Hiển thị các bài đăng có nhãn quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2024

TẠI SAO NÓI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ LUÔN GẮN LIỀN VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CHỐNG CỘNG?

 Sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế luôn gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa chống cộng, bởi vì:

Thứ nhất, ngay từ khi ra đời, chủ nghĩa Mác - vũ khí lý luận của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã bị các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá. Các học giả tư sản đã không từ bất cứ thủ đoạn nào để xuyên tạc, bóp méo và phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin. Cơ sở tư tưởng của chủ nghĩa chống cộng là những học thuyết chính trị - xã hội phản khoa học, xuyên tạc lí tưởng cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa … Vì vậy, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của phong trào công nhân, phải không ngừng đấu tranh với các quan điểm, hành động sai trái, thù địch.

Thứ hai, đấu tranh chống chủ nghĩa chống cộng là một trong những điều kiện để phát triển lực lượng cách mạng, bảo đảm thực hiện thắng lợi mục tiêu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Mục tiêu của chủ nghĩa chống cộng là chống phá phong trào giải phóng dân tộc; vu khống, khiêu khích, phá hoại, chia rẽ phong trào cộng sản quốc tế; duy trì chế độ tư bản chủ nghĩa. Theo đó là những chính sách phản động như bao vây, cấm vận, ám sát, lật đổ, đảo chính, khủng bố, xâm lược. Trong cuộc đấu tranh của phong trào công nhân, để thực hiện mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, xóa bỏ chế độ bóc lột, bất công, bất bình đẳng, tăng cường đoàn kết giai cấp công nhân các nước đòi hỏi phải đấu tranh kiên quyết với chủ nghĩa chống cộng.

Thứ ba, cùng với sự vận động, phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, chủ nghĩa nghĩa chống cộng luôn biến tướng, điều chỉnh, các chính sách, âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc ngày càng thâm hiểm, xảo quyệt. Chủ nghĩa chống cộng lợi dụng sự khủng hoảng, thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đưa ra các học thuyết chính trị - xã hội phản động phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước.


Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUỐC TẾ LÀM NÊN NHÂN CÁCH TỐT ĐẸP CỦA BỘ ĐỘI CỤ HỒ VÀ TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Tham gia đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn là thực hiện mục đích nhân đạo. Trong lịch sử, Quân đội ta đã từng giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc, coi “giúp bạn là tự giúp mình”. Đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn của Quân đội ta là các quân nhân đã được đào tạo cơ bản, có sức khỏe, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ tốt. Trong số đó có nhiều quân nhân từng tham gia cứu hộ, cứu nạn tại hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Nam năm 2020 và có mặt tại các tâm điểm phòng, chống dịch Covid-19 năm 2021 ở các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh... Trong đoàn công tác cũng có một số quân nhân từng tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan.Thiên tai, thảm họa là điều không ai muốn và bất khả kháng. Mất mát về tiền của có thể bù đắp, có thể tạo ra bằng sự quyên góp của cộng đồng nhưng thương vong về con người là vô cùng to lớn, không thể bù đắp được. Việc Quân đội ta tham gia giúp bạn khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa là góp phần làm vơi đi nỗi đau thương, mất mát của một dân tộc, là nghĩa tình bạn bè trong lúc hoạn nạn có nhau, chia bùi sẻ ngọt cùng nhau.

Trong buổi chia tay, tiễn 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã biểu dương tinh thần chủ động, tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có liên quan.

Từng trải qua những năm tháng chiến tranh biết bao gian khổ, đau thương, mất mát, hơn ai hết, dân tộc, nhân dân Việt Nam và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn khát vọng được sống trong hòa bình. Cán bộ, chiến sĩ quân đội mong muốn an tâm công tác, xây dựng đơn vị; không ai muốn rời xa đồng đội, người thân đi đến nơi “đất khách quê người”, đối mặt với gian khổ, hiểm nguy. Thế nhưng, do yêu cầu, nhiệm vụ và thực hiện công việc nhân đạo, họ đã chấp nhận rời xa người thân, tổ ấm gia đình, xa đơn vị, xa đồng chí, đồng đội để lên đường thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Hơn ai hết, quân nhân mang bộ quân phục màu xanh, đội mũ đeo sao vàng, trên vai, trên ngực áo mang quân hàm tươi màu cờ đỏ và trong trái tim là tình yêu Tổ quốc, hình bóng người thân, gia đình, đơn vị. Họ là Bộ đội Cụ Hồ đi làm nhiệm vụ quốc tế mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ủy thác. Gánh trên vai trách nhiệm thiêng liêng đối với Tổ quốc, niềm vinh dự, tự hào là Bộ đội Cụ Hồ, tấm lòng tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân, Đoàn cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhì Kỳ đại diện cho dân tộc Việt Nam, góp sức mình để lan tỏa tinh thần nhân ái, “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam để tương trợ, giúp bạn trong lúc khó khăn, hoạn nạn, hiểm nghèo.

