Hiển thị các bài đăng có nhãn quan niệm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quan niệm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

QUAN NIỆM VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG CUỐN SÁCH “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM” CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Trong cuốn sách Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát những thành tựu quan trọng, cơ bản của Đảng ta trong việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện lịch sử, cụ thể của nước ta khẳng định, quan điểm về chủ nghĩa xã hội. Từ một lý thuyết khoa học của C. Mác và Ph. Ăngghen, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã ra đời, trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của lịch sử nhân loại theo con đường tiến bộ, nhân văn, vì công bằng, hạnh phúc cho con người.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định những giá trị đích thực ấy của chủ nghĩa xã hội. Đó là: 1. “một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người”; 2. “sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội”; 3. “một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn”; 4. “sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai”; 5. “một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân”. Do những giá trị vô cùng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các nhà cách mạng tiền bối nước ta đã lựa chọn con đường phát triển theo chủ nghĩa xã hội cho Việt Nam, tổ chức và rèn luyện Đảng Cộng sản để lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàn gian khổ hy sinh, từng bước hiện thực hóa những giá trị đó thành thực tế sinh động trên đất nước ta. Những giá trị ấy không chỉ được tổng kết về lý luận, mà đã được kiểm chứng bằng chính thực tiễn công cuộc xây dựng, phát triển đất nước của chúng ta. Chính những giá trị đích thực ấy của chủ nghĩa xã hội đã trở thành mục tiêu, định hướng con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, tin tưởng và đang kiên định thực hiện.

Các đặc trưng ấy là nội dung của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, một thành tựu phát triển sáng tạo lý luận riêng có của Đảng ta. Trên con đường từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã tổng kết, rút ra những nhận thực tổng quát về chủ nghĩa xã hội với 8 đặc trưng cơ bản: “một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Để hiện thực hóa mô hình đó, đòi hỏi cả một sự nghiệp lâu dài, gian khổ, phải đầu tư sức người, sức của to lớn, phải sáng tạo không mệt mỏi, đặc biệt là phải suy nghĩ, tìm tòi lộ trình và bước đi hợp lý, cách làm đúng đắn để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

Tôn giáo, theo nghĩa rộng là một hiện tượng xã hội, một “hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng tôn thờ”. “Tôn giáo là sự tin tưởng và sùng bái sức mạnh siêu phàm của thần linh, bắt đầu xuất hiện từ cuối công xã nguyên thuỷ, lúc đầu có hình thức sơ khai, gọi là tôn giáo nguyên thủy, sùng bái tự nhiên như bái vật giáo: thờ thần lửa, sinh thực khí; thờ Tô tem, sau đó phát triển thành đa thần giáo, nhất thần giáo và thành tôn giáo quốc tế”.
Theo nghĩa hẹp, tôn giáo là hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức về lực lượng siêu nhiên, tổ chức, hoạt động tôn thờ lực lượng siêu nhiên mà sự tồn tại và phát triển của nó là do sự phản ánh hư ảo hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người.
Tôn giáo bao gồm toàn bộ quan niệm, ý thức, tình cảm, hành vi, hoạt động, tổ chức tôn giáo. Nó đồng nghĩa với đạo, để chỉ các tổ chức tôn giáo như đạo Phật, đạo Kitô, đạo Cao Đài... Theo đó, tôn giáo không chỉ là một hình thái ý thức xã hội mà còn là một thiết chế xã hội - một lực lượng xã hội có
tổ chức.
Ở nước ta, về mặt quản lý nhà nước, một tổ chức tôn giáo được công nhận khi có đủ các điều kiện sau: “Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích dân tộc; có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật; có đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định; có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp; có tên gọi không trùng tên tổ chức tôn giáo đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận”.

