Hiển thị các bài đăng có nhãn con người. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn con người. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

QUAN NIỆM VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG CUỐN SÁCH “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM” CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Trong cuốn sách Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát những thành tựu quan trọng, cơ bản của Đảng ta trong việc vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện lịch sử, cụ thể của nước ta khẳng định, quan điểm về chủ nghĩa xã hội. Từ một lý thuyết khoa học của C. Mác và Ph. Ăngghen, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã ra đời, trở thành một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của lịch sử nhân loại theo con đường tiến bộ, nhân văn, vì công bằng, hạnh phúc cho con người.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định những giá trị đích thực ấy của chủ nghĩa xã hội. Đó là: 1. “một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người”; 2. “sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội”; 3. “một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn”; 4. “sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai”; 5. “một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân”. Do những giá trị vô cùng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các nhà cách mạng tiền bối nước ta đã lựa chọn con đường phát triển theo chủ nghĩa xã hội cho Việt Nam, tổ chức và rèn luyện Đảng Cộng sản để lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàn gian khổ hy sinh, từng bước hiện thực hóa những giá trị đó thành thực tế sinh động trên đất nước ta. Những giá trị ấy không chỉ được tổng kết về lý luận, mà đã được kiểm chứng bằng chính thực tiễn công cuộc xây dựng, phát triển đất nước của chúng ta. Chính những giá trị đích thực ấy của chủ nghĩa xã hội đã trở thành mục tiêu, định hướng con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, tin tưởng và đang kiên định thực hiện.

Các đặc trưng ấy là nội dung của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam, một thành tựu phát triển sáng tạo lý luận riêng có của Đảng ta. Trên con đường từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã tổng kết, rút ra những nhận thực tổng quát về chủ nghĩa xã hội với 8 đặc trưng cơ bản: “một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Để hiện thực hóa mô hình đó, đòi hỏi cả một sự nghiệp lâu dài, gian khổ, phải đầu tư sức người, sức của to lớn, phải sáng tạo không mệt mỏi, đặc biệt là phải suy nghĩ, tìm tòi lộ trình và bước đi hợp lý, cách làm đúng đắn để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra.

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

NHỮNG CƠ HỘI ĐỂ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN NAY

Việt Nam có bề dày truyền thống mấy nghìn năm lịch sử, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nhiều biến cố thăng trầm nên kết tinh và lắng đọng được nhiều giá trị văn hóa tích cực, như truyền thống yêu nước và lòng dũng cảm, khả năng thích ứng cao với sự thay đổi của hoàn cảnh, sự khoan dung, tinh thần cộng đồng, sự nhân ái, lạc quan và hồn hậu, trọng nghĩa tình, sự cần cù, siêng năng. Nền văn hóa hiện tại đang hướng đến việc kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu những giá trị mới, hướng tới tương lai. Trong điều kiện mới, nền văn hóa Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển, trong đó đáng chú ý là:

Một là, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế giúp văn hóa Việt Nam có được cơ hội quảng bá rộng rãi trên thế giới. Văn hóa Việt Nam phát triển trong bối cảnh công nghệ thông tin có những bước phát triển như vũ bão, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng mở ra khả năng giao lưu, hợp tác và phát triển toàn diện về văn hóa, nâng cao cơ hội quảng bá văn hóa Việt Nam ra toàn thế giới. Khoa học - công nghệ, truyền thông đại chúng phát triển mang đến cho người dân khả năng sáng tạo và thụ hưởng các sản phẩm văn hóa mới nhanh chóng, hiệu quả và có tính tương tác cao.

Hai là, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nền kinh tế số tạo ra những thuận lợi cho sự phát triển văn hóa Việt Nam, giúp chúng ta khai thác tiềm năng kinh tế của văn hóa trên môi trường số. Công nghệ số, internet phát triển kéo theo khả năng tiếp cận các nội dung văn hóa trở nên dễ dàng và không bị giới hạn bởi các đường biên giới quốc gia, điều này cũng đòi hỏi sự khác biệt, độc đáo trong nội dung, ý tưởng của các sản phẩm văn hóa như là một ưu thế cạnh tranh quan trọng. Các nước phát triển trên thế giới đang chuyển nhanh sang nền kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo, công nghệ số hóa và sự số hóa các nội dung văn hóa. Những thay đổi này đã đem lại những cơ hội lớn về khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất, góp phần tạo ra các kênh phân phối, quảng bá sản phẩm mới, đòi hỏi những hành động nhạy bén và sự thích ứng liên tục với sự thay đổi của môi trường. Sự chuyển đổi kỹ thuật số và tinh thần kinh doanh đưa ra những cơ hội, khả năng và thách thức mới cho ngành văn hóa về phương thức hoạt động.

Ba là, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã và đang tạo ra sự tích cực xã hội và tích cực văn hóa cho người dân, là cơ hội thúc đẩy tinh thần tự quản, năng lực làm chủ của nhân dân trong việc tổ chức các hoạt động và sáng tạo văn hóa. Người dân ngày càng được khuyến khích tham gia vào các hoạt động xã hội và hoạt động văn hóa với tư cách như những nhân tố chủ động, từ hoạch định đến đánh giá các vấn đề xã hội và văn hóa, thậm chí là người đồng kiến tạo xã hội và văn hóa cùng với bộ máy nhà nước. Yếu tố nội sinh của sự phát triển xã hội và văn hóa được tăng lên cao, phần nào đó thể hiện vai trò tăng lên của người dân so với Nhà nước trong nhiều vấn đề xã hội và văn hóa.

