Hiển thị các bài đăng có nhãn phân biệt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phân biệt. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

TỔNG PHẢN CÔNG, CÙNG QUÂN DÂN CAMPUCHIA ĐÁNH ĐỔ CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG

Bị thiệt hại nặng nhưng do được hỗ trợ về vũ khí, trang bị và cố vấn quân sự từ bên ngoài, quân Pôn Pốt lại tiếp tục chuẩn bị lực lượng, tập trung quân về biên giới Việt Nam. Tháng 1-1978, Pôn Pốt đưa thêm 2 sư đoàn ra biên giới, tiếp tục gây xung đột, liên tục tiến công lấn chiếm, bắn pháo vào những nơi đông dân cư, gây nhiều tội ác với đồng bào ta.

Trước tình hình đó, Bộ Tổng tham mưu điều động Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tăng cường cho Quân khu 9, sẵn sàng chiến đấu; đồng thời ra lệnh cho các đơn vị ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nâng cao cảnh giác, thực hiện phòng ngự tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước ta thực hiện đấu tranh chính trị và ngoại giao.

Ngày 5-2-1978, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố ba điểm: (1) Chấm dứt mọi hoạt động quân sự, rút lực lượng vũ trang cách biên giới 5km; (2) Hội đàm tiến tới ký hiệp ước hữu nghị và không xâm lược, ký hiệp ước về biên giới; (3) Thoả thuận về một hình thức thích hợp bảo đảm thông lệ quốc tế và giám sát quốc tế.

Phớt lờ thiện chí của ta, quân Pôn Pốt tiếp tục huy động lực lượng áp sát biên giới và cho quân tiến công, xâm nhập nhiều điểm trên địa phận nước ta; lực lượng của ta đã kiên quyết đánh trả, giành lại các khu vực bị lấn chiếm.

Từ ngày 26-3-1978, các đơn vị Quân đội ta chuyển sang tiến công, đẩy quân Pôn Pốt lùi xa dần biên giới và dồn đối phương vào thế bị động, đối phó. Đòn phản công quyết liệt của Việt Nam trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao đã đẩy quân Pôn Pốt vào tình thế khó khăn và tác động lớn đến tình hình chính trị nội bộ Campuchia; đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho phong trào nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia phát triển, đỉnh cao là cuộc nổi dậy từ ngày 26-5-1978 ở Quân khu Đông, làm suy yếu một bộ phận lực lượng quân Pôn Pốt. Lực lượng cách mạng Campuchia đã lập được những khu căn cứ du kích có điều kiện thuận lợi về nhiều mặt, nhất là những khu căn cứ gần Việt Nam, từng bước hình thành sự chỉ đạo thống nhất.

Ngày 15-6-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp bàn về chống lại cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và tình hình căng thẳng ở biên giới phía Bắc, trong đó quyết định phát động chiến tranh nhân dân, kiên quyết phản công và tiến công địch một cách chủ động, liên tục bằng mọi lực lượng, với các quy mô nhỏ, vừa và lớn, đánh địch cả trong và ngoài biên giới, tiêu diệt, tiêu hao và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực địch.

Sau cuộc nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông ngày 26-5-1978, quân Pôn Pốt vừa ráo riết thanh trừng nội bộ, vừa phải đối phó với lực lượng cách mạng Campuchia vẫn đang tiếp tục hoạt động ở nhiều nơi. Để hỗ trợ cho lực lượng cách mạng Campuchia tồn tại và phát triển, tạo thế cho hoạt động của ta vào mùa khô 1979, từ ngày 14-6 đến 30-9-1978, ta sử dụng Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 7), 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 5) mở tiếp đợt tiến công lớn trên các hướng đường 1, đường 7, vùng giáp biên giới Tây Ninh và đường 19 kéo dài nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, tiến tới làm suy yếu một bước lực lượng quân Pôn Pốt.

Do bị bất ngờ hoàn toàn về thời gian, quy mô và phương thức hoạt động của ta, quân Pôn Pốt rơi vào thế bị động, ngay ngày đầu đã bị ta đánh thiệt hại và tê liệt một số sư đoàn. Cuộc tiến công của ta đã hỗ trợ kịp thời cho lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông, buộc quân Pôn Pốt bị động đối phó trên cả 2 mặt trận biên giới và nội địa. Ở nhiều khu vực quan trọng, lực lượng nổi dậy đã lập được căn cứ, dựa vào dân để phát triển lực lượng. Phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia trong đợt tiến công này, ta loại khỏi vòng chiến đấu 6 sư đoàn, làm suy yếu nghiêm trọng lực lượng chủ lực quân Pôn Pốt, đẩy lùi hầu hết quân Pôn Pốt ra khỏi đất Việt Nam.

Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11-1978, Việt Nam đã giúp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia phát triển được 15 tiểu đoàn, 5 khung tiểu đoàn, 24 đội công tác, xây dựng được các tổ chức đảng, chuẩn bị thành lập mặt trận và bộ máy lãnh đạo. Với sự giúp đỡ của Việt Nam, ngày 2-12-1978, tại vùng giải phóng thuộc xã Chơng Th’nu, huyện Snuol, tỉnh Kratié (Campuchia), Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia ra mắt nhân dân Campuchia, công bố cương lĩnh cách mạng 11 điểm, trong đó nêu rõ quyết tâm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng yêu nước nổi dậy đánh đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt, xóa bỏ chế độ diệt chủng tàn ác, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân; khẳng định tăng cường tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế giúp đỡ mọi mặt cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Campuchia.

Phát hiện quân Pôn Pốt có ý định tập trung 5 sư đoàn và 4 trung đoàn tiến công đánh chiếm Tây Ninh, sau đó sẽ mở rộng địa bàn đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam, ngày 6 và 7-12-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm tổng phản công- tiến công chiến lược tiêu diệt quân địch, hoàn thành cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc; đồng thời sẵn sàng hỗ trợ lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia nổi dậy đánh đổ tập đoàn Pôn Pốt diệt chủng, giành chính quyền về tay nhân dân.

Phát hiện sự chuẩn bị của ta, quân Pôn Pốt tập trung phần lớn lực lượng chủ lực bố trí dọc biên giới với Việt Nam, toàn bộ phía sau hầu như trống rỗng. Ngày 23-12-1978, quân Pôn Pốt huy động 10 trong số 19 sư đoàn đang bố trí ở biên giới mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta.

Trước hành động xâm lược của quân Pôn Pốt và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23-12-1978, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc tổng phản công- tiến công trên toàn tuyến biên giới. Ngày 26-12-1978, toàn bộ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của quân Pôn Pốt bị phá vỡ. Đến ngày 31-12-1978, quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi quân Pôn Pốt, thu hồi toàn bộ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị kẻ thù lấn chiếm. Ngày 2-1-1979, ba cụm quân chủ lực của Pôn Pốt, mỗi cụm 5 sư đoàn, án ngữ các trục đường tiến về Phnôm Pênh (đường 1, đường 7 và đường 2) cơ bản bị tiêu diệt và tan rã. Ngày 5 và 6-1-1979, trên tất cả các hướng, quân Pôn Pốt không cản được Quân tình nguyện Việt Nam truy kích và tiến sát Thủ đô Phnôm Pênh. Ngày 6-1-1979, Quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia bắt đầu tổng công kích vào Thủ đô Phnôm Pênh. Sau 2 ngày tổng công kích, ngày 7-1-1979, Thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn được giải phóng. Ngày 8-1-1979, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia được thành lập và ra tuyên bố: Xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Campuchia. Việt Nam cùng nhiều nước đã công nhận nước Cộng hòa nhân dân Campuchia. Ngày 17-1-1979, toàn bộ đất nước Campuchia được giải phóng; phần lớn lực lượng Pôn Pốt bị tiêu diệt và tan rã, số còn lại lẩn trốn vào rừng trên tuyến biên giới phía Tây, Tây Bắc Campuchia.

Từ ngày 23-12-1978 đến 17-1-1979, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã tiêu diệt và làm tan rã 18 sư đoàn quân Pôn Pốt, diệt 12 nghìn tên, bắt 8.800 tên, gọi hàng 3.200 tên và làm tan rã tại chỗ 44 nghìn tên; giải phóng trên 4 triệu dân Campuchia, thu hồi toàn bộ cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật quân sự của quân Pôn Pốt; đập tan bộ máy thống trị của tập đoàn phản động Pôn Pốt từ trung ương đến cơ sở.

Trong thời gian gần hai năm chiến tranh, quân Pôn Pốt giết hại và bắt hơn 30 nghìn dân thường tại các xã biên giới của Việt Nam, 400 nghìn người dân mất nhà cửa, trên 3 nghìn nhà bị bỏ hoang; nhiều nhà thờ, trường học, chùa chiền bị chúng đốt phá...

Thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc có ý nghĩa rất to lớn đối với Việt Nam: Một lần nữa khẳng định nhân dân Việt Nam với ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng, sẵn sàng đập tan bất kỳ âm mưu và hành động chống phá nào của các thế lực phản động, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, mối quan hệ truyền thống gắn bó thủy chung, lâu đời, sự giúp đỡ trong sáng, chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Campuchia.

