nhiên, qua rà soát các quy định của dự thảo
Luật thanh tra (sửa đổi) đang được đưa ra lấy ý kiến tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội
khoá XV cho thấy, dường như giải pháp cho bất cập nêu trên chưa được chú trọng.
Mặc dù dự thảo Luật có
quy định về việc tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép (Điều 78) nhưng biện pháp này
không được áp dụng trong trường hợp đối tượng thanh tra có hành vi tẩu tán tài
sản. Bên cạnh đó, mặc dù khoản 3 Điều 66 dự thảo Luật có quy định việc chuyển hồ
sơ sang cơ quan điều tra, song lại chưa có quy định về việc chuyển tiếp biện
pháp ngăn chặn cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan.
Theo quy định của dự thảo
Luật thì việc áp dụng biện pháp phong toả tài khoản, tạm giữ tiền, đồ vật sử dụng
trái phép chỉ được thực hiện đối với tiền, tài sản trong phạm vi thanh tra. Trường
hợp phát hiện tiền, tài sản có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật và phát
hiện có dấu hiệu của việc chuyển dịch tài sản nhưng không thuộc phạm vi thanh
tra thì người có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra cũng không được áp dụng
các biện pháp nêu trên.
Để tăng cường hơn nữa hiệu
lực, hiệu quả của công tác thu hồi tiền, tài sản nói chung, qua hoạt động thanh
tra nói riêng, Ủy viên Thường trực Uỷ ban Pháp luật Đỗ Đức Hiển đề xuất bổ sung
một số biện pháp ngăn chặn mà cơ quan thanh tra có thể áp dụng nhằm phòng ngừa
nguy cơ tẩu tán tiền, tài sản. Theo đó, cùng với việc nghiên cứu giao trưởng
đoàn thanh tra có thẩm quyền quyết định phong toả tài khoản của đối tượng thanh
tra, thì cũng cần nghiên cứu giao trưởng đoàn thanh tra có thể áp dụng cả biện
pháp tạm giữ tiền, đồ vật, giấy tờ nếu có căn cứ cho rằng đối tượng thanh tra sẽ
tẩu tán các tài sản này. Bên cạnh đó, đối với tài sản là động sản phải đăng ký
quyền sở hữu hoặc bất động sản, cần nghiên cứu bổ sung biện pháp tạm dừng việc
đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản của đối tượng thanh tra nhằm
ngăn chặn hoặc tạm dừng các hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy
hoại, thay đổi hiện trạng tài sản của đối tượng thanh tra.
Đối với trường hợp phát
hiện có vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm, thì cùng với việc chuyển hồ sơ
sang cơ quan điều tra để xử lý theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự, cần bổ
sung quy định về cơ chế phối hợp, chuyển tiếp đối với các biện pháp ngăn chặn
mà trưởng đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra đã thực hiện. Đồng thời,
cần nghiên cứu bổ sung quy định cho phép đoàn thanh tra hoặc thanh viên viên thực
hiện việc xác minh, kê biên đối với tài sản của đối tượng thanh tra cần thu hồi.
“Các quy định này nếu được
bổ sung cũng sẽ góp phần tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của đoàn thanh
tra, thanh tra viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ”, ông Hiển nói.
Song ông Hiển cũng lưu ý,
đi cùng với việc mở rộng thẩm quyền cũng cần quy định trình tự thủ tục thực hiện
chặt chẽ và có cơ chế tăng cường giám sát của các cơ quan có liên quan.
Về lâu dài, theo ông Hiển
phải nghiên cứu bổ sung các quy định trong pháp luật phòng chống tham nhũng về
trách nhiệm giải trình đối với tài sản của người thân trong gia đình hoặc người
có liên quan khi có cơ sở nghi ngờ những người này giúp đối tượng thanh tra tẩu
tán, che giấu tài sản có được từ hành vi vi phạm pháp luật.
“Với tài sản tăng thêm mà
họ không giải trình được hợp lý thì cơ quan chức năng được quyền khởi kiện vụ
án dân sự tại toà án có thẩm quyền để có phán quyết về nguồn gốc của phần tài sản,
thu nhập đó theo trình tự khởi kiện vụ án dân sự”, ông Hiển đề xuất.
Phát biểu tại Hội nghị
toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu: Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng
bộ thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế – xã hội và phòng, chống
tham nhũng, tiêu cực; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng
trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng, tiêu cực”.
Cùng với đó, tiếp tục
hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách
nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu
quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính và
xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ
trong giai đoạn mới.