QUAN NIỆM VỀ TÍN NGƯỠNG

Theo nghĩa ban đầu, xuất phát từ chữ “tín” là lòng tin, “ngưỡng” là sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một cái gì đó. Như vậy, tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người vào một cái gì đó như tin vào một cá nhân, một chủ thuyết, một lực lượng siêu nhiên nào đó. Tuy nhiên, trong thực tế đời sống xã hội, tín ngưỡng thường được dùng để chỉ tín ngưỡng mang tính tôn giáo - tín ngưỡng tôn giáo, còn tín ngưỡng không tôn giáo, thường được gọi là niềm tin hay sự ngưỡng mộ.
    Tín ngưỡng tôn giáo cũng được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau. “Có khi tín ngưỡng tôn giáo được coi là niềm tin, sự ngưỡng mộ của con người vào những lực lượng siêu nhiên, coi lực lượng siêu nhiên ấy có khả năng chi phối, thậm chí quyết định số phận con người, như người ta thường nói tín ngưỡng thờ tổ tiên, tín ngưỡng Phật giáo, tín ngưỡng Kitô giáo...”. Có khi, tín ngưỡng được quan niệm là những hình thức tôn giáo dân gian, chưa có hệ thống giáo lý, giáo luật, tổ chức giáo hội… như các tôn giáo, để phân biệt với tôn giáo hiện đại, như Phật giáo, Kitô giáo, đạo Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo. Đó là niềm tin và sự thờ cúng mang tính cá nhân như Tô tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo, thờ thành hoàng, thờ tổ tiên. Như vậy, theo nghĩa này tín ngưỡng tôn giáo được hiểu như là những hiện tượng có tính tôn giáo nhưng chưa phải là tôn giáo theo nghĩa hẹp nói trên.
       Tín ngưỡng là lòng tin, sự ngưỡng vọng của con người vào một lực lượng siêu nhiên, thần bí nào đó, một lực lượng mang hình thức trừu tượng (hay biểu tượng) có sức mạnh hư ảo, vô hình, mà người ta thường gọi là “trời”, “Phật”, “thần thánh”... Lực lượng đó tác động đến đời sống nội tâm của con người, được người ta tin là có thật , sùng bái và tôn thờ. Lòng tin ở sự tồn tại thực sự của một lực lượng siêu nhiên, tình cảm sợ hãi bị trừng phạt hay trông mong sự che chở, ban phúc của lực lượng siêu nhiên, là hạt nhân của ý thức tôn giáo và là yếu tố ban đầu của sự hình thành tôn giáo. Lòng tin và tình cảm đó cũng là cơ sở cho những hiện tượng mê tín dị đoan.
 Như vậy, không chỉ các tín đồ tôn giáo có tín ngưỡng tôn giáo, mà còn có một bộ phận nhân dân, dù không phải là tín đồ của bất kỳ tôn giáo nào, không chịu sự ràng buộc của bất cứ giáo lý, giáo luật, hệ thống tổ chức tôn giáo nào (tôn giáo theo nghĩa hẹp) cũng có tín ngưỡng tôn giáo ở các mức độ khác nhau. Ở đây, tín ngưỡng tôn giáo được hiểu là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, tồn tại trong các tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo theo nghĩa hẹp và còn là cơ sở cho các hiện tượng mê tín. Chẳng hạn, khi người ta nói đến tín ngưỡng Phật giáo là nói đến niềm tin của tăng ni, phật tử vào giáo lý Phật giáo; tín ngưỡng Công giáo là niềm tin của các tín đồ, chức sắc Công giáo vào đức Chúa Trời và giáo lý Công giáo…
Từ những lý luận trên, tín ngưỡng vừa được quan niệm là niềm tin, sự ngưỡng mộ, sùng bái, tôn thờ của con người vào những lực lượng siêu nhiên với quan niệm rằng những lực lượng siêu nhiên ấy có khả năng chi phối, thậm chí quyết định số phận con người; vừa được quan niệm là những hình thức tôn giáo nguyên thủy, để phân biệt với tôn giáo hiện đại. Trong sách này, chúng tôi sử dụng tín ngưỡng cả hai nghĩa đó, tùy điều kiện nhưng thiên về  những hình thức tôn giáo dân gian.