Chiến thắng ngày 7-1-1979 có ý nghĩa lịch sử đặc biệt to lớn đối với vận mệnh đất nước Campuchia: Đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Campuchia; cứu nhân dân Campuchia ra khỏi thảm họa diệt chủng, giành lại quyền được sống, quyền làm người và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự, hồi sinh đất nước và dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, tươi đẹp.

Thắng lợi vĩ đại ngày 7-1-1979 cũng là thắng lợi chung của nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia, thể hiện sức mạnh của tinh thần đoàn kết quốc tế, sự thủy chung, trọn nghĩa vẹn tình giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia. Với thắng lợi ngày 7-1-1979, quan hệ hai nước Việt Nam- Campuchia chuyển sang thời kỳ mới- thời kỳ khôi phục, vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước dựa trên nguyên tắc hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau vì sự phát triển và phồn vinh của mỗi nước. Chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt đã góp phần giữ vững hoà bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; đấu tranh vạch trần bản chất của chế độ phân biệt chủng tộc, sắc tộc, chế độ độc tài và cảnh báo cho nhân loại cảnh giác trước nguy cơ của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phát xít mới.

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2018

CẦN PHẢI PHÂN BIỆT RÕ AI LÀ BẠN, AI LÀ THÙ

Chủ nghĩa Mác – Lênin dạy chúng ta rằng: “Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù, phải thực hiện thêm bạn, bớt kẻ thù”. Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác mặt trận”, Bác nói cuối tháng 8 năm 1962, Báo Nhân dân đăng trên số 3081, ngày 31 tháng 8 năm 1962.
Lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước đã nhắc nhở dân tộc ta phải kiên định thực hiện nhất quán quan điểm “thêm bạn, bớt thù” và được Đảng, Nhà nước ta vận dụng sáng tạo trong điều kiện mới với việc đổi mới tư duy từ “bạn và thù” sang “đối tác và đối tượng” - cái mới, bước đột phá khẳng định trí tuệ, bản lĩnh của Đảng ta trong đổi mới, hội nhập quốc tế. Từ những vấn đề rất cơ bản có tính định hướng về “đối tác, đối tượng”trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (năm 1991), được bổ sung, phát triển thành quan điểm trong Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng. Mặt khác, trong tình hình diễn biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng. Trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ hợp tác; trong mỗi đối tác có thể có mặt mâu thuẫn với lợi ích của ta cần phải đấu tranh ”. Đây chính là điều kiện, tiền đề quan trọng để Đảng ta lãnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đạt được những thành tựu bước đầu có ý nghĩa chiến lược, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác giáo dục để bộ đội nhận rõ “đối tác, đối tượng”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không dao động trước các tác động tiêu cực, khó khăn, hiểm nguy. Nói và làm đúng nghị quyết; có thái độ phân biệt đúng, sai, bạn, thù đúng đắn, ra sức học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

LUẬN CỨ PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM: “ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ BỊ NGƯỢC ĐÃI, PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ”