Bốn là, chủ trương hội nhập quốc tế chủ động, tích cực, toàn diện của Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cho văn hóa Việt Nam hội nhập và phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, văn hóa Việt Nam có cơ hội thuận lợi để tiếp thu tri thức, các nguồn lực và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và sáng tạo những giá trị văn hóa mới. Đặc biệt, công nghiệp văn hóa đang được định hướng là một trong những ngành trụ cột của kinh tế. Kinh tế đang trên đà phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện đã hình thành nên một thị trường tiêu dùng/hưởng thụ văn hóa với nhu cầu ngày càng lớn, là cơ sở quan trọng thúc đẩy văn hóa phát triển.

Sự phát triển văn hóa Việt Nam là nguồn lực nội sinh, là động lực phát triển bền vững đất nước. Vì vậy, cần tận dụng cơ hội để phát triển, đồng thời chủ động khắc phục những tồn tại, vượt qua được thách thức là cách thức tốt nhất để Việt Nam phát triển văn hóa, thực sự biến văn hóa trở thành động lực và mục tiêu cho sự phát triển đất nước.

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2021

VĂN HÓA XIN LỖI VÀ NHẬN LỖI

Chúng ta đều biết, văn hóa xin lỗi và nhận lỗi là một yếu tố quan trọng, góp phần làm nên văn hóa ứng xử của mỗi con người.

Lời xin lỗi không đơn giản là biết lỗi và nhận lỗi mà nó còn thể hiện ý thức trách nhiệm của con người với cuộc sống, biết nhận trách nhiệm của mình đối với hậu quả do mình gây ra.

Người Việt Nam từ xưa đến nay đều răn dạy con trẻ phải biết “cảm ơn” khi được ai đó quan tâm, giúp đỡ và phải biết “xin lỗi” khi mắc phải những lỗi lầm, khuyết điểm. Đây là nét văn hóa trong phong cách ứng xử của con người. Biết nói lời xin lỗi là tự nhắc nhở mình trước những sai phạm, đồng thời hứa với người khác hành động này không còn tái diễn nữa.

Tuy nhiên, trong đời sống hiện nay, không phải ai cũng biết nói lời “xin lỗi” và nhận lỗi. Một nghệ sĩ có tiếng đăng tải những lời lẽ phản cảm, công kích người khác trên mạng xã hội. Nghệ sĩ khác đi làm từ thiện, nhưng chậm chuyển tiền đến người dân gặp khó khăn. Thay vì đưa ra lời xin lỗi để lấy lại niềm tin của dư luận, những nghệ sĩ này lại giải thích quanh co, đổ lỗi, gây bức xúc trong xã hội.

Rồi một số cán bộ thực hiện sai các quy định của Nhà nước, vi phạm pháp luật, làm những việc có hại cho dân, khi bị phát hiện thì bao biện, lấp liếm khuyết điểm, hay tìm mọi cách chạy chọt để được giảm tội. Trong cuộc sống đời thường, nhiều người mắc lỗi lại không chịu nói lời “xin lỗi”, mà còn gây sự, thách thức, làm mất đoàn kết nội bộ, bất ổn trong khu dân cư.

Còn nhớ, tại Hội nghị lần thứ X, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II (tháng 11-1956), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng, Chính phủ thẳng thắn nhận khuyết điểm trước Quốc hội về những sai sót trong cải cách ruộng đất. Các kỳ đại hội sau này, Đảng ta cũng dũng cảm nhận một số khuyết điểm trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Thời gian qua, nhiều tổ chức đảng, chính quyền đã có phong trào xây dựng nếp sống văn hóa công sở, sẵn sàng xin lỗi dân khi giải quyết các thủ tục hành chính chậm trễ, thái độ ứng xử chưa đúng mực hoặc có những sai lầm, khuyết điểm. Những việc làm này đã củng cố niềm tin trong nhân dân, góp phần xây dựng lề lối làm việc văn hóa, văn minh nơi công sở.

Trên thực tế, biết nói lời cảm ơn và xin lỗi là một nét văn hóa ứng xử, là hành động cần thiết trong cuộc sống. Những người biết nói lời “xin lỗi” và biết nhận lỗi chân thành là những người có hiểu biết, có nhân cách và có trách nhiệm đối với xã hội.

Còn người không biết xin lỗi, không dám nhận lỗi thường là những người kiêu ngạo, nhận thức kém, bảo thủ, ích kỷ, cố chấp và ý thức cộng đồng thấp. Những người này rất dễ dẫn đến suy thoái về đạo đức lối sống, phai nhạt lý tưởng, tham ô tham nhũng, tiêu cực…

Chúng ta đều hiểu, một lời xin lỗi vụng về vẫn tốt hơn im lặng. Nhận ra lỗi lầm để sửa chữa, mong được tha thứ sẽ làm dịu cơn giận dữ hoặc nỗi đau của người khác. Lời xin lỗi chân thành có thể cứu vãn được sự việc đáng tiếc có thể đã xảy ra, nó giúp cho cuộc sống của chúng ta được an lành, hạnh phúc hơn.

Vừa qua, Hội nghị Văn hóa toàn quốc đã thành công tốt đẹp, là điều kiện rất tốt nhằm phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Vì thế, xây dựng văn hóa xin lỗi, nhận lỗi chính là góp phần xây dựng con người mới- con người có tri thức, đạo đức, tinh thần trách nhiệm cao với xã hội, phục vụ tốt cho công cuộc phát triển và hội nhập của đất nước.

Theo: qdnd.vn

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2021

TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA CỦA CON NGƯỜI ĐÔI KHI ĐƯỢC THỂ HIỆN QUA TIỂU TIẾT!

1. Khi người khác rót nước cho mình, đừng chỉ ngồi yên nhìn người ta mà hãy đưa nay ra nâng cốc, điều đó thể hiện phép lịch sự.

2. Khi người khác nói chuyện với mình, ít nhất cũng phải đáp lại người ta một câu. Đừng để người ta nói xong một câu lại nhận về được sự im lặng hoặc câu nói À, Ừ, Ờ, đúng rồi cùng với sự khó chịu.

