Hiển thị các bài đăng có nhãn bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

CẢM NHẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI QUA BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM”

Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2021) và bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (ngày 23/5/2021), Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bài viết quan trọng: "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam". Bài viết đã nhận được sự đánh giá cao của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân. Giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân: Vững chắc niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; nhận thức rõ hơn để kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cũng như nắm vững một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Đây là một bài viết rất hoàn chỉnh, toàn diện, sâu sắc về quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với những nội dung căn bản và quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam kể từ khi đất nước được hòa bình, độc lập và thống nhất đến nay. Đó là vấn đề xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH của dân tộc Việt Nam. 

Trong bài viết, Tổng Bí thư đặt ra những câu hỏi có tính chất cốt tử, quyết định nhất của dân tộc Việt Nam hiện nay như: CNXH là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được CNXH ở Việt Nam?

Về ý nghĩa của bài viết phải được nhìn nhận, đánh giá, xem xét trong bối cảnh thực tiễn hiện nay, gắn liền với ba yếu tố quan trọng.

Thứ nhất, bài viết được công bố trước thềm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, tức là trước một sự kiện có ý nghĩa trọng đại, khi ngày 23/5/2021 cử tri cả nước đi bầu những người đại diện cho mình vào cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước. 

Tổng Bí thư muốn nhắc nhở mọi người rằng, không phải ai khác mà chính là cử tri, những người phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, sáng suốt lựa chọn những người đủ tài, đủ đức bầu vào Quốc hội. Vì đây chính là cơ quan đưa ra những quyết định quan trọng về con đường mà chúng ta đã đi, những thành tựu mà chúng ta đã đạt được và sẽ là nơi giải quyết những khó khăn, thách thức trong tương lai.

Thứ hai, bài viết ra đời trong bối cảnh nước ta đang chuẩn bị kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập ra Nhà nước Việt Nam, người lãnh đạo, người thầy của cách mạng Việt Nam, là dịp để chúng ta ôn lại, nhìn lại những gì chúng ta đã làm được và con đường sắp tới.

Thứ ba, đây cũng là dịp để Tổng Bí thư nêu rõ quan điểm, xác định rõ lập trường của Việt Nam về vấn đề CNXH ở Việt Nam, nhằm phê phán các quan điểm sai trái, bôi nhọ, xuyên tạc chế độ của các thế lực thù địch nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, gieo rắc hoài nghi và lung lạc niềm tin của nhân dân vào con đường đi lên CNXH của dân tộc.

Trong bài viết Tổng Bí thư đã phân tích, làm rõ 5 luận điểm mới có ý nghĩa rất quan trọng.

Trước hết, Tổng Bí thư khẳng định thành tựu của chủ nghĩa tư bản (CNTB) là không thể phủ nhận và đây là những thành tựu, tiến bộ chung của nhân loại và vì vậy chúng ta cần phải tiếp thu một cách có chọn lọc. Điều này rất quan trọng, bởi vì từ trước đến nay, cũng có một số người cho rằng tất cả cái gì của phong kiến, tư bản, của chế độ cũ là xấu xa, sai trái và đi đến phủ nhận sạch trơn. Đấy là cách nhìn bảo thủ, mang nặng màu sắc đối đầu ý thức hệ, rạch ròi giữa ta và địch, bạn và thù, cái gì của ta cũng tốt, cái gì của thù cũng xấu. 

Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Chúng ta thừa nhận rằng, CNTB chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học-công nghệ”.

Thứ hai, khi nói về CNXH, Tổng Bí thư đã nói tới ba khía cạnh, ba nội hàm, ba tư cách của chủ nghĩa xã hội. Đó là CNXH như một học thuyết, một phong trào và một chế độ. Cách nhìn CNXH như vậy rất khoa học, đa chiều và toàn diện hơn. Bởi vì, nếu ai đó chỉ nhìn CNXH như một phong trào thì dễ bị dao động vì sự “đi lên hay đi xuống” của phong trào đó. Nếu chỉ nhìn CNXH như một học thuyết thì dễ thấy nó bị “xơ cứng, giáo điều, lạc hậu”. Còn nếu nhìn nó như một chế độ thì e rằng thực tiễn ở Liên Xô và các nước Đông Âu làm cho người ta dễ hoài nghi.

Thứ ba, chúng ta vẫn thường nói Việt Nam đi lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng trong bài viết này, Tổng Bí thư đã chỉ rõ, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là chỉ bỏ qua những mặt hạn chế của CNTB như áp bức, bất công, bóc lột, thói hư tật xấu nhưng không bỏ qua những thành tựu giá trị văn minh mà nhân loại đạt được trong thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa và có sự kế thừa chọn lọc. Chúng ta cần phải sáng suốt, tỉnh táo và kế thừa có chọn lọc những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đạt được như công nghệ, kinh tế, y học….

Thứ tư, xây dựng CNXH theo Tổng Bí thư đó là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, đó là không giống với bất kỳ một mô hình nào trên thế giới. Hay kinh tế thị trường định hướng XHCN là một sự đột phá về mặt lý luận. Những điều đó mang tính chất đặc trưng riêng của Việt Nam, chỉ của Việt Nam. 

Chúng ta thấy được đây là thách thức lớn nhất của Việt Nam bởi vì nếu phải xây dựng một kiểu xã hội hoàn toàn mới chưa có trên thế giới sẽ vô cùng khó khăn, thách thức, bởi vì chúng ta không thể học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, chúng ta phải là người tự mở đường “khai sơn, phá thạch”. Nhưng chúng ta sẽ làm được.

Thứ năm, “Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống”, Tổng Bí thư đã thể hiện quan điểm rõ ràng về tầm quan trọng của việc học đi đôi với hành, lý thuyết phải gắn chặt chẽ với thực tiễn, học có phê phán, có sáng tạo, tuyệt đối không được giáo điều, máy móc dẫn đến tình trạng xơ cứng trí tuệ và lạc hậu. Hơn bao giờ hết, chúng ta phải luôn luôn nâng cao tinh thần học tập, tiếp thu một cách sáng tạo trên tinh thần phê phán, chỉ có như vậy chúng ta mới được “truyền thêm sinh lực mới”.

Đi lên CNXH gắn với con đường phát triển bền vững

Nhận định của Tổng Bí thư về những thách thức toàn cầu liên quan tới việc giải quyết chưa thỏa đáng quan hệ giữa phát triển và môi trường: “Cùng với khủng hoảng kinh tế - tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,... đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại”. Bài viết nhấn mạnh, hậu quả của cách tiếp cận phi môi trường, phát triển bằng mọi giá, không xem môi trường và tài nguyên là một yếu tố bắt buộc phải xem xét khi lựa chọn phương thức phát triển và tiêu dùng đã để lại “hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”.