Đặc biệt, phải xây dựng đội
ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thật sự có bản lĩnh,
thật sự liêm chính, trong sạch. Phải phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trước hết
và ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực
“Nhất là sự suy thoái về
tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây mới là cái gốc, cái nguy hiểm nhất,
dẫn đến tham nhũng, hư hỏng; không chỉ làm mất tiền, mất của, mà còn mất người,
thậm chí mất cả chế độ”, Tổng Bí thư lưu ý.
Lời phát biểu của Tổng Bí
thư cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo, hoàn
thiện thể chế pháp luật trong cuộc đấu tranh PCTN nói chung và công tác thu hồi
tài sản tham nhũng ở nước ta nói riêng; tạo sức lan toả mạnh mẽ trong toàn xã hội,
với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn, tạo bước chuyển lớn
trong cuộc chiến chống tham nhũng.
Có thể thấy, thể chế nói
chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, trọng tâm là
hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng
ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng, tiêu cực. Vì vậy, phải xây dựng cho được một
cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; một cơ chế răn đe, trừng
trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; và một cơ chế bảo đảm để “không cần
tham nhũng”.
Cần phải khẳng định, đấu
tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề rất phức tạp, gay go. Phòng,
chống tham nhũng là “chống giặc nội xâm”, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên không
chỉ đấu tranh với những người khác mà ngay cả với chính bản thân mình. Vì vậy,
bên cạnh các giải pháp bổ sung, hoàn thiện về thể chế, thì giải pháp quan trọng
hơn cả vẫn là yếu tố con người. Bởi các quy định pháp luật dù hoàn hảo đến đâu
nhưng người có chức vụ, quyền hạn hay thực thi pháp luật tâm không sáng, lòng
không trong, thì vẫn cố tìm mọi cách lợi dụng kẽ hở pháp luật để trục lợi, tham
nhũng tiêu cực.
Hơn hết, cần chú trọng
nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đối
với công tác thu hồi tài sản tham nhũng, chống mọi biểu hiện tiêu cực, tham
nhũng. Xử lý nghiêm “không có vùng cấm” đối với các đối tượng tham nhũng nói chung
và các sai phạm, tiêu cực trong quá trình thu hồi tài sản tham nhũng nói riêng;
đưa nội dung thu hồi tài sản tham nhũng vào chương trình kiểm tra, giám sát
hàng năm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị mình…
Nếu không thực hiện đồng
bộ, quyết liệt các biện pháp này, kẻ tham nhũng không bao giờ từ bỏ ý định lợi
dụng kẽ hở pháp luật để vơ vét, che giấu tài sản, thậm chí là “hy sinh đời bố củng
cố đời con“…!
Vy Anh
Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022
HỌC TẬP VÀ LÀM THEO BÁC: NẮM CHẮC THÔNG TIN CƠ SỞ!
Có một lần chuẩn bị cho
bài viết về Tết trồng cây, Bác Hồ cho mời đồng chí Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm
nghiệp lên làm việc. Sau một hồi nghe đồng chí báo cáo về kết quả trồng rừng, về
việc phát động phong trào Tết trồng cây với những con số rất cụ thể và ấn tượng,
bỗng Bác ra hiệu cho đồng chí dừng lại và hỏi: “Chú khuếch đại không đấy? Những
con số này chú lấy từ đâu?”. Đồng chí Tổng cục trưởng thưa: “Thưa Bác, con số
này được tổng hợp của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Tổng cục Lâm nghiệp nên rất
đáng tin tưởng ạ”. Nghe vậy Bác hỏi tiếp: “Thế trong số 800 triệu cây trồng mới
theo chú nói thì có tính cả cây sú, cây vẹt không?”. Đồng chí Tổng cục trưởng
báo cáo: “Thưa Bác, nếu tính cả loại sú, vẹt thì không thể đếm xuể ạ”. Nghe đến
đây Bác cười và nói: “Thế mà vừa rồi Bác xuống Nam Định khi nghe báo cáo về kết
quả trồng cây, Bác hỏi có tính cả cây sú và vẹt vào không, các đồng chí Nam Định
báo cáo với Bác là có tính cả đấy. Chú không đi cơ sở thì làm sao biết được sự
thật. Chú đừng tự biến mình thành loại cán bộ lãnh đạo chỉ quen biết “sự thật”
qua báo cáo”…
Câu chuyện trên có thể để
lại nhiều bài học lớn cho các cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo. Trước
hết, đó là phải nắm chắc thông tin từ cơ sở. Việc nắm đó có thể qua nhiều cách,
nghe báo cáo trực tiếp, qua báo cáo bằng văn bản, qua báo chí, qua đội ngũ tham
mưu…, nhưng dù bằng cách nào cũng cần có sự phối kiểm, thẩm định, để bảo đảm
thông tin được khách quan, chính xác. Nếu cán bộ lãnh đạo nắm thông tin không đầy
đủ, không chính xác thì có thể ra quyết định lãnh đạo không đúng đắn, thậm chí
sai lầm. Chẳng hạn, lãnh đạo cấp trên hỏi về số doanh nghiệp đã phục hồi hoạt động
sau dịch nếu không nắm được con số chính xác thì không thể có chỉ đạo, định hướng
phù hợp nhằm giúp doanh nghiệp của địa phương hoạt động thuận lợi, phù hợp, hiệu
quả.