3. Dùng bữa xong nên nói: "Tôi ăn xong rồi, mọi người cứ ăn đi nhé!"

4. Khi đưa đồ cho người khác nên đưa bằng hai tay.

5. Lúc ăn cơm nên cầm bát lên, không được dùng đũa đảo lộn thức ăn, không gõ bát đũa.

6. Người đi vào cuối cùng nên đóng cửa.

7. Tiễn người khác về nên nói: "Đi cẩn thận nhé!"

8. Rửa tay xong không nên tùy tiện vẩy tay, để nước bắn lên người khác sẽ rất bất lịch sự.

9. Khi đưa dao hoặc vật nhọn cho người khác, nên đưa phần chuôi hướng về họ.

10. Không nên công khai điểm yếu của người khác.

11. Khi người khác nói chuyện với mình hãy chú ý vào người ta, đừng đảo mắt nhìn xung quanh.

12. Khi rót trà hay rót nước cho người khác xong, không nên quay vòi ấm về phía họ.

13. Đi, đứng, ngồi, nghỉ cần đúng tư thế, tác phong.

14. Nói được phải làm được. Nếu không làm được thì đừng hứa.

15. Nếu trong phòng có người, khi ra ngoài nên đóng cửa nhẹ nhàng.

16. Khi đưa đồ cho người khác mà ở giữa cách một người, không nên đưa thẳng ra trước mặt người ta mà nên vòng qua phía sau.

17. Học cách dịu dàng và biết lắng nghe.

18. Đến chơi nhà người khác, đừng tùy tiện ngồi lên giường nhà người ta.

19. Ăn cơm cố gắng đừng phát ra tiếng.

20. Lúc nhặt đồ hoặc đi giày nên ngồi thấp xuống chứ đừng cúi người, khom lưng.

21. Khi bị phê bình, dù người khác có sai đi chăng nữa cũng đừng vội phản bác, nên đợi họ nói xong bình tĩnh lại hẵng giải thích.

22. Làm việc gì cũng nên có điểm dừng thích hợp, bất kể là ăn món mình thích hay tức giận điều gì đó.

23. Đến nhà bạn ăn cơm nên chủ động rửa bát hay xếp dọn bàn ăn.

24. Trong cuộc sống bạn sẽ phải gặp nhiều thể loại người khác nhau, chắc chắn không phải ai bạn cũng có thể hòa hợp được nhưng có một câu nói luôn đúng trong mọi trường hợp: Bạn đối xử với người khác thế nào, người ta sẽ đối xử lại với bạn như vậy.

25. Dù là ai, trong trường hợp nào cũng đừng dễ dàng kể bí mật của mình với người khác.

26. Học hành là chuyện cả đời. Chỉ học kiến thức trong sách thôi là chưa đủ, phải học cả kiến thức xã hội. Thực tế cuộc sống luôn phức tạp hơn những gì bạn nghĩ.

27. Dũng cảm nhất là khi nhận ra sự tàn khốc của cuộc sống nhưng vẫn yêu cuộc sống này cháy bỏng. Đừng sợ sự dối trá, nhưng cần phải biết cuộc sống luôn tồn tại sự dối trá.

28. Khi lau bàn nên lau hướng về phía mình.

29. Khi gọi điện thoại hoặc nghe điện thoại, câu đầu tiên phải luôn là: "Alo, chào.... ạ!". Khi tắt máy, nếu người kia là người lớn tuổi hơn bạn hoặc là cấp trên của bạn thì tốt nhất bạn nên chờ họ tắt điện thoại trước, còn nếu bạn là người lớn tuổi hơn hoặc cấp trên của họ thì bạn nên chủ động tắt máy trước, đừng để người ở đầu dây bên kia phải đợi.

30. Đừng khạc nhổ hoặc vứt rác bừa bãi. Nếu nơi đó không có thùng rác, hãy cầm rác về vứt vào thùng rác nhà mình.

31. Bất kể trong hoàn cảnh nào cũng nên đánh răng cẩn thận, đặc biệt là vào buổi tối.

32. Tuyệt đối đừng bao giờ bỏ bữa sáng. Nếu không ăn sáng thì cũng phải uống nước hoặc uống sữa.

33. Đỗ xe nên đỗ đúng nơi quy định, chừa không gian cho người khác mở cửa xe, đầu xe nên hướng ra phía ngoài để tiện rời đi.

34. Nếu là cửa thủy lực, dù là cửa đẩy hay cửa kéo cũng nên làm theo quy tắc "Ra trước vào sau". Nếu phía sau có người nên giữ cửa chắc, tránh để cửa bật lại va vào người khác. Khi có người mở cửa giúp mình đừng quên cảm ơn họ.

35. Phép lịch sự nên áp dụng đối với tất cả mọi người, bất kể họ là cấp trên, là người lớn tuổi, là nhân viên phục vụ hay là cô chú lao công bên đường.


Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI

Thứ nhất, đẩy mạnh giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn lực con người - động lực quyết định nhất cho phát triển bền vững đất nước

Trong hệ thống động lực phát triển đất nước, Hồ Chí Minh luôn cho rằng xét cho đến cùng, con người chính là nguồn động lực quan trọng nhất, quyết định nhất. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển. Vì vậy, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục, đào tạo cần phải tiếp tục được coi là quốc sách hàng đầu, chiến lược “trồng người” phải trở thành một trong những chiến lược trọng tâm, hợp thành chiến lược phát triển đất nước. Cần giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đức - trí - thể - mỹ, có thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật, có trách nhiệm công dân. Cần phát huy nhân tố con người để mỗi người Việt Nam đều trở thành động lực góp phần phát triển bền vững đất nước.