Các dân tộc thiểu số đã được bình đẳng về chính trị
Thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các dân tộc thiểu số nước ta đã được bình đẳng trong tham chính, quản lý đất nước: Số lượng đại biểu là dân tộc thiểu số trong các khóa Quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong tổng dân số cả nước. Trong các nhiệm kỳ Quốc hội gần đây, tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số luôn cao hơn tỷ lệ dân số dân tộc thiểu số trong tổng dân số nước ta. Ở các địa phương, người dân tộc thiểu số tham gia đại biểu Hội đồng nhân dân cũng chiếm tỷ lệ cao.
Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước như: nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Bộ trưởng, Chủ nhiệm ủy ban Dân tộc...
Đi sống đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện
Nh  đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, bộ mặt vùng dân tộc và miền núi nước ta đã thay đổi rõ rệt, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc được cải thiện. Nhà nước có nhiều chính sách, chương trình, dự án về dạy nghề, giải quyết việc làm, tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số có việc làm, thu nhập, cải thiện đi sống. Từ những năm 90 (thế kỷ XX) đến nay, Chính phủ tập trung chỉ đạo đầu tư và nguồn lực thực hiện các chính sách giảm nghèo, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Một số chương trình nổi bật như: Chương trình phát triển kinh, tế - xã hội các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn (Chương trình 135) và 12 chương trình ưu đãi cho hộ nghèo, dân tộc thiểu số, gia đình chính sách để đầu tư phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, làm nhà ở, định canh, định cư, nước sạch và vệ sinh môi trường, hỗ trợ cho sinh viên, học sinh đi học...
Để chăm sóc sức khỏe cho đồng bào các dân tộc thiểu số, Chính phủ đã thực hiện các chính sách: Các chương trình quốc gia về tiêm chủng mở rộng, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng, chương trình phòng chống các bệnh sốt rét, bướu cổ và các bệnh nguy hiểm ở vùng dân tộc, cấp thẻ bảo hiểm у tế cho toàn bộ người nghèo, người dân tộc thiểu số sinh sống vùng khó khăn và xây dựng cơ sở khám chữa bệnh ở cơ sở.
Về giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Ngay từ khi giành chính quyền, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Đến nay, sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng như: Đã hoàn thành chương trình xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học: 100% xã đạt chuẩn phổ cập tiểu học, hơn 80% xã đặc biệt khó khăn hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và gần 90% số xã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở
Để đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số, nhà nước đã phát triển các loại hình trường nội trú, bán trú, dự bị đại học dân tộc.
Văn hóa truyền thống được bảo tồn, tiếng nói, chữ viết, tôn giáo, tín ngưng của các dân tộc thiểu số được tôn trọng
Trái với luận điệu của các thế lực thù địch là: “Các dân tộc thiểu số đang bị đồng hóa, phân biệt đối xử vì khác biệt văn hóa,...”, thực tế Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng đến các công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc. Ngày 14/1/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về Công tác Dân tộc, trong đó quy định: Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam; hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ viết. Các dân tộc có trách nhiệm giữ gìn văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật; xây dựng, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống...
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” tập trung ưu tiên bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số rất ít ngưi. Nhờ các chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn vinh, từng bước đưc bảo tồn, đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số được cải thiện, mức hưng thụ văn hóa được nâng cao.
Chính phủ thực hiện chương trình cấp miễn phí đến tận thôn, bản, ấp 19 loại báo, tạp chí vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn. Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam không ngừng mở rộng diện phủ sóng rộng khắp trong cả nước, tới các khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa.
Chính phủ Việt Nam tạo mọi điều kiện để người dân trong đó có người dân tộc thiểu số tiếp cận, khai thác và sử dụng rộng rãi thông tin trên mạng Internet. Mạng lưới Internet đã hình thành cung cấp dịch vụ đến tận xã, thôn, bản cho 63 tỉnh, thành phố, kể cả vùng sâu, vùng xa.
Quyền được sử dụng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số được tôn trọng, Nhà nước có nhiều chính sách bảo tồn, sử dụng và phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Từ những năm 60 (thế kỷ XX) Chính phủ đã xây dựng chữ viết cho các dân tộc thiểu số. Sau quá trình thực hiện, tổng kết, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2010/NĐ-CP quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thưng xuyên.
Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào dân tộc thiểu số đã được quy định trong Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam. Nhà nước tôn trọng tự do tín ngưỡng, không phân biệt đối xử giữa những người theo tôn giáo và những người không theo tôn giáo, giữa các tôn giáo khác nhau, giữa những người dân tộc thiểu số theo tôn giáo và người Kinh theo tôn giáo.
Những kết quả trong thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, an sinh xã hội đối với các dân tộc của Chính phủ Việt Nam, được các tổ chức quốc tế đánh giá cao là những minh chứng hùng hồn phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, vu khống về cái gọi là “đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam bị ngược đãi, phân biệt đối xử” của các thế lực thù địch./.   

Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Các tiêu chí để phân loại chủng tộc trên thế giới hiện nay?