Vấn đề đi cơ sở đương
nhiên rất quan trọng. Chỉ nghe báo cáo mà không trực tiếp nắm bắt thông tin, sự
việc từ cơ sở thì rất dễ tiếp nhận các con số, các thông tin rất “đẹp” mà tính
chân thực có thể ở chiều ngược lại. Có khi, do sự trùng lắp, nhận thức khác
nhau mà dẫn đến thông tin khác nhau, chứ chưa nói đến sự cố tình ngụy tạo số liệu
“đẹp”, nếu không bám sát cơ sở thì lãnh đạo có thể tiếp nhận các thông tin sai
lệch. Chẳng hạn, ở phường nọ, theo báo cáo, tổ chức phụ nữ, đoàn thanh niên, hội
cựu chiến binh đều cho thấy từng đơn vị hỗ trợ được 10 trường hợp khó khăn nên
phường báo cáo lên quận là có 30 trường hợp được chăm lo. Nếu cán bộ của quận
không tìm hiểu kỹ có khi thực tế cả 3 đơn vị cùng chăm lo chỉ bao nhiêu đó người
nên đúng ra chỉ có 10 trường hợp chứ không phải “cộng dồn” thành 30 như báo
cáo!
Bài học nữa đó là phải có
sự hoài nghi khoa học khi tiếp nhận thông tin, báo cáo. Câu chuyện trên cho thấy,
chỉ một câu hỏi “vặn” của Bác Hồ thì đồng chí Tổng cục trưởng đã bộc lộ “điểm hở”,
từ đó cho thấy đồng chí không nắm chắc vấn đề. Do đó, khi nhận thông tin, cán bộ
lãnh đạo không thể máy móc tiếp thu mà phải có cách thức ứng xử với các thông
tin đó, nhằm bảo đảm thông tin đó là chính xác, phù hợp. Chẳng hạn, khi được cấp
dưới báo cáo về các mô hình rất tích cực, hiệu quả thì phải tìm các điểm hợp lý
và bất hợp lý để xác tín rằng các mô hình đó có trung thực, chính xác hay
không. Trong trường hợp chưa có cách kiểm tra thông tin mà đã tin ngay rồi đề
nghị lan tỏa, học tập kinh nghiệm… thì có khi bị “việt vị”!
Ngoài ra, phải nghe nhiều
chiều, có đối chiếu, so sánh, kể cả ở những địa phương, đơn vị khác nhau chứ
không nhất thiết ở những cơ quan có sự tương đồng. Như trong chuyện kể trên, từ
“diện” là thông tin tổng ở cả nước, Bác Hồ đã đối chiếu với “điểm” ở một tỉnh
và nhận ra ngay “độ vênh” giữa các thông tin, từ đó có thể chỉ ra được đâu là
thông tin sai lệch. Thí dụ, quận nắm số liệu về chăm lo cho trẻ mồ côi do
Covid-19 nhân dịp chuẩn bị năm học mới, thấy các số liệu của một số phường
“chênh” quá nhiều, có thể đối chiếu tỷ lệ so với quy mô dân số, với tổng số trẻ
mồ côi do dịch bệnh đã được thống kê là bao nhiêu, từ đó có thể phần nào đánh
giá được sự chăm lo của các phường có đầy đủ không, hoặc có diễn biến nào bất
thường không…
Trên thực tế, hiện nay việc
nắm chắc tình hình thực tế ở cơ sở có nhiều điểm thuận lợi. Chẳng hạn, hệ thống
lưu trữ được công nghệ hóa nên việc đối chiếu, truy xuất khá dễ dàng, trong trường
hợp cần thiết chỉ điện thoại, gửi email, gửi tin nhắn để xác tín, từ đó có thể
tìm ra được thông tin gần đúng nhất. Hay thông tin, báo cáo có được từ nhiều
nguồn, vốn độc lập với nhau, khi cần có thể phối kiểm được ngay (như từ các địa
phương, các ngành, của báo chí, của cá nhân…). Đồng thời, ngay cả việc giám sát
của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân cũng được nâng cao về quy mô và
hiệu quả nên qua đó có thể tìm ra các “đáp số” một cách nhanh chóng. Ngoài ra,
nhiều lĩnh vực đã có phần mềm, ứng dụng bảo đảm tính liên thông trong toàn hệ
thống, có thể trích xuất theo từng “trường” khác nhau (như địa phương, cơ quan,
lĩnh vực…) và số liệu đó sẽ bảo đảm sự chính xác, hợp lý.
