Hiển thị các bài đăng có nhãn năng lực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn năng lực. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

NGHĨ VỀ MÙA XUÂN VÀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Lịch sử ghi nhận, trước khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta bị áp bức dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tuy dấy lên mạnh mẽ và theo nhiều khuynh hướng tư tưởng, con đường khác nhau nhưng đều không thành công, do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn, thiếu một học thuyết khoa học tiên tiến soi đường.

Mùa xuân, chúng ta cùng ôn lại sự kiện lịch sử: Ngày 3/2/1930, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã tiến hành hội nghị hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là kết quả phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa Mác-Lênin, là kết quả quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ đó, Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, gian nan, thử thách để ghi dấu những mốc son chói lọi của đất nước, dân tộc. Cách mạng Tháng Tám thành công cùng sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mở ra kỷ nguyên mới – độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Mang sứ mệnh cao cả, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, thu non sông về một mối và tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Những luận điệu chống phá “cũ mèm”

Tuy vậy, trên một số diễn đàn, mạng xã hội, trên trang điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí, truyền thông thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam tiếp tục tung ra các bài viết, luận điệu sai trái, xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam không quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Họ cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đại diện cho lợi ích của một nhóm thiểu số tinh hoa, chứ không đại diện cho lợi ích của quốc gia, lợi ích dân tộc”; “việc Đảng thừa nhận sự tha hóa, biến chất, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chứng tỏ Đảng không đủ tư cách để đại diện cho toàn dân để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”…

Có ý kiến còn bình luận “việc Đảng kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là siêu hình, trái quy luật và xu thế phát triển của thế giới”. Lại có ý kiến đưa ra lý lẽ lập lờ rằng, nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là mông lung, khó khả thi, vì bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chứ không phải là bảo vệ một đảng phái, một chế độ chính trị nào. Có ý kiến quy kết “chế độ độc đảng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khiến Việt Nam hiện vẫn là một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu”!

Thủ đoạn mà các thế lực này thường sử dụng là xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ra sức tuyên truyền cho luận điệu “chủ nghĩa Mác – Lênin đã lỗi thời”; “chủ nghĩa Mác – Lênin là lý thuyết suông về CNXH không tưởng, không có thực”…

Họ đồng nhất sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu, Liên Xô với bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đó cho rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp với thế kỷ XXI, không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và cần loại bỏ khỏi đời sống tư tưởng chính trị xã hội. Họ cũng tầm thường hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, mục đích sâu xa là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với vai trò là nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Không dừng lại ở việc xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng, các thế lực thù địch, phản động còn ra sức lợi dụng những tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội, nhất là tình trạng tham nhũng để gây nhiễu dư luận, xuyên tạc bản chất của chế độ; coi những tiêu cực đó có nguyên nhân là do sự lãnh đạo của Đảng. Nguy hiểm hơn, các đối tượng đưa ra luận điệu “tham nhũng là hệ quả tất yếu của chế độ độc đảng”; “việc phòng chống tham nhũng thực chất là đấu đá trong nội bộ Đảng”. Từ đó, các thế lực này lớn tiếng hô hào đòi thay đổi chế độ, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”!

Những ý kiến nêu trên, nếu không cố tình ngụy tạo thông tin, đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất thì cũng là cái nhìn phiến diện theo kiểu “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn cây mà không thấy rừng, lồng ghép những lời đơm đặt, xuyên tạc nhằm chống phá, hạ bệ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”, với tư cách là “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”, trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời không ngừng củng cố và nâng cao sức mạnh, vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.

Lịch sử 93 năm qua đã chứng minh, từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn phấn đấu rèn luyện để xứng đáng là đội tiên phong, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, của dân tộc Việt Nam. Khái niệm đảng cầm quyền với đảng lãnh đạo chính quyền của Ðảng Cộng sản Việt Nam là sự thống nhất biện chứng.

Bởi lẽ, sự tồn tại và phát triển của Ðảng là tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại, hoạt động của Nhà nước và Nhà nước là một phương thức hoạt động của Ðảng, là đối tượng lãnh đạo của Ðảng. Khi Ðảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng duy nhất cầm quyền thì “mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước ta đạt được sau 37 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng được thể hiện toàn diện trên các lĩnh vực. Kinh tế ra khỏi khủng hoảng và tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN được đẩy mạnh. Từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội (KT-XH) lạc hậu, trình độ thấp, đến nay Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tăng cường; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh và độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.

Việt Nam đứng trong top 40 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới, top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất. Tính đến năm 2022, quy mô nền kinh tế ước đạt gần 400 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 4.000USD; quy mô thương mại khoảng 750 tỷ USD, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Việt Nam là nơi hội tụ của hàng vạn nhà đầu tư đến từ 140 quốc gia, vùng lãnh thổ, với gần 35.000 dự án FDI đang hoạt động có tổng vốn đầu tư gần 430 tỷ USD. Không chỉ vậy, Việt Nam thuộc nhóm nước đạt mức cao chỉ số phát triển con người (HDI).

Năm 2020, tỷ lệ nghèo đa chiều theo chuẩn quốc tế giảm còn 4,8% (so với 9,9% năm 2016). Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ MDG-2015 và đang nỗ lực thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững SDG-2030 của Liên hợp quốc. Nhiều quốc gia trên thế giới coi Việt Nam là một hình mẫu đáng tham khảo, học hỏi kinh nghiệm về việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội. Với những nỗ lực không mệt mỏi năm 2022, chúng ta đạt và vượt 13 chỉ tiêu, 1 chỉ tiêu xấp xỉ đạt trong 15 chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với giai cấp, dân tộc và xã hội được xây dựng trên nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Điều lệ Đảng “cố tình” quy định hay xếp đặt. Đây là một yếu tố quan trọng, bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013.

Với những thành quả nêu trên, đầy đủ cơ sở khẳng định rằng, dù thời cuộc có nhiều biến động, thế giới có nhiều đổi thay nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và tiếp tục là lực lượng chính trị duy nhất có đủ vị thế, trí tuệ, năng lực, uy tín để lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện toàn diện công cuộc đổi mới, bảo vệ độc lập chủ quyền và xây dựng, phát triển đất nước theo con đường XHCN. Mọi sự xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc đều không có giá trị và bị thực tiễn bác bỏ.

Theo: Bình Nguyên – Bảo Ninh

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

TRỊ BỆNH THIẾU TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Gần đây, một số cán bộ, đảng viên có chức quyền trong các cơ quan, đơn vị, địa phương vi phạm kỷ luật, pháp luật, không làm tròn vai trò, trách nhiệm “công bộc” có dấu hiệu ngày càng tăng. Điều này cho thấy tính tiền phong, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước nhân dân ở mức đáng lo ngại.

Điển hình là những đại án, những vụ việc tiêu cực bị đưa ra ánh sáng mà cán bộ, đảng viên có chức quyền là nhân vật chính. Khi đương nhiệm, họ “nói có người nghe, đe có người sợ”. Họ phát biểu định hướng, động viên nhân dân bằng những mỹ từ, rao giảng đạo đức…, nhưng việc làm của họ thì trái ngược. Họ đã không hoàn thành trách nhiệm “công bộc”, là tác nhân sâu xa có thể gây ra “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa” như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã chỉ ra.

