Hiển thị các bài đăng có nhãn vẻ vang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vẻ vang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUỐC TẾ LÀM NÊN NHÂN CÁCH TỐT ĐẸP CỦA BỘ ĐỘI CỤ HỒ VÀ TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Tham gia đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn là thực hiện mục đích nhân đạo. Trong lịch sử, Quân đội ta đã từng giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc, coi “giúp bạn là tự giúp mình”. Đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn của Quân đội ta là các quân nhân đã được đào tạo cơ bản, có sức khỏe, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ tốt. Trong số đó có nhiều quân nhân từng tham gia cứu hộ, cứu nạn tại hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Nam năm 2020 và có mặt tại các tâm điểm phòng, chống dịch Covid-19 năm 2021 ở các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh... Trong đoàn công tác cũng có một số quân nhân từng tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan.Thiên tai, thảm họa là điều không ai muốn và bất khả kháng. Mất mát về tiền của có thể bù đắp, có thể tạo ra bằng sự quyên góp của cộng đồng nhưng thương vong về con người là vô cùng to lớn, không thể bù đắp được. Việc Quân đội ta tham gia giúp bạn khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa là góp phần làm vơi đi nỗi đau thương, mất mát của một dân tộc, là nghĩa tình bạn bè trong lúc hoạn nạn có nhau, chia bùi sẻ ngọt cùng nhau.

Trong buổi chia tay, tiễn 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã biểu dương tinh thần chủ động, tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có liên quan.

Từng trải qua những năm tháng chiến tranh biết bao gian khổ, đau thương, mất mát, hơn ai hết, dân tộc, nhân dân Việt Nam và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn khát vọng được sống trong hòa bình. Cán bộ, chiến sĩ quân đội mong muốn an tâm công tác, xây dựng đơn vị; không ai muốn rời xa đồng đội, người thân đi đến nơi “đất khách quê người”, đối mặt với gian khổ, hiểm nguy. Thế nhưng, do yêu cầu, nhiệm vụ và thực hiện công việc nhân đạo, họ đã chấp nhận rời xa người thân, tổ ấm gia đình, xa đơn vị, xa đồng chí, đồng đội để lên đường thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Hơn ai hết, quân nhân mang bộ quân phục màu xanh, đội mũ đeo sao vàng, trên vai, trên ngực áo mang quân hàm tươi màu cờ đỏ và trong trái tim là tình yêu Tổ quốc, hình bóng người thân, gia đình, đơn vị. Họ là Bộ đội Cụ Hồ đi làm nhiệm vụ quốc tế mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ủy thác. Gánh trên vai trách nhiệm thiêng liêng đối với Tổ quốc, niềm vinh dự, tự hào là Bộ đội Cụ Hồ, tấm lòng tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân, Đoàn cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhì Kỳ đại diện cho dân tộc Việt Nam, góp sức mình để lan tỏa tinh thần nhân ái, “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam để tương trợ, giúp bạn trong lúc khó khăn, hoạn nạn, hiểm nghèo.

Đây là việc làm đầy tính nhân văn, nhân đạo, tất cả vì con người, vì sự tiến bộ xã hội. Chính điều đó góp phần lan tỏa mạnh mẽ chính sách nhân đạo, đoàn kết, vì hòa bình của Đảng, Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Hàng triệu triệu con mắt trên hành tinh đang dõi theo việc làm, trách nhiệm của của họ đối với thể diện quốc gia, hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Với vai trò đại diện cho đất nước và cho Quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta đang gắng sức khắc phục khó khăn, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao phó. Hơn thế, họ còn có nhiệm vụ tạo ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế và chính quyền, nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mắt bạn bè quốc tế.

Quân đội ta là Quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có mục đích nào khác. Nếu không phải vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy thì cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đâu dám xả thân hy sinh vì cách mạng; cùng nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã làm nòng cốt và cùng toàn dân đánh thắng hai thế lực xâm lược cường bạo nhất nhì thế giới là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; đồng thời tình nguyện giúp đỡ nhân dân Lào, đặc biệt là giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, hồi sinh và phát triển đất nước. Phát huy tinh thần quốc tế cao cả đó, việc tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua hoạn nạn, thảm họa động đất là một hoạt động nhân văn trong các hoạt động “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của Quân đội ta trong thời bình.