Trong bài viết, dưới lăng kính phân tích lý luận, thực tiễn và những bài học kinh nghiệm về giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên và các giá trị văn hóa trên quy mô toàn cầu rõ ràng cho thấy, con đường đi lên CNXH cũng gắn với con đường phát triển bền vững đất nước về cả kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi trường. Đó là sự lựa chọn đúng đắn, mang tầm vóc chiến lược, đảm bảo hiệu quả kinh tế trong dài hạn, đất nước có “của ăn, của để”.

Bao trùm lên tất cả và mang tính đột phá là vấn đề nguồn nhân lực, trong đó con người được khẳng định vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy và duy trì phát triển bền vững đất nước, có ý nghĩa quyết định đến mức độ thành công của quá trình thực hiện “Khát vọng Việt Nam”. 

Chính vì thế, trong bài viết lần này Tổng Bí thư đã xác định và định hướng: “Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh”. 

Đặc biệt, đây không chỉ là những nhiệm vụ ưu tiên trong đổi mới, sáng tạo của đất nước trên con đường xây dựng CNXH, mà còn thể hiện tính ưu việt của CNXH mà Đảng ta kiên định lựa chọn và kiên trì thực hiện.

QUAN ĐIỂM VỀ HỌC TẬP, LÀM THEO BÁC HỒ VÀ NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM”

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành sinh hoạt chính trị thường xuyên, trở thành một nhu cầu văn hóa trong toàn Đảng, toàn dân; chú trọng quán triệt, tập trung làm tốt ba vấn đề là: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Học tập Bác là học tập tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, đạo đức và phong cách của người chiến sĩ cộng sản chân chính; cần thúc đẩy việc học theo Bác trở thành lối sống, nếp sống, cách làm của từng cán bộ, đảng viên và người dân. Làm theo Bác là thúc đẩy, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo”, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao về chuyên môn, nghiệp vụ và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nêu gương là thực hiện đồng thời, gắn kết việc học tập với làm theo Bác và nêu gương; trong đó, đề cao vai trò tiền phong, gương mẫu với nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với người lãnh đạo, người đứng đầu. Điều quan trọng là: “Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để quần chúng, nhân dân noi theo”. Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng tầm thường. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hội. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội.

Trong quá trình thực hiện ba nhiệm vụ Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, chiến lược, “chống” là quan trọng, cấp bách; đề cao tinh thần “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”,… làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân, tạo điều kiện để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

QUAN ĐIỂM VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM”

Bài viết đã đi sâu phân tích, nêu bật bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện nay. Với nhãn quan duy vật biện chứng, khách quan, khoa học, đồng chí cho rằng, chúng ta cần nhận thấy rằng chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế ở mức cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản  thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên phạm vi toàn cầu, nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển.

Biểu hiện bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện nay.bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, đây vẫn là chế độ của thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Trên thực tế, các thiết chế dân chủ tư sản theo công thức “dân chủ tự do” vẫn chỉ dành cho những ông chủ tư bản, những tập đoàn tư bản. Các quyền tự do dân chủ cho số đông người dân vẫn chỉ là hình thức, rất ít thực chất. Trong đời sống chính trị, khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Ở các nước tư bản, các cuộc bầu cử gọi là tự do, dân chủ, dù có thể thay đổi được chính phủ, thay đổi được phe nhóm nhưng không thay thế được thế lực thống trị, giai cấp cầm quyền; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản, của giai cấp tư sản. “Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản”. Mâu thuẫn giữa lao động và tư bản là không thể điều hòa được, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, chủ nghĩa tư bản  vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng chu kỳ ở các nước tư bản chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa vẫn tiếp tục diễn ra; khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc, tôn giáo. Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội. Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: Quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, vì lợi nhuận mà bóc lột tàn tệ và chà đạp lên phẩm giá con người, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội và cạnh tranh khốc liệt để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, là đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa.

QUAN ĐIỂM VỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM”

Bài viết đã phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, “Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại”. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một người cộng sản Việt Nam mẫu mực, mà còn là một chiến sĩ cộng sản quốc tế trong sáng, thủy chung, là biểu tượng vĩ đại, sáng ngời và lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, của đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, của hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện một tầm nhìn lớn lao, một nhãn quan văn hóa rất mực nhân văn, sâu sắc và tinh tế; đó là tầm vóc của một danh nhân văn hóa thế giới. Người để lại cho Đảng ta, nhân dân ta, cho các thế hệ hiện nay và mai sau một di sản tư tưởng vô cùng quý báu, một tấm gương sáng ngời về đạo đức, phong cách và lối sống. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát: “Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã hun đúc nên sự nghiệp Hồ Chí Minh, thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất, vinh quang nhất trong lịch sử dân tộc ta”; “Tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người là hiện thân của những khát vọng lớn lao của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc” trên thế giới.

Về nội hàm khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đạo đức Hồ Chí Minh  Phong cách Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là cống hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người trong việc thành lập, giáo dục và rèn luyện một đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. 

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời, là biểu tượng mẫu mực về đạo đức cách mạng cao đẹp. Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, là những phẩm chất cao quý của người cách mạng. Đó là: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Phong cách Hồ Chí Minh là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân, là đầy tớ của nhân dân chứ không phải “làm quan nhân dân”. Đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa lời nói và việc làm một cách tự nhiên. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta tìm thấy trong những lời dạy của Người và từ tấm gương đạo đức cao đẹp, từ phong cách của Người những chuẩn mực cần noi theo trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện để mỗi ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, vươn tới những giá trị chân - thiện - mỹ. 

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

NÂNG CAO VỊ THẾ VÀ UY TÍN CỦA ĐẤT NƯỚC

Định hướng công tác đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và công tác đối ngoại của hệ thống chính trị là một nội dung quan trọng được đề cập trong cuốn sách của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng Với cách gợi mở dung dị nhưng rất sâu sắc, đồng chí đã chỉ rõ quan điểm và quyết tâm tiếp tục xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc dân tộc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Đó là tư duy ngoại giao: Mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”. 