Xin dẫn ra vài sự việc gần đây. Vào ngày 5-8 vừa qua, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Thanh Hóa đã đình chỉ sinh hoạt Đảng đối với ông Lưu Vũ Lâm, nguyên Phó Bí thư Huyện ủy, nguyên Chủ tịch UBND huyện Yên Định; ông Hoàng Văn Phúc, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, Phó Chủ tịch UBND huyện Yên Định; ông Hà Duyên Lục, đảng viên Chi bộ Ban Tổ chức Huyện ủy, Đảng bộ cơ quan Dân Đảng huyện Yên Định. Những cá nhân trên bị đình chỉ sinh hoạt Đảng do bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”... Cũng trong ngày 5-8, Thanh tra tỉnh Gia Lai chuyển hồ sơ sai phạm trong đầu tư các dự án mua sắm phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin sang cơ quan Công an để tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi sai sót, gây thất thoát ngân sách nhà nước nhiều tỷ đồng.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến các sự việc nêu trên, trong đó thiếu trách nhiệm là một nguyên nhân chính không thể chối bỏ. Họ đã thiếu trách nhiệm trong đôn đốc thực hiện, trong kiểm tra, giám sát.

Thực trạng trên khiến nhân dân bức xúc, các cán bộ, đảng viên chân chính đau xót, bởi những giá trị cao đẹp bao thế hệ đi trước dày công vun đắp bị vấy bẩn. Họ xót vì trong thời bình, dù được Đảng giáo dục, bồi dưỡng bài bản, được chăm lo cả vật chất và tinh thần, nhưng vì lợi ích cá nhân mà nhiều cán bộ, đảng viên đã bị “đạn bọc đường” hạ gục, sa vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, khiến cho nguồn lực của đất nước suy kiệt. Họ xót vì những hành vi đó không còn cá biệt, ở phạm vi hẹp mà đã lan ra nhiều cơ quan, đơn vị, từ trung ương tới địa phương, khiến tính ổn định, bền vững và phát triển của tổ chức Đảng các cấp có nguy cơ bị phá vỡ...

Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên vốn không phải là vấn đề mới, nhưng trong hoàn cảnh hiện nay thì nó là vấn đề mang tính thời sự rất cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng giải thích: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy là không có tinh thần trách nhiệm”. Những giải thích này đã nói lên tất cả.

Đảng muốn mạnh thì phải có nhiều cán bộ, đảng viên tâm huyết, trách nhiệm, tin tưởng, nêu cao bản lĩnh chính trị, tinh thần cống hiến và được tổ chức khéo léo. Muốn cán bộ, đảng viên có trách nhiệm cao với công việc, thực sự vì sự phát triển đất nước phồn thịnh, thực sự vì hạnh phúc của nhân dân, vấn đề quan trọng nhất là Đảng phải đi trước một bước, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo để tạo ra được môi trường làm việc chuyên nghiệp, đậm chất phục vụ, cống hiến và văn hóa.

Thực tế cho thấy, ở bất cứ xã hội nào, con người đều có xu hướng tìm đến nơi làm việc an nhàn, có thu nhập cao, ổn định. Nếu bỏ quên tiêu chí, ào ạt dung nạp những phần tử cơ hội, mang nặng chủ nghĩa cá nhân vào tổ chức thì sớm muộn môi trường ấy cũng bị vẩn đục, xáo trộn và khủng hoảng. Hiện nay, trong Đảng ta, tình trạng cán bộ, đảng viên có tư tưởng “làm quan phát tài” đã đến lúc cần báo động. Nhiều người vào cơ quan công quyền, đến với Đảng không vì tận tâm cống hiến mà thay vào đó là tìm mọi cách để có chức, có quyền và chờ cơ hội, thời cơ để được giàu có, danh vọng.

Mặt khác, việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ ở các cơ quan, đơn vị, địa phương còn nhiều khiếm khuyết, trong đó có nhiều biểu hiện mang nặng chủ nghĩa cá nhân, thiên về lợi ích vật chất, chưa chuyên tâm phục vụ nhân dân, đã khiến môi trường công tác bị vẩn đục, khiến tiêu cực nảy mầm, phát triển.

Để phát huy trách nhiệm cán bộ, đảng viên, vấn đề quan trọng là phải đánh giá đúng năng lực cán bộ để tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm và sử dụng họ vào đúng chuyên môn, sở trường mà trong đó phục vụ và cống hiến phải được đặt là trung tâm. Cần tăng cường luân chuyển cán bộ để hạn chế, phá vỡ sự câu kết lợi dụng chức vụ làm việc xấu. Thường xuyên kiểm tra, kịp thời phát hiện và ngăn chặn hiện tượng cán bộ, đảng viên câu kết với người ở cơ quan, đơn vị, địa phương khác và thậm chí với doanh nghiệp bên ngoài để trục lợi.

Đảng ta đúc rút kinh nghiệm rằng, muốn biết cán bộ thế nào thì phải hỏi dân. Cần phải cải cách đánh giá cán bộ thông qua giám sát, nhận xét của nhân dân trên nguyên tắc trung thực, công bằng. Có như vậy mới thúc đẩy được trách nhiệm, tâm huyết của cán bộ, đảng viên đúng đắn, ý nghĩa.

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

ĐA DẠNG HÌNH THỨC TRONG VIỆC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ ĐẤT NƯỚC, NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC HÀNH DÂN CHỦ CỦA NHÂN DÂN

Ngày nay, ở nhiều nước phát triển đã và đang tích cực đa dạng hóa hoạt động của chính phủ, từ đó hình thành Chính phủ điện tử, hoạt động, quản lý đất nước qua hệ thống mạng. Muốn vậy, mọi văn bản quản lý (trừ một số trường hợp thật đặc biệt liên quan tới bí mật quốc gia chưa có khả năng bảo mật tốt bằng kỹ thuật) đều được công khai hoá lên cổng thông tin. Sự độc quyền thông tin sẽ được giảm tới mức tối thiểu. Đây là kênh quan trọng để đổi mới hình thức, đa dạng các nội dung đấu tranh hiệu quả, bảo vệ dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhân quyền ở Việt Nam. Đổi mới, bổ sung nội dung đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc của Đảng và Nhà nước; mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn trong phương pháp, công khai, minh bạch, dân chủ, góp phần tạo dư luận xã hội lành mạnh, đồng thuận. Trong đó, sử dụng các kênh truyền thông chính thống và các mạng xã hội để tiếp cận đến đông đảo quần chúng nhân dân vừa tuyên truyền, vừa bóc trần những xuyên tạc vô căn cứ của các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề chính trị, xã hội để chống phá nước ta. Mọi người dân không chỉ nắm được những quyết định quản lý, mà còn giám sát được các cơ quan quản lý trong việc thực hiện những quy định đó. Hơn nữa, người dân có thể bày tỏ ý kiến qua mạng về sự đồng tình hay không đồng tình với những quyết định quản lý nhất định,  từ đó, cơ quan quản lý nắm được sự phản ứng xã hội đối với những quyết định quản lý của mình. Thông qua các phương tiện truyền thông để nhận diện, đấu trang với các thông tin sai lệch, phản động chống phá cách mạng nước ta. Đây là hình thức thực hiện dân chủ có hiệu quả trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hiện nay.