Sự thật ấy là minh chứng đầy thuyết phục để bác bỏ mọi sự xuyên tạc, ác ý của những kẻ xấu./


Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ TỔ CHỨC VÀ CÁN BỘ CÓ VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH

Để bảo đảm hoạt động lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nhiệm vụ xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ có vai trò quyết định. Đảng không ngừng kiện toàn hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở, phát triển đội ngũ đảng viên, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp ngang tầm nhiệm vụ. Đại hội VI (năm 1986), toàn Đảng có gần 1,9 triệu đảng viên; đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta có hơn 5,1 triệu đảng viên. Từ yêu cầu của thực tiễn đổi mới, Hội nghị Trung ương 4 khóa X (tháng 1-2007) đã quyết định sắp xếp lại bộ máy tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị. Các cơ quan tham mưu giúp Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo gồm 8 ban và không nhất thiết ở Trung ương có ban nào thì địa phương cũng như vậy; Chính phủ gồm 22 bộ, cơ quan ngang bộ và ổn định cho đến nay. Các tổ chức lớn trong bộ máy được thu gọn, nhưng có thực tế là các đơn vị (cục, vụ, viện, phòng, ban) trong đó lại nhiều lên, dẫn đến bộ máy phình to ra; biên chế vẫn tăng. Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” chủ trương: Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân... Chủ trương đó được thực hiện có nhiều thành công ở cả Trung ương và địa phương. Kinh nghiệm cho thấy, nếu có quyết tâm chính trị, giải pháp thích hợp, vì sự nghiệp chung thì dù khó khăn đến mấy Đảng vẫn có thể thực hiện thành công mục tiêu đề ra.

Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII đã thông qua Chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (ngày 18-6-1997), với việc tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị; cán bộ khoa học, chuyên gia các lĩnh vực; cán bộ lực lượng vũ trang và cán bộ quản lý các doanh nghiệp. Thực tiễn đổi mới và hội nhập quốc tế càng đặt ra yêu cầu cần nhận thức sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, đào tạo, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Đó là bước tiến rất quan trọng trong nhận thức và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ.

Công tác cán bộ có những đổi mới rõ rệt, từ đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, lựa chọn đến chính sách đối với cán bộ. Để chống sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, cần thiết phải tăng cường giáo dục, siết chặt kỷ luật, pháp luật; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả. Nhưng điều rất căn bản ở đây là, cần hết sức coi trọng việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, “xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”. Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Đại hội XIII của Đảng đã ghi nhận thành công của công tác cán bộ. Lựa chọn cán bộ lãnh đạo các cấp được thực hiện bài bản, dân chủ, công khai, minh bạch với quy trình 5 bước theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, đã lựa chọn được các đồng chí xứng đáng; kiên quyết không để lọt vào cấp ủy, Trung ương những người có dấu hiệu, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”, bè phái, chạy chức, chạy quyền; bên cạnh đó, kết hợp “xây” và “chống” trong công tác cán bộ được tổng kết sâu sắc. Toàn Đảng cần thực hiện tốt chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đào tạo và bảo vệ cán bộ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”.

Công cuộc đổi mới ngày càng phát triển, Đảng và nhân dân mong muốn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ đức, đủ tài ngày càng đông đảo đưa đất nước đi tới chủ nghĩa xã hội, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, phồn vinh, hạnh phúc. Theo đó, với đội ngũ cán bộ, đảng viên, “đức” là học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản; “tài” là làm chủ tri thức, học vấn hiện đại, nhất là trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh, muốn xây dựng thành công xã hội cộng sản thì phải có trí tuệ, học thức cao. Chủ nghĩa cộng sản thì “chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, và nếu họ không có nền học vấn đó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi”.

Đổi mới phương thức lãnh đạo là yêu cầu khách quan để nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng. Phải dựa trên việc thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, như nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, mệnh lệnh, thiếu trách nhiệm, vô cảm, xa dân; nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên cơ sở Cương lĩnh, đường lối, hệ tư tưởng và tình thương yêu đồng chí, dựa trên kỷ luật của Đảng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình, trong đó phê bình và tự phê bình phải thật chân thành, trung thực, nghiêm túc, xây dựng, có lý, có tình; nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, bàn bạc, lắng nghe ý kiến của nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân.

Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng Cương lĩnh, đường lối và lãnh đạo Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo bằng hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng; bằng trực tiếp vận động, tổ chức nhân dân thực hiện đường lối và thông qua các đoàn thể trong hệ thống chính trị; lãnh đạo bằng uy tín chính trị, bằng sự cảm hóa và nêu gương. Đó là nội dung và cũng là những kinh nghiệm quan trọng trong sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.

Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ, giải pháp quan trọng: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”; “Kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng, giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng”; tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, gắn với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đi đôi với việc củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng; đổi mới tổ chức, bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị  - xã hội... Thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ, giải pháp trên đây sẽ bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc đến những thắng lợi vẻ vang./.

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2021

KỶ NIỆM 101 NĂM NGÀY SINH NGUYÊN CHỦ TỊCH NƯỚC, ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH (01/12/1920 - 01/12/2021)

Ngày 01/12/1920, ngày sinh nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, nhà chính trị quân sự tài ba, đức độ và nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, người bạn thân thiết, tin cậy của bạn bè quốc tế.

Đại tướng Lê Đức Anh là người con của xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, vùng quê giàu truyền thống yêu nước cách mạng. Cuộc đời binh nghiệp của đồng chí gắn với nhiều chiến trường từ Bắc vào Nam và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả.

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, đồng chí là một trong những tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến trường và giành nhiều thắng lợi quan trọng, bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng.

Thủ tướng Vương quốc Campuchia Samdech Techo Hun Sen khi đến viếng nguyên Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh đã xúc động ghi những dòng ân tình vào sổ tang: “Bác Lê Đức Anh kính mến!…Việc giải phóng nhân dân thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, việc ngăn chặn chế độ diệt chủng quay trở lại, công cuộc xây dựng lại đất nước Campuchia. Đặc biệt, sự trưởng thành của Quân đội Campuchia... đều có sự đóng góp của Bác”.

Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, sau khi đất nước hòa bình, thống nhất, đồng chí được Đảng, Nhà nước giao nhiều trọng trách quan trọng, như: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (năm 1981); Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (năm 1986); Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (năm 1987-1991). Đồng chí được thăng quân hàm Đại tướng năm 1984.

Tháng 9-1992, đồng chí được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bầu vào chức vụ Chủ tịch nước và giữ chức danh này đến năm 1997. Sau đó, đồng chí được bổ nhiệm làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12-1997 đến khi nghỉ hưu năm 2001.

Là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt tiêu biểu của Đảng, dù ở cương vị nào, đồng chí cũng mang hết nhiệt huyết đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào những vấn đề lớn của đất nước. Đại tướng Lê Đức Anh là một nhà chính trị, nhà quân sự tài năng; một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đại tướng Lê Đức Anh qua đời vào ngày 22/4/2019. Với 99 năm tuổi đời, hơn 80 năm tuổi Đảng, Đại tướng Lê Đức Anh đã trọn đời phấn đấu, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và nhân dân ta.

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2021

KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN BẦU QUỐC HỘI VIỆT NAM (6/1/1946 - 6/1/2021)

Cách đây 75 năm, ngày 6/1/1946, hưởng ứng lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân khắp mọi miền đất nước đã nô nức tham gia vào cuộc Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Đó là một ngày trọng đại của đất nước, khi người dân lần đầu tiên được bỏ phiếu chọn ra người đại diện cho mình. Đó là một ngày chưa có tiền lệ trong lịch sử dân tộc. Trước Tổng tuyển cử 1 tuần, ngày 31/12/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài đăng trên báo Cứu quốc, số 130. Người kêu gọi: Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nhà nước. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội, Quốc hội bầu ra Chính phủ, Chính phủ đó thật sự là Chính phủ của toàn dân.

Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 đánh dấu bước trưởng thành mang tính bước ngoặt của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, từ đó có một một bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội, đối ngoại.

Cuộc Tổng tuyển cử thắng lợi đã đưa đến xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên của đất nước. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, luật gốc của Nhà nước, các quy định của Hiến pháp là cơ sở pháp lý để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất; đồng thời là cơ sở cho việc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước.

Sau khi Tổng tuyển cử thành công, ngày 2/3/1946, Quốc hội đã nghe Chính phủ trình bày bản dự thảo Hiến pháp. Trên cơ sở đó, Quốc hội (Khoá I, Kỳ họp thứ Nhất) đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người là đại biểu của nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ngày 28/10/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I khai mạc. Ngày 9/11/1946, sau hơn mười ngày làm việc khẩn trương, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với sự nhất trí của 240/242 đại biểu dự họp.

Như vậy là trong một thời gian rất ngắn, hai việc cực kỳ hệ trọng đều đã hoàn thành: Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và xây dựng, thông qua Hiến pháp đầu tiên của đất nước.

