Hiển thị các bài đăng có nhãn điều kiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn điều kiện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN THẮNG LỢI SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THẾ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Khi bàn về điều kiện thực hiện thắng lợi SMLS của GCCN, trong Lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888, Ph.Ăngghen đã nêu rõ: “Chính do bản thân các sự biến và do những thành bại trong cuộc đấu tranh chống tư bản… mà công nhân không thể không cảm thấy rằng tất cả các môn thuốc vạn ứng của họ đều vô dụng, họ không thể không đi tới chỗ nhận thấy tường tận những điều kiện thực sự của công cuộc giải phóng giai cấp công nhân”.

Trước tiên, GCCN phải có trình độ giác ngộ cao về chính trị được thể hiện trước hết ở trình độ giác ngộ về giai cấp. Hiểu biết ở tầm lý luận “mình là gì và cần phải làm gì về mặt lịch sử” được tập trung trong nhận thức về SMLS của GCCN. C.Mác, Ph.Ăngghen viết: “Vấn đề là ở chỗ giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với sự tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử. Mục đích của nó và nhiệm vụ lịch sử của nó được tình hình sinh hoạt của bản thân nó cũng như toàn bộ tổ chức của xã hội tư sản hiện đại, chỉ ra từ trước một cách rõ rệt nhất và không thể chối cãi được. Một bộ phận lớn trong giai cấp vô sản Anh và Pháp đã có ý thức về nhiệm vụ lịch sử của mình và không ngừng cố gắng làm cho ý thức đó đạt tới mức hoàn toàn rõ rệt, điều đó bất tất phải nói đến nhiều”.

Thứ hai, Giai cấp công nhân muốn thực hiện SMLS vẻ vang của mình, nhất thiết phải tổ chức ra được chính Đảng Cộng sản thực sự là bộ phận tiên tiến, giác ngộ nhất, trung thành và đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào đấu tranh của giai cấp, của dân tộc, có lý luận khoa học dẫn đường. C.Mác, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Vậy là về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”. Chủ nghĩa Mác- Lênin cũng khẳng định, việc GCCN tổ chức được một chính đảng trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức là dấu hiệu đã trở thành giai cấp tự giác và đủ năng lực để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

Thứ ba, một điều kiện quan trọng khác để GCCN thực hiện thắng lợi SMLS của mình là phải thực hiện chiến lược liên minh giai cấp của GCCN với các giai tầng xã hội khác. C. Mác đã từng khẳng định: “cách mạng vô sản phải là một bài đồng ca của hai giai cấp công nhân và nông dân, mà nếu không có được bài đồng ca này thì trong tất cả các quốc gia nông dân, bài đơn ca của giai cấp công nhân sẽ trở thành bài ca ai điếu” Tuy nhiên, sự cần thiết của liên minh giai cấp không chỉ từ phía giai cấp vô sản mà còn từ phía những người bạn đồng minh của mình. Đồng thời, C. Mác cũng chỉ rõ, trong khối liên minh ấy, GCCN phải là giai cấp lãnh đạo, giai cấp trung tâm của các lực lượng cách mạng.

Thứ tư, điều kiện đoàn kết quốc tế của GCCN trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa lợi ích GCCN và lợi ích dân tộc; giữa lợi ích GCCN và lợi ích nhân loại là một trong những điều kiện cơ bản để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của GCCN. C.Mác và Ph. Ănghen đã kêu gọi: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại ”. Như vậy, thực hiện tình đoàn kết quốc tế vừa là bản chất, vừa mục tiêu, vừa là động lực của quá trình thực hiện SMLS của GCCN.

Tóm lại, luận điểm trọng yếu nhất trong học thuyết Mác là soi sáng SMLS của GCCN. Trong đó, các ông đã chỉ rõ, chính nền công nghiệp lớn, hiện đại đã tạo ra những điều kiện vật chất và xã hội để thủ tiêu được chế độ người bóc lột người. Chỉ có GCCN là giai cấp bị tước mất tư liệu sản sản xuất, mới có khả năng hoàn thành cuộc cách mạng xã hội vĩ đại mà kết quả là bất kỳ chế độ bóc lột giai cấp nào và bất kỳ sự thống trị giai cấp nào cũng đều bị thủ tiêu. Chính đó là điều có tính quyết định, và vì vậy mà GCCN tại thời điểm đó dù chỉ chiếm một phần ít hơn về số lượng trong tổng số dân cư của đại đa số các nước cũng trở thành giai cấp lãnh đạo của tất cả các giai cấp bị bóc lột. Chỉ có GCCN mới có khả năng đoàn kết những người bị bóc lột lại chung quanh mình và làm cho họ trở thành những người bạn đồng minh của mình.