Đây là việc làm đầy tính nhân văn, nhân đạo, tất cả vì con người, vì sự tiến bộ xã hội. Chính điều đó góp phần lan tỏa mạnh mẽ chính sách nhân đạo, đoàn kết, vì hòa bình của Đảng, Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Hàng triệu triệu con mắt trên hành tinh đang dõi theo việc làm, trách nhiệm của của họ đối với thể diện quốc gia, hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Với vai trò đại diện cho đất nước và cho Quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta đang gắng sức khắc phục khó khăn, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao phó. Hơn thế, họ còn có nhiệm vụ tạo ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế và chính quyền, nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mắt bạn bè quốc tế.

Quân đội ta là Quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có mục đích nào khác. Nếu không phải vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy thì cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đâu dám xả thân hy sinh vì cách mạng; cùng nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã làm nòng cốt và cùng toàn dân đánh thắng hai thế lực xâm lược cường bạo nhất nhì thế giới là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; đồng thời tình nguyện giúp đỡ nhân dân Lào, đặc biệt là giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, hồi sinh và phát triển đất nước. Phát huy tinh thần quốc tế cao cả đó, việc tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua hoạn nạn, thảm họa động đất là một hoạt động nhân văn trong các hoạt động “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của Quân đội ta trong thời bình.

Sự thật ấy là minh chứng đầy thuyết phục để bác bỏ mọi sự xuyên tạc, ác ý của những kẻ xấu./


Thứ Hai, 20 tháng 2, 2023

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN THỂ HIỆN TINH THẦN QUỐC TẾ CAO CẢ

Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi lời chia buồn sâu sắc đến Chính phủ và người dân của hai quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và Syria về những thiệt hại vô cùng to lớn do thảm họa động đất gây ra, làm hàng chục nghìn người thiệt mạng.

Thấu hiểu, sẻ chia về những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn ấy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định cử đoàn công tác của Quân đội nhân dân Việt Nam sang tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Thổ Nhĩ Kỳ, giúp bạn tìm kiếm các nạn nhân xấu số và cứu chữa những nạn nhân còn sống, đưa họ về trạng thái an toàn; tiếp tục giúp giải quyết, khắc phục hậu quả thảm họa, sớm đem lại cuộc sống bình thường mới cho người dân nơi xảy ra động đất ở đất nước này.

Thiên tai, thảm họa là điều không ai muốn và bất khả kháng. Mất mát về tiền của có thể bù đắp, có thể tạo ra bằng sự quyên góp của cộng đồng nhưng thương vong về con người là vô cùng to lớn, không thể bù đắp được. Việc Quân đội ta tham gia giúp bạn khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa là góp phần làm vơi đi nỗi đau thương, mất mát của một dân tộc, là nghĩa tình bạn bè trong lúc hoạn nạn có nhau, chia bùi sẻ ngọt cùng nhau. Ngay sau khi đến Thổ Nhĩ Kỳ, cán bộ, chiến sĩ trong đoàn cứu hộ đã khẩn trương cùng với đơn vị bạn tích cực tiềm kiếm, phát hiện các vị trí có người còn mắc kẹn. Kết quả đoàn cứu hộ phát hiện có 14 vị trí có người mắc kẹt và 2 vị trí có dấu hiệu có người còn sống. Hành động kịp thời và trách nhiệm của đoàn cứu hộ, cứu hộ Việt Nam sẽ góp phần khắc phục bớt những khó khăn, mất mát mà nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ đang phải trãi qua, thể hiện tinh thần quôc tế cao cả.


Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

VIỆT NAM THAM GIA VÀ NGHIÊM TÚC THỰC HIỆN CÁC NGHĨA VỤ, CAM KẾT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản.

Việt Nam có những đóng góp tích cực trong việc thành lập Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền, Ủy ban ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của phụ nữ và trẻ em, thông qua tuyên bố Nhân quyền ASEAN.
Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Nhiều lãnh đạo các nước thời điểm đó ca ngợi tinh thần trách nhiệm, sự năng động của Việt Nam. Việt Nam đã đóng góp nhiều giá trị vào sự tiến bộ của nhân loại trong bảo đảm quyền con người.

Với mong muốn đóng góp hiệu quả hơn nữa vào các nỗ lực chung của thế giới nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất được ASEAN đề cử.

Gần 10 năm sau nhiệm kỳ đầu tiên tại Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc trên mọi mặt đời sống xã hội và việc tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 thể hiện quyết tâm, sự chủ động, tích cực và trách nhiệm của Việt Nam trong thúc đẩy quyền con người ở khu vực và trên thế giới.