 Cũng với cách tiếp cận rất gần gũi, dễ hiểu, Tổng Bí thư chỉ ra mối quan hệ giữa “trong ấm, ngoài êm”, có nghĩa là phải xây dựng đoàn kết nội bộ, xây dựng đất nước "ấm" về kinh tế, về đời sống tinh thần, nội bộ thật sự đoàn kết, ổn định... thì mới có thể thực hiện các mục tiêu góp phần giữ vững môi trường hòa bình, hữu nghị trong khu vực và trên thế giới. Thực tế cho thấy, nhiều năm qua, Quân đội ta đã thực hiện tốt quan điểm này, nâng cao chất lượng công tác đối ngoại quốc phòng, vừa góp phần xây dựng nền hòa bình nhân loại, thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế, đồng thời nhất quán tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Những tinh thần trong cuốn sách của Tổng Bí thư cần được các cấp ủy, chỉ huy nghiên cứu, phát huy vai trò của từng cá nhân, từng tổ chức trong góp phần nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy cần sớm cụ thể hóa những quan điểm, nội dung trong cuốn sách vào công tác giảng dạy ở các nhà trường trong và ngoài quân đội, góp phần tạo nên một thế hệ con người mới, có tâm thế về trình độ ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ, chủ động hòa nhập, bắt nhịp với xu thế hội nhập quốc tế trong điều kiện hiện nay.

KẾ THỪA SÁNG TẠO, CÓ CHỌN LỌC, PHÁT TRIỂN

Sau khi cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra mắt, tôi đã tìm đọc và thực sự thấm thía bởi nội dung cuốn sách đã góp phần làm sáng tỏ, sâu sắc nhiều vấn đề thực tiễn quá trình xây dựng CHXH ở nước ta.

Trong nội dung các bài viết, bài phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh sự kế thừa có chọn lọc để bổ sung, hoàn thiện, phát triển những đặc trưng cốt lõi của CNXH ở Việt Nam; chỉ rõ sự sáng tạo, khác biệt về chất giữa CNXH mà nước ta đang xây dựng so với chủ nghĩa tư bản. Những vấn đề này vô cùng bổ ích, giúp mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hiểu rõ hơn, nhận thức đầy đủ hơn và tin tưởng hơn vào con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Điển hình như, trong bài viết nhân kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 / 19-5-2021), bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, ngày 15-5-2021, Tổng Bí thư khẳng định: “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”.

Tinh thần đó cũng được đề cập trong các nghị quyết của Đảng về phát triển con người, coi trọng giáo dục-đào tạo, xây dựng văn hóa, hội nhập quốc tế, đường lối ngoại giao, hợp tác quốc phòng... Quá độ lên CNXH ở Việt Nam là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp; cho nên sự kế thừa tinh hoa nhân loại một cách sáng tạo, có chọn lọc, phù hợp với hoàn cảnh, đặc thù Việt Nam là tất yếu khách quan, không thể nóng vội. Sự khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trên cơ sở phân tích, lập luận, đưa ra những dẫn chứng đầy thuyết phục từ thực tiễn nước ta đã góp phần củng cố vững chắc niềm tin cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp xây dựng CNXH.

Đây cũng là bài học sâu sắc, khích lệ, khuyến khích mỗi cán bộ, đảng viên và mọi cá nhân trong công tác, thực hiện nhiệm vụ phải luôn tìm tòi, sáng tạo, đổi mới phù hợp với thực tiễn; biết “gạn đục khơi trong”, học tập, tiếp thu những ưu điểm từ đồng chí, đồng nghiệp; kế thừa có chọn lọc và phát huy những giá trị tốt đẹp trong tập thể để không ngừng tiến bộ, xây dựng cơ quan, đơn vị ngày càng phát triển vững mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.


TRÁCH NHIỆM NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP CỦA MỖI CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN

Qua nội dung các bài viết của Tổng Bí thư trong cuốn sách, chúng ta thêm hiểu, thêm vững tin rằng chế độ CNXH với giá trị cốt lõi, bền vững và tốt đẹp mà nhân loại hướng tới là một xã hội "thực sự vì con người; sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội; một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn; sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai; một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân". 

Những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua là minh chứng cho giá trị hiện thực đạt được của CNXH ở nước ta. Đó là sự phát triển vì con người, phát triển để nâng tầm lương tri, phẩm giá con người Việt Nam. Chỉ trên con đường đi lên CNXH mới có thể đem lại cho chúng ta những thành tựu to lớn như vậy. Và chính những thành tựu này đang là tiền đề, tạo nên sức mạnh tiến tới tương lai tươi sáng của đất nước ta.

Các bài viết, bài phát biểu của Tổng Bí thư trong cuốn sách đều là nội dung chỉ đạo, hướng đến đối tượng tiếp nhận là cán bộ, đảng viên, nhằm làm rõ những cơ sở khoa học, thực tiễn, định hướng nhận thức và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Đây là tài liệu quý, một công trình có tầm khái quát lý luận cao, tổng kết thực tiễn sâu sắc về những phát triển sáng tạo riêng có của Đảng ta về mô hình CNXH ở Việt Nam, trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cuốn sách của Tổng Bí thư là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục tổng kết lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta, là tài liệu quý để giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta về CNXH và con đường đi lên CNXH; tạo sự đồng thuận xã hội để khơi dậy, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng, để đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2021

MỘT TRONG NHỮNG ĐIỂM NHẤN QUAN TRỌNG TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890-19.5.2021), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Một trong những điểm nhấn của bài viết là những lý giải về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trên quan điểm duy vật biện chứng, bài viết đã làm rõ đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội gắn với yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, được phân biệt với đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở dạng hoàn chỉnh.

Thời kỳ quá độ là thời kỳ mà “nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực” và sự đan xen, cạnh tranh ngày càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.

Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh rằng, trong thời kỳ quá độ, do xuất phát điểm thấp, chúng ta “bỏ qua” chủ nghĩa tư bản nhưng phải xác định “bỏ qua” cái gì, cái gì phải kế thừa, phát triển. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Phải kế thừa những thành tựu này có chọn lọc, có phê phán, trên quan điểm khoa học và phát triển.

Bài viết lưu ý rằng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng, hoàn thiện không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ, hoàn chỉnh.

Định hướng xã hội chủ nghĩa là làm cho mục tiêu xã hội chủ nghĩa luôn được quản trị, giữ vững trong quá trình đổi mới đất nước; làm cho nhân tố xã hội chủ nghĩa, những cái tốt đẹp luôn giữ vai trò chủ đạo, lớn dần lên trong quá trình cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa.

Cùng với vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa là định hình chủ nghĩa xã hội, tức phải làm cho bản chất tốt đẹp, giá trị của chủ nghĩa xã hội được hiện thực hóa trong đời sống hằng ngày mà người dân được thụ hưởng gắn với điều kiện, lộ trình cụ thể. Đó chính là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tăng trưởng kinh tế phải gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển.

Để tránh rơi vào chủ quan duy ý chí, bài viết lưu ý rằng, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội.

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Từ việc khẳng định: “từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá”, đồng chí Tổng Bí thư đã chỉ rõ, các thế lực thù địch đã ra sức công kích con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác; đồng thời lên tiếng bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Để phản bác lại quan điểm đó, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư đã đưa ra những lập luận sắc bén, những dẫn chứng thuyết phục về “những mâu thuẫn vốn có” trong lòng xã hội tư bản, dẫn đến những bất bình đẳng, bất công trong xã hội.