Ở thế kỷ XXI này, so với thời kỳ của C.Mác, Ph.Ăngghen, thế giới ngày nay có nhiều sự vận động và phát triển. Tuy nhiên, sự biến đổi này, không nằm ngoài sự tiên liệu và đoán định của các ông. Giai cấp công nhân vẫn là giai cấp đứng ở trung tâm của thời đại, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến. Và vì vậy, sẽ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, “…Theo qui luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Vì vậy, dù bối cảnh mới hiện nay đang có nhiều thay đổi nhưng lý luận của chủ nghĩa Mác về SMLS của GCCN vẫn còn nguyên giá trị./.

Thứ Năm, 27 tháng 5, 2021

MỌI CÔNG DÂN VIỆT NAM ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐỀU CÓ QUYỀN BẦU CỬ VÀ ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

Ngay trong bản Hiến pháp năm 1946, Điều 18 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái, trai, đều có quyền  bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”. Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định rõ quyền bầu cử và ứng cử. Điều 27 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định”.

 Trên thực tế, kể từ khi tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội khóa I (06/01/1946) đến nay, mọi công dân Việt Nam đủ điều kiện đều có quyền bầu cử và ứng cử và thực hiện dân hiện dân chủ thật sự, không có chuyện “hình thức” như một số người lu loa. 

Thật ra, không phải trước thềm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 họ mới lu loa, mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, bất mãn đã lu loa từ nhiều kỳ bầu cử trước đây. Chẳng hạn, trong cuộc bầu đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, đã xuất hiện một “làn sóng” tự ứng cử của những người tự xưng là “nhà dân chủ”. Họ bị loại qua các vòng hiệp thương và rêu rao những luận điệu hết sức sai trái, như: Chỉ có những người “theo phe” Đảng Cộng sản mới có cơ hội ứng cử đại biểu Quốc hội; phải để các ứng cử viên tự do tranh cử, dựa trên chữ ký của cử tri mà không cần phải qua hiệp thương; Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, v.v... Họ đã quá sai, Hiến pháp đã hiến định “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Họ không theo Đảng Cộng sản thì họ theo ai? Đảng không cản trở bất cứ ai, tôn trọng quyền bầu cử và ứng cử của những người đủ tiêu chuẩn và điều kiện, không chấp nhận những người không đủ tiêu chuẩn. Từ trước đến nay vẫn thế. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước”.

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2020

TẬN DỤNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI CỦA KỶ NGUYÊN SỐ ĐỂ ĐẤU TRANH CÓ HIỆU QUẢ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI

Nhận thức đúng bản chất, nội dung của kỷ nguyên số, yêu cầu phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội và nhiệm vụ xây dựng Quân đội về chính trị trong tình hình mới là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Kỷ nguyên số dù có thể làm biến đổi trên nhiều vấn đề cơ bản về chiến tranh và quân đội, nhưng không thể thay thế những nguyên tắc căn bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân; không thể làm méo mó, biến dạng chính trị của Quân đội ta. Trái lại, nó góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật về xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Bởi vậy, phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội cần tận dụng, thúc đẩy điều kiện, cơ sở quan trọng này để nâng cao hiệu quả đấu tranh và xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Trong kỷ nguyên số, vấn đề cốt lõi, như: trí tuệ nhân tạo, vạn vật internet, lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn được ứng dụng trong lĩnh vực quân sự và vũ khí, trang bị thông minh hiện đại, cần được phát huy, trở thành nền tảng vật chất, cơ sở khoa học công nghệ cho xây dựng Quân đội về chính trị, làm thất bại mọi mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội. Cần sử dụng có hiệu quả không gian mạng với tư cách là “không gian tác chiến mới”, làm thất bại mọi sự chống phá, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Phát huy ưu thế của khoa học công nghệ, kỹ thuật số, đặc biệt là công nghệ thông tin để đổi mới nội dung, phương thức nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng và phát huy nhân tố con người trong Quân đội. 