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2020

THÀNH TỰU VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Thành tựu về quyền con người ở Việt Nam trong hơn 70 năm qua thể hiện trên mọi lĩnh vực, nhất là những bước tiến vượt bậc về phát triển kinh tế trong gần 35 năm đổi mới (1986-2020). Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô nền kinh tế năm 1985 mới có 14 tỷ USD, thì đến năm 2019 đạt 262 tỷ USD, tăng gấp hơn 18,7 lần. Mới đây, Tạp chí The Economist tháng 8-2020 đã xếp Việt Nam trong tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Mặc dù chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu, trong khi phần lớn các nền kinh tế trên thế giới rơi vào suy thoái, nhưng nhờ sự chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt thực hiện “mục tiêu kép” của Chính phủ, năm 2020, Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng dương ở mức khá. Nhìn theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB) so sánh mức sống với các nước trên thế giới, thu nhập của người dân Việt Nam năm 2020 tương đương gần 9.000USD (tính theo ngang bằng sức mua).

Sự tăng trưởng kinh tế là cơ sở, tiền đề để Nhà nước chăm lo thực hiện tốt các chính sách an sinh, văn hóa xã hội. Điều đó được thể hiện ở “Chỉ số phát triển con người” (HDI). Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9-12-2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng 4,8 năm, số năm đi học trung bình tăng 4,3 năm, thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng trên 354%. Điều này giúp Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất trên thế giới. Theo nhận định của bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP ở Việt Nam: “Việt Nam đã đạt được tăng trưởng đáng kể trong phát triển con người kể từ năm 1990 đến nay. Điều đó chứng tỏ Việt Nam đã có những bước tiến bộ trong thực hiện chính sách chăm lo phát triển con người toàn diện”.

Một trong những thành tựu về nhân quyền đáng kể là Việt Nam đã quan tâm thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 118 chính sách liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách đó, tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam giảm từ 9,88% (năm 2015) xuống còn 3,73% (năm 2019). Cả nước hiện có gần 3 triệu người nghèo, người yếu thế được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Đặc biệt, Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo-Không để ai bị bỏ lại phía sau” trong những năm qua đã nhận được sự hưởng ứng sâu rộng, hiệu quả của toàn xã hội. Chỉ tính trong dịp “Ngày vì người nghèo” 17-10-2020 vừa qua, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kêu gọi, huy động được gần 2.400 tỷ đồng ủng hộ Quỹ Vì người nghèo và an sinh xã hội.

Từ một nước lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, sau hơn 70 năm huy động sức dân, đồng lòng thực hiện sự nghiệp kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và nhiều cơ quan truyền thông uy tín của quốc tế đánh giá là một trong số ít quốc gia đã kiểm soát, khống chế thành công đại dịch Covid-19, do vậy, Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ người bị lây nhiễm và tử vong vì dịch Covid-19 thấp nhất trên thế giới. Kết quả này thêm một lần chứng tỏ Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn ưu tiên cao nhất để bảo đảm quyền được sống an toàn, khỏe mạnh cho mọi người dân-một trong những giá trị cao cả của quyền con người.

Là một quốc gia đang phát triển, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, hiện nay Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách. Nhưng với bản chất của một chế độ xã hội ưu việt mà cả dân tộc đã tự nguyện lựa chọn và kiên trì thực hiện, thông qua chủ trương, đường lối phát triển kinh tế-xã hội đúng đắn và hợp xu hướng thời đại, Việt Nam ngày càng có điều kiện tạo ra những tiền đề cơ sở vật chất, văn hóa để bảo đảm tốt hơn các quyền cơ bản của con người.

Việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu xây dựng đất nước theo định hướng XHCN “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” với hàm ý nhấn mạnh Việt Nam luôn kiên trì, nỗ lực bảo đảm “quyền sung sướng” (dân giàu) và “quyền tự do” (dân chủ) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập. Khi quốc gia giàu có về vật chất, văn hóa, tinh thần và bảo đảm tự do, dân chủ về mọi mặt, đó chính là cam kết chính trị của Việt Nam cùng các quốc gia và cộng đồng quốc tế thực hiện hiệu quả những giá trị phổ quát về nhân quyền đã được xác định trong “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

VIỆT NAM THAM GIA LỰC LƯỢNG “MŨ NỒI XANH” – NÂNG CAO VAI TRÒ, VỊ THẾ VÀ HÌNH ẢNH VIỆT NAM

Có thể thấy rõ rằng, việc Việt Nam tham gia lực lượng GGHB của LHQ là một hoạt động đối ngoại quan trọng, thực hiện sứ mệnh quốc tế cao cả, thể hiện vai trò, trách nhiệm của Việt Nam đối với một lĩnh vực trọng yếu của cộng đồng quốc tế. Hoạt động này đã góp phần tăng thiện cảm của quốc tế đối với đất nước, con người Việt Nam.

Cùng với việc thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn theo nhiệm vụ được giao, các sĩ quan "mũ nồi xanh" Việt Nam còn tích cực làm công tác dân vận như tham gia dạy học, hướng dẫn người dân bản xứ trồng rau xanh, hướng dẫn các bà mẹ chăm sóc trẻ nhỏ đúng cách, may khẩu trang phòng, chống dịch Covid-19 tặng đồng đội và người dân địa phương... đã tạo ấn tượng đẹp về Bộ đội Cụ Hồ, về đất nước và con người Việt Nam.