Trên tinh thần khách quan, đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định những thành tựu không thể phủ nhận được của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay, “nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ:. Đặc biệt, từ sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, “chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển”. Đó là những điều chỉnh khôn ngoan nhưng không vì thế mà chủ nghĩa tư bản có thể tránh được những cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế trên phạm vi toàn cầu.

Đồng chí Tổng Bí thư đã nhắc đến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế giai đoạn năm 2008 - 2009 bắt đầu từ nước Mỹ rồi nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Hiện nay là cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây chính là những bằng chứng không gì thuyết phục hơn để khẳng định những mâu thuẫn nội tại, mang tính bản chất của chủ nghĩa tư bản. Chính những mâu thuẫn đó tất yếu đã dẫn đến những bất công, bất bình đẳng trong xã hội đúng như bài viết khẳng định: “Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc”. Nhận định này đã phản ánh một cách chân thực, khách quan thực tiễn vận động và phát triển của các nước tư bản trong thời gian qua, đồng thời cho thấy rõ đặc trưng bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với phương châm “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội” .

Lời nhận định trên của đồng chí Tổng Bí thư trong bài viết đã phản ánh rất chính xác bản chất không bao giờ thay đổi của chế độ tư bản chủ nghĩa. Bản chất này đã từng được C.Mác chỉ rõ trong tác phẩm “Tư bản” - một pho sách đồ sộ đã phản ánh chân thực bức tranh toàn cảnh của xã hội tư bản và bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. C.Mác viết: “Sản xuất giá trị thặng dư hay lợi nhuận là quy luật tuyệt đối của phương thức này”. Để minh chứng cho điều này, C.Mác đã dẫn lại tờ Quarterly Rewiewer như sau: “Với một lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can đảm. Được đảm bảo 10 phần trăm lợi nhuận thì người ta có thể dùng tư bản vào đâu cũng được; được 20 phần trăm thì nó hoạt bát hẳn lên; được 50 phần trăm thì nó trở nên thật sự táo bạo; được 100 phần trăm thì nó chà đạp lên mọi luật lệ của loài người; được 300 phần trăm thì không còn tội ác nào là nó không dám phạm, dù có nguy cơ bị treo cổ. Nếu sự ồn ào và cãi cọ đem lại lợi nhuận thì tư bản khuyến khích cả hai. Chứng cứ là; buôn lậu và buôn nô lệ”.

Trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đã đưa ra rất nhiều dẫn chứng thuyết phục cho tình trạng bất công, bất bình đẳng của xã hội tư bản. Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư liên tục khẳng định chúng ta cần một xã hội phát triển vì con người, cần một nền kinh tế phát triển gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, cần một xã hội nhân văn, phát triển hài hòa, bền vững. Những điều này chỉ có thể có được ở chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa - “con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi”.

Từ việc khẳng định tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối phát triển đúng đắn về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó không chỉ là bước phát triển đột phá về mặt lý luận mà còn là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm quý báu trên thế giới. Bài viết chỉ rõ: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”.

Từ đây, bài viết đã là rõ nội hàm về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Theo đó, bài viết đã làm rõ đặc trưng bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - sự khác biệt về chất so với nền kinh tế thị trường của các nước tư bản chủ nghĩa: “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”. Luận điểm này có sự thống nhất tuyệt đối với quan điểm của Đại hội XIII về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời là sự phát triển, hoàn thiện thêm một bước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

Có thể nhận thấy, chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là nhận thức chủ quan, duy ý chí, tùy tiện, cảm tính mà là kết quả của quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, học hỏi kinh nghiệm về các mô hình phát triển kinh tế thị trường trên thế giới. Đó cũng là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn phát triển đất nước qua mỗi thời kỳ lịch sử. Do đó, quan điểm về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta không ngừng có sự bổ sung, phát triển qua mỗi giai đoạn. Vì thế, những quan điểm sai trái, thù địch về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hoặc là do nhận thức không đúng về bản chất của kinh tế thị trường, hoặc cố tình xuyên tạc, đối lập kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, có thể khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương đúng đắn của Đảng về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong bối cảnh trình độ phát triển không đồng đều của lực lượng sản xuất, kinh tế thị trường được Đảng và Nhà nước ta coi là công cụ, phương tiện để xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Mục tiêu đó cho thấy tính hướng đích của Đảng ta, Nhà nước ta trong việc phát triển kinh tế thị trường - phát triển không chỉ vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn vì mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với các loại kinh tế thị trường khác trên thế giới.

Nhìn lại 35 năm đổi mới và 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển 2011), tuy còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Điều này đã được đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh trong Báo cáo chính trị trình bày tại Đại hội XIII của Đảng: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.

Từ những kết quả đã đạt được, bài viết khẳng định: “Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế”. Bài viết còn nhấn mạnh thêm những kết quả, thành tích đặc biệt đạt được của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ đầu năm 2020 được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Những thành tựu to lớn đó chính là bằng chứng không gì thuyết phục hơn để khẳng định đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, vừa phù hợp với điều kiện, thực tiễn của Việt Nam; vừa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân về một đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Mặc dù việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với việc luôn kiên định mục tiêu, linh hoạt và sáng tạo trong các giải pháp, cách thức thực hiện; Việt Nam sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế. Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam để thống nhất cả trong nhận thức và hành động, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về phát triển kinh tế./.

Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2021

VỮNG NIỀM TIN, KIÊN ĐỊNH VỚI MỤC TIÊU

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thời gian qua và đã có những tranh luận, những hoài nghi, phản bác. Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tập trung trả lời những câu hỏi căn cốt của vấn đề này ở cả góc độ lý luận và thực tiễn. Nội dung bài viết của Tổng Bí thư đã nêu cụ thể hơn con đường lý tưởng và chân giá trị mà Bác Hồ và Đảng ta, Nhân dân ta đã lựa chọn, đã xác quyết và kiên trì phấn đấu.