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

BẢO ĐẢM CƠ SỞ VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT HUY ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

     Tại Đại hội XII, Đảng ta khẳng định, vấn đề cơ bản để bảo đảm phát huy sức mạnh của khối ĐĐKTDT do Đảng lãnh đạo là kết hợp và giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích của các giai tầng, thành phần xã hội. Bởi vì, sức mạnh ĐĐKTDT chỉ có thể được xây dựng và phát huy trên cơ sở hiện thực của việc kết hợp đúng đắn và giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, các dân tộc, tôn giáo, các cộng đồng xã hội khác. Từ đó, Đảng ta đã phát huy được đầy đủ tiềm năng, nguồn lực và sức mạnh của mọi thành phần xã hội, của mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước vào công cuộc phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, nghị quyết Đại hội XII nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới”.
     Khối ĐĐKTDT nước ta dựa trên nền tảng vững chắc của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, giữa các dân tộc, các giai cấp, tôn giáo, các thành phần xã hội vì mục tiêu lợi ích căn bản là: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”. Việc kết hợp đúng đắn các lợi ích, giải quyết hài hòa các nhu cầu và lợi ích của các chủ thể sẽ tạo nên động lực cơ bản cho sự liên minh và phát triển xã hội. Trên cơ sở tiếp tục khẳng định mục tiêu chung đó, Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc. Quan điểm này thể hiện thái độ nghiêm túc, rõ ràng, nhất quán của Đảng ta trong xây dựng và phát huy sức mạnh ĐĐKTDT hiện nay, xóa bỏ những nghi ngờ, định kiến của nhiều người, những quan điểm xuyên tạc chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng. Đó chính là sự bổ sung, làm sáng rõ quan điểm, đường lối ĐĐKTDT của Đảng ta hiện nay, thể hiện tinh thần lắng nghe, đối thoại chân thành, rộng mở của Đảng để đặt lên trên hết lợi ích quốc gia - dân tộc vì mục tiêu chung. Thực tế, có một bộ phận người Việt Nam ở trong và ngoài nước vẫn còn những quan điểm khác với chúng ta. Song họ cũng là “con Lạc cháu Hồng”, có tinh thần và tình cảm nhất định với quốc gia dân tộc. Vì vậy, đây là quan điểm và chính sách cởi mở, mềm dẻo của Đảng và Nhà nước ta sẽ càng tạo điều kiện thuận lợi cho họ góp phần xây dựng đất nước.
     Một điểm mới quan trọng trong văn kiện Đại hội XII là Đảng ta coi tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước để tạo sinh lực mới của khối ĐĐKTDT. Bởi việc xây dựng, củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân là một nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng, là cội nguồn sức mạnh của Đảng ta. Từ những thành tựu cũng như những hạn chế, khuyết điểm của 30 năm đổi mới, Đảng rút ra bài học lớn: phải luôn luôn lấy “dân là gốc”. Đảng lãnh đạo nhân dân thông qua Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Một mặt, Đảng và Nhà nước lãnh đạo, tổ chức toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước; mặt khác, luôn chăm lo đến lợi ích, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Chính điều đó làm cho nhân dân tin yêu Đảng, tin tưởng vào sự quản lý, điều hành của Nhà nước, tạo nên sự hòa hợp ý Đảng lòng dân, tạo ra sinh lực mới của khối ĐĐKTDT, phát huy tốt hơn nữa sức mạnh ĐĐKTDT. 