12 tiêu chí phân loại các chủng tộc trên thế giới như sau:
Dựa vào màu sắc của da, mắt, tóc được chia ra làm 3 màu cơ bản là: màu tối, màu trung gian và màu sáng. Ví dụ: Da có ba màu: đen, nâu sẫm; hơi nâu, vàng; da trắng.
Hình dạng tóc, có 3 dạng tóc: xoăn, sóng và thẳng.
Số lượng lớp lông lần 3 trên cơ thể ở người trưởng thành.
Hình dạng khuôn mặt, được chia ra làm ba loại: mặt rộng, mặt hẹp và trung bình.
Kích thước của đu và hộp sọ, có các chuẩn đầu loài người: dài; trung bình, tròn, quá ngắn. Ví dụ: Thổ dân Úc, người Phi thuộc loại đầu dài, người Đông Nam Á hải đảo thuộc loại đầu trung bình, người Việt thuộc loại đầu tròn.
Hình dạng mắt - sự phát triển của nếp mí mắt có 4 chuẩn số: không có nếp, ít phát triển, phát triển trung bình, phát triển nhiều.
Hình dạng mũi, có 3 dạng mũi theo các thông số: cao, hẹp; trung bình; bẹt, rộng. Hình dạng mũi chủ yếu do xương sống mũi và sụn quy định tạo ra mũi cao hay thấp, sống mũi thẳng khoằm hay lõm, rộng hay hẹp.
Căn cứ vào độ dày của môi, được chia ra làm 3 loại: dày, trung bình, mỏng. Đồ dày môi được tính khi ngậm miệng lại và môi dưới luôn dày hơn.
Tầm vóc và kích thước của thân thể, được xác định có các loại: lùn, rất thấp, thấp, trung bình thấp, trung bình, cao, rất cao, khổng lồ. Chiều cao là đặc điểm phân loại chủng tộc tương đối điển hình.
Tỷ lệ thân hình - cách tính phổ biến là dựa vào kích thước giữa xương chi và chiều ngang của vai so với chiều dài toàn thân. Theo đo đạc nhân trắc học, loài người có 3 loại thân hình: ngắn, trung bình và dài.
Hình thái răng, ở các chủng tộc có sự khác nhau. Chủng tộc Môngôlôit và Ôtxtralôit, số người có răng cửa hình lưỡi xẻng chiếm tới hơn 60% (dân gian gọi là răng bàn cuốc). Chủng tộc Nêgrôit và Ơrôpôit, răng hàm trên có núm phụ rất phổ biến.
Hình dạng vân tay, có 3 dạng: xoáy, móc và vòng cung.

Ngoài các tiêu chí cơ bản trên, người ta còn căn cứ vào một số đặc điểm khác để phân loại chủng tộc như: dáng cằm, kích thước miệng, mức độ phát triển của lông mày, vành tai, nhóm máu...

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Các tiêu chí để phân loại chủng tộc trên thế giới hiện nay

12 tiêu chí phân loại các chủng tộc trên thế giới như sau:
Dựa vào màu sắc của da, mắt, tóc được chia ra làm 3 màu cơ bản là: màu tối, màu trung gian và màu sáng. Ví dụ: Da có ba màu: đen, nâu sẫm; hơi nâu, vàng; da trắng.
Hình dạng tóc, có 3 dạng tóc: xoăn, sóng và thẳng.
Số lượng lớp lông lần 3 trên cơ thể ở người trưởng thành.
Hình dạng khuôn mặt, được chia ra làm ba loại: mặt rộng, mặt hẹp và trung bình.
Kích thước của đu và hộp sọ, có các chuẩn đầu loài người: dài; trung bình, tròn, quá ngắn. Ví dụ: Thổ dân Úc, người Phi thuộc loại đầu dài, người Đông Nam Á hải đảo thuộc loại đầu trung bình, người Việt thuộc loại đầu tròn.
Hình dạng mắt - sự phát triển của nếp mí mắt có 4 chuẩn số: không có nếp, ít phát triển, phát triển trung bình, phát triển nhiều.
Hình dạng mũi, có 3 dạng mũi theo các thông số: cao, hẹp; trung bình; bẹt, rộng. Hình dạng mũi chủ yếu do xương sống mũi và sụn quy định tạo ra mũi cao hay thấp, sống mũi thẳng khoằm hay lõm, rộng hay hẹp.
Căn cứ vào độ dày của môi, được chia ra làm 3 loại: dày, trung bình, mỏng. Đồ dày môi được tính khi ngậm miệng lại và môi dưới luôn dày hơn.
Tầm vóc và kích thước của thân thể, được xác định có các loại: lùn, rất thấp, thấp, trung bình thấp, trung bình, cao, rất cao, khổng lồ. Chiều cao là đặc điểm phân loại chủng tộc tương đối điển hình.
Tỷ lệ thân hình - cách tính phổ biến là dựa vào kích thước giữa xương chi và chiều ngang của vai so với chiều dài toàn thân. Theo đo đạc nhân trắc học, loài người có 3 loại thân hình: ngắn, trung bình và dài.
Hình thái răng, ở các chủng tộc có sự khác nhau. Chủng tộc Môngôlôit và Ôtxtralôit, số người có răng cửa hình lưỡi xẻng chiếm tới hơn 60% (dân gian gọi là răng bàn cuốc). Chủng tộc Nêgrôit và Ơrôpôit, răng hàm trên có núm phụ rất phổ biến.
Hình dạng vân tay, có 3 dạng: xoáy, móc và vòng cung.

Ngoài các tiêu chí cơ bản trên, người ta còn căn cứ vào một số đặc điểm khác để phân loại chủng tộc như: dáng cằm, kích thước miệng, mức độ phát triển của lông mày, vành tai, nhóm máu...