Tổng Bí thư cũng nêu rõ, chúng ta xây dựng một xã hội đi theo lý luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân Việt Nam. Đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan và con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đảng ta, Nhân dân ta phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phấn đấu cho mục tiêu, cho lý tưởng xây dựng bằng được chủ nghĩa xã hội.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không dễ dàng, không phải tự nhiên đến đích ngay được mà đòi hỏi phải vượt qua rất nhiều khó khăn, gian khổ. Những khó khăn, gian khổ ấy không chỉ đến từ bên ngoài, không chỉ do các thế lực thù địch chống phá mà còn nảy sinh từ trong chính chúng ta. Trên con đường đó, chắc chắn sẽ xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên bị thoái hóa, biến chất, những kẻ không “kìm được lòng” trước sự cám dỗ của của cải, vật chất, quyền lực nên tham nhũng và tha hóa. Thực tiễn hơn 30 năm đổi mới đã có không ít cán bộ, đảng viên quên đi lý tưởng của Đảng ta là vì Nhân dân, giải phóng Nhân dân, đem lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho mọi người dân; đã có những cán bộ, đảng viên chỉ chăm lo cho lợi ích cá nhân, làm giàu cho mình, vơ vét của chung làm của riêng khiến Nhân dân mất lòng tin.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội có thể dẫn đến những bước ngoặt, có thể có những bước lùi. Cũng có những giai đoạn lịch sử, sự thoái hóa, tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Đó là một thực tế khách quan. Vấn đề là chúng ta vượt qua những bước ngoặt, những bước lùi đó như thế nào? Những kết quả từ công tác xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ nói chung và phòng, chống tham nhũng, phòng, chống sự suy thoái, tha hóa trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng của Đảng ta, dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng 10 năm qua, tuy chưa mỹ mãn như kỳ vọng, còn phải tiếp tục làm mạnh hơn nữa, nhưng đã củng cố niềm tin mà Nhân dân dành cho Đảng, dành cho Nhà nước.

Nói như vậy để thấy rằng, đi lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình nhiều khó khăn, thử thách. Chúng ta phải vừa đi, vừa nghiên cứu, vừa vận hành, vừa hoàn thiện bởi hiện tại, chưa ở đâu có chủ nghĩa xã hội và chưa ai thực sự hình dung được một cách đầy đủ, trọn vẹn về chủ nghĩa xã hội. Chúng ta vừa nghiên cứu lý luận, lại vừa vận hành trong thực tiễn, quá trình này có thể có những sai lầm trong lý luận, có thể có sai lầm trong thực tiễn gây khó khăn, làm cản trở bước tiến của chúng ta. Nhưng tất thảy điều đó chúng ta đều sẽ vượt qua được nếu Đảng ta, Nhân dân ta đoàn kết một lòng, vững niềm tin, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bài viết của Tổng Bí thư cũng cho thấy rõ: trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa nhưng không phải là phủ định sạch trơn chủ nghĩa tư bản như cách hiểu của một số người trước đây. Quan điểm đúng đắn là chúng ta xây dựng xã hội không đi vào những khiếm khuyết, những tồn tại, những thói hư tật xấu của chủ nghĩa tư bản mà tiếp nhận, phát huy những thành tựu về khoa học, công nghệ, về kinh tế, xã hội, tận dụng các thành tựu đó để xây dựng đất nước ngày càng phát triển hơn.

Tổng Bí thư đã viết: chúng ta đang đi xây dựng một mô hình xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn chứ không phải một mô hình lý thuyết, sách vở. Vì thế, trong quá trình này, không thể cứng nhắc, càng không thể giáo điều mà phải vừa nghiên cứu, vừa kế thừa, vừa kiên định với mục tiêu, lý tưởng nhưng đồng thời cũng phải sáng tạo, phải vận dụng và phát huy tối đa những thành tựu của nhân loại vào phát triển đất nước giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Chủ nghĩa xã hội gắn liền với sự văn minh, sự tiến bộ, thể hiện ở lực lượng sản xuất hiện đại. Vì thế, chúng ta phải tranh thủ những thành tựu khoa học, công nghệ để xây dựng đất nước giàu mạnh hơn.

Tổng Bí thư cũng đã chỉ rõ: mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang thực hiện hiện nay là mô hình chưa có tiền lệ, không giống với mô hình kinh tế thị trường của các nước đang có và cũng không phải là mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa trong tương lai. Vì thế, trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải uyển chuyển nghiên cứu và tận dụng tất cả những lợi thế của kinh tế thị trường để phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Cái chúng ta “bỏ qua” không phải là những thành tựu tiến bộ về khoa học, công nghệ, về trình độ phát triển của chủ nghĩa tư bản mà chính là những mâu thuẫn cơ bản, những “khuyết tật vốn có” của chủ nghĩa tư bản. 

Thứ Năm, 27 tháng 5, 2021

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH MỌI THẮNG LỢI

Đọc bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tôi rất tâm đắc nội dung đánh giá có tính định hướng chiến lược về công tác xây dựng Đảng nói chung, về vai trò lãnh đạo của Đảng với tiến trình cách mạng, đặc biệt trong công cuộc đổi mới, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) nói riêng.

Trong bài viết, Tổng Bí thư nhấn mạnh: "Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng XHCN, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ XHCN". Tôi xin được kiến giải một số khía cạnh để khẳng định nhận định này của người đứng đầu Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.

Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, nhất là từ Đại hội VI đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước bổ sung, phát triển đường lối đổi mới theo phương châm: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, cùng với phát triển văn hóa-nền tảng tinh thần của xã hội và quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên.

Thực hiện phương châm đó, trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế, Đảng xác định mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là kinh tế thị trường XHCN: “Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (1). Trong chỉ đạo phát triển kinh tế, đi đôi với tập trung phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, Đảng coi trọng vai trò của kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, Đảng chủ trương đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước tiên là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Nhờ vậy, hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, tăng trưởng kinh tế trung bình hằng năm đạt 7%. GDP năm 2019 gấp 12,5 lần năm 2001. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 200USD năm 1990 lên 1.168USD năm 2010 và hơn 3.500USD năm 2021.

Cùng với việc tập trung xây dựng và phát triển kinh tế, Đảng chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng văn hóa và con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển. Vấn đề xã hội là lĩnh vực được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, thể hiện sự ưu việt của chế độ XHCN ở Việt Nam. Quan điểm cốt lõi của Đảng về chính sách xã hội là: Chính sách xã hội vì con người, lấy con người là trung tâm. Kết hợp tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi, từng chính sách, ở quy mô quốc gia, địa phương và cơ sở. Thực hiện chính sách phát triển bao trùm để mọi người dân đều được hưởng trực tiếp và công bằng các thành tựu của phát triển, để không ai bị bỏ lại phía sau. Sự quan tâm của Đảng đã tạo ra sự chuyển biến về văn hóa-xã hội. Đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt. Văn hóa-xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được bảo đảm.