Suy cho cùng, các phương
tiện, công cụ là rất quan trọng nhưng thái độ, tinh thần trách nhiệm của cán bộ,
đảng viên vẫn có ý nghĩa quyết định. Nếu cán bộ lãnh đạo không xem trọng thông
tin, số liệu từ cơ sở báo lên thì có thể vô tình “tiếp tay” cho các báo cáo thiếu
trung thực tồn tại, có thể dẫn đến hậu quả khó lường. Nếu cán bộ cấp dưới tắc
trách, lơ là, làm đại khái… thì dù lãnh đạo có nhiều cách thức kiểm tra, giám
sát vẫn khó bảo đảm luôn chính xác trong mọi trường hợp. Do đó, cần phải nêu
cao tinh thần trách nhiệm, tính kỷ luật trong việc xây dựng báo cáo, cung cấp
thông tin, bởi nó không chỉ thể hiện tính thứ bậc hành chính mà còn liên quan đến
việc phục vụ nhân dân. Trong các trường hợp cấp dưới cố tình báo cáo sai lệch,
cần có biện pháp xử lý nghiêm khắc để chấn chỉnh chung.
Vì vậy, cán bộ lãnh đạo phải biết “đọc” sự thật bằng nhiều cách, chứ không chỉ qua báo cáo!
Thứ Hai, 22 tháng 8, 2022
“KHOẢNG TRỐNG” NHÂN DÂN GIÁM SÁT
Muốn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (TN, TC) hiệu quả thì phải phát huy tốt vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân, bởi
không có gì mà nhân dân không biết và không có gì qua mắt được nhân dân. Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Phải biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ
tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi,
không để cho tệ tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”.
Nhận thức rõ vấn đề này,
suốt quá trình cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt và thực hiện phương châm “Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”, đến Đại hội lần thứ XIII vừa
qua, Đảng đã bổ sung thêm “dân thụ hưởng”. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều quy
định để phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng nói chung,
trong phòng, chống TN, TC nói riêng, như: Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật
Khiếu nại; Luật Tố cáo; Quy chế dân chủ ở cơ sở… Đặc biệt, ngày 3-10-2017, Ban Bí
thư Trung ương Đảng đã ban hành Quyết định số 99-QĐ/TW về hướng dẫn tiếp tục
phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái,
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Theo đó, các cấp ủy, tổ chức đảng
phải công khai để nhân dân biết về nhiều nội dung, làm cơ sở góp ý và giám sát
việc tu dưỡng, rèn luyện, giữ vững lập trường tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo
đức, lối sống của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bô, đảng viên (CB, ĐV)…
Tuy nhiên, hiện nay, việc
phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân vẫn là khâu yếu, thậm chí còn
tồn tại nhiều “khoảng trống” dẫn đến nhân dân rất khó thực hiện quyền kiểm tra,
giám sát.
Đầu tiên, việc công khai,
minh bạch là cơ sở, điều kiện để phát huy vai trò, trách nhiệm của nhân dân
trong tham gia kiểm soát quyền lực, phòng, chống TN, TC, bởi nếu nhân dân không
biết thì làm sao có thể kiểm tra, giám sát? Thế nhưng lâu nay, việc thực hiện
các quy định về công khai, minh bạch ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương còn
mang tính hình thức, đối phó; thậm chí, có tình trạng không thực hiện công khai
và hiện tượng cố tình đóng dấu “mật” vào những tài liệu lẽ ra cần công khai.
