Hiển thị các bài đăng có nhãn quân đội nhân dân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quân đội nhân dân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023

THỰC HIỆN NGHĨA VỤ QUỐC TẾ LÀM NÊN NHÂN CÁCH TỐT ĐẸP CỦA BỘ ĐỘI CỤ HỒ VÀ TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Tham gia đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn là thực hiện mục đích nhân đạo. Trong lịch sử, Quân đội ta đã từng giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc, coi “giúp bạn là tự giúp mình”. Đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn của Quân đội ta là các quân nhân đã được đào tạo cơ bản, có sức khỏe, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ tốt. Trong số đó có nhiều quân nhân từng tham gia cứu hộ, cứu nạn tại hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Nam năm 2020 và có mặt tại các tâm điểm phòng, chống dịch Covid-19 năm 2021 ở các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh... Trong đoàn công tác cũng có một số quân nhân từng tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan.Thiên tai, thảm họa là điều không ai muốn và bất khả kháng. Mất mát về tiền của có thể bù đắp, có thể tạo ra bằng sự quyên góp của cộng đồng nhưng thương vong về con người là vô cùng to lớn, không thể bù đắp được. Việc Quân đội ta tham gia giúp bạn khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa là góp phần làm vơi đi nỗi đau thương, mất mát của một dân tộc, là nghĩa tình bạn bè trong lúc hoạn nạn có nhau, chia bùi sẻ ngọt cùng nhau.

Trong buổi chia tay, tiễn 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã biểu dương tinh thần chủ động, tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có liên quan.

Từng trải qua những năm tháng chiến tranh biết bao gian khổ, đau thương, mất mát, hơn ai hết, dân tộc, nhân dân Việt Nam và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn khát vọng được sống trong hòa bình. Cán bộ, chiến sĩ quân đội mong muốn an tâm công tác, xây dựng đơn vị; không ai muốn rời xa đồng đội, người thân đi đến nơi “đất khách quê người”, đối mặt với gian khổ, hiểm nguy. Thế nhưng, do yêu cầu, nhiệm vụ và thực hiện công việc nhân đạo, họ đã chấp nhận rời xa người thân, tổ ấm gia đình, xa đơn vị, xa đồng chí, đồng đội để lên đường thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả.

Hơn ai hết, quân nhân mang bộ quân phục màu xanh, đội mũ đeo sao vàng, trên vai, trên ngực áo mang quân hàm tươi màu cờ đỏ và trong trái tim là tình yêu Tổ quốc, hình bóng người thân, gia đình, đơn vị. Họ là Bộ đội Cụ Hồ đi làm nhiệm vụ quốc tế mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ủy thác. Gánh trên vai trách nhiệm thiêng liêng đối với Tổ quốc, niềm vinh dự, tự hào là Bộ đội Cụ Hồ, tấm lòng tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân, Đoàn cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhì Kỳ đại diện cho dân tộc Việt Nam, góp sức mình để lan tỏa tinh thần nhân ái, “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam để tương trợ, giúp bạn trong lúc khó khăn, hoạn nạn, hiểm nghèo.

Đây là việc làm đầy tính nhân văn, nhân đạo, tất cả vì con người, vì sự tiến bộ xã hội. Chính điều đó góp phần lan tỏa mạnh mẽ chính sách nhân đạo, đoàn kết, vì hòa bình của Đảng, Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Hàng triệu triệu con mắt trên hành tinh đang dõi theo việc làm, trách nhiệm của của họ đối với thể diện quốc gia, hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Với vai trò đại diện cho đất nước và cho Quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta đang gắng sức khắc phục khó khăn, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao phó. Hơn thế, họ còn có nhiệm vụ tạo ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế và chính quyền, nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mắt bạn bè quốc tế.

Quân đội ta là Quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có mục đích nào khác. Nếu không phải vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy thì cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đâu dám xả thân hy sinh vì cách mạng; cùng nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã làm nòng cốt và cùng toàn dân đánh thắng hai thế lực xâm lược cường bạo nhất nhì thế giới là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; đồng thời tình nguyện giúp đỡ nhân dân Lào, đặc biệt là giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, hồi sinh và phát triển đất nước. Phát huy tinh thần quốc tế cao cả đó, việc tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua hoạn nạn, thảm họa động đất là một hoạt động nhân văn trong các hoạt động “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của Quân đội ta trong thời bình.

Sự thật ấy là minh chứng đầy thuyết phục để bác bỏ mọi sự xuyên tạc, ác ý của những kẻ xấu./


Thứ Hai, 11 tháng 1, 2021

GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐÒI “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” LỰC LƯỢNG VŨ TRANG

Đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa” quân đội, công an là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó, quân đội và công an là những lực lượng nòng cốt. Trong đó, chúng ta cần chú trọng một số giải pháp sau đây:

Trước hết, tuyệt đối trung thành, kiên định và giữ vững nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo LLVT tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Tuân thủ những chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT cách mạng; tích cực đẩy mạnh công tác giáo dục lý luận chính trị trong LLVT nhằm tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong bộ đội, công an; tăng “sức đề kháng” của bộ đội, công an trước các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trên mặt trận chính trị tư tưởng.

Thứ hai, không ngừng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo LLVT cho phù hợp với tình hình mới, kiện toàn hệ thống và nâng cao chất lượng tổ chức đảng trong quân đội, công an; xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân thực sự trung thành, tin cậy về chính trị, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, tích cực đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, vạch trần các âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm vào Việt Nam, phản bác sự phi lý của luận điểm “phi chính trị hóa” quân đội, công an bằng các luận cứ, luận chứng, luận điểm khoa học và thuyết phục. Sử dụng các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn những luồng thông tin xấu độc tiếp cận công dân Việt Nam.