Công tác xây dựng Đảng được xác định là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng; đồng thời tăng cường đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tăng cường công tác xây dựng Đảng về đạo đức. Chú trọng đổi mới công tác cán bộ trên cơ sở lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất, năng lực của cán bộ. Từng bước kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng và Nhà nước theo hướng tinh gọn, giảm bớt đầu mối trung gian. Đến hết năm 2019, số đầu mối trực thuộc Trung ương giảm 4 đầu mối; tổng cục và tương đương giảm 7; cục, vụ và tương đương giảm 83; sở, ngành và tương đương giảm 119; đơn vị công lập giảm 5.145; thôn, tổ dân phố giảm 15.354...Về đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý: Giảm 827 lãnh đạo sở, ngành và tương đương; 9.063 lãnh đạo cấp phòng và tương đương; 8.131 cán bộ lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp ở địa phương.

Xác định quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu nên trong thời kỳ đổi mới, Đảng chủ trương tiến hành bảo vệ Tổ quốc “từ sớm”, “từ xa”. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Chủ trương đúng đắn của Đảng và nỗ lực của toàn quân đã góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ Đảng và chế độ XHCN; giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ củng cố an ninh, quốc phòng với chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; vô hiệu hóa hoạt động của các đối tượng phản động trong và ngoài nước lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để gây mất ổn định. Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố một bước; xây dựng quân đội và công an theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; xây dựng được thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân.

Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng sau hơn 35 năm qua là minh chứng hùng hồn chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới, bảo đảm đất nước phát triển bền vững, theo đúng định hướng XHCN. Đó là cơ sở, nền tảng để tiếp tục xây dựng dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thứ Tư, 26 tháng 5, 2021

XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM ĐƯỢC TIẾN HÀNH NHƯ THẾ NÀO?

Xuyên suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội đều khẳng định nhất quán độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tại Đại hội II (1951), Đảng khẳng định, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam sẽ tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa và nước Việt Nam sẽ thành một nước xã hội chủ nghĩa. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội lần thứ II, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) đã giành được thắng lợi. Với Hiệp định Giơnevơ (20/7/1954), miền Bắc được giải phóng đã từng bước khôi phục, cải tạo kinh tế, xã hội, văn hóa và đi lên chủ nghĩa xã hội; còn ở miền Nam, đồng bào ta tiếp tục thực hiện cuộc đấu tranh giải phóng, thực hiện khát vọng thống nhất nước nhà.

Đại hội Đảng lần thứ III (1960) - Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà đã xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là: Đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Khi miền Bắc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xã định rõ rằng: “Ở miền Bắc, chúng ta đang ở trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta... Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có bóc lột áp bức. Muốn thế chúng ta phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp... Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc".

Đồng thời thực hiện hai chiến lược cách mạng ở hai miền Nam - Bắc, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh cách mạng ở miền Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy gian khổ sau 21 năm gian nan, thử thách đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Miền Nam được giải phóng, hai miền Nam - Bắc đã sum họp một nhà. Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi, cả nước thống nhất, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vững bước trên hành trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được Đảng ta, nhân dân ta kiên định thực hiện, nhất là trong hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, bất chấp sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, bất chấp sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu.

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ GÌ VÀ VÌ SAO PHẢI ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI?

Trong bài viết của mình, Tổng Bí Thư nêu rõ: "Chủ nghĩa xã hội thường được hiểu với ba tư cách: chủ nghĩa xã hội là một học thuyết; chủ nghĩa xã hội là một phong trào; chủ nghĩa xã hội là một chế độ... Chủ nghĩa xã hội đề cập ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên học thuyết Mác - Lênin trong thời đại ngày nay".

Chủ nghĩa xã hội dựa trên học thuyết Mác - Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh, "nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động"; "là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom"; "chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt"… Vì thế, "nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”.

Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”. Vì thế, về bản chất, chủ nghĩa xã hội được hiểu với tư cách là một chế độ xã hội thuộc hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đó chính là một chế độ xã hội do Đảng Cộng sản lãnh đạo; trong đó, nhân dân lao động làm chủ và mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân; là xã hội luôn chăm lo đến lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của mỗi người dân. Đó là một xã hội kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với tập thể và lợi ích xã hội, giải quyết thỏa đáng giữa cống hiến và hưởng thụ; đồng thời, cũng là một xã hội mà sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người,v.v.. Chủ nghĩa xã hội thực sự là một chế độ mới, khác biệt, ưu việt, đầy tính nhân văn so với các chế độ xã hội trước đó như công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản chủ nghĩa và đó là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, mà việc xây dựng, hoàn thiện nó là một quá trình lịch sử lâu dài, để từng bước đạt tới mục tiêu.

Từ đó, có thể thấy, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội được Tổng Bí thư khẳng định trong bài viết: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới"… là hoàn toàn phù hợp lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.

Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là bởi rằng, trên hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước trong thời đại mới và khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Từ bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Người đã lựa chọn và đứng trên lập trường của giai cấp vô sản để xác định rằng: 1) Phải thành lập Đảng Cộng sản - đội tiền phong của giai cấp công nhân và dân tộc; 2) Đảng phải lãnh đạo nhân dân tiến hành giải phóng dân tộc bằng một cuộc cách mạng vô sản và bước phát triển tiếp theo là xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Luận cứ để độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có thể trở thành hiện thực sinh động ở Việt Nam chính là cách mạng giải phóng dân tộc được đặt trong quỹ đạo cách mạng vô sản; là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội và điều kiện trước hết chính là “muốn cách mệnh thành công thì dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”… Vì thế, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để đi tới xã hội cộng sản chủ nghĩa được chỉ rõ là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” - tức là tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ để thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng, từng bước đưa đất nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai giai đoạn cách mạng này có quan hệ biện chứng; trong đó: Để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải giành được độc lập dân tộc và đó là cơ sở; còn đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là điều kiện tiên quyết để giữ vững được độc lập dân tộc, xây dựng được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Dưới ngọn cờ độc lập, tự do có hướng đích chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp và phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội (giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa) - mục tiêu định hướng tương lai của dân tộc Việt Nam là sự lựa chọn chính xác, đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ thập niên 1930, đã góp phần khơi nguồn sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhận thức rõ, độc lập dân tộc - điều kiện đầu tiên để xây dựng và phát triển đất nước chỉ được bảo đảm vững chắc khi gắn liền với chủ nghĩa xã hội và giành được độc lập dân tộc mà không đi lên chủ nghĩa xã hội thì chẳng những không bảo vệ được độc lập dân tộc mà còn không thể mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được Đảng ta, nhân dân ta đã luôn kiên định thực hiện; đồng thời, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng được tiếp tục bổ sung, phát triển, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam qua văn kiện các kỳ Đại hội Đảng.

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG BÀI VIẾT BÔI NHỌ LÃNH ĐẠO ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

Lợi dụng việc Đại tướng Lê Đức Anh, Nguyên Chủ tịch nước từ trần, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã tán phát nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc, phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới; bôi nhọ, nói xấu các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước và cá nhân đồng chí Lê Đức Anh. Điển hình: Trên trang blog Tiếng dân, đối tượng Trần Văn với bài “Đại tướng không có chỗ trong lòng dân”; đối tượng Nguyễn Hữu Vinh với bài “Chính thức: Thêm một chú vào địa ngục”; trên blog VOA tán phát bài “Lê Đức Anh làm tướng giỏi, làm chính trị tồi?”; trên facebook Việt Tân tán phát bài “Lê Đức Anh, 64 chiến sĩ Gạc Ma đang chờ đón ông”… Đây là những bài viết hoàn toàn sai sự thật, phản ánh sự hằn học đến tột cùng của những kẻ chống đối chế độ.

Những công lao của Đại tướng Lê Đức Anh luôn được Đảng, Nhà nước, Nhân dân và Quân đội ghi nhận.

Trọn cuộc đời gắn bó với sự nghiệp cách mạng, với Đảng, với quân đội, Đại tướng Lê Đức Anh đã kinh qua nhiều cương vị công tác: Tư lệnh Quân khu 9; Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7 kiêm Chỉ huy trưởng Cơ quan tiền phương của Bộ Quốc phòng ở Mặt trận Tây Nam; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sau này là Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam; Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nhưng dù ở đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào đồng chí cũng luôn thể hiện là người giàu lòng dũng cảm, trí thông minh, quyết đoán, nhất là trong những giai đoạn khó khăn của đất nước; suốt cuộc đời, đồng chí luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc và quân đội lên trên hết; toàn tâm cống hiến cho Đảng, cho dân tộc; luôn giữ trọn danh hiệu và khí tiết của người Cộng sản. Đồng chí đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vào cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và phía Tây Nam, làm nghĩa vụ quốc tế vẻ vang ở Campuchia, vào công cuộc đổi mới đất nước cũng như tham gia khởi xướng, đề xuất nhiều quyết sách quan trọng để chỉ đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước ta dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và sự bao vây, cấm vận của nước ngoài những năm 80, 90 của thế kỷ trước. Đánh giá về công lao và cống hiến to lớn của đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội, đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư đã nhận định: “Đồng chí Lê Đức Anh là một trong những nhà chính trị tầm cỡ, nhà quân sự lớn của Đảng và Nhà nước ta. Vốn là cán bộ chỉ huy quân đội, đã trải qua thực tế chiến đấu gian khổ của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược và 10 năm làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn ở Campuchia, nên ở anh, quan điểm giai cấp rất vững vàng và rõ ràng. Sinh hoạt và lối sống giản dị, mẫu mực”. Những đóng góp to lớn của Đại tướng sẽ luôn được lịch sử ghi nhận, không một cá nhân, một thế lực thù địch nào cả ở trong nước lẫn ngoài nước có thể xuyên tạc, phủ nhận!

Xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ danh dự cá nhân các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước là hành động sai trái, không thể dung thứ.

Luật An ninh mạng có hiệu lực từ ngày 1-1-2019 là cơ sở pháp lý và là biện pháp răn đe đủ mạnh để xử lý các đối tượng tung tin, bịa đặt, vu khống, xuyên tạc, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên mạng xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng. Điều 8 Luật An ninh mạng nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi: “Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc”. Như vậy, các hành vi xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, bôi nhọ danh dự cá nhân các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch là hành động trái với pháp luật và cần phải được cơ quan chức năng xử lý thích đáng. Những hành động bịa đặt, vu cáo lãnh đạo Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch như đối với đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh tuy không mới nhưng hết sức thâm độc, qua đó gieo rắc hoang mang, sự nghi ngờ, phân tâm, mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; đặc biệt, những thông tin sai trái này được tung ra có chủ đích khi đồng chí đại tướng Lê Đức Anh vừa qua đời nên đã thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội bởi sự lan tỏa của mạng internet và mạng xã hội.

Thương tiếc đồng chí Đại tướng Lê Đức Anh, nhà lãnh đạo tài ba, người có tầm nhìn chiến lược, đóng góp nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cần phải có chính kiến, phải phản bác lại những thông tin sai trái về cuộc đời Đại tướng, cơ quan chức năng cần phải xử lý nghiêm khắc những kẻ tung tin bịa đặt về Đại tướng để tiếng thơm của Đại tướng còn mãi với non sông Việt Nam./.

Thứ Sáu, 13 tháng 10, 2017

Đằng sau những bài viết của văn sĩ “trở cờ”

Hiện đang có một số người không phải vì nhận thức thiếu hiểu biết, mà xuất phát từ động cơ chống phá, động cơ vụ lợi hoặc những lý do thấp hèn khác đã cố tình làm biến dạng sự kiện, bản chất lịch sử.
Sự kiện, nhân vật lịch sử không phải là ý chủ quan do ai đó dựng lên, trái lại nó được kiểm chứng, đánh giá qua các tư liệu, dữ liệu có tính khách quan, thuyết phục. Có những sự kiện lịch sử trở thành bản hùng ca, là niềm tự hào về ý chí, nghị lực, sức chiến đấu, chiến thắng của dân tộc, đi sâu vào tiềm thức của rất nhiều thế hệ, lưu truyền đời này qua đời khác.
Ấy thế nhưng, hiện đang có một số người không phải vì nhận thức thiếu hiểu biết, mà xuất phát từ động cơ chống phá, động cơ vụ lợi hoặc những lý do thấp hèn khác đã cố tình làm biến dạng sự kiện, bản chất lịch sử.
Đáng nói, số này lấy danh nghĩa “nhân sĩ”, “trí thức” và trong thực tế họ từng ít nhiều có ảnh hưởng xã hội do những tác phẩm văn học, nghệ thuật họ đã sáng tác và được công chúng biết đến trong quá khứ. Thậm chí, có người trong chiến tranh đi theo cách mạng, bằng vốn kiến thức và tài năng của mình đã cho ra đời những tác phẩm nổi tiếng, có ý nghĩa ca ngợi và giáo dục, động viên tinh thần lao động, chiến đấu lúc bấy giờ.
Thế nhưng, trong điều kiện hiện nay, vì những lý do và động cơ cá nhân, một số cây bút không giữ vững chính lập trường, tư tưởng, con đường mà mình đã tin và đi theo, dần dần ngả bút, có lời nói, hành động, cho ra đời những sản phẩm tinh thần (tác phẩm văn học, nghệ thuật) có nội dung ngược lại với con đường cách mạng của dân tộc. Họ tự tách mình ra khỏi dòng thời cuộc, từ bỏ, phỉ báng chính con đường mình đã lăn lộn quá nửa đời người để đi theo quan điểm, tư tưởng mà họ coi là “tự do”, “dân chủ”.  
Mỗi khi đọc những tác phẩm, bài viết của những cây bút “trở cờ” này, tôi vẫn luôn đặt câu hỏi động cơ, lý do thực đằng sau những con chữ đó là gì? Nếu là văn sĩ từng kinh qua cuộc chiến vệ quốc của dân tộc, từng đồng cam cộng khổ những năm trước và sau Đổi mới, nay đã bên kia dốc núi cuộc đời, khó thể nói những bài viết trước thì chững chạc, nay lại “non về nhận thức”.
Có nhiều lý do, động cơ chi phối ngòi bút của họ, trong đó bao gồm cả sự chi phối vật chất và sự bất mãn cá nhân. Đó là sự suy thoái tư tưởng chính trị, đánh mất chính mình – điều cốt yếu quy định cốt cách của một người cầm bút. Khi đánh mất chính mình, điều nguy hại là họ dùng sự ảnh hưởng về tên tuổi vốn đã được xã hội thừa nhận trong quá khứ, bằng những tác phẩm nổi danh trong quá khứ để “bắn” vào hiện tại những bài viết, tác phẩm dễ gây nguy hại về tư tưởng cho thế hệ hôm nay.
Một trong những chiêu “gây độc” của không ít văn sĩ theo xu hướng này chính là “viết lại lịch sử”. Nói “viết lại lịch sử” chỉ là một cách bóng gió về hình ảnh, thực chất là phỉ báng, xuyên tạc lịch sử. Bằng ngòi bút của mình, bằng những sự kiện chắp vá hoặc hư cấu, họ biến những sự kiện lịch sử, những nhân vật lịch sử đã được tôn vinh, ghi danh bằng những câu từ mập mờ “nói lại”, “sự thật”, “tiết lộ”… Không gì khác, đó chỉ là chiêu trò đánh vào tâm lý, tư tưởng vốn dĩ ưa tò mò của không ít người. Mạng xã hội với làn sóng a dua khá phổ biến hiện nay cũng vô tình trở thành môi trường để những trò xảo trá như vậy có đất tung hoành. 
Trong số báo trước, chúng tôi đã đề cập việc một số người nhân danh văn sĩ, trí thức cố tình nhào nặn, làm biến thái nhân vật lịch sử Võ Thị Sáu. Với chiêu trò tự bịa ra các “nhân vật biết chuyện”, họ làm clip dàn dựng, xuyên tạc nghiêm trọng hình ảnh chị Võ Thị Sáu. Hay mới đây, lại một bài viết kèm “thơ vè” xuyên tạc sự kiện chính quyền Ngô Đình Diệm thảm sát tại nhà tù Phú Lợi.
Bài viết đang lan truyền trên facebook do một người khoác áo văn sĩ viết, nói rằng không có vụ thảm sát nào như vậy. Ông nói: “Cái vụ ấy là do ta dựng lên nhằm mục đích chống Diệm” và “đơn giản ngày hôm ấy, có mấy người ăn bánh mì, họ kêu đau bụng và được quản giáo đưa đi”.
Đáng nói, một bài viết đả phá như vậy nhưng lại được không ít người nhảy vào bình luận, cổ súy, dù nhiều người trong số này sinh sau năm 1975, chưa biết nhà tù Phú Lợi ở đâu nhưng cũng “thánh chém” như thật, từ đó phê phán, chỉ trích chế độ là thế này, thế kia. Trong khi đó, đây là sự kiện đã được sử sách ghi rõ, có nhân chứng rõ ràng.
Chiêu trò xuyên tạc sự kiện, nhân vật lịch sử xảy ra ở một số quốc gia và cơ quan bảo vệ pháp luật các nước đã chứng minh ý đồ chính trị phía sau thủ đoạn này. Phiên tòa sơ thẩm ở Bắc Kinh ngày 27-6-2016 đã tuyên ông Hong Zhenkuai (Hồng Chấn Khoái), cựu Tổng Biên tập Tạp chí lịch sử Yanhuang Chunqiu (Viêm Hoàng Xuân Thu) đã phạm tội phỉ báng, làm mất uy tín 5 anh hùng liệt sĩ, đồng thời buộc ông phải công khai xin lỗi các nguyên đơn trên các trang web và báo chí. 
Trong bản luận tội, tòa tuyên các bài báo của ông Hong Zhenkuai đã dựa vào các chứng cứ không đủ tin cậy khiến dư luận phân tâm về một trong những chiến công lịch sử của lực lượng vũ trang Trung Quốc.
Bản luận tội viết: “Những hồi ức mang tính lịch sử và tinh thần dân tộc được phản ánh đầy đủ trong câu chuyện 5 anh hùng Lang Nha Sơn. Câu chuyện của họ là nguồn mạch quan trọng, là thành tố của những giá trị cốt lõi của Trung Quốc hiện đại. Vì thế, hành vi này đã phỉ báng và gây tổn hại đến những giá trị tinh thần của toàn dân tộc”. Thế nhưng, nhà viết sử Hong Zhenkuai bất ngờ phản bác bằng việc dựng lên những nghi vấn, tình tiết nhằm làm tầm thường các nhân vật anh hùng như “có phải 5 anh hùng tự nguyện hy sinh bằng cách nhảy xuống núi hay bị trượt chân”!
Tại Nga, những kẻ cơ hội cũng tìm cách xuyên tạc lịch sử, nhất là trong cuộc chiến vệ quốc vĩ đại đánh tan phát xít Đức năm 1945, xuyên tạc bản chất, ý nghĩa Cách mạng Tháng Mười.  
Văn hóa dân tộc không thể dung nạp thói vô ơn. Những người được lớn lên từ chiếc nôi văn hóa dân tộc, đi qua khói lửa chiến tranh, vậy mà nay quay lại phỉ báng lịch sử, cười nhạo trên xương máu của tiền nhân. Máu xương của cha anh dù đã tan vào đất đai xứ sở nhưng đó là giá trị thiêng liêng, trường tồn cùng lịch sử, không thể vì bất cứ lý do gì nhạo báng, bỡn cợt. 
Cổ súy cho thứ “chủ nghĩa bác bỏ lịch sử” là âm mưu nguy hiểm mà các thế lực thù địch tìm cách mượn những nhân sĩ, trí thức từng nổi danh hòng dùng uy tín, tên tuổi của họ để “đẻ” ra những bài viết, tác phẩm có nội dung chống phá, xuyên tạc.
Không gì khác, thứ mà kẻ địch đưa ra chiêu dụ thường là vật chất hoặc lợi ích nào đó để “câu” những người đang có tư tưởng dao động, bất mãn. “Để tiêu diệt một vương quốc, đòn trước tiên phải xóa bỏ quá khứ của vương quốc đó” – đây là thủ đoạn đã được cảnh báo ở nhiều quốc gia.