Hình thức công khai cũng chưa phù hợp, người dân khó tiếp cận, dẫn đến rất ít
người biết. Đơn cử, việc công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức là
biện pháp vô cùng hiệu quả để phòng, chống tham nhũng, vì quần chúng sẽ giám
sát, kịp thời phát hiện những tài sản bất thường, thông báo cho các cơ quan chức
năng kiểm tra xem đó có phải là từ thu nhập phi pháp hay không; nhưng hiện nay,
chúng ta chưa quy định công khai rộng rãi bản kê khai tài sản, thu nhập của cán
bộ các cấp để đông đảo nhân dân được biết. Việc phải công khai bản kê khai tài
sản, thu nhập của những người có nghĩa vụ kê khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị
nơi người đó thường xuyên làm việc (và một số trường hợp khác) cũng ít đơn vị
thực hiện nghiêm.
“Khoảng trống” nữa là mặc
dù Hiến pháp đã quy định rõ: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức
phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân
dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống
tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” và “… Nhà nước tạo
điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch
trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân” (Điều 28)… song
hiện nay, vừa thiếu những quy định chi tiết để thực hiện, vừa chưa có chế tài
thực sự hiệu quả để bắt buộc các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức thực hiện
đúng trách nhiệm của mình khi nhân dân thực hiện quyền giám sát và phản ánh, kiến
nghị. Thậm chí, khá nhiều người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương còn chưa
chấp hành nghiêm quy định tiếp công dân; vẫn còn hiện tượng trù dập, thành kiến
với người khiếu nại, tố cáo, chưa thực sự quan tâm giải quyết.
Ngay việc dựa vào nhân
dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là chủ trương nhất quán của
Đảng, nhưng chúng ta cũng chưa có đầy đủ quy định để phát huy hiệu quả vai trò
của nhân dân trong công tác này, đặc biệt là chưa có quy định cụ thể để nhân
dân tham gia vào việc đánh giá, bổ nhiệm cán bộ và phòng, chống TN, TC trong đội
ngũ CB, ĐV, dẫn đến không ít trường hợp chọn nhầm cán bộ hoặc không kịp thời
phát hiện cán bộ vi phạm. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã thẳng thắn nhìn
nhận: “Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã
hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của CB, ĐV chưa hiệu
quả”…
Thực tế cho thấy, hầu hết
những trường hợp cán bộ vi phạm pháp luật thì dư luận nhân dân đều có ý kiến xì
xào về phẩm chất đạo đức, lối sống, về tài sản nghi ngờ bất minh từ trước khi
những cán bộ này bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý. Vì thế, khi cán bộ đó bị
kỷ luật hoặc truy tố thì người dân ở nơi cư trú và quần chúng cùng cơ quan, đơn
vị cũng không mấy bất ngờ, nhất là với những cán bộ ngang nhiên vi phạm hoặc có
nhiều dấu hiệu bất thường trong suốt thời gian dài, như: Trịnh Xuân Thanh (thời
kỳ công tác tại Tổng công ty Cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam và Bộ Công Thương),
Vũ Huy Hoàng (lúc là Bộ trưởng Bộ Công Thương), Tất Thành Cang (khi là lãnh đạo
các cấp ở TP Hồ Chí Minh), hay một số cựu lãnh đạo của TP Đà Nẵng, tỉnh Bình
Thuận, Bộ Y tế…
Những “lỗ hổng” trong cơ
chế kiểm soát quyền lực, cùng với hệ thống pháp luật chưa thực sự chặt chẽ, nhiều
kẽ hở là nguyên nhân cơ bản khiến một số cán bộ thiếu bản lĩnh đã vi phạm pháp
luật, kỷ luật. Vấn đề này, chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập ở những bài sau. (còn nữa)
Cùng với “nhốt” quyền lực vào trong “lồng” cơ chế, thể chế thì công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình là điều kiện đầu tiên để kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền lực được vận hành đúng đắn, không bị tha hóa. Vì vậy, phải tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị và các biện pháp bảo đảm để công dân thực hiện đầy đủ quyền tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật-Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (2012 - 2022).
Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022
TỰ CHO MÌNH LÀ TỐT, LÀ HAY?
Chủ nghĩa
cá nhân (CNCN) có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng
vậy. CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với
lối nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông
qua tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham
muốn quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể). Những người rơi vào CNCN thường quan
niệm và tuân theo những “triết lý” tự đúc rút; thể hiện sự bảo thủ cao độ,
không hạn chế mục đích và ham muốn bản thân. Họ “phản đối” và bất chấp sự can
thiệp từ bên ngoài lên sự lựa chọn cá nhân, dù sự can thiệp đó là của xã hội,
nhà nước, hoặc bất kỳ một cộng đồng, một tập thể hay một thể chế nào khác. Họ
là nhất-hơn tất cả và chỉ lao động hoặc sáng tạo vì lợi ích của riêng họ mà bất
chấp bỏ qua những mối liên hệ, mối quan hệ xung quanh trong đời sống xã hội. Những
dấu hiệu này đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút, chỉ rõ: CNCN là “miễn là
mình béo, mặc thiên hạ gầy”; là việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của
mình trước hết; chỉ biết “mọi người vì mình” mà không lo “mình vì mọi người”. CNCN
hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều mặt
tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết, có thể
gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”-điều đó tạo ra bản
sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết lý
“tôi là nhất” của CNCN.