Thứ hai, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam, đặc biệt là giá trị yêu nước

Việt Nam là một quốc gia giàu truyền thống văn hóa tốt đẹp. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại. Tuy nhiên, một số giá trị văn hóa dân tộc đang mai một; một số loại hình văn hóa truyền thống có nguy cơ bị biến mất; nhiều luồng văn hóa ngoại lai, biến tướng được tiếp nhận ồ ạt... Trước thực trạng đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, để các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc lan tỏa, thấm sâu vào thế hệ trẻ, để các thế hệ tương lai thêm yêu nước, yêu văn hóa dân tộc, yêu “sử ta” như Hồ Chí Minh từng dặn phải “cho tường gốc tích” nước nhà Việt Nam. Vì vậy, dù ở bất cứ thời điểm nào, giáo dục và phát huy chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ tạo nên nguồn sức mạnh to lớn cho đất nước. phát triển tinh thần yêu nước cũng chính là phát triển giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp nhất của dân tộc ta.

Thứ ba, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển văn hóa với phát triển con người

Văn hóa được coi là một “trụ cột” để phát triển bền vững đất nước, nhưng “trụ cột” văn hóa có mạnh, có kết hợp với các “trụ cột” chính trị, kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh để mang lại sự “vững bền” hay không là phụ thuộc vào nhân tố con người. Con người phát triển toàn diện thì không chỉ “trụ cột” văn hóa mà các “trụ cột” khác như kinh tế, chính trị, xã hội và quốc phòng, an ninh cũng được bảo đảm vì con người chính là yếu tố “nhân hòa” để thực hiện phát triển “hài hòa” các yếu tố cho phát triển bền vững. Con người càng phát triển các giá trị văn hóa dân tộc tốt đẹp cũng được giữ vững và nâng cao. Như vậy, muốn phát triển văn hóa phải chăm lo, phát huy nhân tố con người, phát triển văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với phát triển con người.

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2021

ĐIỂM NHẤN VỀ PHÁT HUY SỨC MẠNH CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 Trong Văn kiện Đại hội lần thứ XII, Đảng ta đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ xây dựng, phát triển con người bên cạnh nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa ở mục VII: “Xây dựng, phát triển văn hóa, con người”. Trước đó trong BCCT Đại hội X, XI mới tập trung nhấn mạnh đến nhiệm vụ “Phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội” (mục VII, Đại hội X), “Chăm lo phát triển văn hóa” (mục VI, Đại hội XI). Tại Dự thảo lần này, nhiệm vụ phát huy sức mạnh con người Việt Nam được đặc biệt nhấn mạnh, bởi nguồn lực con người được đánh giá là nguồn lực quan trọng nhất trong quá trình phát triển. Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2021-2030 xác định: “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hoá, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”, “tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”.

Cùng với điểm nhấn về khơi dậy khát vọng phát triển đất nước thì tinh thần “đổi mới sáng tạo”, gắn liền với tinh thần, trí tuệ, sức sáng tạo, trí thông minh, nhạy bén của người Việt cũng là một điểm nhấn trong Dự thảo trình Đại hội XIII.

Trong Dự thảo đặc biệt nhấn mạnh đến việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp. Theo đó, phải “phát triển con người toàn diện”, “khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển của dân tộc, tinh thần yêu nước, tự hào, ý chí tự cường và lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội”, “đề cao ý thức, trách nhiệm, đạo đức xã hội, sống và làm việc theo pháp luật”.

Nếu như trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI  năm 2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước có nhấn mạnh đến nhiệm vụ: “Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo”, thì trong  Dự thảo lần này lại nhấn mạnh đến nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng, hình thành con người mới với những phẩm chất, đặc tính cơ bản là: “giàu lòng nhân ái, khoan dung, chân thành, tín nghĩa, trọng đạo lý, đức tính cần cù, chăm chỉ, tiết kiệm, sáng tạo, hiện đại”.

Để xây dựng, hình thành những con người mới có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, Dự thảo đề ra nhiều nhiệm vụ: “Quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng. Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho thanh niên”; “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”; “Khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân được phát huy các năng lực tự do sáng tạo trong đời sống kinh tế, xã hội”. Trong giáo dục con người, vai trò của gia đình có ý nghĩa quan trọng, vì thế các cấp các ngành cần “đề cao vai trò của gia đình trong nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ”; đề cao tinh thần gương mẫu, tiên phong của người lãnh đạo, quản lý, tạo môi trường, không gian văn hóa lành mạnh, dân chủ, nhân văn; khuyến khích tinh thần tự do, đổi mới sáng tạo vì mục tiêu phát triển đất nước.

Nhằm khắc phục những khuyết tật của mặt trái nền kinh tế thị trường, tâm lý, lối sống đề cao giá trị vật chất, đồng tiền ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức xã hội và quá trình xây dựng, hình thành nhân cách con người, Dự thảo đề ra yêu cầu phải “xây dựng văn hoá doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh”, “xây dựng môi trường văn hoá công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn”, “xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hoá trong lãnh đạo, quản lý”, “đề cao tính tiên phong, gương mẫu trong văn hoá ứng xử của người lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức và đảng viên”. Sự gương mẫu, tiên phong của cán bộ, đảng viên và những người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng, truyền đi cảm hứng, thông điệp nhân văn, lan tỏa những giá trị cao đẹp cho cộng đồng.

 Với những thành tựu đạt được và cả những hạn chế, yếu kém qua 35 năm đổi mới, việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc được đề ra như sứ mệnh, nhiệm vụ cấp thiết, thiêng liêng trong bối cảnh hiện nay, đòi hỏi quyết tâm chính trị lớn của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cơ sở phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa truyền thống và sức mạnh tinh thần thời đại của con người Việt Nam. Vì thế, việc nhận thức đẩy đủ, sâu sắc về giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam được đề cập trong Dự thảo có ý nghĩa quan trọng, góp phần quyết định việc thực hiện thành công những mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng đã đề ra./.