Thứ tư, lực lượng chức năng của quân đội, công an chủ động đấu tranh với các đối tượng tàn dư của chế độ cũ, những đối tượng suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước; ngăn chặn, bóc gỡ các đường dây liên kết của các đối tượng phản động trong nước với thế lực thù địch bên ngoài.

Thứ năm, cần có chính sách nâng cao đời sống của cán bộ, chiến sĩ trong LLVT phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, bảo đảm thu nhập xứng đáng với loại hình lao động đặc biệt để bộ đội, công an yên tâm công tác và chiến đấu.

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2020

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU CHIA RẼ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VỚI CÔNG AN NHÂN DÂN

Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là thành phần trọng yếu của lực lượng vũ trang nhân dân1, là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, giữ vững sự đoàn kết giữa Quân đội nhân dân với Công an nhân dân; đồng thời, nhận diện, cảnh giác, đấu tranh với những luận điệu chia rẽ giữa hai lực lượng này là vấn đề quan trọng, thường xuyên.

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2019

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ CHO QUÂN NHÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Giáo dục chính trị là một nội dung chủ yếu của công tác chính trị, tư tưởng của Đảng, là một hình thức cơ bản của công tác tư tưởng. Việc giáo dục chính trị trong quân đội, giúp cho cán bộ chiến sĩ nắm vững những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, trên cơ sở đó nâng cao sự hiểu biết, trình độ giác ngộ chính trị, xây dựng niềm tin, ý thức trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ được giao; thông qua giáo dục chính trị để bồi dưỡng thế giới quan, nhân sinh quan cộng sản, phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống có tổ chức có kỷ luật, năng lực hoạt động chính trị- xã hội, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao nhận thức khoa học trong hoạt động thực tiễn, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng trong đơn vị, trong quân đội; Do đó việc giáo dục chính trị phải giữ vững định hướng chính trị; mỗi nội dung giáo dục, mỗi bài giảng phải thể hiện sự quán triệt sâu sắc lời dạy của V.I.Lênin: “ Trong bất kỳ một trường học nào, điều quan trọng nhất là phương hướng chính trị và tư tưởng của mỗi bài giảng.” Nghĩa là phải thể hiện tính đảng, tính giai cấp trong từng nội dung bài giảng, phải kết hợp chặt chẽ giữa tính đảng, tính khoa học trong giảng dạy, giáo dục bộ đội, đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong giáo dục chính trị xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi mỗi nội dung giáo dục phải dựa chắc vào cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội.
Khi xem xét mọi vấn đề của cuộc sống đặt ra phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, làm cho cán bộ chiến sỹ luôn có nhận thức đúng đắn, có niềm tin vững chắc vào sự nghiệp cách mạng, phát triển tư duy khoa học và ý thức trách nhiệm trong mọi nhiệm vụ, nâng cao cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh với những nhận thức quan điểm tư tưởng phi vô sản, trái với chủ trương chính sách của Đảng và những biểu hiện tiêu cực lạc hậu làm tổn hại đến sự đoàn kết thống nhất giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội.
Để giữ vững định hướng chính trị và nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, ở đơn vị cơ sở cần áp dụng các phương pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng, đặc điểm nhiệm vụ ở từng đơn vị, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục chung với giáo dục riêng, kết hợp chặt chẽ với phong trào thi đua và các mặt hoạt động chính trị, quân sự, hậu cần, kỹ thuật ở đơn vị để làm tốt việc giáo dục chính trị.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG ẢNH HƯỞNG CỦA TỆ NẠN XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Các nhà xã hội học kinh điển mác xít cho rằng, tệ nạn xã hội là vấn đề của các xã hội có phân chia giai cấp và để ổn định và phát triển xã hội cần phải đấu tranh ngăn chặn nó.
Để phòng chống ảnh hưởng của tệ nạn xã hội trong các nhóm quân nhân trong tình hình hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau.
Một là, cần thống nhất quan điểm trong phòng chống tệ nạn xã hội trong đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Tệ nạn xã hội không chỉ làm ảnh hưởng đến sức chiến đấu của bộ đội, đến kỷ luật quân đội mà còn làm ảnh hưởng đến quan hệ quân dân, làm mất lòng tin của nhân dân vào quân đội, mất hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.
          Hai là, tăng cường, củng cố hệ chuẩn mực giá trị, giáo dục truyền thống quân đội, đơn vị, tạo cơ sở xã hội vững chắc cho những hành động đúng, bài trừ tệ nạn xã hội. Tăng cường và củng cố hệ chuẩn mực giá trị và khuôn mẫu hành vi tác phong có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh ngăn chặn tệ nạn xã hội trong các nhóm quân nhân. Để làm tốt được gải pháp này cần phải giáo dục cho quân nhân sâu sắc về những giá trị chuẩn mực trong lao động và chiến đấu của quân đội ta. Sự duy trì kỷ luật, không sa ngã trước những cám dỗ vật chất, không để mất đi hình ảnh của một quân đội anh hùng trong con mắt của nhân dân. 
          Ba là, cần củng cố và tăng cường các chuẩn mực giá trị về đạo đức, truyền thống như đoàn kết, tình yêu thương, sự đùm bọc, giúp đỡ nhau. Trên cơ sở sự thống nhất hệ thống chuẩn mực giá trị này mà tăng cường tính cố kết cộng đồng, tập thể quân nhân vững mạnh làm nòng cốt chống lại những cám dỗ, không sa đà rơi vào tệ nạn xã hội.
Tăng cường công tác thồn tin giáo dục - truyền thông làm chuyển đổi một bước quan trọng trong nhận thức, thái độ về hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội. Đây chính là chìa khóa để cho quân nhân hiểu rõ tình hình, thấy hết tác hại sâu xa và to lớn của tệ nạn xã hội, góp sức vào phòng chống cho chính mình, gia đình và cho cả xã hội.
Xây dựng môi trường văn hóa - xã hội trong đơn vị lành mạnh, đẩy mạnh giáo dục gương người tốt việc tốt trong đơn vị. Xây dựng tình cảm quân nhân ngày càng sâu đậm, có sự gắn bó thân thiết giữa quân nhân với quân nhân, giữa người chỉ huy với chiến sĩ.