Năm 1945, tháng 8 Mùa Thu, với cuộc cách mạng long trời lở đất người Việt Nam giành độc lập cho đất nước, tự do cho giống nòi. Đầu năm 1946, người Việt Nam bầu ra Quốc hội của mình và Quốc hội đã quyết định bản Hiến pháp đầu tiên của đất nước. Những công việc cực kỳ lớn lao và hệ trọng ấy được thực hiện trong một thời gian rất ngắn, nhưng chính là nền tảng cơ bản, vững chắc để một lần nữa toàn quốc kháng chiến, quyết gìn giữ độc lập, ngày 19/12/1946.

Ngày 30/12/2020, dự họp mặt kỷ niệm 75 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên của Quốc hội Việt Nam và tổng kết nhiệm kỳ khóa XIV (2016-2021) của Đoàn đại biểu Quốc hội đơn vị tỉnh Bến Tre, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh: Cách đây 75 năm, ngày 6/1/1946, một sự kiện trọng đại đã đi vào lịch sử nước ta như một mốc son chói lọi, đánh dấu bước phát triển về thể chế dân chủ, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước Việt Nam. Đó là Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên. Chủ tịch Quốc hội cũng cho biết, trải qua 75 năm với 14 nhiệm kỳ hoạt động, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Các thế hệ đại biểu Quốc hội luôn thể hiện và phát huy tốt tinh thần trách nhiệm, phẩm chất, trí tuệ, là đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Thật vui mừng khi chất lượng các vị đại biểu Quốc hội ngày càng cao, bản lĩnh của các vị đại biểu dân cử cũng được thể hiện sắc nét, đặc biệt rõ tại các phiên chất vấn - trả lời chất vấn của các kỳ họp Quốc hội gần đây. Qua các vị đại biểu Quốc hội, hầu hết những vấn đề người dân quan tâm, mong đợi đều đã được vang lên trên Nghị trường. Điều đó cho thấy tính dân chủ của Quốc hội, trí tuệ cũng như bản lĩnh, trách nhiệm của những người đại diện cho dân. Những việc trọng đại của đất nước hay là những việc rất cụ thể trong cuộc sống hàng ngày của người dân cũng đều được các vị đại biểu Quốc hội phản ánh, kiến nghị. Mỗi kỳ họp Quốc hội, mỗi ngày họp Quốc hội đều được người dân cả nước trông đợi, hy vọng.

Điều đó có được bắt nguồn từ sự tiếp nối truyền thống vẻ vang của Quốc hội Việt Nam 75 năm qua, mà khởi nguồn là từ Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên 6/1/1946. Những ngày này, khi đất nước kỷ niệm 75 năm Ngày Tổng tuyển cử, càng thấy giá trị lịch sử vĩ đại Quốc hội đầu tiên của đất nước. Đó chính là nền tảng, là bệ phóng để các thế hệ nối tiếp tiếp tục làm tròn trách nhiệm đại diện cho ý chí và nguyện vọng chính đáng của nhân dân vì mục đích cao cả: Xây dựng đất nước ta ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