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2020

TINH THẦN NHÂN VĂN VIỆT NAM TRONG PHÒNG CHỐNG, KHẮC PHỤ HẬU QUẢ CỦA THIÊN TAI, ĐỊCH HỌA

Trước diễn biến phức tạp của thiên tai, bão chồng bão, lũ chồng lũ đang gây ra những thiệt hại nghiêm trọng tại các tỉnh miền Trung, tinh thần nhân văn của con người Việt Nam không ngừng được lan toả trong công tác ứng phó và giải quyết hậu quả của bão lũ.

Năm 2020 quả là một năm đầy biến động với thế giới và cả với Việt Nam. Đại dịch Covid-19 bùng phát và diễn biến phức tạp ở nhiều nước, đẩy kinh tế thế giới rơi vào suy thoái và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, sau những nỗ lực vượt bậc của cả hệ thống chính trị và toàn dân, tình hình dịch bệnh vừa mới tạm thời được khống chế thì tháng 10 vừa qua, chúng ta lại phải gánh chịu những mất mát to lớn do tình hình bão lũ nghiêm trọng tại các tỉnh miền Trung. Nhưng cũng chính trong hoàn cảnh thiên tai, địch hoạ, chúng ta càng thấy rõ hơn tinh thần nhân văn, tương thân tương ái của đất nước và con người Việt Nam, những điều mà không phải dễ dàng tìm thấy ở bất cứ nơi nào trên hành tinh này, cho dù đó là quốc gia có nền kinh tế phát triển.

Trước hết, có thể nhận thấy, đại dịch Covid-19 hiện nay phản ánh những khía cạnh sâu xa của phân biệt chủng tộc và bất bình đẳng xã hội ở Mỹ cũng như nhiều nước phương Tây, mà trực tiếp nhất là bất bình đẳng trong thụ hưởng dịch vụ chăm sóc y tế. Người nhập cư, người nước ngoài chính là cộng đồng yếu thế, dễ bị tổn thương và chịu rủi ro cao nhất trong bối cảnh khủng hoảng, dịch bệnh.Thống kê ban đầu cho thấy người Mỹ gốc Phi là những người nghèo nhất và ít được nhận chăm sóc y tế nhất. Họ cũng chiếm tỷ lệ nhiễm bệnh và tỷ lệ tử vong cao nhất trong dịch Covid-19. Tính chung, gần 1/3 số người đã chết ở Mỹ là người da đen, cao hơn nhiều so với tỷ lệ người da màu trong dân số là 13%.

Dịch Covid-19 đã khiến nhiều cộng đồng người Mỹ gốc Phi rơi vào tình trạng đặc biệt kiệt quệ. Đáng nói là nhiều người đã bị từ chối hoặc không có điều kiện được xét nghiệm, khám chữa bệnh. Hơn nữa, người lao động trong những ngành nghề được trả lương thấp chủ yếu là những người da màu. Công việc của họ thường là tài xế chở hàng, nhân viên bệnh viện, thu ngân cửa hàng,… những công việc khiến họ dễ “bị phơi nhiễm” với những mối nguy hiểm hơn so với người da trắng; đồng thời cũng dễ dàng bị mất việc trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế vì dịch bệnh. Có thể thấy, dịch bệnh Covid-19 đang tác động tới những người da đen nặng nề hơn nhiều so với người da trắng ở Mỹ. Trong bối cảnh ấy, cái chết của người đàn ông da đen George Floyd do bị viên cảnh sát da trắng ghì cổ khống chế vào ngày 25/5/2020 ở thành phố Minneapolis, bang Minnesota như giọt nước tràn li, làm khuấy lên làn sóng biểu tình trên khắp nước Mỹ. Một lần nữa, trong đại dịch Covid-19 người ta lại thấy rõ hơn rằng sự phân biệt chủng tộc là vấn đề chưa bao giờ thôi nhức nhối ở xứ cờ hoa.

Trong khi đó, ở Việt Nam, với tinh thần “con người là trên hết”, vì sức khoẻ và tính mạng của con người, quyết “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Đảng và Nhà nước Việt Nam sẵn sàng đón nhận và hết lòng cứu chữa cho tất cả mọi người, dù là người giàu hay nghèo, trẻ khoẻ hay già yếu, đồng bào trong nước hay kiều bào ở vùng dịch mong muốn trở về nước, dù là người Việt Nam hay người nước ngoài, thậm chí chỉ là khách du lịch, tất cả đều được quan tâm chăm lo.

Trong số các ca nhiễm Covid-19 tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay, rất nhiều ca là người nước ngoài và hiện đã có nhiều trường hợp được điều trị khỏi, trở về quê nhà an toàn.Nhiều người nước ngoài sau khi khỏi bệnh đã bày tỏ lòng cảm kích, biết ơn đối với sự cứu chữa tận tình của các y bác sĩ Việt Nam và ngưỡng mộ tinh thần nhân văn của một đất nước dù còn nghèo, nguồn lực còn hạn chế, trình độ y tế có thể chưa cao bằng nhiều nước, nhưng đã sẵn lòng dang tay với tất cả những người cần giúp đỡ và quyết tâm cứu chữa bệnh nhân, bất kể người đó là ai.

Đặc biệt, các bệnh nhân người nước ngoài, trong đó có các ca diễn biến rất nặng, hoặc có bệnh nền, điều trị phức tạp, nhưng các bác sĩ của chúng ta đều dành tối đa điều kiện để cứu chữa, chăm sóc (điển hình là trường hợp bệnh nhân số 91 là một minh chứng sống động nhất.