Khác
nhau là vậy, nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao
cá tính một cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản
thân thì bấy giờ cá tính đã trở thành CNCN. Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt
(đó là cá tính đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc,
vi phạm dân chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ
trượt chân ngã vào CNCN. Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê
bình là tốt, nhưng nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh
em để tự suy tôn, ngợi ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn
hơn là việc phê bình không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành
“câu chuyện làm quà” thì khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy...
Ngược
lại, CNCN thường được “ngụy trang” trong dáng dấp của cá tính. Nhiều người vẫn
nhầm tưởng, thậm chí là bày tỏ sự tôn trọng bởi một số cán bộ, đảng viên dám sống
đúng với cá tính của mình; thế nhưng, nếu không biết phân tường đúng đắn thì
phía sau cá tính đáng quý ấy của một ai đó rất có thể là một bức tranh đen đặc
CNCN.
Điều
đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình,
hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản
thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng
để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến
các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản
trung kiên, mực thước. Thế nhưng, đáng buồn là nhiều cán bộ tự phong cho mình sự
hoàn hảo, rồi bỏ ngoài tai tất cả những góp ý chân tình, đúng đắn của tập thể,
đồng đội và quần chúng.
Cùng với
đó, hiện nay tâm lý tập thể, tâm lý cộng đồng ở nhiều nơi, kể cả trong nội bộ tổ
chức đảng, vẫn còn nặng biểu hiện “dĩ hòa vi quý”. Cả trong cuộc sống, công
tác, cả ở hội nghị, hay những dịp đánh giá cán bộ theo định kỳ hoặc đột xuất, mọi
người vẫn thường xem nhẹ việc chỉ trích và phê bình, hầu như chỉ bày tỏ sự cảm
thông, chia sẻ, bỏ qua cho nhau những sai lệch, yếu khuyết từ nhỏ, thậm chí
không nhỏ. Thành thử, đến cuối năm, cán bộ nào cũng tốt, đảng viên nào cũng
hoàn thành nhiệm vụ và những yếu kém dần bị xem nhẹ, được “bỏ qua” một cách hiển
nhiên theo kiểu: “Biến to thành nhỏ, biến nhỏ thành không”. Đó là một nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến việc tích tụ các khuyết điểm nhỏ thành sai lầm lớn rồi
hình thành, kết nên CNCN ở cán bộ, đảng viên.
Thực tế
cho thấy, trong hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật buộc phải xử lý,
trong số rất nhiều vụ đại án tham nhũng, tiêu cực, thì nguyên nhân sơ khai ban
đầu đều xuất phát từ căn bệnh CNCN ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thậm chí,
hiện nay căn bệnh này đang diễn tiến phức tạp, quy mô ngày càng lớn, mức độ
nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng. Ấy thế nhưng, công bằng mà nói, ở nhiều nơi, việc
chống CNCN chỉ dừng lại ở khẩu hiệu hô hào, nặng hình thức, kết quả thiếu thực
chất và chưa đạt như mong muốn.
Cần nhớ
rằng, CNCN là đặc biệt nguy hại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng sớm chỉ rõ CNCN
là một thứ gian xảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ người ta đi xuống dốc, nó là một thứ
vi trùng rất độc đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm... Nó phá từ trong phá ra,
là bạn đồng minh của chủ nghĩa đế quốc và thói quen truyền thống lạc hậu, nguy
hiểm hơn kẻ thù bên ngoài. Đảng ta qua các giai đoạn cách mạng cũng nhất quán
cho rằng, CNCN là một trở ngại lớn trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho
nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu
tranh trừ bỏ CNCN.
Tiếp cận
như vậy để thấy, CNCN-một căn bệnh hết sức nguy hại, đang diễn ra phổ biến, hậu
quả và hệ lụy khó lường, nhưng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi lại hồn
nhiên xem nhẹ, chưa thật sự đề cao trách nhiệm và quyết tâm chính trị trong đấu
tranh ngăn chặn, đẩy lùi. Biểu hiện rõ nét nhất là sức chiến đấu của tổ chức đảng
còn nhiều vấn đề đáng bàn; việc thực hành nguyên tắc tự phê bình và phê bình bị
xem nhẹ, thiếu thực chất.
Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022
PHÁT HUY VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY
Phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và người đứng đầu cần chú trọng đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp, hình thức học tập, tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phù hợp với từng đối tượng. Đẩy mạnh việc phát hiện, bồi dưỡng, biểu dương, tuyên truyền, nhân rộng các tấm gương, điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo Bác. Trong đó, chú trọng nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới gắn kết chặt chẽ giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hoá trong lãnh đạo, quản lý, kinh doanh và giao tiếp xã hội. Chú trọng xây dựng môi trường văn hoá công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn, tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; xây dựng văn hoá doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh./.
Thứ Hai, 16 tháng 5, 2022
MỖI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CẦN PHẢI PHÁT HUY VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM VỀ NÊU GƯƠNG HIỆN NAY
Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải phát huy tốt vai trò, trách nhiệm nêu gương trong học tập và làm theo Bác, bởi vì: "Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước". Việc nêu gương phải thực hiện cả đối với bản thân mình, đối với người và đối với công việc; phải làm gương thường xuyên từ việc nhỏ đến việc lớn, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, nói đi đôi với làm. Đối với mình, phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt hàng ngày. Đối với người, phải giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, luôn khoan dung, độ lượng. Đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ nguyên tắc "dĩ công vi thượng", đặt lợi ích quốc gia dân tộc, của tập thể và của nhân dân lên trên hết, trước hết. "Cán bộ và đảng viên càng phải nâng cao tinh thần phụ trách, nêu gương "cần kiệm liêm chính", không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân; phải chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh là nguồn gốc sinh ra tham ô, lãng phí".
Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022
NÂNG CAO NHẬN THỨC, TRÁCH NHIỆM CỦA TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
Phải quán triệt sâu sắc
và thực hiện tốt mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; xóa
bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp vì lợi ích chung với tinh
thần “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Tuyên truyền, vận động
các tầng lớp nhân dân, tạo sự tập trung, thống nhất, đồng thuận xã hội để đoàn
kết, tập hợp các tầng lớp nhân dân. Giải quyết hài hòa lợi ích giữa các thành
viên, lấy sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng làm hạt nhân, làm cơ sở vững chắc
cho khối đại đoàn kết và phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Sâu sát, nắm chắc tình
hình đời sống nhân dân, tăng cường đối thoại, lắng nghe, học hỏi, tiếp thu ý kiến,
giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân; tin dân và tôn trọng những người
có ý kiến khác, quan tâm chăm lo và làm tốt công tác dân vận, có cơ chế, pháp
luật để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng nhằm phát huy và thực hiện quyền
làm chủ.
Quan tâm chăm lo xây dựng khối liên minh giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân và các tầng lớp xã hội. Xây dựng giai cấp công nhân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đẩy mạnh thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới, bảo đảm nâng cao đời sống và phát huy vai trò của nông dân, chú trọng đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát huy vai trò và tạo điều kiện để xây dựng và phát triển đội ngũ doanh nhân để họ góp công, góp của làm giàu cho dân, cho nước. Bảo đảm tăng cường, đẩy mạnh mối quan hệ, đoàn kết của mọi thành phần giai cấp, lực lượng xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Thứ Hai, 11 tháng 4, 2022
TRÁCH NHIỆM CỦA ĐẢNG VIÊN TRONG VIỆC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Theo Nghị quyết
35-NQ/TW ngày 25/10/2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
trong tình hình mới”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương
lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường
hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Thoạt nhìn, các nội dung này có vẻ rất
lớn, là trách nhiệm của các cơ quan Trung ương, của cả hệ thống chính trị…
nhưng trên thực tế, tất cả đều liên quan đến trách nhiệm cá nhân của các đảng
viên.