ĐÔI LỜI CẢM XÚC KHI NGHĨ VỀ NGÀY 30-4 VẺ VANG

Chiến tranh đã qua đi hơn 40 năm, tiếng súng đạn và tiếng máy bay gầm rú như xé tan bầu trời giờ chỉ còn trong phim ảnh. Nhưng sự tàn khốc của chiến tranh sẽ không bao giờ quên trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam. Chúng ta nói như vậy không phải để gợi lên lòng hận thù mà để giáo dục cho mọi người tinh thần yêu nước, lòng tự tôn và đặc biệt là truyền thống uống nước nhớ nguồn, bởi lẽ chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của sự hòa bình, độc lập dân tộc, có được ngày hôm nay chúng ta mãi mãi biết ơn Hồ Chủ tịch, Đảng Cộng sản Việt Nam đã dẫn đường chỉ lối cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi, đặc biệt chúng ta sẽ mãi mãi khắc sâu sự hy sinh to lớn của thế hệ cha anh đã ngã xuống vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Cao hơn nữa, mỗi người dân Việt Nam muốn lên tiếng với cả thế giới rằng, chúng tôi yêu hòa bình, chúng tôi căm thù chiến tranh, bởi chiến tranh đã gây cho đất nước, con người Việt Nam quá nhiều sự bất hạnh, thông điệp yêu chuộng hòa bình của người Việt Nam mong muốn được chia sẻ với toàn thế giới.
Thật tự hào khi chúng ta là người Việt Nam anh dũng, kiên cường, thông minh tài giỏi. Dù cho bom đạn chiến tranh có thể làm rung chuyển núi rừng nhưng không thể làm rung chuyển trái tim của những con người yêu nước. Nhìn thế hệ cha anh xung phong nhập ngũ khi tuổi đời còn rát trẻ, bỏ lại sau lưng quê hương, gia đình, tình yêu và biết bao hoài bão đang chờ phía trước với một quyết tâm đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi, giành độc lập tự do cho đất nước, cho dân tộc Việt Nam mà ngưỡng mộ biết chừng nào. Cho nên, đã có biết bao con người đã hóa thành hình đất nước, họ đã nằm xuống tại mảnh đất này, dâng trọn cho cuộc đời mình cho quê hương đất nước… Hay như ai đã qua Thành Cổ Quảng Trị, ngồi ngắm nhìn dòng sông Thạch Hãn mà ngẫm câu thơ rằng “.. Đò xuôi Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm…”
Chúng ta yêu hòa bình, chúng ta ghét chiến tranh bởi đơn giản một điều: Nước mắt mẹ không còn, vì khóc từng đứa con…”. Mẹ là người mang nặng đẻ đau, nuôi cho  khôn lớn, trưởng thành, nhưng sự nghiệt ngã của chiến tranh đã khiến cho bao cảnh những người lính mong ngày giải phóng để báo đáp công ơn sinh thành của Mẹ thì ước nguyện chưa thành mà các anh đã mãi mãi ra đi để đôi mắt mẹ mờ loà đi vì ngóng chờ tin các anh. Gần hai triệu liệt sĩ trên đất nước này qua các cuộc chiến tranh cũng đồng nghĩa với có biết bao người mẹ mỏi mắt chờ mong những đứa con ra đi mà không bao giờ quay trở lại. Chiến tranh đã lùi xa, có những vết thương trên thịt da đã lành theo năm tháng nhưng thật xót xa khi vết thương lòng mẹ vẫn còn nặng mang. Còn gì nỗi đau nào mất mát hơn nỗi đau này, hy sinh của họ quá lớn.
Cũng thật tội nghiệp thay, khi chúng ta vẫn chứng kiến những đứa trẻ bị tật nguyền bởi chất độc dioxin. Các cháu nhỏ đáng thương đó luôn cần đến sự quan tâm và tình yêu thương của tất cả chúng ta cũng như cộng đồng quốc tế. Mong sao đem lại cho các em niềm hạnh phúc trong kiếp con người này.
Đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân dốc một lòng, một dạ sớm đưa đất nước ta sớm đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhìn lại một chặng đường dài lịch sử. hơn 40 năm sau chiến tranh đất nước như thay đổi thịt, từ một nước nông nghiệp, chịu hậu quả lớn do chiến tranh liên miên, nay đất nước như khoác lên mình tấm áo nhung lụa thật lộng lẫy và hứa hẹn còn tươi đẹp nhiều hơn nữa trong tương lai gần. Có được điều đó, chính là nhờ sự sáng suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật đúng đắn của Nhà nước, nhưng quan trọng hơn cả, những đường lối, chính sách đó được nhân dân ủng hộ và thực hiện. Bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể không kể đến công lao to lớn của lực lượng công an, quân đội đã giữ vững được thể chế chính trị, ngày đêm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ thành quả của cách mạng tạo môi trường thuận lợi để đầu tư, phát triển. Với bước đà này, Việt Nam sẽ sớm đạt được mục tiêu lâu dài và chiến lược.
Hòa bình, độc lập và phát triển đất nước là nhiệm vụ then chốt. Và trong những ngày của tháng 4 hào hùng lịch sử này, chúng ta sẽ không khỏi xúc động và tự hào vì lịch sử vẻ vang của dân tộc. Bên cạnh đó, những giá trị tình cảm sâu nặng với các mẹ Việt Nam anh hùng, với những liệt sĩ, với những người có công với đất nước sẽ càng ngày càng khắc sâu hơn trong mỗi người dân Việt Nam. Và đây chính là động lực để thúc đẩy quyết tâm xây dựng đất nước phát triển không phụ công ơn to lớn của những người đã ngã xuống vì độc lập dân tộc.