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

QUAN NIỆM VỀ TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH

Như chúng ta đều biết, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh bao gồm nhiều bộ phận hợp thành. Về nội dung, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh thật rộng lớn, bao quát hết các mặt bản chất con người, đời sống cá nhân và đời sống cộng đồng, môi trường tồn tại, các nhu cầu thể hiện và khát vọng làm chủ mọi mặt cuộc sống...; về hình thức thể hiện, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng, rất cô đọng, khái quát, lại rất cụ thể mà không hề trừu tượng, gần gũi với cuộc sống làm người và ai cũng có thể áp dụng được để tự hoàn thiện tính người, hoàn thiện nhân cách làm người.
Vậy, tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là gì? Đây là một vấn đề khó, không thể ngay một lúc đã có lời giải đáp thỏa đáng. Cho đến nay, khi xác định nội hàm khái niệm tư tưởng và giá trị nhân văn Hồ Chí Minh vẫn đang tồn tại một số cách nhìn nhận và ý kiến tương đối khác nhau.
Một số người đặc biệt nhấn mạnh tới cuộc đời "vì nghĩa quên mình," sống khiêm tốn, bình dị, hòa nhập với mọi người, không màng danh lợi cho bản thân của mình và xem đó là nội dung cốt lõi của tư tưởng và giá trị nhân văn Hồ Chí Minh.
Có nhà nghiên cứu lại cho rằng chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh toát ra từ cuộc đời liên tục đấu tranh không biết mệt mỏi của Người nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội để cuối cùng đi đến giải phóng con người. Nói cách khác, theo các tác giả trên thì đạo đức, nhân cách và cuộc đời thanh bạch của Hồ Chí Minh là một trong những nội dung quan trọng làm thành tư tưởng, giá trị nhân văn của Người.
Trong nghiên cứu về tư tưởng, giá trị nhân văn Hồ Chí Minh còn xuất hiện một số ý kiến khác của nhiều học giả, các nhà hoạt động chính trị, xã hội nước ngoài. Họ cho rằng, trong con người Hồ Chí Minh có sự kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa nhân văn với nhiệt tình và tinh thần cách mạng.
T.N. Kaun, Chủ tịch Trung tâm Ấn Độ nghiên cứu về Đông Dương đã cho rằng: "Bác Hồ..., Người đại diện cho sự vĩ đại vốn có của nhân dân Việt Nam, bình dị, chuyên cần, yêu quý trẻ thơ và thanh niên, thẳng thắn, trung thực, chân thành và một ý thức mạnh mẽ về nhân văn kết hợp với nhiệt tình có tinh thần cách mạng."
Còn tiến sỹ M.At-mét, Giám đốc UNESCO khu vực châu Á ‒ Thái Bình Dương cũng nói đại ý: Trong khi chiến đấu cả đời mình chống lại ách thống trị thực dân, Người vẫn là một nhà nhân văn chân chính trong tư tưởng và hành động.
Rõ ràng, ở đây cần phân biệt tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với nhân cách và hành động cách mạng của Người. Đương nhiên, tư tưởng nhân văn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh và chính cuộc đời của Người lại là một tấm gương, một biểu hiện cụ thể, tiêu biểu nhất của chủ nghĩa nhân văn cao cả.
Từ việc nhận thức khái quát quá trình hình thành, phát triển, các nội dung chủ yếu tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, có thể hình dung diện mạo của tư tưởng đó, chúng tôi cố gắng đi vào xác định khái niệm khoa học. Việc định nghĩa khái niệm "Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh" phải xuất phát từ định nghĩa khái niệm rộng lớn hơn "Tư tưởng Hồ Chí Minh" và góp phần vào việc cụ thể hóa, xác định rõ hơn khái niệm này. Khi định nghĩa khái niệm "Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh," chúng tôi dựa vào các nguyên tắc phương pháp luận Mác.
Một là, làm rõ nội hàm với những đặc trưng cơ bản của khái niệm. Công việc này được tiến hành trên cơ sở tài liệu, sự kiện chính xác và cần đến các khái quát lý luận khoa học, những nhận định mang tính lý thuyết, quan điểm.
Hai là, phải rút ra cái cốt lõi, bản chất của sự kiện, những quy luật vận động tác động đến nó.
Ba là, mối quan hệ giữa nội dung tư tưởng với thực tiễn cuộc sống.
Từ những vấn đề trên, có thể đưa ra quan niệm: "Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành, xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh, bao gồm hệ thống các quan điểm lý luận được rút ra từ thực tiễn cách mạng, từ sự kế thừa và phát triển những giá trị nhân văn của dân tộc và thời đại mà đỉnh cao là chủ nghĩa nhân đạo Mác ‒ Lênin, phản ánh tình yêu thương, quý trọng, quan tâm, bao dung, độ lượng đến con người và niềm tin vững chắc vào sức mạnh của con người; phản ánh con đường giải phóng con người một cách triệt để nhằm xây dựng một chế độ xã hội trong đó con người có điều kiện phát triển toàn diện và phát huy hết mọi năng lực sáng tạo vốn có của mình".

Thứ Năm, 21 tháng 12, 2017

QUAN NIỆM VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HIỆN NAY

Vấn đề xã hội bao gồm tất cả những gì liên quan đến cuộc sống của con người, kể cả thường xuyên và bất thường (thiên tai, dịch bệnh...) trong mối quan hệ với xã hội và tự nhiên, những nảy sinh trong quá trình phát triển của xã hội (việc làm, thu nhập, điều kiện sinh hoạt, học tập, chăm sóc sức khỏe, môi trường xã hội an toàn, lành mạnh, nhân văn; khả năng hòa nhập, nâng cao mức sống và chất lượng sống của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng xã hội) theo các tiêu chuẩn khách quan của tiến bộ xã hội.
Việc giải quyết các vấn đề xã hội thuộc chức năng xã hội của các nhà nước thông qua các chính sách xã hội, đặt ra đối với bất kỳ một thể chế nhà nước nào. Đó là quá trình tổ chức, tác động có mục đích của nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội đối với các vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển của xã hội liên quan đến cuộc sống của con người nhằm bảo đảm sự ổn định, an toàn và phát triển của con người, quyền tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội và an sinh xã hội, công bằng; quyền được sống trong môi trường sống an toàn, lành mạnh, nhân văn; cơ hội hòa nhập phát triển, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của mỗi cá nhân và cộng đồng, xã hội theo các tiêu chuẩn khách quan của văn minh, tiến bộ xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội.
Theo đó, chính sách xã hội là một hệ thống những quan điểm, chủ trương, phương hướng, biện pháp của nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội khác để giải quyết những vấn đề xã hội nhằm bảo đảm sự an toàn và phát triển xã hội. Đây là bộ phận cấu thành chính sách chung của một chính đảng hay chính quyền nhà nước hướng tới lĩnh vực xã hội, nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống con người, nhu cầu lợi ích của các nhóm người, các tầng lớp xã hội, các giai cấp, các dân tộc, đồng thời góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với bản chất giai cấp, và những mục tiêu của chính đảng hay của chính quyền đó. Phạm vi chính sách xã hội phải giải quyết bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc...
Chính sách xã hội gồm ba bộ phần cơ bản là: 1) Các chính sách thúc đẩy phát triển xã hội của nhà nước; 2) Các chính sách của các bộ, ngành chức năng liên quan có mục tiêu nâng cao năng lực của con người (vốn con người) và môi trường hoạt động của con người (chính sách lao động, việc làm, y tế, giáo dục, phát triển doanh nghiệp, hạ tầng cơ sở...); 3) Chính sách an sinh xã hội nhằm sự bảo đảm an toàn thu nhập ở mức tối thiểu thông qua hệ thống các chính sách can thiệp nhằm quản lý rủi ro tốt hơn (bao gồm các rủi ro liên quan đến nhu cầu cơ bản nhất của con người: rủi ro về sức khỏe, thiếu hoặc mất việc làm, tuổi già, trẻ em, tàn tật…) dẫn đến không có thu nhập tạm thời hoặc vĩnh viễn so với mức tối thiểu đủ sống (được luật hóa hoặc quy định). Chính sách an sinh xã hội là các chính sách do nhà nước tổ chức thực hiện là chính, ngoài ra còn có sự tham gia của các tổ chức xã hội, cộng đồng và thị trường trong việc tổ chức thực hiện và cung cấp dịch vụ an sinh xã hội. Hướng đến mọi thành viên trong xã hội, bảo đảm cho mọi thành viên được bình đẳng về tiếp cận và chất lượng dịch vụ, tuy nhiên, nhấn mạnh đến nhóm đối tượng yếu thế (lý do chính để có sự tham gia của nhà nước).