Đối với mỗi đảng viên,
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nói, viết và làm đúng chủ trương, đường
lối của Đảng. Đây là một yêu cầu rất quan trọng và mỗi đảng viên phải thể hiện
trách nhiệm cao trong công tác, hoạt động, sinh hoạt, sử dụng mạng xã hội…
Chẳng hạn, Điều lệ Đảng ghi: “Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc
lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột
người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng
sản”, tất cả các đảng viên không thể hoài nghi mục đích đó; bản thân nếu chưa
rõ thì cần nghiên cứu lại các tài liệu, nhất là giáo trình các lớp trung cấp,
cao cấp lý luận chính trị, hỏi các chuyên gia… Sẽ không thể chấp nhận nếu có
hiện tượng đảng viên nghi ngờ định hướng đó, rồi đi tán phát các thông tin, ý
kiến cho rằng “con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là không có thật”,
rằng “chủ nghĩa xã hội đã không thể thành hiện thực ngay ở quê hương Cách mạng
tháng Mười thì không thể thành công ở nơi khác” (!)…
Hay ở nội dung “bảo vệ
công cuộc đổi mới”, mỗi đảng viên cần có nhận thức đúng đắn về ý nghĩa và thành
tựu của công cuộc đổi mới trong hơn 35 năm qua. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
đã nhận định, những thành tựu đạt được 5 năm qua (2016 – 2020) là sản phẩm kết
tinh sức sáng tạo, là kết quả của quá trình phấn đấu liên tục, bền bỉ của toàn
Đảng, toàn dân và toàn quân ta qua nhiều nhiệm kỳ đại hội, góp phần tạo nên
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của nước ta qua 35 năm đổi mới. Yếu
tố “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử” của 35 năm đổi mới là một đánh giá
đúng cả về mặt lý luận lẫn mặt thực tiễn. Những người đã trải qua giai đoạn này
đều thấy rõ, sự tiến bộ của xã hội, sự phát triển của đất nước, chất lượng sống
của người dân… đã được nâng cao rõ rệt và đặt nền móng quan trọng để nước ta
trở thành nước công nghiệp, phát triển trong thời gian tới.
Hoặc ở nội dung “giữ
gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”, nhận thức và hành
động của mỗi đảng viên đều có ý nghĩa thiết thực, cụ thể. Trên thực tế, đôi lúc
đã có hiện tượng đảng viên thiên tả hoặc thiên hữu khi bày tỏ quan điểm về vấn
đề hòa bình của đất nước. Bởi có đảng viên cho rằng Đảng cần có phương án, giải
pháp “thân thiết” với một số nước lớn để “cân bằng”, “làm đối trọng” với một số
nước lớn khác, nhằm tránh sự “nhòm ngó” của một số thế lực xấu (!). Trái lại,
cũng có đảng viên cho rằng phải cứng rắn với tất cả các quốc gia nào lăm le gây
phương hại đến sự độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta; rằng sẵn
sàng chiến đấu và chấp nhận hy sinh để trả đũa bất cứ hành vi nào vi phạm chủ
quyền của nước ta... Cả hai quan điểm đó đều không phù hợp; nếu đảng viên nào
bày tỏ ý kiến tán đồng, làm lan truyền quan điểm đó… thì đang vi phạm định
hướng, chủ trương của Đảng, tức là đang phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.
Đặc biệt, vấn đề “bảo
vệ lợi ích quốc gia, dân tộc” về hình thức có thể dễ làm mọi người đồng thuận,
nhưng có khi, một số người lại chưa hiểu đúng thế nào là lợi ích, từ đó có
những suy nghĩ, ý kiến chưa phù hợp.
Từ đó có thể thấy
rằng, mỗi đảng viên cần phải nghiên cứu sâu về nền tảng tư tưởng của Đảng để có
thể bảo vệ một cách phù hợp, đúng đắn. Điều này liên quan trực tiếp đến việc
học tập lý luận chính trị, nghiên cứu nghị quyết của Đảng, nắm bắt thông tin
thời sự chính thống, lắng nghe có chọn lọc các thông tin, tích cực ghi nhận các
ý kiến phản bác quan điểm sai trái, xấu độc… Từ nhận thức đúng đắn, đảng viên
cần có những hành động phù hợp, như không làm lan truyền các thông tin sai
trái, không “để mặc” những thông tin không đúng tác động đến nhận thức của cán
bộ, đảng viên và nhân dân, sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm với việc chia sẻ
những thông tin tích cực và không đăng tải ý kiến chủ quan, không phù hợp chủ
trương, đường lối…
Tất cả những điều đó
sẽ góp phần cùng cả hệ thống chính trị của Đảng hướng tới mục tiêu bảo vệ vững
chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố và tăng cường niềm tin khoa học vào
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững sự đoàn kết, thống nhất
trong Đảng, sự đồng thuận xã hội và niềm tin của nhân dân với Đảng; ngăn chặn,
đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn
và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới;
góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh toàn dân tộc,
đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ
vững môi trường hoà bình ổn định, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại…
Như vậy, suy cho cùng, những việc hệ trọng của Đảng chính là việc của tất cả đảng viên và bắt đầu từ các đảng viên!