Cùng với trình độ dân trí, trình độ văn hoá chính trị, văn hoá dân chủ - cũng có ảnh hưởng rất lớn tới dân chủ trong xã hội. Dân chủ, suy cho cùng là thái độ đối với con người, là thái độ đối với nhu cầu và lợi ích của con người; là sự tôn trọng tính đa dạng của những nhu cầu, lợi ích đó; là năng lực khơi gợi và phát huy những tiềm năng lành mạnh của con người vì sự phát triển của xã hội và cá nhân; là việc giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa sự, phát triển cá nhân với sự phát triển xã hội nhằm mục tiêu giải phóng con người. Nâng cao trình độ văn hoá chung, văn hoá chính trị, văn hoá dân chủ có tác động lớn tới việc hiện thực hoá yêu cầu đó. Để không còn “mảnh đất” cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá, chúng ta cần đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, thực hiện công bằng xã hội, không ngừng nâng cao trình độ dân trí, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh bảo đảm ổn định chính trị, trật tự xã hội; nhanh chóng giải quyết triệt để các khiếu kiện, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân; chủ động định hướng dư luận, đưa thông tin đúng đến nhân dân, không để xảy ra những tình huống bị động gây mất ổn định ở cơ sở. Trong đó, chú trọng, phối hợp giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” ngay từ cơ sở, không để kéo dài, lây lan gây bức xúc dư luận.

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

XÂY DỰNG CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong hơn 92 năm qua, Đảng đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệlý luận tiên phong, đưa đất nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khácTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, với nhiều khó khăn, thách thức mới, phải phát huy hơn nữa truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng, chăm lo xây dựng Đảng thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng; thống nhất cao về ý chí, hành động; trong sạch về đạo đức, lối sống; chặt chẽ về tổ chức; gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ sức lãnh đạo đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, lập nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Thực hiện tốt quan điểm chỉ đạo của Đại hội lần thứ XIII của Đảng, “tiếp tục tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện” để lãnh đạo đất nước thực hiện mục tiêu phát triển “Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”.

TẬP TRUNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÁC CẤP ĐỦ PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC, UY TÍN NGANG TẦM VỚI NHIỆM VỤ

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đổi mới trong công tác nhận xét, đánh giá cán bộ bằng “sản phẩm”, coi kết quả đánh giá cán bộ là tiêu chí quan trọng nhất để thực hiện quy hoạch, điều động, bổ nhiệm cán bộ. Đề bạt, sử dụng người có đức, có tài, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm; kiên quyết không bổ nhiệm và kịp thời điều chuyển, thay thế những cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, lối sống, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là người đứng đầu.

Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi cán bộ phù hợp thực tiễn phát triển của đất nước. Thực hiện hiệu quả chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, sử dụng chuyên gia giỏi ở các lĩnh vực, chú ý quan tâm bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Tiếp tục thực hiện mô hình một số chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã không phải là người địa phương.

Tiếp tục đổi mới, kiện toàn và từng bước hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Nghiên cứu sửa đổi quy định về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính theo hướng chính phủ, chính quyền điện tử gắn với hoạt động của Trung tâm phục vụ hành chính công của các bộ ngành, địa phương một cách có hệ thống và đồng bộ, kết nối với hệ thống dữ liệu quốc gia. Giảm tối đa thời gian, chi phí thực hiện các thủ tục hành chính. Tăng cường phân cấp, làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị để phục vụ nhân dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ TỔ CHỨC VÀ CÁN BỘ CÓ VAI TRÒ QUYẾT ĐỊNH

Để bảo đảm hoạt động lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nhiệm vụ xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ có vai trò quyết định. Đảng không ngừng kiện toàn hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở, phát triển đội ngũ đảng viên, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp ngang tầm nhiệm vụ. Đại hội VI (năm 1986), toàn Đảng có gần 1,9 triệu đảng viên; đến Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta có hơn 5,1 triệu đảng viên. Từ yêu cầu của thực tiễn đổi mới, Hội nghị Trung ương 4 khóa X (tháng 1-2007) đã quyết định sắp xếp lại bộ máy tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị. Các cơ quan tham mưu giúp Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo gồm 8 ban và không nhất thiết ở Trung ương có ban nào thì địa phương cũng như vậy; Chính phủ gồm 22 bộ, cơ quan ngang bộ và ổn định cho đến nay. Các tổ chức lớn trong bộ máy được thu gọn, nhưng có thực tế là các đơn vị (cục, vụ, viện, phòng, ban) trong đó lại nhiều lên, dẫn đến bộ máy phình to ra; biên chế vẫn tăng. Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” chủ trương: Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân... Chủ trương đó được thực hiện có nhiều thành công ở cả Trung ương và địa phương. Kinh nghiệm cho thấy, nếu có quyết tâm chính trị, giải pháp thích hợp, vì sự nghiệp chung thì dù khó khăn đến mấy Đảng vẫn có thể thực hiện thành công mục tiêu đề ra.

Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII đã thông qua Chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (ngày 18-6-1997), với việc tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của hệ thống chính trị; cán bộ khoa học, chuyên gia các lĩnh vực; cán bộ lực lượng vũ trang và cán bộ quản lý các doanh nghiệp. Thực tiễn đổi mới và hội nhập quốc tế càng đặt ra yêu cầu cần nhận thức sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng, cán bộ là cái gốc của mọi công việc, đào tạo, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. Hội nghị Trung ương 7 khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Đó là bước tiến rất quan trọng trong nhận thức và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ.

Công tác cán bộ có những đổi mới rõ rệt, từ đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, lựa chọn đến chính sách đối với cán bộ. Để chống sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, cần thiết phải tăng cường giáo dục, siết chặt kỷ luật, pháp luật; tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực; kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả. Nhưng điều rất căn bản ở đây là, cần hết sức coi trọng việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, “xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”. Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Đại hội XIII của Đảng đã ghi nhận thành công của công tác cán bộ. Lựa chọn cán bộ lãnh đạo các cấp được thực hiện bài bản, dân chủ, công khai, minh bạch với quy trình 5 bước theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30-5-2019, của Bộ Chính trị, “Về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, đã lựa chọn được các đồng chí xứng đáng; kiên quyết không để lọt vào cấp ủy, Trung ương những người có dấu hiệu, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm”, bè phái, chạy chức, chạy quyền; bên cạnh đó, kết hợp “xây” và “chống” trong công tác cán bộ được tổng kết sâu sắc. Toàn Đảng cần thực hiện tốt chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đào tạo và bảo vệ cán bộ: “Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta”.

Công cuộc đổi mới ngày càng phát triển, Đảng và nhân dân mong muốn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ đức, đủ tài ngày càng đông đảo đưa đất nước đi tới chủ nghĩa xã hội, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, phồn vinh, hạnh phúc. Theo đó, với đội ngũ cán bộ, đảng viên, “đức” là học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản; “tài” là làm chủ tri thức, học vấn hiện đại, nhất là trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh, muốn xây dựng thành công xã hội cộng sản thì phải có trí tuệ, học thức cao. Chủ nghĩa cộng sản thì “chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, và nếu họ không có nền học vấn đó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi”.