Chính trong đại dịch, bản chất của Nhà nước và tính nhân văn của dân tộc Việt Nam lại được lan toả. Bản chất ưu việt của một Nhà nước xã hội chủ nghĩa được thể hiện rõ nét, đó là một nhà nước thực sự vì con người, bảo vệ con người, đặt con người lên trên hết, không phân biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo, hay địa vị xã hội.

Hiện nay, trước diễn biến phức tạp của thiên tai, bão chồng bão, lũ chồng lũ đang gây ra những thiệt hại nghiêm trọng tại miền Trung, thìtinh thần nhân văn của con người Việt Nam lại tiếp tục được lan toả trong công tác ứng phó và giải quyết hậu quả của bão lũ.

Những ngày qua, cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã triển khai nhiều biện pháp cấp bách để cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả do mưa bão gây ra. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã gửi lời chia buồn đến thân nhân các gia đình bị nạn do lũ lụt và kêu gọi cả nước chung sức, đồng lòng giúp đỡ bà con vùng lũ. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã gửi các công điện chỉ đạo, đồng thời trực tiếp cùng các đồng chí lãnh đạo về địa phương kiểm tra, thị sát tình hình, cùng triển khai các giải pháp ứng phó với bão lũ. Bộ máy chính quyền cơ sở đã được huy động tối đa, tăng cường các biện pháp cứu hộ, cứu nạn. Phong trào quyên góp, ủng hộ, cứu đói đồng bào miền Trung được phát động và nhận được sự hưởng ứng rộng rãi trong cả nước. Trên thực tế, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, với nỗ lực và tinh thần đoàn kết của người dân, công tác phòng, chống bão lũ đang được các địa phương xử lý tích cực.

Trong cuộc chiến chống thiên tai, cứu hộ đồng bào, đã có nhiều cán bộ, chiến sĩ hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ. Những hi sinh, mất mát vô cùng thương tâm ấy, không có lời lẽ nào có thể diễn tả hết. Trong khi đó, một số đối tượng phản động lại ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Nhà nước Việt Nam bằng những thủ đoạn nham hiểm. Một số trang tin phản động ra sức đăng tải thông tin sai trái, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam không quan tâm đến công tác phòng, chống bão lũ tại các tỉnh miền Trung, vẫn “tưng bừng tổ chức đại hội”…

Cần phải thấy rằng, việc tổ chức đại hội Đảng bộ các tỉnh trong tháng 10 này là thực hiện theo kế hoạch, lộ trình đã đề ra. Hơn nữa, trước tình hình lũ lụt lịch sử, cấp ủy, chính quyền các địa phương vừa lo tổ chức đại hội nhưng cũng đồng thời triển khai các lực lượng chức năng tham gia giúp đỡ, ứng cứu người dân với tất cả tinh thần trách nhiệm chứ không phải “lo đại hội, bỏ mặc dân” như các đối tượng rêu rao. Những gì đã và đang diễn ra trong thực tế phòng chống và khắc phục hậu quả của bão lũ ở các tỉnh miền Trung là minh chứng xác đáng cho nỗ lực, cố gắng của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, đồng thời thể hiện khách quan và sinh động bản chất của chế độ xã hội cũng như của tinh thần nhân văn Việt Nam.

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2020

CHỈ CÓ THỂ LÀ VIỆT NAM!

- Trong biểu tình đòi những quyền lợi cơ bản của cuộc sống, người dân Pháp dương cao lá Cờ Đỏ Sao Vàng của Việt Nam vì mong muốn có một chính phủ vì dân như Việt Nam.

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2019

CON NGƯỜI PHẢI LÀ TRUNG TÂM CỦA CHÍNH SÁCH VÀ CÔNG TÁC CHÍNH SÁCH

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Dân chỉ biết giá trị của độc lập, tự do khi dân được ăn no, mặc ấm”, lời dạy của Người được coi là tư tưởng chỉ đạo mọi hoạt động công tác chính sách của Đảng và nhà nước ta.
Thực hiện lời dạy đó, thời gian qua Đảng, nhà nước ta, cụ thể là các cấp, các ngành ở cả trung ương và địa phương đã nghiên cứu, xây dựng, ban hành cũng như cụ thể hóa, hiện thực hóa các chính sách hết sức đúng đắn, phù hợp; triển khai tổ chức thực hiện chặt chẽ, đồng độ, hiệu quả, đáp ứng được đông đảo lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân nói chung, các đối tượng chính sách nói riêng, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Tuy nhiên, bên cạnh đó là những hạn chế, thiếu sót, thậm chí là các quan điểm, việc làm hết sức sai trái, nhằm trục lợi, cá nhân, lợi ích nhóm; thực tế cho thấy có những chính sách ban hành không nhằm vào đông đảo các đối tượng trong xã hội, mà chỉ nhằm vào “tầng lớp trên”, các đối tượng có chức, có quyền, phục vụ lợi ích của một bộ phận nhất định, trong một thời gian nhất định, khi đã đạt được mục đích đó rồi, thì bãi bỏ không thực hiện chính sách đó nữa…lại còn có những kiểu chính sách “đẽo chân cho vừa giầy”…gây bức xúc trong dư luận. Đó là việc xây dựng và ban hành chính sách, còn việc tổ chức thực hiện hoạt động công tác chính sách thì sao? Hiện tượng bớt xén, tư tưởng mỗi cấp giữ lại một tí tồn tại khá phổ biến hiện nay. Thử hỏi những hành động và việc làm như vậy có đúng với lương tâm, tình thương, trách nhiệm của người đứng đầu, các nhà lãnh đạo, quản lý hay không? Đất nước còn vô vàn những khó khăn, vô vàn những người nghèo khổ, những nạn nhân chất độc màu da cam, người già neo đơn không nơi nương tựa, không còn khả năng lao động…rất cần sự quan tâm, những bát cơm, manh áo…những nhà hảo tâm, những mạnh thường quân họ còn làm được. Nhưng một bộ phận không nhỏ những người có chức, có quyền quên đi điều đó, đánh mất đi lương tâm, trách nhiệm của mình chỉ vì mục đích trục lợi cá nhân. Hãy tự suy ngẫm và nhìn nhận lại, mình là công bộc của dân thì phải có trách nhiệm lo cho dân, cho nước, phải đặt lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, xứng đáng với niềm tin của Đảng, của nhân dân đã trao cho.