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019

NHẬN DIỆN TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một trong những nguy cơ đe dọa tới sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; là cách thức để các thế lực thù địch thực hiện mục tiêu “phi chính trị hóa” Quân đội. Vì vậy, nhận diện và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là vấn đề xã hội, có căn nguyên từ những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, quản lý của Nhà nước đối với xã hội; sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế; từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt là chiến lược “Diễn biến hòa bình”; từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng, v.v. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được Đảng ta nhận diện với những biểu hiện cụ thể; đồng thời xác định: chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán, ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.
Trong Quân đội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tuy chưa có biểu hiện rõ nét, phạm vi không rộng, tính chất chưa nghiêm trọng, song nó đang hiện hữu và ảnh hưởng trực tiếp đến việc giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân luôn tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; coi đó là một nội dung trọng tâm trong tổng thể các nội dung, biện pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với xây dựng các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện.

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2019

GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ NÒNG CỐT CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN TRONG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

 Một làthường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, nâng cao chất lượng dự báo chiến lược, thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Đây là nội dung quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong bối cảnh nước ta đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Bởi vậy, Quân đội nhân dân phải thường xuyên quán triệt, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo chiến lược, làm cơ sở để tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối quân sự, quốc phòng đúng đắn, khoa học, có đối sách phù hợp, kịp thời xử lý kiên quyết, thắng lợi các tình huống về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ về chiến lược.
Hai làphát huy vai trò nòng cốt của Quân đội nhân dân trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó Quân đội nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Để hoàn thành trọng trách đó, Quân đội cần chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương tích cực xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, với nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp với thực tiễn và đặc điểm, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương. Cùng với xây dựng lực lượng và tiềm lực, cần tập trung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là ở các địa bàn chiến lược, khu vực biên giới, biển, đảo.
Ba làtập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân, đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân; trong đó, Quân đội nhân dân,… là nòng cốt”. Như vậy, Quân đội không chỉ là chủ thể, mà còn là đối tượng cần được xây dựng, bảo đảm nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, đủ sức làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Bốn làđẩy mạnh công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, tạo thế và lực để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa
Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, Quân đội nhân dân phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, trọng tâm là Nghị quyết 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Nghị quyết 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013 của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đưa công tác đối ngoại quốc phòng đi vào chiều sâu, bền vững. Tăng cường hợp tác với các nước cả trên bình diện song phương và đa phương; ưu tiên hợp tác với các nước láng giềng, củng cố, phát triển mối quan hệ với các nước lớn, coi trọng hợp tác với ASEAN và các nước bạn bè truyền thống, nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước, tăng cường quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Năm lànâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao
Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan, đơn vị toàn quân cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng Đảng. Trọng tâm là các kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ X cùng các quy chế, quy định của Đảng.
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước. Trước yêu cầu cao của sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nhiệm vụ này lại càng quan trọng, cấp thiết. Với niềm tự hào dân tộc, phát huy phẩm chất tốt đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, toàn quân sẽ tiếp tục nỗ lực phấn đấu, chung sức, đồng lòng, cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực sự làm nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

CHỨC NĂNG THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT ĐƯỢC KHẲNG ĐỊNH TRONG THỰC TIỄN XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI

Hơn 70 năm qua cho thấy, trong bất cứ điều kiện nào, dù khó khăn đến đâu, Quân đội ta cũng vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế bằng những hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Trong kháng chiến chống Pháp, với vô vàn khó khăn chồng chất, trước hết là ăn, mặc, tiếp đến là trang bị vũ khí…, nếu không có các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất, chế tạo vũ khí, khí tài, đạn dược…, liệu Quân đội có thể hoàn thành được nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó! Trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, hậu phương lớn miền Bắc vừa tiến hành công cuộc cải tạo, phục hồi kinh tế từ một nước sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu trong điều kiện chiến tranh, vừa chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, nếu các đơn vị quân đội không tham gia lao động sản xuất, không có các căn cứ hậu cần tại chỗ trên chiến trường miền Nam, nhất là ở các địa bàn chiến lược như: khu 5, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ,... đặc biệt là Bộ đội Trường Sơn, Quân chủng Hải quân để xẻ núi, bạt đèo, xây dựng hàng chục ngàn cây số đường bộ, đường sông, đường ống, đường biển, mở các tuyến vận tải chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam và nước bạn Lào, Cam-pu-chia, liệu có thể có Chiến thắng của ngày 30 tháng 4 lịch sử!
Sau ngày 30 tháng 4, đất nước hoàn toàn thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước ra sức hô hào, cổ súy, viện trợ tiền của, vũ khí cho bọn ngụy quân, ngụy quyền, bọn Fulro tăng cường hoạt động chống phá, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng. Một lần nữa, Quân đội lại tiên phong trên các mặt trận, vừa phải làm tròn chức năng là đội quân chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng, vừa là đội quân xung kích vào những nơi khó khăn, nguy hiểm nhất, cùng cả nước xây dựng kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Đồng thời, kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; giữa xây dựng thế trận quốc phòng với phát triển kinh tế, góp phần cùng cả nước từng bước vượt qua khó khăn, thách thức để bước vào hội nhập và giao lưu quốc tế với uy tín và vị thế mới.
Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế; trọng tâm là Nghị quyết 71/ĐUQSTW, ngày 25-4-2002 “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội trong thời kỳ mới - Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội”; Nghị quyết 520-NQ/QUTW, ngày 25-9-2012 về “Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”; Thông tư 69/2017/TT-BQP ngày 03-4-2017 của Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh kinh tế của Quân đội. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, có bước phát triển toàn diện, đạt kết quả quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh.
Quán triệt quan điểm đó, các đơn vị quân đội đã phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng thực sự là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế, xã hội ở từng địa phương, vùng, miền gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước; tham gia có hiệu quả xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng căn cứ cách mạng, đẩy lùi các hủ tục; xây dựng làng, bản văn hóa; cùng đồng bào các dân tộc xây dựng vành đai biên giới, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Những việc làm đó góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, dân tộc, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Như vậy, lao động sản xuất là một nhiệm vụ chính trị xuyên suốt của Quân đội ta, một giá trị cốt lõi làm nên nhân cách, phẩm giá “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì thế, những luận điệu xuyên tạc của tổ chức, cá nhân thời gian qua dù vô tình hay cố ý là không thể chấp nhận và đáng bị lên án.