Đổi mới phương thức lãnh đạo là yêu cầu khách quan để nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng. Phải dựa trên việc thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, như nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ, trên cơ sở phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, chống quan liêu, mệnh lệnh, thiếu trách nhiệm, vô cảm, xa dân; nguyên tắc đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên cơ sở Cương lĩnh, đường lối, hệ tư tưởng và tình thương yêu đồng chí, dựa trên kỷ luật của Đảng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình, trong đó phê bình và tự phê bình phải thật chân thành, trung thực, nghiêm túc, xây dựng, có lý, có tình; nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, bàn bạc, lắng nghe ý kiến của nhân dân, hiểu dân, tin dân và vì dân.

Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng Cương lĩnh, đường lối và lãnh đạo Nhà nước cụ thể hóa, thể chế hóa đường lối thành chính sách, pháp luật; lãnh đạo bằng hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng; bằng trực tiếp vận động, tổ chức nhân dân thực hiện đường lối và thông qua các đoàn thể trong hệ thống chính trị; lãnh đạo bằng uy tín chính trị, bằng sự cảm hóa và nêu gương. Đó là nội dung và cũng là những kinh nghiệm quan trọng trong sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.

Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ, giải pháp quan trọng: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”; “Kết hợp hài hòa, chặt chẽ và có hiệu quả giữa xây dựng với chỉnh đốn Đảng, giữa xây dựng Đảng với bảo vệ Đảng”; tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, gắn với học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả đi đôi với việc củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng; đổi mới tổ chức, bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị  - xã hội... Thực hiện tốt nhất các nhiệm vụ, giải pháp trên đây sẽ bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc đến những thắng lợi vẻ vang./.

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ THÍCH ỨNG, THÍCH NGHI CỦA NGƯỜI DÂN VỚI ĐẠI DỊCH COVID – 19

Thực tiễn cho thấy, ngoài sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền, ngành y tế trong việc truy vết, cách ly, xét nghiệm, điều trị, thì sự đồng lòng ủng hộ của người dân thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch COVID -19 trong cộng đồng là điều kiện quan trọng hàng đầu để kịp thời khống chế dịch bệnh. Trong "trạng thái bình thường mới", một số hoạt động đang dần trở lại bình thường, nhưng đại dịch COVID -19 vẫn tiếp tục đòi hỏi các giải pháp kiểm soát chặt chẽ. Trong một vài thời điểm, có thể cần có những hoạt động giãn cách xã hội, thậm chí phong toả từng bộ phận để chống dịch COVID -19.

Mỗi người dân cần tự ý thức, hết sức cân nhắc để tự hạn chế và kiểm soát nhu cầu  nhu cầu đi lại, nhu cầu giao tiếp, tụ tập nơi đông người… của bản thân. Đồng thời, tăng thời gian làm việc tại nhà, nhận hàng hóa tại nhà; cân bằng nhu cầu sống và làm việc trong một không gian hạn chế. Khi thực hiện "trạng thái bình thường mới", người dân cần phải tuân thủ nguyên tắc 5K; sử dụng mã khai báo QR tại các chốt kiểm soát và cài đặt các ứng dụng về COVID-19. Khi có thông báo tiêm vaccine trên địa bàn, người dân cần đăng ký và chủ động tiêm chủng. Nếu người dân có các triệu chứng về bệnh COVID-19, phải liên hệ với y tế tại địa phương ngay lập tức, không được tự ý di chuyển đến bệnh viện. Nâng lực cao tự chăm sóc khi không may bị nhiễm bệnh. Khi đã được tiêm vaccine, người dân nếu nhiễm bệnh phải khai báo y tế; tự cách ly, chăm sóc, điều trị tại nhà theo hướng dẫn của ngành Y tế. 

Mỗi người dân cần tự tạo thói quen với "trạng thái bình thường mới". Ví dụ, việc hạn chế người vào thăm động viên bệnh nhân trong bệnh viện là rất cần thiết trên nhiều khía cạnh về đảm bảo trên các khía cạnh y tế, vệ sinh dịch tễ, văn hóa và quan hệ xã hội. Tại những nơi tập trung đông người tiếp xúc gần, có nguy cơ cao lây nhiễm COVID-19, thay vì thường xuyên diễn ra trong không gian khép kín và đông đúc như trước đây, các hoạt động này cần hướng đến xu hướng được tổ chức trong không gian mở, ngoài trời nhằm thích ứng "trạng thái bình thường mới". 

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG

Thực tế, "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài" và "vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, cho nên, cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn phấn đấu để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; suốt đời tận trung với nước, tận tâm phụng sự nhân dân, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Những điều căn cốt này đã được mỗi quần chúng nhận thức rõ. Vì thế, khi đã xác định phấn đấu trở thành đảng viên, tất yếu mỗi người đều không chỉ cần phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc thuộc về tổ chức, sinh hoạt và Điều lệ Đảng mà còn phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, thử thách để trưởng thành.

Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức, cũng ở trong xã hội và Đảng trong sạch, vững mạnh được quyết định bởi số lượng, chất lượng đảng viên và việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Số lượng đảng viên là cần thiết, song số lượng đó chỉ trở thành sức mạnh khi đạt được những yêu cầu về chất lượng. Vì thế, công tác phát triển Đảng toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, nhất là trong thanh niên, phụ nữ, bộ đội xuất ngũ; trong các vùng xung yếu và các cơ sở còn ít đảng viên để khắc phục tình trạng "vùng trắng", nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết. Hơn nữa, việc phát triển Đảng trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, học viện, nhà trường; ở các vùng nông thôn; trong các khu vực doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… càng cần phải được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chất lượng. Nếu không quán triệt và thực hiện đúng vấn đề có tính nguyên tắc đó; nếu chỉ chú trọng số lượng mà coi nhẹ chất lượng, thì các tổ chức Đảng dù "đảm bảo chỉ tiêu kết nạp", song cũng chỉ là "một câu lạc bộ", không thể mạnh mà trái lại còn trở nên lỏng lẻo, rệu rã.

Trên thực tế, việc kết nạp người vào Đảng luôn được các cấp ủy xem xét toàn diện, từ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác đến trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng; từ quá trình rèn luyện, tu dưỡng thông qua thử thách thực tiễn đến việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc, thủ tục kết nạp Đảng và theo dõi, đánh giá quá trình phấn đấu trong thời gian là đảng viên dự bị. Mỗi người khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều hiểu rõ rằng vào Đảng/trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là để mưu cầu lợi ích cho mình, làm giàu cho bản thân và người thân mà là để cống hiến và phụng sự. Tuy nhiên, thời gian qua, bên cạnh đại đa số giới trẻ, những quần chúng ngoài Đảng đã và đang nỗ lực trau dồi tri thức, nỗ lực làm việc để gây dựng sự nghiệp cho mình; thường xuyên tu dưỡng, phấn đấu để vinh dự được trở thành người đảng viên cộng sản, thì đâu đó cũng vẫn có một bộ phận giới trẻ (công nhân ở các khu công nghiệp, thanh niên ở các vùng nông thôn…) sống thiếu lý tưởng, hoài bão, chỉ biết an phận mình. Đồng thời, cũng vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xa rời lý tưởng cách mạng, vi phạm kỷ luật Đảng…, song đó chỉ là hiện tượng. Cho nên, không thể vì một vài nhận xét về thực trạng công tác phát triển Đảng ở một số địa bàn cụ thể mà vội quy kết rằng "nếu không bị bắt buộc" thì người dân "không muốn vào Đảng"; và hiện nay công nhân lao động, thanh niên "ngại vào Đảng", "không tha thiết vào Đảng" như các phần tử phản động đã suy diễn, xuyên tạc.