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

CON NGƯỜI LÀ MỤC TIÊU CỦA SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi con người là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng. Tuy nhiên, Người luôn chú ý đến mức độ mục tiêu đạt được trong điều kiện cụ thể của từng giai đoạn cách mạng. Từ mục tiêu tổng quát của cách mạng là, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, phải đặc biệt quan tâm đến các mục tiêu cụ thể phù hợp với điều kiện thực tiễn. Trước khi giành được chính quyền thì mục tiêu cao nhất là độc lập dân tộc “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy”. Sau khi giành được chính quyền, ngày 10-1-1946, tại cuộc họp của Ủy ban Nghiên cứu kế hoạch kiến quốc, Hồ Chí Minh yêu cầu chúng ta phải thực hiện ngay: “Làm cho dân có ăn. Làm cho dân có mặc. Làm cho dân có chỗ ở. Làm cho dân có học hành”. Khi miền Bắc đi vào khôi phục nền kinh tế, hoàn thành cải cách ruộng đất, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào việc phải “nâng cao dần mức sống của nhân dân… đồng thời giảm nhẹ sự đóng góp của nông dân”. Trong bối cảnh tập trung đấu tranh vũ trang giải phóng miền Nam, tại Hội nghị của Bộ Chính trị, ngày 30-7-1962, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: Ta phải tính cách nào, nếu cần có thể giảm bớt một phần xây dựng, để giải quyết vấn đề ăn và mặc của quần chúng được tốt hơn nữa, đừng để cho tình hình đời sống căng thẳng quá. Vấn đề con người là hết sức quan trọng. Nhà máy cũng cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người… Làm cho quần chúng hiểu chủ nghĩa xã hội đúng hơn. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết liệt, thì mục tiêu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” lại ở bậc cao của thang giá trị dân tộc. Mục tiêu con người gắn chặt với chủ quyền dân tộc. Tại kỳ họp Quốc hội khóa III, ngày 10-4-1965, Hồ Chí Minh kêu gọi: Lúc này, chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Ngay trong thời điểm lịch sử vô cùng khó khăn đó, phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 12, khóa III Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 12-1965, Hồ Chí Minh lưu ý: “Chúng ta phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân, nhất là đời sống của các cháu, của các gia đình thương binh, liệt sỹ, đời sống của nhân dân ở các vùng bị bắn phá nhiều… những gia đình thu nhập thấp, đông con”. Và nếu tờ báo Người cùng khổ, số 1, nêu mục tiêu là giải phóng con người thì sau này bản Di chúc của Người cũng nêu công việc đầu tiên là đối với con người. Điều đó cho thấy, cái “bất biến” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là tất cả vì con người để ứng với cái “vạn biến” của lịch sử đặt ra. Mục đích chung là giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, được sống sung sướng tự do, nhưng phải tùy theo điều kiện để tiến dần từng bước.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CON NGƯỜI

 Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hóa dân tộc và nhân loại, tiếp thu, vận dụng, phát triển một cách sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.
Người không dùng thuật ngữ “nhân tố con người” mà thường dùng các từ như “sức dân”, “sức người”, “tài dân”, “lực lượng của dân”… nhưng về thực chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò nhân tố con người trong cách mạng Việt Nam. Người đề cập đến nhân tố con người ở ba cấp độ là: Nhân dân nói chung; công nhân, nông dân, trí thức, bộ đội, cán bộ và mỗi một con người cụ thể – tức là nhân dân lao động (trừ bọn Việt gian, phản động). Người từng khẳng định: “Chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người”. Vai trò con người chính là vai trò của quần chúng nhân dân, người sáng tạo chân chính ra lịch sử chứ không phải “vài ba cá nhân anh hùng nào”. Theo Người, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”; “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, nhân dân luôn luôn đặt vào địa vị cao nhất, địa vị làm chủ trong những vấn đề quan trọng nhất của cách mạng và xã hội.Dân vừa là chủ nhưng dân vừa thực hiện công việc làm chủ, vừa là chủ thể, vừa là khách thể, vừa là lực lượng, động lực vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam.
Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng đời sống mới, tiến lên xã hội chủ nghĩa đều phải bắt đầu từ vốn con người, từ việc phát huy nhân tố con người. Theo Người, một lẽ rất đơn giản dễ hiểu là vô luận việc gì, đều do người làm ra, “Tất cả của cải vật chất trong xã hội đều do công nhân và nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới sống còn phát triển”. Người giải thích cơ sở khoa học cho vai trò đó xuất phát từ chỗ: “Lực lượng dân chúng nhiều vô cùng… dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Con người đóng vai trò là động lực to lớn, quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả” “Dễ mười lần không dân cũng chịu; khó trăm lần dân liệu cũng xong” cho thấy, trong tư tưởng của Người, nhân tố con người là nguồn lực quan trọng nhất, nguồn lực của mọi nguồn lực.
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh nhân tố con người là vốn quý nhất, là động lực vĩ đại, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả, nên phải bắt đầu từ nhân tố con người, vì con người, cho con người và trở về với con người.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ AN NINH CON NGƯỜI