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

Cộng đồng dân tộc Việt Nam ra đời sớm do những điều kiện lịch sử cụ thể nào

Ở Việt Nam, cộng đồng dân tộc ra đời sớm hơn nhiều nước trên thế giới do đặc điểm các hình thái kinh tế - xã hội tiền tư bản của xã hội phương Đông và những điều kiện lịch sử cụ thể nước ta quy định:
Do đặc điểm của các hình thái kinh tế - xã hội trước chủ nghĩa tư bản. Việt Nam không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ kiểu phương Tây. Kết thúc thời nguyên thủy, các công xã thị tộc chuyển lên thành công xã nông thôn, có tính tự trị cao. Sở hữu ruộng đất thuộc về công xã (làng xã). Phân hóa xã hội chậm chạp. Nông dân chiếm số lượng chủ yếu. Nhà nước vừa bóc lột vừa quan tâm chức năng xã hội, đã tạo ra sự cố kết cộng đồng quốc gia từ sớm. Nhà nước Văn Lang, Âu Lạc là thời kỳ thịnh trị của hình thái này.
Từ năm 939, nước ta bước vào thời kỳ phong kiến. Công xã nông thôn vẫn tồn tại phổ biến và có quyền tự trị rất lớn. Sở hữu ruộng đất thuộc về đại bộ phận công xã và chia ruộng cho nông dân. Tư hữu ruộng đất nảy sinh muộn và tăng tiến dần nên mâu thuẫn xã hội không gay gắt. Đất nước không có sự cát cứosphong kiến như ở phương Tây. Nhà nước phong kiến tập quyền ra đời sớm và tiếp tục lãnh đạo nhân dân chống giặc ngoại xâm, lao động sản xuất.
Các đặc trưng kinh tế - xã hội đó đã tạo ra sự cố kết cộng đồng tộc người cả nước, đẩy nhanh quá trình hình thành dân tộc.
Do yêu cầu chinh phục thiên nhiên phát triển nông nghiệp trồng lúa nước. Từ thời bộ tộc Văn Lang đến nay, nước ta là một nước nông nghiệp trồng lúa nước, toàn bộ đời sống xã hội vận hành trên nền tảng nông nghiệp lúa nước.
Nông nghiệp lúa nước Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên,  vừa thuận lợi, vừa có nhiều khó khăn, thách thức; hạn hán, lũ lụt xảy ra thường xuyên. Để duy trì, phát triển nông nghiệp lúa nước, cư dân các tộc người, vùng miền sớm phải cố kết, tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của các nhà nước để trị thủy và thủy lợi, khai hoang đồng ruộng, phát triển sản xuất, đắp đê ngăn lũ, đào sông ngòi tưới tiêu. Công cuộc chinh phục thiên nhiên phát triển nông nghiệp lúa nước đã đặt ra yêu cầu khách quan phải đoàn kết, cố kết nhân dân các vùng miền trong nước, thúc đẩy nhanh quá trình dân tộc Việt Nam.
Do yêu cầu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ độc lập dân tộc. Việt Nam có vị trí địa - chính trị quan trọng ở Đông Nam Á nên thường xuyên thu hút sự nhòm ngó của kẻ thù, nhất là các đế chế phương Bắc.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước. Hiếm có quốc gia nào lại phải liên tục chống ngoại xâm nhiều như Việt Nam. Không triều đại nào của Trung Quốc là không xâm lược Việt Nam. Kẻ thù xâm lược thường mạnh hơn ta rất nhiều về tương quan lực lượng nên các cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta rất khốc liệt. Chiến tranh chống giặc ngoại xâm đã đặt ra yêu cầu khách quan là phải đoàn kết, hợp sức các tộc người, các giai tầng trên mọi miền đất nước dưới sự lãnh đạo của chính quyền trung ương để đánh giặc giữ nước. Điều đó đã thúc đẩy mạnh mẽ sự cố kết tộc người, sự gắn bó, thống nhất của các dân tộc Việt Nam.
Do kết cấu thành phần tộc người ở nước ta. Từ thời Hùng Vương dựng nước đến nay, nước ta luôn là quốc gia đa thành phần tộc người. Các tộc người cùng cư trú đan xen, không có lãnh thổ tộc người riêng, sớm có giao lưu về nhiều mặt. Đồng bào cùng chung một vận mệnh, lợi ích trong dựng nước và giữ nước, cùng nhau sáng tạo nên một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng với các giá trị nổi bật là đoàn kết, tương trợ, yêu nước… Tộc người Việt luôn là cư dân đa số, đóng vai trò là hạt nhân đoàn kết và cố kết các tộc người khác. Đặc điểm kết cấu tộc người đó sớm tạo ra sự đoàn kết, tương trợ trong lãnh thổ quốc gia thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ dân tộc.
Các đặc điểm trên cùng liên kết tác động, thúc đẩy nhanh chóng sự ra đời dân tộc Việt Nam; quy định kết cấu, diện mạo, bản sắc của dân tộc ta.

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

Nhận diện và phê phán quan điểm phủ nhận khả năng và các điều kiện để Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