Chỉ riêng những con số cụ thể này: "Theo dự thảo báo cáo, trong giai đoạn 2010-2020 và 9 tháng đầu năm 2021, tổng số đoàn viên ưu tú do tổ chức đoàn giới thiệu cho đảng là 2.868.498. Theo phân bổ chỉ tiêu của nhiệm kỳ 2012-2017 số lượng đoàn viên ưu tú giới thiệu cho đảng xem xét kết nạp so với chỉ tiêu đề ra đạt 99,16%; nhiệm kỳ 2017-2022, tính đến thời điểm hiện tại đạt tỉ lệ 87,39%. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp đảng, theo số liệu thống kê của 67/67 tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc, toàn Đoàn có gần 1,6 triệu đảng viên là đoàn viên đang sinh hoạt tại các chi đoàn, chiếm 25,39% tổng số đoàn viên cả nước và chiếm 30,76% tổng số đảng viên cả nước" cũng đủ là minh chứng sinh động cho thấy công tác phát triển Đảng trong đoàn viên, thanh niên những nhiệm kỳ gần đây. Đó cũng là một trong những bằng chứng bác bỏ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch khi cho rằng: cả 3 nhiệm kỳ Đại hội XI, XII, XIII của Đảng cũng không "chữa được hiện tượng chán đảng" dù có sự vào cuộc của ngành Tuyên giáo, của Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.

Thực tế, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu phấn đấu; đồng thời cũng là niềm tự hào của mỗi quần chúng ngoài Đảng nói chung, của tuổi trẻ nước nhà nói riêng. Vì thế, việc vin vào cớ cho rằng thủ tục vào Đảng "rườm rà", nhất là phải khai lý lịch và được xác minh từ địa phương là thành phần ưu tú trong xã hội về mọi mặt như đạo đức, lối sống, gương mẫu, trong sạch; phải đi học lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng và "vào Đảng không đem lại lợi ích cụ thể gì', "vào Đảng không có gì khác biệt"… đã "cản trở nhiều người không muốn vào Đảng" chỉ là sự suy diễn cá nhân của những kẻ cơ hội đầy dã tâm chống phá Đảng. Hơn nữa, trên cơ sở thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23/11/1996 của Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân" và Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư về "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” của Bộ Chính trị (khóa VIII) trong tình hình mới” cùng Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 18/3/2019 của Ban Bí thư về "Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân”…, công tác phát triển Đảng, thành lập tổ chức Đảng cũng như tạo nguồn phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp và có vốn đầu tư từ nước ngoài thời gian qua cũng có những chuyển biến nhất định và đạt được những kết quả khả quan.

Thông qua việc thay đổi nhận thức của chủ doanh nghiệp với vấn đề phát triển Đảng và thành lập tổ chức Đảng; việc khắc phục những khó khăn về thời gian tham dự lớp cảm tình Đảng của công nhân các khu công nghiệp; nhất là việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về công tác phát triển Đảng trong khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ở các vùng nông thôn… công tác phát triển đảng viên ở những địa bàn này đã có những thay đổi tích cực. Vì thế, câu chuyện "giới trẻ nhạt Đảng", "giới trẻ ngại vào Đảng" là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam mà một luận điệu thù địch nêu ra không phản ánh đúng thực tế công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó chỉ là một vài hiện tượng đơn lẻ, chỉ là thiểu số, không phải là bản chất, cho nên sự quy chụp đó là vội vàng, là thiển cận và ác ý; là bôi đen sự thật để xuyên tạc công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, công tác phát triển Đảng nói riêng.

Đương nhiên, để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiên phong, trong thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ chú trọng công tác phát triển Đảng mà còn luôn tự chỉnh đốn và đổi mới. Một mặt, các cấp ủy Đảng chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo nguồn trong quần chúng tích cực, đảm bảo về số lượng, cơ cấu hợp lý; bồi dưỡng, theo dõi, giúp đỡ để họ có đủ điều kiện trở thành đảng viên cộng sản; xem xét toàn diện về mọi mặt (trình độ giác ngộ, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, uy tín trước quần chúng…) và thử thách trong thực tiễn; bồi dưỡng, kết nạp và giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức. Mặt khác, Đảng thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, để kịp thời phát hiện, xử lý, đưa ra khỏi Đảng những kẻ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong từng tổ chức cơ sở Đảng/những kẻ đã xa rời lý tưởng cách mạng, thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng của người đảng viên, không còn là "tấm gương" cho quần chúng noi theo.

Một trong những nội dung quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII cần được cả hệ thống chính trị và cấp ủy Đảng các cấp quán triệt sâu sắc là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng”. Theo đó, để công tác phát triển Đảng thật sự đảm bảo chất lượng, toàn Đảng không chỉ cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên này theo đúng tinh thần Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 21/1/2019 của Ban Bí thư về "Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng" mà còn phải chú trọng, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, đảng viên nói chung, quần chúng ngoài Đảng nói riêng về mục đích, ý nghĩa của công tác phát triển đảng viên. Đồng thời, quan tâm đào tạo, rèn luyện phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ, cho những quần chúng ngoài Đảng trong các tổ chức chính trị-xã hội ở các vùng, các địa bàn, các giới… để chủ động phát hiện và tạo nguồn dự bị của Đảng; tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng để giúp quần chúng, đảng viên mới nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, bồi đắp lý tưởng cách mạng, xác định đúng đắn động cơ vào Đảng trên cơ sở giác ngộ lý tưởng và tự giác phấn đấu, rèn luyện để được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Cùng với đó, các tổ chức cơ sở Đảng phải quán triệt sâu sắc quan điểm "trọng chất lượng hơn số lượng", để khi tiến hành các khâu, các quy trình phát triển Đảng vừa tránh sa vào hiện tượng chạy theo chỉ tiêu mà tùy tiện hạ thấp tiêu chuẩn, điều kiện của người vào Đảng vừa tránh được tình trạng mắc bệnh hẹp hòi, cầu toàn, gây tác hại nhiều mặt, làm tổn hại đến việc bổ sung nguồn sinh lực cho Đảng. Trong quá trình triển khai, một mặt, phải thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và tuyên truyền, giáo dục về mục tiêu, lý tưởng của Đảng; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý để làm gương cho quần chúng tự nguyện phấn đấu vào Đảng. Mặt khác, điều chỉnh linh hoạt những bất cập (bố trí các lớp cảm tình Đảng, lớp đảng viên mới bằng hình thức trực tuyến, học vào ngày nghỉ, ngoài giờ hành chính, bố trí địa điểm, thời gian cho phù hợp điều kiện thực tế…) để tạo thuận lợi cho những đối tượng đặc thù; đồng thời, thực hiện nghiêm các khâu, các quy trình bồi dưỡng, kết nạp, giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức để Đảng thật sự thu hút và kết nạp được những người ưu tú nhất, tiêu biểu nhất về phẩm chất, bản lĩnh, năng lực, trí tuệ vào Đảng.