An ninh con người là khái niệm xuất hiện trong những năm cuối của thế kỷ XX. Ngay từ đầu những năm 1990, các mối đe dọa đến với con người từ nhiều phía và rất đa dạng...,  xung đột gia tăng đi cùng với xu thế toàn cầu hóa; các chủ thể phi nhà nước gây bất ổn an ninh cho các quốc gia và cộng đồng quốc tế..., khiến cho vai trò quốc gia, dân tộc, quyền lực, sức mạnh cứng, sức mạnh mềm, đối tượng, đối tác... đan xen và việc bảo đảm an ninh cũng được xem xét lại. 
Khái niệm “an ninh con người” lần đầu tiên được nêu trong Báo cáo Phát triển Con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) năm 1994. Qua quá trình nghiên cứu, đến nay, an ninh con người được khái quát 7 nhân tố cơ bản cấu thành an ninh con người, cụ thể là:
An ninh kinh tế, được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là bảo đảm mức thu nhập cơ bản của con người, trong đó việc làm là vấn đề quan trọng.
An ninh lương thực là một trạng thái mà không lúc nào con người bị đói, có nghĩa là họ có đủ các chất dinh dưỡng cho một cuộc sống hiệu quả, hoạt bát và khỏe mạnh. 
An ninh sức khỏe là một trong những nhân tố quan trọng và trực tiếp nhất của an ninh con người. Với một người bị ốm yếu, nhất là bị các chứng bệnh nan y luôn có cảm giác thiếu an toàn, khiến nhận thức “sức khỏe là vốn quý nhất của con người” đã trở nên phổ biến. 
An ninh môi trường là các mối đe dọa từ môi trường đối với con người được chia làm hai loại cơ bản: loại do con người tạo ra và loại do thiên nhiên tạo ra.
An ninh cá nhân là khía cạnh quan trọng nhất của an ninh con người. Công dân của bất kỳ quốc gia nào, giàu hay nghèo, cuộc sống con người ngày càng bị đe dọa bởi nạn bạo lực khó lường trước với các hình thức rất dã man và phức tạp
An ninh cộng đồng là sự an toàn cho con người ngay từ trong một nhóm người, một gia đình, một cộng đồng dân cư, một tổ chức hay một nhóm sắc tộc, tôn giáo... và rộng hơn là an ninh của mỗi người được bảo đảm khi người đó sống ở trong một quốc gia nhất định
An ninh chính trị là việc “xã hội tôn trọng các quyền cơ bản của con người”. 

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

GIÁ TRỊ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngày 7/11/1917, cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thắng lợi, mở đầu thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Mặc dù chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã sụp đổ, nhưng cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 vẫn để lại những giá trị vĩ đại và bền vững, mà không ai phủ nhận được về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh…. Đặc biệt giá trị đối với xây dựng nền văn hóa vô sản phát triển theo hướng tiến bộ, nhân văn cho loài người mang đặc tính của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Cách mạng Tháng Mười Nga xây dựng nên một nền văn hóa mới. Cách mạng Tháng Mười là một cuộc cách mạng tạo ra một thời kỳ văn hóa mới mang tính chất nhân văn, nhân đạo vì cộng đồng, vì xã hội và nền văn hóa đó mục đích phục vụ con người. Cách mạng ấy xóa bỏ chế độ Nga hoàng và giai cấp tư sản, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản, xóa bỏ giai cấp bóc lột và áp bức dân tộc… đưa nhân dân lao động lên làm chủ đất nước. Lần đầu tiên trong lịch sử,  khát vọng ngàn đời của nhân loại cần lao mong muốn thoát khỏi áp bức, bóc lột có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc đã trở thành hiện thực sinh động của hàng triệu con người, nhiều dân tộc ngưỡng vọng, phấn đấu noi theo. Một sự thật lịch sử không thể phủ nhận giá trị đó là sau này hàng loạt các nước xã hội chủ nghĩa ra đời xây dựng một xã hội mới công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bộ.
Hệ giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa hình thành và phát triển. Cách mạng Tháng Mười là thắng lợi vĩ đại nhất không chỉ của giai cấp vô sản và nhân dân các dân tộc Nga, mà còn là thắng lợi của giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười đã biến chủ nghĩa xã hội khoa học thành hiện thực; chủ nghĩa xã hội phủ định chủ nghĩa tư bản trên thực tế sinh động. Từ đây chiều hướng phát triển chủ yếu, trục xuyên suốt của sự vận động phát triển của lịch sử là đấu tranh xóa bỏ trật tự tư bản chủ nghĩa, thiết lập và từng bước xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Lênin đã khẳng định: “Không có bức tường ngăn cách giữa những chiến thắng của cách mạng xã hội chủ nghĩa quốc tế”. Giá trị đó đã được thực tiễn lịch sử chứng minh, với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười, một thời đại mới đã được mở ra và gắn với nền văn hóa chủ nghĩa xã hội. Nó tạo cơ hội cho nhân loại thực hiện bước quá độ lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Bước quá độ ấy bao hàm cả khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đối với các nước đang phát triển, khi dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, nhân dân lao động đã giành chính quyền làm chủ đất nước, đã xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Nền văn hóa con người được đặt vào vị trí trung tâm của phát triển, phát triển chủ nghĩa xã hội vì con người. Sau Cách mạng Tháng Mười nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới ra đời, lý luận chủ nghĩa Mác thành hiện thực và nền văn hóa vô sản phát huy tính ưu việt của chủ nghĩa xã không có áp bức, bóc lột con người, bất công; con người mới xã hội chủ nghĩa được đặt vào vị trí trung tâm của phát triển. Con người làm chủ, con người lao động, con người mang đặc điểm của giai cấp công nhân và phát triển kinh tế - xã hội vì con người và do con người. Cách mạng Tháng Mười đã hình thành một loạt hệ giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa: giải phóng con người, đưa con người lên làm chủ, lần đầu tiên con người được làm chủ với tư cách làm chủ tư liệu sản xuất. Con người mang bản chất giai cấp công nhân, có tinh thần yêu nước, có tinh thần quốc tế vô sản.