a. Nhận diện
- Quan điểm phủ nhận khả năng Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa; cho rằng phải trải qua đủ 5 hình thái kinh tế - xã hội, do đó phải qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
- Quan điểm cho rằng, sau sự biến Liên Xô 1991 Việt Nam không còn đủ điều kiện để quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa – điều kiện về sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.
- Quan điểm cho rằng, thời đại ngày nay không phải là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội… (phủ nhận nội dung cơ bản của thời đại ngày nay) mà là thời đại của cách mạng khoa học công nghệ, kinh tế trí thức, toàn cầu hóa, của thế giới phẳng… không còn là thế giới phân chia thành 2 cực xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa theo hệ tư tưởng mới.
b. Phê phán
Một là, cần chỉ ra rằng, lịch sử toàn thế giới phải trải qua đủ 5 hình thái kinh tế - xã hội, còn lịch sử của từng quốc gia dân tộc thì không nhất thiết phải như vậy. Thực tế lịch sử đã cho thấy một số quốc gia dân tộc đã bỏ qua một, thậm chí tới 2 hình thái kinh tế - xã hội (thí dụ). Ngay Việt Nam cũng không qua chế độ chiếm hữu nô lệ.
Quan điểm sai lầm nói trên là quan điểm giáo điều, chỉ thấy cái chung mà không thấy cái riêng, thấy cái phổ biến mà không thấy cái đặc thù.
Hai là, cần chỉ ra rằng, Lênin nêu 3 điều kiện để một nước có thể bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên chủ nghĩa xã hội là: 1/ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; 2/ chính quyền của đa số nhân dân lao động trên cơ sở liên minh công nông; 3/ được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong 3 điều kiện nói trên thì điều kiện (1) và (2) là những điều kiện bên trong, điều kiện (3) là điều kiện bên ngoài. Cả lý luận và thực tiễn cho thấy các điều kiện bên trong bao giờ cũng có vai trò quyết định, điều kiện bên ngoài là quan trọng (chúng ta không coi nhẹ).
Với ý nghĩa ấy Việt Nam có đủ 2 điều kiện bên trong: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên nền tảng liên minh công - nông - trí do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo (Việt Nam còn có khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có chủ nghĩa yêu nước Việt Nam…).
Từ sự biến Liên Xô 1991 Việt Nam không còn nhận được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa (thiếu điều kiện 3, điều kiện bên ngoài), nhưng thay vào đó là sự phát triển của Việt Nam sau 10 năm đổi mới (1986 - 1996) đã phá vỡ được âm mưu và hành động bao vậy cấm vận của Mỹ, có quan hệ với hầu hết các nước trong đó có đủ các nước lớn (kể cả nước vốn là thù địch) như Mỹ, Pháp, Nhật… và những nước xã hội chủ nghĩa trước đây như Nga, Cộng hòa Séc… Qua đó tiếp nhận thành tựu của nhân loại, đặc biệt lĩnh vực khoa học công nghệ hiện đại.
Ba là, cần chỉ ra rằng, mặc dù chủ nghĩa xã hội thất bại ở Liên Xô và Đông Âu, những nội dung cơ bản của thời đại vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga 1917.
Vì 1/ Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng… Vì vậy, ở lĩnh vực này, ở địa bàn khác chủ nghĩa xã hội có thể vấp phải thất bại, cách mạng thoái trào kéo dài hàng chục năm là chuyện khó tránh khỏi. Thí dụ từ cách mạng tư sản Anh 1640 đến cách mạng tư sản Pháp 1789 là 149 năm; cách mạng tư sản Pháp thoái trào từ 1815 - 1848 là 33 năm. Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản đã như vậy, thì chủ nghĩa xã hội càng khó tránh khỏi như vậy. 2/ Thất bại của chủ nghĩa xã hội do nhiều nguyên nhân trong đó có 2 nguyên nhân chủ yếu là sai lầm về đường lối cải tổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và cuộc phản kích quyết liệt với thủ đoạn tinh vị (diễn biến hòa bình + bạo loạn lật đổ) của thế lực tư sản phản động ở Mỹ, Tây Âu. 3/ Cần chỉ ra rằng, dù chủ nghĩa xã hội thoái trào nhưng các nước xã hội chủ nghĩa cải cách, đổi mới như Trung Quốc, Việt Nam, Lào vẫn tiếp tục phát triển, Cuba, Triều Tiên chưa có điều kiện cải cách, đổi mới nhưng vẫn trụ vững. Gần đây, Cuba bắt đầu cải cách với phương châm “Tiếp cận mô hình kinh tế mới” một cách thận trọng. 4/ Phong trào cánh tả Mỹ Latinh phát triển mạnh từ 1998 với 4 – 5 nước tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội, gọi là chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI. 5/ Chủ nghĩa tư bản sau hiện tượng “ở thế thượng phong” nửa đầu thập kỷ 90, thế kỷ XX lại rơi vào suy thoái (1997 - 1998, 2007 - 2008, 2011- nay). 