Chỉ có như vậy, công tác phát triển Đảng mới đạt chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nói chung, từng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh nói riêng, để Đảng có đủ uy tín, năng lực và trí tuệ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thành công!

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG PHẢI ĐI TRƯỚC MỘT BƯỚC

Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng, các nghị quyết của Đảng đều khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công tác tư tưởng và yêu cầu phải coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng. Thực hiện Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 1/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về “Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”, trên cơ sở nhận thức sâu sắc: “Công tác tư tưởng của Đảng là công tác đối với con người, một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững những quy luật riêng của tư tưởng, có thái độ, phương pháp khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu định hướng tư tưởng với sự tự nguyện, giữa lý trí với tình cảm, giữa lời nói và việc làm, giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”, từ Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các cấp uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn, bí thư cấp uỷ, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị đều coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng, lý luận, phát huy vai trò xung kích “đi trước một bước” để hoàn thành trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó.

Từ Trung ương đến địa phương, đội ngũ những người làm công tác tư tưởng đã nỗ lực, sáng tạo, không chỉ triển khai, tuyên truyền, quán triệt và đưa chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… vào thực tiễn cuộc sống mà còn thiết thực góp phần nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc xây dựng, bổ sung và phát triển đường lối của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; coi thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là quy luật, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam. Các binh chủng của công tác tư tưởng tập trung tuyên truyền, đẩy mạnh các hoạt động nhằm tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội từ nhận thức đến hành động, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân khai thác các tiềm lực trong xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… góp phần làm nên những thành tựu trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là trong hơn 34 năm đổi mới.

Bám sát nhiệm vụ chính trị, bám sát cơ sở và thực tiễn cuộc sống; hướng vào giải quyết các vấn đề bức xúc trong cuộc sống; bám sát đối tượng cụ thể, công tác tư tưởng đã coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục ý thức, nâng cao cảnh giác cách mạng, vạch trần các thủ đoạn phá hoại về tư tưởng, góp phần phòng, chống và đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; đồng  thời, phát hiện, tôn vinh và nhân rộng những nhân tố mới, những gương tập thể và cá nhân điển hình trong phát triển kinh tế, văn hoá, an sinh xã hội; trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trong xây dựng Đảng và thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Một trong những thành tích đáng ghi nhận của những người làm công tác tư tưởng là đã góp phần quan trọng trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển kinh tế là trung tâm và xây dựng văn hóa là sức mạnh nội sinh của sự phát triển, bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, mạnh và bền vững. Thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng gắn với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”,  công tác tư tưởng đã tập trung chỉ đạo tốt công tác triển khai, học tập, quán triệt các văn kiện Đảng, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng về quan điểm, đường lối, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng…, đấu tranh không khoan nhượng với các biểu hiện lệch lạc, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đồng thời, góp phần bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên kiên định với lý tưởng cách mạng của Đảng, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, gương mẫu đi đầu trên mọi lĩnh vực, xứng đáng với vị trí tiền phong. Công tác tư tưởng đã chú trọng việc đào tạo về lý luận chính trị, về chuyên môn, nghiệp vụ và giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí, chống sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên…

Thực hiện nhiệm vụ của mình, công tác tư tưởng và những người làm công tác tư tưởng ở các cấp đã thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, giáo dục con người trong thời đại mới - con người xã hội chủ nghĩa, về đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau, về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… và chủ động phòng và đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Phát huy sứ mệnh của từng binh chủng, những người làm công tác tư tưởng đã đầu tư công sức, trí tuệ, thời gian và chủ động trong cuộc đấu tranh bác bỏ các quan điểm phản động, sai trái, lệch lạc; coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, nâng cao cảnh giác cách mạng, vạch trần các thủ đoạn phá hoại về tư tưởng của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng; ngăn chặn sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Việt Nam đang tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Thắng lợi của xu thế hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển… mang đến cho đất nước ta những thuận lợi. Song, những bất ổn trên thế giới do chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế… diễn ra ngày càng phức tạp cũng có những tác động tiêu cực không nhỏ. Càng trong gian nan thử thách, công tác tư tưởng càng phải chủ động, đi trước một bước; cán bộ làm công tác tư tưởng càng phải chủ động, tích cực tiếp thu cái mới, không ngừng nâng cao trình độ, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có trình độ ngoại ngữ và tin học đáp ứng yêu cầu của công việc.

Để trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh - Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là một tập thể đoàn kết, tư tưởng thống nhất, hành động nhất trí, lãnh đạo nhân dân ta kiên định và vững bước thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn, công tác tư tưởng cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, các cấp ủy, trực tiếp là người đứng đầu phải chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; đồng thời thực hiện tốt phương châm cả hệ thống chính trị cùng làm công tác tư tưởng. Trong công tác tư tưởng, phải chủ động nắm bắt diễn biến tình hình trong nước và quốc tế đang đặt ra đối với đất nước và địa phương để kịp thời cung cấp thông tin chính thống, định hướng nhận thức trong nội bộ và nhân dân, tạo sự thống nhất về tư tưởng, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong nhân dân. Đồng thời, chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cả về lý luận và thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt nói chung, những người trực tiếp làm công tác tư tưởng nói riêng nhằm nâng cao nhận thức lý luận, trau dồi bản lĩnh chính trị, năng lực thực tiễn, đạo đức, phong cách và trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Đảng trong tình hình mới.

Hai là, từ nhận thức sâu sắc rằng công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị; trong đó, ngành Tuyên giáo là cơ quan tham mưu trực tiếp cho Đảng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, các binh chủng làm công tác tư tưởng cần chủ động, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với các ngành, các cấp trong hệ thống chính trị, không ngừng đổi mới công tác tư tưởng theo hướng “tích cực, chủ động, gắn lý luận với thực tiễn”, tăng cường “nói đi đôi với làm”, “xây đi đôi với chống”, lấy giáo dục, thuyết phục và nêu gương làm trọng tâm trong tổ chức thực hiện. Xuất phát từ thực tiễn, trở về phục vụ thực tiễn, phản ánh chân thực và luôn song hành cùng mọi hoạt động của đời sống xã hội, đội ngũ những người làm công tác tư tưởng phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, nhạy bén với những chuyển biến, thay đổi nhanh chóng và phức tạp của tình hình, để kịp thời tham mưu, đề xuất cấp ủy lãnh đạo, xử lý các tình huống nảy sinh, định hướng tư tưởng, dư luận xã hội, giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc của cơ sở, của nhân dân.

Ba là, để nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính hấp dẫn của công tác tư tưởng, bên cạnh việc tuyên truyền, giáo dục, cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân bằng lý lẽ, tâm huyết, kinh nghiệm và bằng thực tiễn cuộc sống, những người làm công tác tư tưởng phải phát huy cao độ vai trò tiền phong, gương mẫu trong học tập nâng cao trình độ về mọi mặt, trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống; chú trọng nêu gương về nhân cách và tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ, trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực  hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, với các quy định về nêu gương, trong các phong trào thi đua yêu nước… Trong đó, cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao và người đứng đầu càng phải nêu cao tinh thần gương mẫu, thống nhất giữa nói và làm, nói trước, làm trước; chủ động đấu tranh chống lại các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và đạo đức./.