QUÂN ĐỘI THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT LÀ MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG ĐÃ ĐƯỢC HIẾN ĐỊNH

Điều 68 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013) ghi rõ: “... kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh...”. Điều đó cho thấy, việc kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là của toàn dân, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là ở nơi dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế của Quân đội cũng chính hướng tới mục tiêu đó.
Tuy nhiên, để hiểu tường tận vai trò, chức năng tham gia xây dựng kinh tế của Quân đội, cần có một cách nhìn khách quan, khoa học về vấn đề này. Trước hết, thuật ngữ “quân đội làm kinh tế” phải được hiểu dưới góc độ tham gia lao động sản xuất, xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội; không được hiểu với nghĩa kinh tế đơn thuần, dù doanh nghiệp đó sản xuất trong bất cứ lĩnh vực nào. Nhận thức sai lầm, ngộ nhận dù vô tình hay cố ý đối với thuật ngữ này chính là một sự đánh tráo khái niệm, nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Quân đội, gây sự hiểu nhầm trong xã hội, chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Quân đội; giữa Quân đội và nhân dân.
Hơn nữa, mục tiêu tham gia lao động sản xuất, xây dựng phát triển kinh tế của Quân đội là: gia tăng sức mạnh của Quân đội và sức mạnh tổng hợp của quốc gia; góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trong đó có kinh tế quốc phòng; tận dụng tiềm lực, tiềm năng của đất nước về mọi mặt; từng bước nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khó khăn lại được tiến hành ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, nếu không có các đơn vị quân đội, các doanh nghiệp ngoài Quân đội khó có thể tiếp cận được. Ở khía cạnh này ta thấy, ngay từ đầu, vấn đề giữa lợi nhuận và sự toàn vẹn của lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân tộc đã được các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất trả lời một cách dứt khoát. Với thế mạnh của mình và về nguồn nhân lực, vật tư, trang thiết bị, Quân đội tham gia sẽ phải gánh vác những nhiệm vụ chính trị xã hội mà các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước cũng khó có thể đảm đương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, những nơi đời sống của nhân dân còn hết sức thiếu thốn, lạc hậu. Rõ ràng, tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội là một mệnh lệnh, một nhiệm vụ chính trị của Quân đội. Không chỉ tham gia lao động sản xuất đơn thuần, mà các đơn vị quân đội còn có thế mạnh là sử dụng nguồn lực có chất lượng của mình để tổ chức các lớp học văn hóa, giúp nhân dân nâng cao dân trí, xây dựng kết cấu hạ tầng, như: điện, đường, trường, trạm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở...
Có thể nói, những đóng góp của cán bộ, chiến sĩ các đoàn kinh tế - quốc phòng trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, kết hợp giữa phát triển kinh tế, xã hội với thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; giữa quân sự, quốc phòng với phát triển kinh tế, xã hội thời gian qua là rất lớn và không thể phủ nhận.

Thứ Hai, 15 tháng 10, 2018

PHẢI CÓ PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC KHOA HỌC

“Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cần nữa”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các ủy ban nhân dân”, bút danh Chiến Thắng, đăng trên Báo Cứu quốc, số 58, ngày 04 tháng 10 năm 1945.
Vào thời điểm đất nước mới giành được độc lập, chính quyền cách mạng mới được thiết lập, phải đối diện với một khối lượng lớn công việc cần được giải quyết, đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp phải dốc hết tâm huyết, nhiệt tình, trách nhiệm, song cần phải có sự tổ chức khoa học, hiệu quả. Do vậy, Bác đã viết bài để căn dặn đội ngũ cán bộ các cấp chỉ làm việc chăm chỉ là chưa đủ, mà phải làm việc khoa học, mới mang lại hiệu quả cao trong tổ chức, sắp xếp công việc của chính quyền mới.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” và “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Thấu suốt quan điểm của Người, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của dân tộc, chế độ; là khâu then chốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nên đã dày công tổ chức, đào tạo, rèn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, chất lượng ngày càng cao, là nhân tố quan trọng đóng góp vào những thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam.
Đội ngũ cán bộ quân đội được giao trọng trách lãnh đạo, chỉ huy, quản lý từ cấp cơ sở đến toàn quân; là lực lượng nòng cốt trong thực hiện đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhân tố có vai trò quyết định trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của Quân đội ta. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã có nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội làm nòng cốt để toàn quân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Chất lượng toàn diện cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, tác phong, phong cách lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên, có phương pháp, tác phong công tác khoa học, luôn nêu cao tính đảng, tính chiến đấu, nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết. Luôn chủ động, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có ý thức kỷ luật cao, tận tâm, tận lực với công việc, gương mẫu cả trong lời nói và việc làm, có khả năng xử lý những vấn đề phức tạp do thực tiễn đặt ra, có uy tín cao trước bộ đội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Thứ Hai, 17 tháng 9, 2018

“PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI” - LUẬN ĐIỂM PHẢN KHOA HỌC, PHẢN ĐỘNG

Các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá Việt Nam; chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chuyển hóa về chính trị đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong chiến lược “phá hoại nhiều mặt” hay “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch bao giờ cũng tập trung chống phá quân đội. Sự chống phá của các thế lực thù địch đối với quân đội trên nhiều mặt, với nhiều nội dung, trong đó chống phá về chính trị được đặt lên trước và là một nội dung trọng tâm, trọng điểm.
1. Trong nhiều năm nay, các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền, cổ súy cho việc chuyển giao quân đội về nhà nước, để nhà nước quản lý quân đội. Thực chất của quan điểm này của chúng là tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.
2. Các thế lực thù địch đã và đang rêu rao cái gọi là “quân đội của quốc gia”, “quân đội mang tính dân tộc”. Chúng thực hiện việc rao giảng vấn đề này bằng lối triết tự theo cách ngụy biện rằng, tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam đã xác lập danh tính quân đội là của quốc gia Việt Nam, do đó quân đội mang tính dân tộc. Thực chất của quan điểm này là phủ định nguyên lý và làm “lu mờ” bản chất giai cấp của quân đội, xóa bỏ bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta.
 3. “Quân đội nhà nghề” - đó là sự “mong muốn” của các thế lực thù địch đối với quá trình xây dựng, phát triển của Quân đội ta. Ẩn ý đằng sau cổ súy cho quân đội nhà nghề là sự mong muốn của các thế lực thù địch về một quân đội “đứng ngoài chính trị”, “quân đội trung lập”.
Quân đội ra đời gắn với sự ra đời của nhà nước, vì thế không thể có việc quân đội “đứng ngoài chính trị”, “quân đội trung lập”. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản”.
Ý đồ thâm độc của quan điểm “quân đội nhà nghề” là muốn tước bỏ hệ tư tưởng Mác - Lênin, Hồ Chí Minh, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Quân đội ta. Quan điểm “quân đội nhà nghề”, về thực chất là sự phủ định bản chất giai cấp của quân đội, xóa mờ bản chất giai cấp công nhân, làm lu mờ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì chủ nghĩa xã hội của Quân đội ta. Cần nhận thức rõ rằng, việc cổ súy cho xây dựng “quân đội nhà nghề” là nhằm tạo ra “vỏ bọc” cho việc chuyển hướng xây dựng quân đội mang bản chất giai cấp công nhân sang quân đội mang bản chất giai cấp tư sản. Các thế lực thù địch mượn cớ xây dựng “quân đội nhà nghề” để làm chuyển hóa tính chất chính trị - xã hội của Quân đội ta.
4. Xâu chuỗi quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch cho thấy tính chất phi lý, ngụy biện nhưng vô cùng hiểm độc của chúng. Trong các luận điệu của mình, các thế lực thù địch không trực tiếp bàn về vấn đề lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, về bản chất giai cấp công nhân của quân đội, về việc quân đội đứng ngoài chính trị, quân đội trung lập mà mượn cớ “bàn về đổi mới xây dựng quân đội”, “nghiên cứu học tập mô hình xây dựng quân đội hiện đại” để tạo dựng dư luận xã hội, dư luận quân nhân về những vấn đề cốt lõi trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Chúng mong muốn rằng, dư luận xã hôi, dư luận quân nhân về các vấn đề đó ngày một dâng cao, tạo áp lực xã hội để thay đổi cách thức lãnh đạo, phương thức xây dựng quân đội. Chúng cũng mong muốn rằng, với nội dung, cách thức tuyền truyền “mập mờ trắng đen”, như là những “làn gió thổi qua” sẽ hằng ngày hằng giờ lay động nhận thức, thái độ, niềm tin, tạo ra sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội, trong quân đội.
Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng. Trong cuộc đấu tranh phòng chống “phi chính trị hóa quân đội” cần có những tổ chức, các phương thức theo dõi, nắm bắt được, nắm bắt trúng các quan điểm, thủ đoạn, luận điệu chống phá của các thế lực thù địch ở từng thời điểm. Quá trình xây dựng quân đội về chính trị đòi hỏi phải thường xuyên cảnh giác, chủ động và có phương thức khoa học - thực tiễn đập tan mọi quan điểm chống phá mặt chính trị - xã hội đối với Quân đội ta của các thế lực thù địch./.

GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG ẢNH HƯỞNG CỦA TỆ NẠN XÃ HỘI ĐỐI VỚI QUÂN NHÂN TRONG TÌNH HIỆN NAY


           Tệ nạn xã hội xuất hiện và tồn tại trong các nhóm xã hội, rất có thể nó đã và đang len lỏi xuất hiện trong một số nhóm quân nhân ở một số đơn vị trong toàn quân hiện nay. Điều này ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến xây dựng quân đội. Có thể thấy các tệ nạn xã hội mà một số quân nhân mắc phải chủ yếu rơi vào các tệ nạn xã hội như chơi lô đề, bài bạc, cho vay lãi cao, vay nặng lãi, lừa đảo, trộm cắp, tự tử, có tình trạng tham ô tài sản công (tài chính đơn vị); một số quân nhân có lối sống sa đọa, mại dâm, hủ hóa gây ảnh hưởng đến kỷ luật của quân đội…. Để kiểm soát và bài trừ tệ nạn xã hội trong các nhóm quân nhân hiện nay cần thực hiện một số giải pháp sau:
          Một là, cần thống nhất quan điểm trong phòng chống tệ nạn xã hội trong đội ngũ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Tệ nạn xã hội không chỉ làm ảnh hưởng đến sức chiến đấu của bộ đội, đến kỷ luật quân đội mà còn làm ảnh hưởng đến quan hệ quân dân, làm mất lòng tin của nhân dân vào quân đội, mất hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.
          Coi việc phòng chống tệ nạn xã hội là một nhiệm vụ xã hội quan trọng trong tiến hành công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị. Công việc này không chỉ giao quyền cho người bí thư Đảng, hay người chủ trì về chính trị mà còn là trách nhiệm của người chỉ huy trong việc giáo dục quân nhân.
          Xã hội hóa công tác phòng chống tệ nạn xã hội trong đơn vị, khuyến khích các quân nhân phát hiện và báo cáo kịp thời những hành vi vi phạm tệ nạn xã hội với tổ chức, với người đứng đầu đơn vị.
          Thống nhất ý chí, hành động trong phòng chống tệ nạn xã hội giữa tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy và các tổ chức quần chúng trong đơn vị. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng trong tố giác hành vi vi phạm tệ nạn xã hội của các quân nhân, dù người đó là ai, trên cương vị nào.
          Phòng chống ảnh hưởng của tệ nạn xã hội đối với các nhóm quân nhân phải có quan điểm từ xa, không để đến khi vào gần rồi, mắc vào rồi mới phòng chống, cần phát huy vai trò của các quân nhân, các tổ chức quần chúng trong phát hiện, tố giác những tệ nạn xã hội đang hình thành trong các nhóm quân nhân.
          Hai là, tăng cường, củng cố hệ chuẩn mực giá trị, giáo dục truyền thống quân đội, đơn vị, tạo cơ sở xã hội vững chắc cho những hành động đúng, bài trừ tệ nạn xã hội. Tăng cường và củng cố hệ chuẩn mực giá trị và khuôn mẫu hành vi tác phong có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh ngăn chặn tệ nạn xã hội trong các nhóm quân nhân. Để làm tốt được gải pháp này cần phải giáo dục cho quân nhân sâu sắc về những giá trị chuẩn mực trong lao động và chiến đấu của quân đội ta. Sự duy trì kỷ luật, không sa ngã trước những cám dỗ vật chất, không để mất đi hình ảnh của một quân đội anh hùng trong con mắt của nhân dân. 
          Ba là, cần củng cố và tăng cường các chuẩn mực giá trị về đạo đức, truyền thống như đoàn kết, tình yêu thương, sự đùm bọc, giúp đỡ nhau. Trên cơ sở sự thống nhất hệ thống chuẩn mực giá trị này mà tăng cường tính cố kết cộng đồng, tập thể quân nhân vững mạnh làm nòng cốt chống lại những cám dỗ, không sa đà rơi vào tệ nạn xã hội.
          Trong tổ chức lãnh đạo, chỉ huy phải làm sao sử dụng được hệ thống những chuẩn mực đạo đức truyền thống như một công cụ sắc bén để uốn nắn những hành vi sai lệch xã hội ở mỗi quân nhân, mỗi nhóm quân nhân; tạo dư luận, hướng dư luận lên án hành vi sai lệch xã hội nào đó là  một việc làm rất cần thiết. Đồng thời tăng cường tuyên truyền ý thức giáo dục pháp luật trong toàn đơn vị gắn với việc duy trì kỷ luật là sức mạnh của quân đội. Xử phạt nghiêm và công khai trước toàn đơn vị những trường hợp vi phạm tệ nạn xã hội làm gương nhãn tiền cho các quân nhân tự rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân.
          Tăng cường công tác thồn tin giáo dục - truyền thông làm chuyển đổi một bước quan trọng trong nhận thức, thái độ về hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội. Đây chính là chìa khóa để cho quân nhân hiểu rõ tình hình, thấy hết tác hại sâu xa và to lớn của tệ nạn xã hội, góp sức vào phòng chống cho chính mình, gia đình và cho cả xã hội.
          Xây dựng môi trường văn hóa - xã hội trong đơn vị lành mạnh, đẩy mạnh giáo dục gương người tốt việc tốt trong đơn vị. Xây dựng tình cảm quân nhân ngày càng sâu đậm, có sự gắn bó thân thiết giữa quân nhân với quân nhân, giữa người chỉ huy với chiến sĩ.     

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2018

ĐOÀN KẾT LÀ SỨC MẠNH VÔ ĐỊCH CỦA CHÚNG TA

“Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta. Bản Cương lĩnh chính trị của Mặt trận là ngọn cờ đại đoàn kết toàn thể nhân dân miền Nam để cùng nhau chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi cuối cùng. Nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ hơn nữa!”1.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư gửi đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng đồng bào, chiến sĩ miền Nam ngày 06 tháng 9 năm 1967,  nhân dịp Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố bản Cương lĩnh chính trị. Bức thư được đăng trên Báo Nhân dân, số 4903, ra ngày 13 tháng 9 năm 1967.
Đây là thời điểm quân và dân cả nước đang tích cực đẩy mạnh kháng chiến, từng bước đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ xâm lược. Ở miền Nam, cuộc kháng chiến có bước phát triển mạnh mẽ, giành được nhiều thắng lợi quan trọng, uy tín và vai trò của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng được nâng cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và đánh giá cao vai trò của đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng, đó chính là sức mạnh vô địch để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Lời của Bác là sự động viên, khích lệ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta ở miền Nam, đồng thời là động lực tinh thần to lớn, có tác dụng phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ thù.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, để Đảng, Nhà nước quán triệt và cụ thể hoá trong lãnh đạo tốt việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là cội nguồn sức mạnh để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế. Những thành tựu bước đầu của hơn 30 năm đổi mới có ý nghĩa quan trọng đặt nền móng và tạo đà cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tiếp tục củng cố và tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo nhằm phát huy những thành tựu trong giai đoạn mới, đưa đất nước ngày càng phát triển, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, đoàn kết thống nhất là nét đặc sắc trong bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp, trở thành một trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, không ngừng được củng cố và phát huy. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, quân đội là công cụ sắc bén để chiến đấu bảo vệ Đảng, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn quán triệt và xây dựng khối đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng. Trên cơ sở đoàn kết thống nhất trong nội bộ, không ngừng tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; tăng cường củng cố mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân; đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ THỦ ĐOẠN CHÍNH MÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH SỬ DỤNG ĐỂ TÁC ĐỘNG VỀ PHƯƠNG DIỆN HỆ TƯ TƯỞNG ĐẾN QUÂN ĐỘI

Thứ nhất: Sử dụng truyền thông đại chúng (bao gồm đài phát thanh, báo chí và truyền hình).
Những nội dung chủ yếu mà chúng tiến hành là xuyên tạc, bôi nhọ và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận mục tiêu lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã lựa chọn, xuyên tạc sự nghiệp đổi mới đất nước, truyền bá nhân sinh quan và quan niệm giá trị tư sản, bôi nhọ nhân cách lãnh tụ, kích động gây chia rẽ trong các tầng lớp nhân dân cũng như giữa quân đội với nhân dân, giữa quân đội với công an và các cơ quan Nhà nước.
Thứ hai: Thông qua hợp tác khoa học, giáo dục và đào tạo.
Các thế lực thù địch lợi dụng hợp tác khoa học, giáo dục và đào tạo để thực hiện mưu đồ của chúng trong chiến lược “diễn biến hoà bình”. Theo chúng, đây là lĩnh vực giúp “đào tạo nên những nhà lãnh đạo tương lai”, tạo nên những “hạt giống” và đến một ngày nào đó sẽ nảy mầm “diễn biến hoà bình”.
Thứ ba: Bằng văn học, nghệ thuật.
Những hoạt động chính của chúng là: xuất bản và tán phát vào nước ta với khối lượng lớn các tác phẩm văn học nghệ thuật có nội dung phản động như tiểu thuyết, chuyện ngắn, ký (ví dụ: “Mặt thật”, “Hoa xuyên tuyết” của Bùi Tín; Tạp chí văn nghệ “Làng Văn” xuất bản ở Canađa v.v..). Bằng các phương tiện thông tin đại chúng, các thế lực thù địch đọc, đăng tải và hết lời ca ngợi những tác phẩm văn học có nội dung xấu của các văn nghệ sĩ cực đoan quá khích ở trong nước như: “Những thiên đường mù” của Dương Thu Hương, tác phẩm xuyên tạc và khoét sâu sai lầm trong cải cách ruộng đất, bôi đen hình ảnh Anh bộ đội Cụ Hồ và người đảng viên cộng sản, xuyên tạc bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội; “Thân phận tình yêu” (còn gọi là nỗi buồn chiến tranh) của Bảo Ninh, xuyên tạc, bôi nhọ bản chất tốt đẹp của quân đội ta và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và hàng chục tác phẩm khác như văn của Nguyễn Huy Thiệp, thơ của Nguyễn Chí Thiện, Phạm Thị Hoài.
Thứ tư: Phổ biến quan điểm phản động, sai trái bằng photocoppy, tán phát tài liệu theo kiểu chuyển tay.
Lợi dụng công nghệ photocoppy đang phát triển rầm rộ trong những năm gần đây ở nước ta, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, xét lại, những người bất mãn, chống đối đã viết, photocoppy và tán phát một khối lượng lớn nhân dân và quân đội ta. Họ photocoppy chuyển tay những tài liệu, những sách báo tạp chí phản động của người Việt lưu vong, thậm chí photocoppy tài liệu mật của ta cho người nước ngoài ở Việt Nam. Theo các cơ quan chức năng, đến nay đã có hơn 200 loại tài liệu do các phần tử cơ hội viết và thông qua phương thức photo coppy tán phát rộng rãi trong nước và chuyển ra nước ngoài.
Thứ năm: Qua bưu điện.
Bưu điện là con đường công khai, hợp pháp có luật quốc tế bảo đảm, thời gian nhanh, đến tận tay người cần gửi, tương đối an toàn. Vì vậy các thế lực thù địch ngày càng triệt để lợi dụng phương thức này để chuyển các tài liệu sách, báo, tạp chí, băng hình có nội dung phản động vào trong nước. Chúng gửi cho các phần tử cơ hội chính trị, những văn nghệ sĩ cực đoan quá khích, những người bất mãn, những người có quan điểm sai trái, gửi cả cho những người có vị trí, cương vị quan trọng trong xã hội, những cán bộ tham mưu xây dựng chiến lược cho Đảng và Nhà nước. Trong quân đội chúng gửi cho một số cán bộ chủ trì cấp Quân đoàn, Quân khu, một số cán bộ cao cấp có vị trí trong Bộ Quốc phòng.
Thứ sáu: Lợi dụng các thế lực tôn giáo và vấn đề dân tộc.
Tôn giáo và chính trị vốn có quan hệ khăng khít. Chính vì vậy, các thế lực đế quốc phản động lợi dụng tôn giáo làm công cụ “diễn biến hoà bình”, nhất là trên lĩnh vực chính trị tư tưởng: Khoác lên hoạt động chính trị và mục đích chính trị dưới cái vỏ “ý chúa” và việc làm tín ngưỡng để ngủ lừa bịp quần chúng; kích động quần chúng bất mãn, manh động về chính trị, gây rối chia rẽ mất đoàn kết trong cộng đồng, tạo nên những “vụ việc”, qua đó bôi nhọ chế độ xã hội chủ nghĩa của Đảng cộng sản, lôi kéo, phát triển lực lượng, chờ thời cơ gây bạo loạn lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ bảy: Thông qua viện trợ kinh tế, quan hệ mậu dịch, hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết.
Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế, việc mở cửa, tăng cường quan hệ mậu dịch, hợp tác đầu tư, liên doanh liên kết là một yêu  cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đã lợi dụng tình hình đó gây sức ép về chính trị như thúc ép nước nhận viện trợ tư nhân hoá triệt để, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tự do báo chí, phi chính trị hoá quân đội..v.v.. thực hiện mưu đồ “không đánh mà thắng” của chúng.
Trên đây là một số thủ đoạn chính mà các thế lực thù địch sử dụng để tác động về phương diện hệ tư tưởng đến quân đội. Chúng ta cần nhận thức rõ và đầy đủ các thủ đoạn này để từ đó có các biện pháp đấu tranh cho phù hợp và hiệu quả hơn trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2018