Các bệnh viện dã chiến của LHQ bình quân mỗi năm chỉ thu dung khoảng 200 bệnh nhân, thì hai bệnh viện dã chiến của Việt Nam mỗi năm đã thu dung gấp hơn 10 lần, với hơn 2.000 bệnh nhân/bệnh viện. Chính vì hiệu quả công việc và thiện cảm tạo ra mà tỷ lệ các sĩ quan "mũ nồi xanh" của Việt Nam được LHQ đánh giá xuất sắc lên tới 33,3% (10/30 đồng chí được đánh giá), gấp nhiều lần so với mức trung bình khoảng 1-2% sĩ quan "mũ nồi xanh" được LHQ đánh giá là xuất sắc hằng năm theo thông lệ. Hai bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt Nam là những đơn vị có tỷ lệ nữ cao hơn tỷ lệ khuyến khích 15% do LHQ đưa ra, được LHQ biểu dương. Chính từ những kết quả trên mà LHQ đã gửi lời cảm ơn, ca ngợi lực lượng GGHB LHQ của Việt Nam.

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2020

XUYÊN TẠC NHÂN QUYỀN VIỆT NAM LÀ BẢN CHẤT CỦA HRW

Ngày 14-1-2020, HRW đã ra cái gọi là “Báo cáo Thế giới 2020” điểm lại bức tranh nhân quyền của khoảng 100 quốc gia... Phần nói về Việt Nam, báo cáo này viết: “Năm 2019 là một năm tàn bạo đối với các quyền tự do căn bản ở Việt Nam khi chính quyền kết án tù ít nhất 30 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến”;... Trước khi đưa ra bản báo cáo này, HRW đã không ít lần đòi trả tự do cho một số đối tượng mà họ khoác lên chiếc áo “nhà dân chủ”; “nhà hoạt động nhân quyền”;... đang thụ án do vi phạm pháp luật Việt Nam.

Thứ Hai, 28 tháng 5, 2018

QUYỀN TỰ QUYẾT DÂN TỘC DƯỚI GÓC NHÌN LUẬT PHÁP QUỐC TẾ

Xét trên bình diện quốc tế, quyền dân tộc tự quyết là quyền của mỗi dân tộc trong việc thiết lập chế độ chính trị và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) trên cơ sở chủ quyền quốc gia. Trong Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ), dân tộc tự quyết được coi là nguyên tắc để duy trì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Hiến chương khẳng định: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc”; đó là quan hệ giữa các quốc gia độc lập, có chủ quyền và có quyền tự định đoạt vận mệnh của mình.
Ngày 14-12-1960, Đại hội đồng LHQ ban hành Nghị quyết số 1514 (XV) thông qua Tuyên bố về “Trao trả độc lập cho các nước và các dân tộc thuộc địa”; tại Điều 2, nghị quyết chỉ rõ: “Tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết, trong đó có quyền thiết lập chế độ chính trị và thực hiện sự phát triển KT-XH và văn hóa của mình”. Điều này, tiếp tục được khẳng định tại Điều 1, Công ước Quốc tế về các quyền KT-XH và văn hóa năm 1966: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển KT-XH và văn hóa”. Tuyên bố năm 1970 về Các nguyên tắc của luật quốc tế của LHQ cũng nhấn mạnh: “Việc thiết lập một nhà nước độc lập có chủ quyền hay tự do gia nhập vào nhà nước độc lập khác hoặc liên kết với quốc gia đó, cũng như việc thiết lập bất cứ chế độ chính trị nào do nhân dân tự do quyết định là các hình thức thể hiện quyền dân tộc tự quyết” và “mỗi quốc gia đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền này, phù hợp với Hiến chương LHQ”.
Nguyên tắc dân tộc tự quyết bao hàm các nội dung sau: Được thành lập quốc gia độc lập hay cùng với các dân tộc khác thành lập quốc gia liên bang (hoặc đơn nhất) trên cơ sở tự nguyện; tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, KT-XH; tự giải quyết các vấn đề đối nội không có sự can thiệp từ bên ngoài; quyền các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc tiến hành đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang để giành độc lập và nhận sự giúp đỡ, ủng hộ từ bên ngoài, kể cả giúp đỡ về quân sự; tự lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, lịch sử văn hóa, tín ngưỡng, điều kiện địa lý. Tất cả các quyền nêu trên của mỗi dân tộc đều được các dân tộc và các quốc gia khác tôn trọng. Như vậy, "quyền dân tộc tự quyết”"được hiểu là việc một quốc gia - dân tộc hoàn toàn tự do trong tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như lựa chọn thể chế chính trị, đường lối phát triển đất nước. 