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2016

CÁC GIÁ TRỊ CĂN BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Trong quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, mục tiêu của thời kỳ qúa độ lên CNXH là để chuẩn bị các cơ sở vật chất, tinh thần cho CNXH phát triển trên cơ sở của chính nó. Tính chất chính trị của thời kỳ qúa độ lên CNXH là sự tiếp tục đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt với những nội dung mới, bằng những biện pháp mới và trong những điều kiện mới hoàn toàn khác so với thời kỳ GCCN chưa giành được chính quyền. Đặc điểm về kinh tế - xã hội của thời kỳ qúa độ lên CNXH là tính chất “không thuần nhất” với sự “đan xen của những mảnh những bộ phận của xã hội cũ”, những “dấu vết của xã hội cũ mà nó vừa thoát thai ra” bên cạnh những mầm mống, những yếu tố vừa mới được xây dựng của xã hội XHCN.  
Theo đó, những người xây dựng CNXH phải sáng tạo khi tìm kiếm các mô hình riêng, biện pháp - con đường đặc thù, phù hợp với bối cảnh lịch sử để đi lên CNXH. V.I.Lênin đã nêu luận điểm rất có giá trị về  vấn đề này: "Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau. Mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội"1.
Cũng theo tư tưởng của V.I.Lê nin, việc tìm kiếm con đường đi lên CNXH là một quá trình lâu dài, khó khăn, cho nên phải kiên định, kiên nhẫn, tỷ mỉ để “làm đi làm lại nhiều lần” và mạnh dạn, khoa học để thay đổi – kể cả những vấn đề chiến lược. Nó quanh co, phức tạp và đôi khi phải biết chấp nhận cả những “con đường vòng”, biết chấp nhận những thất bại, bước lui tạm thời. Phải biết tích hợp các giá trị nhân loại, những yếu tố hợp lý của xã hội TBCN, chắt lọc những giá trị truyền thống của dân tộc… để xây dựng xã hội mới... 
Có thể khái quát thành 2 giá trị căn bản trong quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhận thức con đường đi lên CNXH 
Thứ nhất là giá trị chỉ đạo thực tiễn.
 Chủ nghĩa Mác là học thuyết không chỉ giải thích thế giới mà còn là học thuyết để cải tạo thế giới, bởi vậy, các nhà kinh điển đã rất quan tâm đến vấn đề chỉ đạo biện pháp xây dựng CNXH. Trong khi xây dựng CNXH, cùng với nhận thức rõ về tính tất yếu, đặc trưng hay mô hình của nó, các Đảng Cộng sản rất cần đến chỉ đạo về phương pháp - biện pháp, cách thức, lộ trình, v.v. và những điều đó có thể tìm thấy trong kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin. 
Mục đích quy định biện pháp, cho nên từ mục tiêu cao cả nhất của CNXH là giải phóng con người và tạo ra điều kiện cho sự phát triển tự do, toàn diện cho mỗi người và cho mọi người[1], hệ thống biện pháp, hay con đường đi lên CNXH trước tiên phải là phát triển sản xuất, phải trên cơ sở của LLSX xã hội hóa trình độ cao để có năng suất lao động cao, từ đó mới có của cải vật chất dồi dào để thỏa mãn mọi nhu cầu của mọi người. CNXH phải là xã hội giàu có sung túc chứ không phải là xã hội bình quân sự nghèo khổ. Theo đó, trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tất cả những gì cản trở sự phát triển của sản xuất đều là phản động với lịch sử và cần được loại bỏ. CNXH là phát triển sản xuất và mọi biện pháp mà nó áp dụng cũng trước hết là để “tăng thật nhanh LLSX lên”. Đây là giá trị phương pháp luận hàng đầu của chủ nghĩa Mác - Lênin. 