CHỦ NGHĨA ANH HÙNG CÁCH MẠNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ Quốc Việt Nam diễn ra từ ngày 17-2-1979 đến năm 1991 mới chấm dứt. Trong 12 năm ròng rã ấy đã diễn ra hàng nghìn trận đánh lớn nhỏ mà đỉnh điểm là mùa xuân năm 1979 và mùa hè năm 1984. Vào mùa xuân năm 1979, với binh lực thua kém đối phương nhiều lần nhưng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đánh lui 600.000 quân Trung Quốc khỏi lãnh thổ Việt Nam, tiêu diệt và bắt sống 62.000 sĩ quan và binh lính Trung Quốc, phá hủy hàng nghìn xe tăng và xe bọc thép. Vào mùa hè năm 1984, tại mặt trận Vị Xuyên, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 11 tiểu đoàn, tiêu diệt 7.500 sĩ quan và binh lính Trung Quốc, ngoài ra còn có 5.500 sĩ quan và binh lính Trung Quốc bị thương. Tổn thất ấy lớn đến mức tướng Lưu Á Châu, Giám đốc Học viện quân sự cao cấp Trung Quốc đã phải thốt lên: “Lính chết la liệt nhưng không có ai chịu trách nhiệm cả!”. Trong khi đó thì tổn thất của Quân đội Nhân dân Việt Nam là hơn 2.000 người hy sinh và bị thương.
Thế nhưng những kẻ lật sử một lần nữa lại chia tách các trận đánh ở Vị Xuyên mà đặc biệt là ở các cao điểm 1509 Núi Đất (Trung Quốc gọi là Lão Sơn), 772, 233 1030 và 1200 (Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn) ra khỏi toàn bộ quá trình xung đột vũ trang trên biên giới Việt Trung từ năm 1979 đến năm 1991 để phủ nhận chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong hàng loạt các bài báo lớn nhỏ hầu như không đề cập đến việc Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thành công trong việc giữ vững tuyến biên giới phía Bắc của Tổ Quốc mà nhằm vào hai việc:
- Một là, tô đậm tổn thất của ta để khơi dậy tâm lý thất bại, đồng thời lấy cớ đó vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam bắt tay với cái mà họ gọi là “giặc Tàu”.
- Hai là, từ những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật để kích động tâm lý bài Trung, thoát Hán; đương nhiên đến bước sau là “cắm biển chỉ đường” cho Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ và cuối cùng là xóa bỏ chế độ chính trị hiện hành ở Việt Nam.
Đó là những ý đồ cực kỳ xấu xa, mang màu sắc của động cơ lưu manh chính trị, là lợi dụng sự hy sinh xương máu của các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam cho những chiêu trò cơ hội chính trị bẩn thỉu.

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VỀ TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ 
TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam vừa là trách nhiệm, vừa là vinh dự của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; không phải là trách nhiệm của một cá nhân hay tổ chức riêng lẻ nào. Thực tế, khi thực dân Pháp gây hấn Nam bộ năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi: Tổ quốc lâm nguy, chúng ta phải đứng cả dậy, tất cả quốc dân Việt Nam phải đứng cả dậy bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trải qua thời gian dài cho đến trước khi Đại hội Đảng lần thứ VI diễn ra, nhận thức về vấn đề bảo vệ Tổ quốc của chúng ta chủ yếu là bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ với phương thức chủ yếu là bạo lực - vũ trang quân sự. Do đó, nhận thức về lực lượng bảo vệ Tổ quốc lúc này chưa đầy đủ, chủ yếu và trực tiếp là lực lượng vũ trang - Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trên cơ sở tổng kết và rút kinh nghiệm từ thực tiễn bảo vệ tổ quốc ở các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô, Đảng ta đã có sự nhận thức toàn diện hơn, đúng đắn hơn về mục tiêu, nội dung bảo vệ Tổ quốc bao gồm cả hai yếu tố tự nhiên và xã hội. Vì vậy, nhận thức về lực lượng bảo vệ Tổ quốc cũng đã có sự thay đổi về chất. Nghị quyết Đại hội Đảng tiếp tục khẳng định: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Với ý nghĩa đó, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, thực hiện theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đó là nhận thức mới về cơ chế bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới ở nước ta hiện nay.
Sức mạnh của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới chính là sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc bao gồm cả nội lực và ngoại lực, trong đó nội lực là chủ yếu. Phát huy sức mạnh nội lực của dân tộc, đó là sức mạnh của chế độ chính trị, sự trong sạch của đội ngũ cán bộ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt thành phần giai cấp, dân tộc, xuất thân; không phân biệt sự khác nhau giữa công dân trong nước hay đang định cư tại nước ngoài; không phân biệt đồng bào lương hay đồng bào giáo… cùng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Chú trọng hơn nữa trong việc phát huy vai trò to lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong sự nghiệp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nên sự nhất trí về chính trị và tinh thần, sự thống nhất nhận thức về quan điểm, chủ trương của Đảng ta trong nhân dân về vấn đề bảo vệ Tổ quốc, tham gia xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân trước những thách thức của thời cuộc, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Mặt khác, với vị thế và uy tín trên trường quốc tế ngày càng tăng, với sự mở rộng hợp tác quốc tế đa phương hóa, đa dạng hóa như hiện nay, chúng ta có thể và có điều kiện thuận lợi để khai thác thế đan xen lợi ích giữa nước ta với các nước khác; khai thác thế mạnh trên các lĩnh vực trong mối quan hệ song phương và đa phương để góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.