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

NHẬN THỨC MỚI VỀ BẢO VỆ NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Thời đại toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra những bước ngoặt phát triển chưa từng thấy cho nền văn minh nhân loại, nhưng cũng là một thách thức ghê gớm đối với nhiệm vụ bảo vệ nền văn hóa dân tộc của mỗi quốc gia.
Những năm gần đây, “chủ quyền văn hóa” được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến vì nó liên quan trực tiếp đến chủ quyền lãnh thổ và vận mệnh chính trị của một quốc gia-dân tộc. Theo PGS, TS Phạm Huy Kỳ, Phó giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), văn hóa là linh hồn của một dân tộc. Một quốc gia hoặc dân tộc muốn giữ vững độc lập của mình thì trước tiên phải giữ gìn tính độc lập về văn hóa, chỉ có như vậy mới có thể nói tới độc lập hoàn toàn của một quốc gia.
Trên thực tế, độc lập về chủ quyền lãnh thổ dù là cơ sở, tiền đề quan trọng hàng đầu để làm nên độc lập chủ quyền của quốc gia, nhưng độc lập về văn hóa mới là điều kiện căn cốt để bảo đảm cho nền độc lập của quốc gia ấy được tồn tại, phát triển bền vững. Bởi vì, văn hóa-hiểu theo nghĩa sâu sắc nhất-chính là tất cả chiều dài lịch sử, chiều sâu truyền thống và toàn bộ giá trị tinh thần, đạo đức, phong tục, tập quán… của cả cộng đồng dân tộc được xây dựng, bồi đắp, lưu giữ, trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Mặt khác, văn hóa chính là “sức mạnh mềm” của mỗi quốc gia. Do vậy, bảo vệ văn hóa ngoài ý nghĩa là bảo tồn “sức mạnh mềm” của quốc gia-dân tộc, còn bao gồm việc làm cho các giá trị của “sức mạnh mềm” không ngừng phát huy, lan tỏa để nền độc lập của quốc gia luôn được “cắm sâu” trên một nền tảng ổn định, gốc rễ bền vững.
Đại hội XII của Đảng chính thức xác định nội dung “bảo vệ văn hóa dân tộc” là một trong những nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đó là: Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Việc Đảng ta xác định “bảo vệ nền văn hóa dân tộc” thực chất là xác lập bảo vệ chủ quyền văn hóa của quốc gia. Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương, Viện trưởng Viện Khoa học nhân văn quân sự (Bộ Quốc phòng), là một trong những yếu tố vừa bền vững, vừa năng động, văn hóa sẽ góp phần khai thác, nhân lên “sức mạnh mềm” của quốc gia để tạo ra sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Nói đến văn hóa là nói đến con người, do vậy, trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, nhấn mạnh đến yếu tố văn hóa thực chất là chú trọng quan tâm chăm lo xây dựng con người có đủ bản lĩnh, niềm tin và sức mạnh tinh thần, năng lực, sức khỏe nhằm đáp ứng, thực hiện thắng lợi một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam./.

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

HỘI NHẬP QUỐC TẾ LÀ XU THẾ KHÁCH QUAN CỦA VIỆT NAM

Trong bối cảnh của tình hình quốc tế hiện nay, không một quốc gia dân tộc nào trên thế giới (kể cả các nước giầu hay nước nghèo; nước lớn hay nước nhỏ, nước phát triển hay chậm phát triển; dù đó là các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau...) muốn hay không, vẫn phải chấp nhận và tham gia vào tiến trình hội nhập của nền kinh tế khu vực và thế giới. Việt Nam là một nước đang phát triển, chủ trương thực hiện một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước bối cảnh quốc tế hiện nay, chúng ta tiến hành hội nhập với khu vực và quốc tế là một tất yếu khách quan. Bởi xuất phát từ mấy lý do sau:
Thứ nhất, đây là một xu thế chung của nhân loại - xu thế của quá trình toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá đang và sẽ là một xu thế lớn tác động sâu sắc tới các lĩnh vực của đời sống quốc tế, nó đi sâu vào từng quốc gia và buộc các chủ thể này phải có những thay đổi về chiến lược, sách lược phát triển đất nước cho phù hợp với bối cảnh toàn cầu hoá đang ngày càng lan rộng. xét về bản chất, toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới.
Bởi thực tế hiện nay sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin, sự hình thành mạng Internet bao trùm toàn cầu, đã làm cho sức sản xuất hàng hóa có hàm lượng trí tuệ phát triển nhanh, mối liên hệ giữa các dân tộc, các quốc gia và khu vực ngày càng được tăng cường. Toàn cầu hoá đang là một xu thế khách quan tác động mạnh mẽ tới các lĩnh vực của đời sống xã hội, tới mọi chủ thể trong quan hệ quốc tế không phân biệt các nước có chế độ chính trị khác nhau. Toàn cầu hoá làm cho mối liên hệ và sự phụ thuộc vào nhau của các nền kinh tế tăng lên, đồng thời kéo theo hàng loạt các vấn đề chính trị xã hội. Vì thế, trong xu thế chung này, Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế chung đó.
 Thứ hai, xuất phát từ đặc điểm, điều kiện của nước ta, đi lên CNXH từ một nền kinh tế nghèo nàn và lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, cơ sở vật chất, kỹ thuật nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Cùng với đó là những tâm lý, tư tưởng, thói quen, tập quán sản xuất nhỏ hàng ngàn năm đè nặng trong suy nghĩ và hành động, còn ăn sâu bám rễ trong mỗi người dân Việt Nam. Có thể nói, chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội gặp muôn vàn khó khăn cùng những trở ngại. Cho nên, chúng ta tham gia hội nhập vào đời sống quốc tế và khu vực là điều tất yếu, là một trong những con đường để đưa đất nước vượt lên, thoát khỏi sự nghèo nàn, lạc hậu, là sự rút ngắn giai đoạn quá độ và khoảng cách chênh lệch giữa nước ta với các nước trên thế giới.
Thứ ba, do yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Công nghiệp hoá- hiện đại hoá là con đường duy nhất đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển, là quá trình chúng ta xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Để đẩy mạnh sự nghiệp CNH,HĐH và hoàn thành mục tiêu “sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiẹp theo hướng hiện đại” mà Đảng ta đã xác định thì chúng ta cần thiết phải thực hiện quá trình hội nhập, mở cửa với khu vực và quốc tế. Quá trình hội nhập sẽ mang lại cho chúng ta vốn, trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ đặc biệt là các công nghệ hiện đại như: công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…và đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn.
Với những lý do trên, có thể khẳng định rằng, Việt Nam tham gia hội nhập vào khu vực, quốc tế là tất yếu khách quan, là xu thế hợp quy luật, hợp với sự vận động của đời sống quốc tế hiện nay. Sự hội nhập này vừa là một xu thế không thể cưỡng lại nhưng cũng là nhu cầu phát triển nội tại của Việt Nam, là chính sách và cũng là chiến lược phát triển đất nước của chúng ta trong thế kỷ XXI.

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA ĐÃ TẠO RA TIỀN ĐỀ THÚC ĐẨY PHONG TRÀO CỘNG SẢN QUỐC TẾ NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN

Trong lịch sử phong trào công nhân quốc tế, sau khi Ph.Ăngghen qua đời (8-1895), kể từ Đại hội lần thứ IV (họp tháng 8 năm 1896 ở Luân Đôn), cơ quan lãnh đạo của Quốc tế thứ hai dần dần rơi vào tay các phần tử cơ hội chủ nghĩa, đứng đầu là E.Bergstain. Họ phủ nhận chuyên chính vô sản, liên minh công nông và tư tưởng về chuyển cách mạng dân chủ tư sản lên cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN), tuyên truyền thuyết ''hòa bình giai cấp'' và thuyết ''chủ nghĩa tư bản hòa bình nhập vào chủ nghĩa xã hội''... Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, đối lập với những người Bônsêvích giữ lập trường chống chiến tranh đế quốc, các phần tử cơ hội trong Quốc tế thứ hai đã công khai đứng về phía giai cấp tư sản nước họ, ủng hộ cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa. Cũng vì thế khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Quốc tế thứ hai, dưới sự thao túng của các phần tử cơ hội, đã không còn đủ uy tín và khả năng lãnh đạo phong trào công nhân quốc tế và bắt đầu bị phân hóa, tan rã.
Ngay từ năm 1914, V.I.Lênin đã nhận thức rõ sự cần thiết phải thành lập một tổ chức quốc tế mới cho phong trào công nhân cách mạng. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, khi nhận thấy những điều kiện thành lập Quốc tế cộng sản đã chín muồi, V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích đã tích cực tiến hành tập hợp những lực lượng cách mạng chân chính, tiến tới thành lập một tổ chức Quốc tế mới của giai cấp vô sản. Tháng 01 năm 1918, Hội nghị Đại biểu phái tả trong các Đảng Xã hội - Dân chủ đã họp ở Petrograd. Hội nghị nêu rõ sự cần thiết phải triệu tập một Hội nghị quốc tế của các chiến sĩ cách mạng chân chính trên thế giới, đồng thời đưa ra những điều kiện để một đảng có thể tham gia như:  tán thành con đường đấu tranh chống chính phủ đế quốc nước mình; ủng hộ Cách mạng Tháng Mười và nước Nga Xôviết. Tháng 0l năm 1919, ở Moskva, Hội nghị của các đại biểu 8 đảng mácxít là Nga, Ba Lan, Hungaria, Đức, Áo, Látvia, Phần Lan và Liên hiệp cách mạng Bancăng đã họp dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin[1]. Đây được coi như Hội nghị trù bị cho đại hội thành lập.
Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản được khai mạc ở Moskva và họp từ ngày 02 đến ngày 06 tháng 03 năm 1919. Tham dự Đại hội có các đại biểu của 19 đảng và nhóm, có quan sát viên 15 nước. Mặc dù bị cản trở, nhưng đông đảo các đảng phương Tây đều cử đại biểu đến dự và lần đầu tiên có sự tham dự của đại biểu các đảng phương Đông như Trung Quốc, Triều Tiên[2]. Sự có mặt của các đại biểu các nước phương Đông đã chứng tỏ Quốc tế thứ ba không chỉ là tổ chức của giai cấp công nhân các nước tư bản chủ nghĩa, mà còn là tổ chức của quần chúng công nhân và nhân dân lao động các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Việc Quốc tế cộng sản (Quốc tế III) được thành lập đã đánh dấu sự ra đời của Phong trào Cộng sản quốc tế độc lập với Trào lưu Xã hội dân chủ (ra đời tháng 5 năm 1923 với việc 2 nhóm: Quốc tế II và Quốc tế Hai rưỡi (IWUSP) hợp nhất thành Quốc tế Lao động và Xã hội đã chấm dứt giai đoạn “khủng hoảng về đường lối” trong phong trào công nhân quốc tế.
Có thể nhận thấy rằng, với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, cùng sự ra đời Quốc tế Cộng sản, một thời đại mới của phong trào cộng sản thế giới bắt đầu. Những năm 1919-1921, các đảng cộng sản đã được thành lập ở nhiều nước, đứng trên lập trường đấu tranh giai cấp, còn về tư tưởng và tổ chức thì đoạn tuyệt hẳn với các đảng xã hội - dân chủ cơ hội trước đó. Trong những năm này, nhiều đảng cộng sản đã được thành lập ở Đức, Áo, Hung, Ba Lan, Phần Lan, Áchentina, Hy Lạp, Mỹ, Anh, Pháp, Bungari, Hà Lan, Mêhicô, Nam Tư, Braxin, Tây Ban Nha, Inđônêxia, Thổ Nhĩ Kỳ, Tiệp Khắc, Rumani, Trung Quốc, Bỉ, Thụy Điển, Italia và một số nước khác[3]. Việc thành lập các đảng cộng sản đã đem lại khả năng thực tế cho cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể đấu tranh giành thắng lợi ở những nước này. Các nhà hoạt động ưu tú của phong trào xã hội chủ nghĩa và công đoàn thời kỳ trước Cách mạng Tháng Mười đã trở thành những đảng viên của các đảng cộng sản. Cùng với họ, nhiều nhà cách mạng khác đã gia nhập đảng cộng sản, trong đó có các nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng như Rômanh Rôlăng, Máctin Anđécxen Nếchxe, Lỗ Tấn, Têôdo Đơraide, Anatôn Phơrăng… Họ đều đứng về phía Cách mạng Tháng Mười. Sự ra đời Quốc tế Cộng sản (1919) là dấu mốc đối với phong trào cộng sản quốc tế - hạt nhân lãnh đạo, tiên phong của phong trào công nhân cách mạng chính thức đi vào hoạt động. Cách mạng Tháng Mười đã trở thành cái nôi của phong trào cộng sản thế giới, một phong trào chính trị to lớn có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển theo hướng tiến bộ của thế giới tròn một thế kỷ nay./.

Thứ Tư, 4 tháng 10, 2017

CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI CÓ CẦN ĐẾN CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN NỮA HAY KHÔNG?

Hiện nay, trước sự vận động phức tạp của tình hình thế giới, khi mà lợi ích quốc gia dân tộc được đề cao hơn ý thức hệ đã xuất hiện tỏ ra sự hoài nghi về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; về vai trò của Đảng Cộng sản cũng như vấn đề chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân?
Bàn về vấn đề này, có thể tiếp cận, luận giải dưới một số nét chính như sau:
Thứ nhất, lợi ích quốc gia - dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay đã được mở rộng,chủ quyền quốc gia được xác định trong không gian ba chiều (vũ trụ, lãnh thổ - lãnh hải và tài nguyên dưới mặt đất) và bị chi phối thêm chiều thứ tư: thời gian - triển vọng.Theo đó, lợi ích của một nước lớn có khi xuất hiện và được quan tâm trên mức bình thường không chỉ khi ở sát kề mà cả khi nó ở cách biên giới của họ cả ngàn dặm, có khi nó còn là một triển vọng của vài thập niên sau, thậm chí cả thế kỷ sau.Đó là lợi ích quốc gia trong một thế giới toàn cầu hóa và trong chiến lược toàn cầu hóa lợi ích của những nước lớn đang có tham vọng trên “bàn cờ lớn”.Vấn đề đặt ra là khi vấn đề lợi ích quốc gia, dân tộc được đề cao thì chính trị thế giới có cần đến chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân nữa hay không? Có thể tiếp cận, luận giải dưới một số nét chính như sau:
Thứ hai, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân hiện nay có nhiều chủ thể cùng tham gia thực hiện.Có thể tạm phân thành 3 nhóm chủ thể như sau.
Nhóm chủ thể hàng đầu hiện naylà các Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với vị thế là đại diện cho lợi ích của quốc gia - dân tộc, đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân nước mình và trách nhiệm với sứ mệnh lịch sử của GCCN toàn thế giới, đường lối đối ngoại của những quốc gia này (quan điểm và thực tiễn) là sự thể hiện tập trung thái độ với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Vị thế ấy cùng những quan hệ đa chiều giữa giai cấp và dân tộc, lợi ích quốc gia và trách nhiệm quốc tế, khiến cho nhóm chủ thể này có thể được xem là có nghĩa vụ nặng nề và phức tạp nhất với chủ nghĩa quốc tế trong giai đoạn hiện nay.
Nhóm chủ thể thứ hai là giai cấp công nhân và các Đảng Cộng sản, đảng công nhân, đảng cánh tả đang trong quá trình đấu tranh để xác lập quyền lực chính trị.Đặc thù của sự liên hiệp quốc tế của các đảng này là diễn ra ngay trong lòng của chủ nghĩa tư bản hiện đại.Tình trạng khá phức tạp này khiến cho các đảng cộng sản và cánh tả ở phương Tây phải tìm đến những biện pháp mềm dẻo để liên kết lực lượng. Nhiều thành tựu mà họ đạt được trong hai thập kỷ gần đây về dân chủ, tiến bộ xã hội đã xác nhận vai trò, vị thế của họ với đời sống chính trị quốc tế và góp phần điều chỉnh những cực đoan của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Với cái nhìn tổng thể, triển vọng phát triển của chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong vài thập kỷ tới tùy thuộc ở mức độ sâu sắc vào những nỗ lực hoạt động của nhóm chủ thể này.
Nhóm thứ ba là các chủ thể khác, mà tiêu biểu là các tổ chức xã hội dân sự vì một quá trình phát triển nhân bản và bền vững khá mạnh ở nhiều nước phương Tây vài thập niên gần đây. Sự tương đồng về mục tiêu, những quan tâm chung và cả những vấn đề mà phát triển hiện đại đặt ra là tác nhân khiến cho những chủ thể này có những điểm gần gũi về quan điểm và phối hợp hành động. Phong trào xã hội dân sự vì phát triển nhân bản và bền vững trên con đường vận động của mình đang tiếp sức và cộng hưởng với chủ nghĩa quốc tế.      
Thứ ba, sự “xuất hiện những hình thức tập hợp lực lượng mới”
Sau “sự kiện Đông Âu và Liên Xô”, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân cũng mất gần một thập kỷ để tìm những hình thức liên kết và phối hợp hành động.Chủ nghĩa quốc tế được thể hiện qua mối quan hệ và hợp tác giữa các đảng vừa thông qua lý tưởng, ý thức hệ vừa biểu hiện thông qua quan hệ quốc gia dân tộc. Sự thay đổi trong chiến lược đối ngoại trong chính sách của các Đảng Cộng sản cầm quyền theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa, sẵn sàng làm bạn, là đối tác tin cậy và có tinh thần trách nhiệm quốc tế…đã có tác động rất tích cực cho một chặng phát triển mới của chủ nghĩa quốc tế.
Thứ tư, sự gắn bó lợi ích giai cấp công nhân với lợi ích dân tộc và lợi ích nhân loại là biểu hiện mới của chủ nghĩa quốc tế
Trình độ phát triển của thế giới đương đại đã đạt đến mức mọi vấn đề cụ thể đều có tầm vóc toàn cầu và mọi vấn đề toàn cầu đều chi phối những giải pháp cụ thể.Tất cả các Đảng Cộng sản và công nhân đều coi việc bảo vệ lợi ích chân chính của quốc gia dân tộc là một bộ phận của cương lĩnh hành động.
Chính trị hiện đại, mà cụ thể là các giai cấp cầm quyền ở các quốc gia hiện nay có một bộ phận lớn bị chi phối bởi tác động của toàn cầu hóa kiểu TBCN và chủ nghĩa quốc gia dân tộc hẹp hòi (thực ra là hai mặt của một vấn đề: quan hệ lợi ích giai cấp và dân tộc hiện đại). Cũng đã có không ít đảng phái khá say mê với “lợi ích quốc gia dân tộc” hay “chính phủ toàn cầu” mà quên mất họ là người đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động…  Sự gắn bó của các lợi ích giai cấp - dân tộc -  nhân loại hiện nay đối lập với chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nó vượt qua chủ nghĩa nhân đạo chung chung trừu tượng và chủ nghĩa biệt phái. Biểu hiện tích cực nhất của nó chính là quá trình liên hiệp lại để giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới.
Qua cách tiếp cận trên có thể khẳng định: lợi ích quốc gia - dân tộc đang nổi lên trong quan hệ quốc tế và có nhiều sắc thái mới song vẫn được giải quyết trên lập trường giai cấp thông qua quan điểm của mỗi nhà nước. Chính trị thế giới vẫn cần đến chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.