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2020

PHẢI TINH TƯỜNG, ĐỪNG “THẤY ĐỎ TƯỞNG LÀ CHÍN”

Đấu tranh chống lại các biểu hiện và thủ đoạn để tạo uy tín giả cũng là cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, đòi hỏi phải có dũng khí, có phương pháp và kiên trì. Nó gắn liền với việc xây dựng tổ chức, xây dựng con người, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, gắn với việc tu dưỡng, rèn luyện đội ngũ... Trong xây dựng uy tín thật, đấu tranh với uy tín giả trong đội ngũ cán bộ hiện nay, cần quan tâm và thực hiện quyết liệt đồng bộ nhiều giải pháp.

Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có ý thức và quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, năng lực, hoàn thiện về nhân cách, xứng đáng với chức trách nhiệm vụ được giao. Muốn có uy tín, mỗi người phải tự học tập, tu dưỡng, tích lũy tri thức, kinh nghiệm, vốn sống, nâng cao năng lực mọi mặt để được đồng nghiệp, quần chúng thừa nhận, tin theo. Đồng thời và quan trọng hơn là đội ngũ cán bộ phải thường xuyên rèn luyện về đạo đức, lối sống cũng như sinh hoạt. Những vi phạm về đạo đức, lối sống bao giờ cũng là nguyên nhân chính, rất nhạy cảm làm giảm sút và mất uy tín của người cán bộ. Cùng với đó, quá trình gây dựng và nâng cao uy tín của người cán bộ cần tạo dựng cho mình một phong cách lãnh đạo, quản lý thích hợp, một phương pháp, tác phong công tác hiệu quả. Một mặt phải tuân thủ các nguyên tắc, quy định, mặt khác phải linh hoạt, thích ứng, không rập khuôn, máy móc, với động cơ thật sự trong sáng vì tập thể, vì cái chung. Cần chống lại mọi biểu hiện như độc đoán, gia trưởng hay mị dân, bệnh công thần, háo danh...

Mặt khác, cần xác lập tốt các mối quan hệ và giao tiếp trong tập thể để hình thành lòng tin, sự tín nhiệm của cấp dưới với người lãnh đạo, quản lý. Nó đòi hỏi người cán bộ phải thật tâm, thật tình, thật tin tưởng khi quan hệ với dưới, được biểu hiện bằng sự quan tâm, chăm lo, ứng xử đúng mực với dưới. Là sự giản dị, khiêm nhường, không định kiến...

Một giải pháp rất căn cơ để xây dựng uy tín đích thực trong tập thể là phải tạo được bầu không khí dân chủ, đoàn kết, tinh thần phê bình và tự phê bình tích cực trong tập thể. Muốn có được điều đó cần quan tâm xây dựng tổ chức, tập thể vững mạnh; cán bộ chủ chốt phải gương mẫu, trách nhiệm; các thành viên đoàn kết, gắn bó.

Cùng với đó, phải kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, các thủ đoạn để tạo dựng uy tín giả. Nó đòi hỏi tổ chức, tập thể phải tinh tường và có dũng khí trong vạch trần các cá nhân có động cơ và việc làm sai trái. Các cá nhân này thường rất tinh vi để che đậy bản chất, đánh lừa tổ chức, tập thể vì mục đích vụ lợi, cá nhân. Trong chuẩn bị nhân sự đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đã cảnh báo: Đừng “nhìn gà hóa cuốc”, “thấy đỏ tưởng là chín", đừng chỉ thấy "cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong"...

Uy tín giả làm xói mòn niềm tin của cấp dưới với cấp trên, nói rộng ra là của quần chúng với Đảng. Vì thế đấu tranh chống uy tín giả cũng chính là xây dựng niềm tin, “lòng dân” ở các tổ chức, tập thể, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của tình hình mới hiện nay.

UY TÍN GIẢ VÀ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG “ĐỊCH BÊN TRONG”

Có thể thấy, uy tín giả rất nguy hại, nó tác động và làm suy yếu tổ chức, tập thể, làm méo mó động cơ phấn đấu của cá nhân. Nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết trong tập thể; tạo ra môi trường, tâm lý không lành mạnh với sự ghen ghét, độ kỵ, nghi ngờ trong các thành viên và làm suy giảm hiệu quả công việc của tập thể. Đặc biệt, nếu tổ chức, tập thể không tỉnh táo, dũng cảm để nhận diện và đấu tranh thì uy tín giả sẽ trở thành bình phong để những kẻ cơ hội tiến thân, lọt qua các quy trình để “chui sâu, leo cao” vào các vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn.

Uy tín giả gây tác hại khôn lường, nhưng nhận diện không hề đơn giản vì nó được che đậy tinh vi bằng nhiều thủ đoạn, nó nằm sâu trong động cơ, lợi ích cá nhân của một bộ phận cán bộ lãnh đạo. Phát hiện ra nó phải nhìn nhận từ phẩm chất, năng lực thật sự, đặc biệt là phong cách, phương pháp, tác phong công tác của cán bộ đó. Xem đạo đức, trình độ có tương xứng với cương vị, chức trách không, có độc đoán, gia trưởng hay mị dân, dân chủ giả hiệu không, có thổi phồng thành tích của mình không?...

Nguyên nhân tạo nên uy tín giả có cả khách quan và chủ quan. Đó là do công tác giáo dục, quản lý đội ngũ cán bộ chưa chặt chẽ, tinh thần dân chủ, tính đấu tranh phê bình, tự phê bình trong tập thể không cao hoặc bị vô hiệu hóa. Bản thân một số cán bộ không có phẩm chất, năng lực đáp ứng chức trách nhiệm vụ được giao, không có nhận thức đúng về uy tín, động cơ sai trái, nhằm mục đích cá nhân, không chịu tu dưỡng, rèn luyện... Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng cho rằng, chủ nghĩa cá nhân là chỉ chăm lo vun vén cho lợi ích riêng, đặt lợi ích của cá nhân, của gia đình mình lên trên lợi ích chung của giai cấp, của dân tộc, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”, nó là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ, đảng viên, tha hóa Ðảng. Người cũng khẳng định: Chủ nghĩa cá nhân như một thứ vi trùng độc hại, tồn tại dai dẳng trong mỗi người cán bộ, đảng viên, luôn chờ cơ hội để trỗi dậy; là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Người coi chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ thù của những người cách mạng. Người nói: “Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá từ trong phá ra”, “Muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2020

CHÚ TRỌNG BỒ DƯỠNG PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC THAM GIA THỰC HIỆN CÔNG TÁC TÔN GIÁO CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ

Một trong các bài học kinh nghiệm quan trọng trong thực tiễn thực hiện công tác tôn giáo (CTTG) thời gian qua được các đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn nêu lên là cấp ủy, chỉ huy các đơn vị cần quan tâm giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực công tác, kiến thức về tín ngưỡng tôn giáo và các lĩnh vực KT - XH cho cán bộ, chiến sĩ; trao đổi kỹ năng, kinh nghiệm công tác vận động quần chúng ở vùng tôn giáo, những phong tục tập quán dân tộc và đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương cho bộ đội, nhất là các tổ, đội công tác và cán bộ, chiến sĩ đi làm nhiệm vụ dân vận. Thường xuyên quan tâm bồi dưỡng kiến thức về tôn giáo và CTTG, phương pháp vận động quần chúng vùng tôn giáo cho cán bộ, chiến sỹ dân vận cũng như hiểu biết về phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân trên địa bàn để có phương pháp tuyên truyền vận động phù hợp. Tập trung giáo dục, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận phải có kiến thức, trình độ, năng lực trên lĩnh vực tôn giáo; nắm chắc quan điểm về chính sách tôn giáo của Đảng.