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

ĐIỀU KIỆN ĐỂ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HOÀN THÀNH THẮNG LỢI SỨ MỆNH LỊCH SỬ

Hiện nay, cách mạng nước ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn; cơ hội và thứch thức, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau, để GCCN hoàn thành xuất sác sứ mệnh lịch sử của mình đòi hỏi phải bảo đảm những điều kiện sau:
Thứ nhất, ĐCS Việt Nam phải thực sự sáng suốt, trí tuệ, bản lĩnh. Trên cơ sở dự báo đúng tình hình, hoặch định đường lối đúng đắn, chỉ đạo kiên quyết, kịp thời, khôn khéo, không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng. Đảng thực sự là đại diện cho trí tuệ, lương tâm, và danh dự. Mọi sự  hoài nghi, dao động, hoặc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, ngay cả dưới hình thức đòi đa đảng, đa nguyên, cũng đều dẫn tới sự  đổi hướng, chuyển màu và những hậu quả khôn lường sẽ trút lên đầu nhân dân. Đã đến lúc Đảng ta cần có định hướng chiến lược và xác định lộ trình xây dựng và phát triển GCCN trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Thứ hai, Nhà nước năng động, hiệu quả trong quản lý, điều hành, đặc biệt là Chính phủ, khả năng chống quan liêu, tham nhũng được chứng tỏ trên thực tế.
Năng lực tổ chức, điều hành của Nhà nước, trước hết ở việc hoạch định chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật để quản lý theo luật; đồng thời phải kiện toàn bộ máy hành chính gọn nhẹ, khắc phục tình trạng chồng chéo, tiến tới cải cách triệt để nền hành chính trên cả bốn nội dung: Thể chế hành chính; bộ máy hành chính; đội ngũ công chức và tài chính công, đảm bảo nền hành chính vững mạnh, trong sạch, quản lý hiệu lực và hiệu quả.
Thứ ba, phát triển KTTT định hướng XHCN tạo điều kiện và môi trường KT - XH xây dựng và phát triển GCCN
Là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, KTTT phản ánh trình độ phát triển nhất định của văn minh nhân loại. KTTT định hướng XHCN là mô hình kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Ở nước ta, KTTT định hướng XHCN khác về bản chất so với KTTT TBCN. Chúng ta càng sớm hội nhập nền KTTT nước ta với KTTT thế giới thì chúng ta càng sớm có CNXH. Bởi KTTT định hướng XHCN không chỉ bảo đảm cho LLSX phát triển mà còn tạo ra quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hoá cao. Có như vậy, chúng ta mới có cơ hội phát huy tối đa sức mạnh  nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, như những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và các thành tựu khác của thời đại để phát triển kinh tế và thực hiện công bằng, bình đẳng xã hội. Lênin đã từng khẳng định: “Chính trị chủ yếu của chúng ta lúc này là xây dựng nhà nước về mặt kinh tế”[12]. Trong điều kiện hiện nay, phải giữ vững định hướng XHCN cho nền KTTT đồng thời với việc hoàn thiện các thể chế KTTT, trong đó tập trung vào năm thể chế: Thị trường hàng hoá và dịch vụ; tài chính; bất động sản; sức lao động và khoa học và công nghệ; cũng như  phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất, kinh đoanh…
 Thứ tư, phát triển kinh tế, tạo ra sự phù hợp giữa chính trị với kinh tế, đồng thời phải phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc tạo nền tảng văn hoá tinh thần cho phát triển nhanh, hiêụ quả và bền vững. Hội nghị Trung ương 10 khoá IX đã khẳng định :“ Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”. Phát triển kinh tế gắn với xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng và xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc tạo thế “ba chân kiềng” cho sự phát triển cũng chính là tạo điều kiện và cơ hội để gccn Việt Nam hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.
Thứ năm, khả năng tạo lập và giữ vững ổn định chính trị tích cực từ toàn bộ thể chế cho đến sự đồng thuận xã hội. ổn đinh để phát triên, phát triển để bảo đảm ổn định là vấn đề mạng tính qui luật. Không ổn định thì không có cơ hội và môi trường để phát triển và do đó GCCN không có khả năng hoàn thành sứ mệnh của mình.

Thứ sáu, giai cấp công nhân phải không ngừng tự đổi mới để phát triển cả về số lượng và chất lượng, thực sự là lực lượng đi đầu, lực lượng lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức. Muốn vậy, giai cấp cong hân phải được đào tạo, đào tạo lại về chuyên môn, tay nghề, phải rèn luyện bản lĩnh chính trị, phải thực sự nâng cao trình độ mọi mặt để thích ứng được với cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập, đặc biệt là phải thực sự trở thành  “ công nhân trí thức” của nền kinh tế tri thức./.