Thứ hai, là giá trị khoa học và cách mạng bao gồm phương pháp luận, định hướng và cơ sở để thẩm định những sáng kiến mới về biện pháp hay con đường xây dựng CNXH.
Với hệ thống lý luận CNXH khoa học nói chung, các  nhà kinh điển đặc biệt nhấn mạnh nhiều lần với hậu thế về ý nghĩa phương pháp luận, “kim chỉ nam” của học thuyết này. Với hàm ý khuyến khích tính sáng tạo, tránh rập khuôn giáo điều, phương pháp luận duy vật biện chứng về lịch sử với các đặc trưng tư duy: khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể… có thể được xem là định hướng chung cho tư duy về con đường đi lên CNXH.
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin bàn khá kỹ lưỡng với những lưu ý sâu sắc về tư duy biện chứng và biện pháp linh hoạt, sáng tạo. Xây dựng CNXH phải biết gắn liền nguyên lý chung “với mảnh đất hiện thực”, có thể in “dấu ấn riêng của quốc gia mình” lên quá trình xây dựng CNXH của mỗi nước. Theo đó, những người xây dựng CNXH phải sáng tạo khi tìm kiếm các mô hình riêng, biện pháp - con đường đặc thù, phù hợp với bối cảnh lịch sử để đi lên CNXH. Nó là một quá trình lâu dài, khó khăn, cho nên phải kiên định, kiên nhẫn, tỷ mỉ để “làm đi làm lại nhiều lần” và mạnh dạn, khoa học để thay đổi – kể cả những vấn đề chiến lược. Nó quanh co, phức tạp và đôi khi phải biết chấp nhận cả những “con đường vòng”, biết chấp nhận những thất bại, bước lui tạm thời. Phải biết tích hợp các giá trị nhân loại, những yếu tố hợp lý của xã hội TBCN, chắt lọc những giá trị truyền thống của dân tộc để xây dựng xã hội mới...
Tính chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác còn thể hiện ở chỗ, học thuyết khoa học này, mang tính chất “mở” và chấp nhận sự bổ sung phát triển của hậu thế. V.I.Lênin là người đầu tiên khẳng định rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý ấy thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga.” [2]
Tính chất “Khoa học và cách mạng trong chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện cả ở hệ thống - chỉnh thể cũng như trong từng bộ phận hợp thành (Triết học, kinh tế chính trị và CNXH khoa học). Tất cả đều nổi bật ở sự gắn liền lý luận với thực tiễn. Đây là bản chất, nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa  Mác - Lênin”[3].


1 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1976, tập 30, tr.160.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1974, tập 4, tr.232.
[3] GS,TS. Hoàng Chí Bảo, Giá trị bền vững và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê nin và chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb CTQG, H.2012, tr.365