Thứ Năm, 14 tháng 6, 2018

BỒI DƯỠNG PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CHO QUÂN NHÂN, GÓP PHẦN TÍCH CỰC TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

Bồi dưỡng phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức quân nhân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Bên cạnh các biện pháp nâng cao nhận thức của người quân nhân về đại đoàn kết toàn dân tộc, về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần quan tâm giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm của người quân nhân, tình hình nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội, của đơn vị và địa phương. Bồi dưỡng cho người quân nhân có mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, tinh thần sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ mg Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Nâng cao đạo đức cách mạng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách, Hồ Chí Minh; ngăn chặn mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng và những biểu hiện tiêu cực khác. Rèn luyện cho quân nhân tinh thần chịu đựng gian khổ, ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trong mọi điều kiện hoàn cảnh. Xây dựng ý thức, hành vi chấp hành kỷ luật, pháp luật. Tăng cường đoàn kết quân nhân, quân dân.
Bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, tri thức toàn diện, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.Bồi dưỡng cho quân nhân nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, tiến hành các nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, năng lực ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại về thực tiễn sản xuất, đời sống, khả năng truyền thụ tri thức, kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội cho nhân dân, có năng lực hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, tham mưu, tư vấn, đề xuất tổ chức và hoạt động thực tiễn nhằm tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bồi dưỡng cho quân nhân có kỹ năng tiến hành công tác dân vận, tuyên truyền vận động nhân dân, tiến hành các hoạt động xã hội, công tác thanh niên, phụ nữ, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao để tập hợp quần chúng và phát động phong trào thi đua ử đơn vị cơ sở.
Bồi dưỡng cho quân nhân biết nói tiếng các dân tộc thiểu số, biết phong tục tập quán, truyền thống, bản sắc, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đóng quân. Có hiểu biết về tín ngưỡng tôn giáo, đặc điểm của tín ngưỡng, tôn giáo, tình hình sinh hoạt của các tôn giáo ở địa phương, làm tốt công tác vận động các tín đồ tôn giáo thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật, Nhà nước, xây dựng và tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, chống việc lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. Bồi dưỡng và hình thành tác phong công tác cho quân nhân, như bám sát cơ sở, gần gũi nhân dân, lắng nghe, học tập nhân dân, đồng thời biết vận động, tập hợp, hướng dẫn nhân dân, biết thuyết phục nhân dân hăng hái tham gia hoạt động cách mạng.
Bồi dưỡng, nâng cao năng lực đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.Xây dựng, tổ chức đội ngũ cán bộ chính trị, đội ngũ cán bộ tuyên huấn, cán bộ khoa học, các giảng viên trong quân đội có khả năng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Muốn vậy phải chăm lo bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, để họ có tính nhạy bén chính trị, năng lực tư duy, khả năng khái quát, phương pháp đấu tranh và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, phương tiện kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phải quy tụ được đội ngũ cán bộ, các nhà khoa học, các giảng viên có trình độ, nhiệt huyết chuyên sâu trên các lĩnh vực làm nòng cốt thu hút đông đảo cán bộ, chiến sĩ tham gia đấu tranh trên mặt trận này. Thành lập các nhóm, các bộ phận nghiên cứu trên các lĩnh vực: dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, pháp luật, kinh tế, quản lý xã hội…Thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng luyện dũng khí, thái độ kiên quyết, quả cảm, không khoan nhượng, nhưng luôn tỉnh táo, sáng suốt cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

BỒI DƯỠNG PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CHO QUÂN NHÂN, GÓP PHẦN TÍCH CỰC TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

Bồi dưỡng phát triển phẩm chất chính trị, đạo đức quân nhân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Bên cạnh các biện pháp nâng cao nhận thức của người quân nhân về đại đoàn kết toàn dân tộc, về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần quan tâm giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm của người quân nhân, tình hình nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội, của đơn vị và địa phương. Bồi dưỡng cho người quân nhân có mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, tinh thần sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ mg Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Nâng cao đạo đức cách mạng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; ngăn chặn mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng và những biểu hiện tiêu cực khác. Rèn luyện cho quân nhân tinh thần chịu đựng gian khổ, ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trong mọi điều kiện hoàn cảnh. Xây dựng ý thức, hành vi chấp hành kỷ luật, pháp luật. Tăng cường đoàn kết quân nhân, quân dân.
Bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, tri thức toàn diện, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Bồi dưỡng cho quân nhân nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, tiến hành các nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, năng lực ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào thực tiễn sản xuất, đời sống, khả năng truyền thụ tri thức, kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội cho nhân dân, có năng lực hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, tham mưu, tư vấn, đề xuất tổ chức và hoạt động thực tiễn nhằm tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bồi dưỡng cho quân nhân có kỹ năng tiến hành công tác dân vận, tuyên truyền vận động nhân dân, tiến hành các hoạt động xã hội, công tác thanh niên, phụ nữ, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao để tập hợp quần chúng và phát động phong trào thi đua ở đơn vị cơ sở.
Bồi dưỡng cho quân nhân biết nói tiếng các dân tộc thiểu số, biết phong tục tập quán, truyền thống, bản sắc, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đóng quân. Có hiểu biết về tín ngưỡng tôn giáo, đặc điểm của tín ngưỡng, tôn giáo, tình hình sinh hoạt của các tôn giáo ở địa phương, làm tốt công tác vận động các tín đồ tôn giáo thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật, Nhà nước, xây dựng và tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, chống việc lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. Bồi dưỡng và hình thành tác phong công tác cho quân nhân, như bám sát cơ sở, gần gũi nhân dân, lắng nghe, học tập nhân dân, đồng thời biết vận động, tập hợp, hướng dẫn nhân dân, biết thuyết phục nhân dân hăng hái tham gia hoạt động cách mạng.
Bồi dưỡng, nâng cao năng lực đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Xây dựng, tổ chức đội ngũ cán bộ chính trị, đội ngũ cán bộ tuyên huấn, cán bộ khoa học, các giảng viên trong quân đội có khả năng đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Muốn vậy phải chăm lo bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, để họ có tính nhạy bén chính trị, năng lực tư duy, khả năng khái quát, phương pháp đấu tranh và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, phương tiện kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phải quy tụ được đội ngũ cán bộ, các nhà khoa học, các giảng viên có trình độ, nhiệt huyết chuyên sâu trên các lĩnh vực làm nòng cốt thu hút đông đảo cán bộ, chiến sĩ tham gia đấu tranh trên mặt trận này. Thành lập các nhóm, các bộ phận nghiên cứu trên các lĩnh vực: dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, pháp luật, kinh tế, quản lý xã hội…Thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng luyện dũng khí, thái độ kiên quyết, quả cảm, không khoan nhượng, nhưng luôn tỉnh táo, sáng suốt cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ cán bộ làm công tác đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa.