Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUAN HỆ DÂN TỘC

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người với 54 dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm gần 14% dân số cả nước. Các cộng đồng dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, quan hệ dân tộc các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay đang nảy sinh những vấn đề mới, phức tạp, đó là:
Tình trạng mai một văn hoá truyền thng của các dân tộc thiểu s. Những năm gần đây, trong cuộc sống hàng ngày, đồng bào các dân tộc thiểu s rất ít sử dụng trang phục truyền thống của dân tộc mình. Những ngôi nhà sàn, nhà dài của đồng bào dân tộc thiểu s mất dần, thay vào đó là những ngôi nhà trệt, nhà ống...   Tây Nguyên nhiều giá trị văn hoá phi vật thể đặc sắc, tiêu biểu của các dân tộc như tín ngưỡng đa thần, sử thi, âm nhạc cồng chiêng, lễ bỏ mả... đang mai một, đến nay, vẫn chưa có nhiều phương cách bảo tồn phục hồi hiệu quả.
* Các tệ nạn xã hội gia tăng, diễn biến phức tạp ở nhiều vùng dân tộc thiu số. Trước đây, các quan hệ truyền thng của đồng bào dân tộc thiểu số trong cộng đồng, bản làng trong sáng, thân thiện giúp đ nhau, không có tệ nạn trộm cắp, cướp giật, buôn lậu, ma tuý, mại dâm, HIV. Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập phát triển vi các mối quan hệ kinh tế - xã hội mới đã phát sinh, gia tăng các tệ nạn xã hội, gây những hậu quả xấu đến xã hội và quan hệ cộng đồng địa phương, làng bản và trong mỗi gia đình, làm xáo trộn ln ti các mối quan hệ gia đình, xã hội vùng dân tộc thiểu s. Bên cạnh đó, sự suy thoái về đạo đức, lối sng trong một bộ phận thanh, thiếu niên dân tộc thiểu s cũng đang là những vấn đ xã hội nhức nhối đòi hỏi các cấp, các ngành và các địa phương cần đặc biệt quan tâm, có những giải pháp phù hợp đ ngăn chặn hiệu quả.
* Thách thức từ hội nhập quốc tế. Một s dân tộc thiểu sc ta có quan hệ đồng tộc với một số cộng đồng dân tộc trong khu vực và trên thế giới... Đại bộ phận Việt kiều là người dân tộc thiểu s hướng về Tổ quc, thực hiện tốt chủ trương đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ thành lập, tham gia các tổ chức phản động, lôi kéo đồng bào trong nước phá hoại chính sách đại đoàn kết các dân tộc, kích động ly khai dân tộc, tổ chức bạo loạn... Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sợi dây kết nối, quan hệ đồng tộc giữa đồng bào các dân tộc trong và ngoài nước ngày càng thuận lợi, dễ dàng hơn nhưng nó cũng là điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ dân tộc để chng phá chế độ xã hội chủ nghĩa nước ta.

TÌNH HÌNH CÁC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hiện nay, ở nước ta có 54 dân tộc với số dân khoảng 97 triệu người, trong đó có 53 dân tộc thiểu số, chiếm gần 14% dân số cả nước. Do hoàn cảnh lịch sử và điều kiện địa lý nên cộng đồng các dân tộc Việt Nam có trình độ phát triển không đều về kinh tế, văn hóa, xã hội; đời sống dân trí và các hoạt động xã hội giữa nông thôn với thành thị, miền xuôi và miền núi còn có sự chênh lệch. Đặc biệt, các cộng đồng dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng núi cao, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, tình hình dân tộc các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay đang nảy sinh những vấn đề mới, phức tạp rất dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, đó là:
* Vấn đề nghèo đói, chênh lệch giàu nghèo ở vùng dân tộc thiểu số. Trong những năm qua, công tác giảm nghèo trong cả nưc nói chung và vùng dân tộc thiếu số nói riêng đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, người nghèo, vùng nghèo vẫn chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu s. Khoảng cách giàu nghèo, sự chênh lệch về thu nhập, mức sống của đồng bào dân tộc thiểu s và vùng dân tộc thiểu số ngày càng gia tăng so với mức bình quân của cả nước. Chênh lệch mức sng và gia tăng khoảng cách thu nhập giữa các dân tộc và giữa vùng dân tộc, vùng căn cứ địa cách mạng, vùng sâu, vùng xa so với các thành ph và mặt bằng chung của cả nước tác động, ảnh hưởng đến quan hệ giữa các dân tộc, chính sách đại đoàn kết dân tộc, là một nguy cơ tiềm ẩn gây mất ổn định chính trị xã hội, tác động xấu đến quc phòng - an ninh.
* Vấn đề thiếu đất sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ tr đất sản xuất, đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhưng tình trạng đồng bào dân tộc thiểu sổ thiếu đất sản xuất còn nhiều. Vấn đề đất đai đã và đang ảnh hưởng đến quan hệ dân tộc. Thiếu đất đã và đang là một trong các vấn đề bức xúc nhất ở vùng dân tộc thiểu s hiện nay, là nguồn gốc tạo ra khoảng cách thu nhập, phân hoá giàu nghèo giữa các dân tộc, gia tăng mâu thuẫn giữa các dân tộc, giữa các dân tộc với các nông, lâm trường, các doanh nghiệp trên địa bàn. .
Chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu s còn thấp. Mặc dù chúng ta đạt được thành quả quan trọng thực hiện các chính sách giáo dục, y tế, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, nhưng chất lượng nguồn nhân lực một số dân tộc thiểu số vẫn còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước. Đặc biệt, tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học của một số dân tộc thiểu số, tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu s trong hệ thng chính trị, tỷ lệ cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số còn rất thấp, cơ cấu chưa hợp lý, chất lượng cán bộ còn yếu.

CẦN TIẾP TỤC VẠCH MẶT Ổ NHÓM PHẢN ĐỘNG VHK

Suốt thời gian qua, cộng đồng mạng không lạ gì cái tên Đỗ Hữu Hằng (ngáo sư nổ, với các nick XNL, LXN, NL) bởi sự ngông cuồng, hàm hồ, mất dạy và ngu xuẩn khi luôn tỏ ra là bố thiên hạ. Xuất phát từ âm mưu tiếp tay cho nguỵ sử nên tên này cùng đám con nhang tay sai của hắn đã ra sức chống phá, xúc phạm, gây sự và kiện cáo tất cả những ai có tinh thần đấu tranh đúng đắn trên không gian mạng.
Điều đáng nói là tại sao trong thời gian khá lâu, từ những động thái hỗn xược trong phát ngôn...đến việc chễm chệ vào khu vực sân bay quân sự để chụp hình những máy bay đang trong tình trạng thường trực SSCĐ với đầy đủ số hiệu và vũ khí được tung lên mạng. Tại sao sau vụ việc đó một số cán bộ chiến sỹ đã bị xừ lý nhưng bản thân tên này lại thoát tội, không bị truy xét?
Gần đây nhất, khi VTV phát sóng chương trình Đối diện số tháng 8/2019, nội dung đề cập đến âm mưu xét lại, xuyên tạc lịch sử gần đây, liên quan đến cả bộ sử 15 tập có bỏ từ nguỵ. Trong nội dung này có phỏng vấn ý kiến của đồng chí Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn và đồng chí Thiếu tướng Hoàng Kiền, ngay sau khi chương trình phát sóng đã nhận được sự đồng tình ủng hộ của đông đảo nhân dân, nhưng động thái của nhóm lưu manh này (điển hình là Đỗ Hữu Hằng) thì ngược lại, chúng lồng lộn cắn xé và công kích VTV. Chưa dừng lại, lợi dụng việc sau đó VTV cắt bỏ phần nguỵ sử trong bản lưu thì hắn càng ngông cuồng và không tiếc lời xúc phạm, vu khống hai đồng chí và lồng vào đó vẫn tiếp tục kích động tình hình Biển Đông, vu khống hai vị tướng có “âm mưu phản động đánh lạc hướng dư luận khỏi sự việc ở Bãi Tư Chính”, trong khi sự thực thì Bãi Tư Chính không phải nơi xảy ra sự việc gây hấn của Trung Quốc vừa qua.
Sau tất cả những diễn biến xảy ra trong thời gian dài, giờ đây cộng đồng mạng hoàn toàn có quyền nghi ngờ: chính ổ lưu manh chuyên đánh phá người yêu nước này, được chống lưng bởi nhóm lợi ích núp bóng sử học là một tổ chức phản động, cánh tay nối dài của các thành phần CCCĐ ở Hải ngoại (Nguyễn Phương Hùng, kẻ khai sinh ra VHK). Hành vi mạo nhận là “cán bộ UBKT Tỉnh uỷ” đến thăm để đột nhập vào khu vực cấm của sân bay quân sự chụp ảnh không chỉ là để câu like, mà còn là thực hiện ý đồ tuồn thông tin cho các thế lực chống phá Việt Nam. Việc xúc phạm các đồng chí tướng lĩnh, sỹ quan cao cấp và các đồng chí quân nhân trong QĐND Việt Nam là âm mưu đánh phá Quân đội, làm suy yếu vai trò, uy tín của lực lượng này.
Đề nghị mọi người cần mạnh mẽ vạch mặt Đỗ Hữu Hằng và đồng bọn của chúng, xem ai, thế lực nào chống lưng để chúng thoả sức làm càn và gây nhiễu loạn dư luận, ảnh hưởng đến an ninh chính trị của đất nước?
Đồng thời, các cơ quan, đơn vị, địa phương nên tăng cường nắm bắt lại tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, chuyên viên của mình, tất cả những ai liên quan, ủng hộ, tiếp tay cho ổ nhóm này đều có vấn đề về tư tưởng, phẩm chất chính trị, cần được tăng cường quản lý, chấn chỉnh và xử lý nghiêm. Ổ nhóm này đã xuất hiện một số gương mặt là cán bộ chuyên viên một số cơ quan, đơn vị LLVT, giảng viên Đại học nghỉ hưu.

XA DÂN – MỘT BIỂU HIỆN CỦA SUY THOÁI ĐẠO ĐỨC

Bệnh xa dân thể hiện ở lối làm việc quan cách, cửa quyền, hách dịch gây phiền hà, khó dễ; thói quan liêu, tham ô, tham nhũng đục khoét của dân; các chủ trương, chính sách ban hành không phản ánh đúng lợi ích, thậm chí đi ngược lại quyền lợi nhân dân. Bệnh xa dân bộc lộ ở việc cán bộ cấp dưới thì mắc bệnh thành tích, say mê với những con số ảo xa rời thực tế, lối làm việc qua loa, đại khái thậm chí là dối trá. Cán bộ cấp cao hơn thì không đi sâu, đi sát vào thực tiễn, xa rời quần chúng, làm việc dựa trên giấy tờ, báo cáo của cấp dưới mà thiếu kiểm tra thực tế, không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Thậm chí đó còn là một căn bệnh tập thể: một tập thể cơ quan hay đơn vị nào đó xa dân với lối làm việc “hành là chính” thiếu quy củ, nền nếp, ăn cắp thì giờ, chậm chễ, dây dưa trong công việc gây phiền hà, sách nhiễu thậm chí còn vòi vĩnh nhân dân.
Nguyên nhân của bệnh xa dân là tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”.
Tình trạng chạy theo quyền lực, ham quyền, tham quyền cũng dẫn tới hậu quả là bệnh xa dân. Bởi vì, một số ít cán bộ không do năng lực, không vì tâm huyết với dân, với Đảng nhưng “chui” được vào bộ máy công quyền, họ chỉ lo kéo bè, kéo cánh tạo những nhóm lợi ích và mải thu vén cá nhân mà không lo cho dân. Vì kém tài, kém đức lại ham quyền lực “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài... tự cho mình có quyền sống xa hoa hưởng lạc, từ đó mà đi đến tham ô, trụy lạc, thậm chí sa vào tội lỗi”, từ đó mà càng ngày càng xa dân, xa rời tôn chỉ mục đích cán bộ là công bộc của nhân dân. Mặt khác, những hạn chế, yếu kém trong hệ thống luật pháp, cơ chế tổ chức quản lý nhà nước, giác ngộ chưa cao của một bộ phận quần chúng nhân dân về vai trò của mình cũng dẫn tới bệnh xa dân trong một số cán bộ, đảng viên.
Cách làm việc xa dân dẫn tới hậu quả là: chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước là đúng nhưng khi tổ chức thực hiện sai vì không áp dụng đúng với thực tiễn đa dạng, phong phú, không đến được với người dân, không làm cho dân tin, dân hiểu, dân theo, gây bức xúc làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.
Mặt khác, bệnh xa dân còn gây nguy hại ở việc không thấy được vai trò, sứ mệnh, sức mạnh quần chúng đối với lịch sử, không phát huy được sức mạnh của quần chúng nhân dân. Bệnh xa dân làm nguy hại thêm tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, là “đồng minh tự nhiên” của các âm mưu, hành động chống phá của các thế lực phản động.
Xa dân, lối làm việc quan liêu, bệnh tham quyền lực... trở thành mắt xích yếu nhất để kẻ thù lợi dụng lôi kéo, mua chuộc làm cán bộ, đảng viên sa ngã, làm suy yếu chính quyền, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân.

VĂN HÓA CÔNG VỤ: THỰC HIỆN “4 XIN, 4 LUÔN”


Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1847/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Văn hóa công vụ. Đây được coi là cơ sở quan trọng khắc phục tình trạng thờ ơ, vô cảm, lấy “hành” dân là “chính”; góp phần nâng cao văn hóa công vụ, hình thành phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong tình hình hiện nay.
Thờ ơ, vô cảm, lấy “hành” dân là “chính”
Những câu chuyện vừa qua báo chí nêu, được coi là điển hình của sự thờ ơ, vô cảm, lấy “hành” dân là “chính”, đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về văn hóa công vụ.
Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên, vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án Văn hóa công vụ tại Quyết định 1847/QĐ-TTg. Theo đó, cán bộ, công chức, viên chức phải sẵn sàng nhận và nỗ lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được phân công; không kén chọn vị trí công tác, không vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”.
Trong giao tiếp với người dân, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng, lắng nghe, tận tình hướng dẫn về quy trình xử lý công việc và giải thích cặn kẽ những thắc mắc của người dân. Thực hiện “4 xin, 4 luôn”: Xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép; Luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn lắng nghe, luôn giúp đỡ.
Đề án này hướng đến việc nâng cao văn hóa công vụ, góp phần hình thành phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đảm bảo tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả trong hoạt động thực thi nhiệm vụ, công vụ; đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, xã hội.
Đối tượng áp dụng của quyết định này là cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan hành chính nhà nước gồm: Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; UBND các cấp tỉnh, huyện, xã.
Trong Quyết định cũng đề cập đến nội dung của văn hóa công vụ của cán bộ, công chức, viên chức ở các khía cạnh: Tinh thần, thái độ làm việc; chuẩn mực giao tiếp, ứng xử; chuẩn mực đạo đức, lối sống; trang phục…
Với quyết tâm của Chính phủ, mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải nêu gương thực hiện, đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng nền đạo đức công vụ ứng xử có văn hóa vì dân./.

MƯỜI "BỆNH" CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CẦN PHẢI ĐƯỢC SỬA NGAY:

Trong cuộc chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4, khoá XII của Đảng, toàn dân đang mong Đảng sẽ quét sạch được các bệnh của chủ nghĩa cá nhân mà Bác Hồ đã dạy.
Sinh thời, Bác Hồ luôn nhắc nhở mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, kể cả cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước phải tu tâm, tích đức, phải “vứt bỏ cái ba lô chủ nghĩa cá nhân” trong con người mình.
Người căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải “Nâng cao đạo đức cách mạng. Quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Bác dạy chúng ta phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Bác nói: “Chủ nghĩa cá nhân là giặc nội xâm, kẻ địch ở bên trong. Địch ở bên trong đáng sợ hơn, nó phá hoại từ trong phá ra”. Bác đã coi chủ nghĩa cá nhân như là một thứ rác rưởi, cho nên Bác dặn phải “quét sạch”. Bác đã chỉ bảo cho chúng ta nhận biết những căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân để quét sạch nó đi:
“1. Bệnh quan liêu: Quan liêu là bệnh của những người và những cơ quan lãnh đạo xa rời thực tế, xa nhân dân, mất dân chủ. Các ông quan liêu khi được phân công phụ trách ở vùng nào, việc gì thì như ông vua con, tha hồ hạch sách, hoạch họe ở vùng ấy, lĩnh vực ấy. Đối với cấp trên thì xem thường, với cấp dưới cậy quyền lấn át, với quần chúng thì quan cách. Bệnh quan liêu để lại những hậu quả nặng nề đối với Đảng, Nhà nước và xã hội trước hết là tham ô, lãng phí. Do đó muốn diệt trừ sạch tham ô, lãng phí thì cần phải diệt giặc quan liêu”.
“2. Bệnh tham lam: Những người mắc bệnh này đều đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của Đảng, của dân tộc. Chữ tôi to hơn chúng ta, không lo mình vì mọi người, mà chỉ muốn mọi người vì mình. Do đó họ tự tư tự lợi, dùng của công làm việc tư, dựa vào thế lực của Đảng để theo đuổi mục đích riêng của mình, tham ô, hủ hóa, sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi”.
“3. Bệnh lười biếng: Tự cho mình cái gì cũng giỏi, việc gì cũng biết, làm biếng học hỏi, làm biếng suy nghĩ. Ngại khó khăn gian khổ. Việc dễ thì tranh lấy của mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm tìm cách trốn tránh”.
“4. Bệnh kiêu ngạo: Tự cao, tự đại, hay lên mặt. Ưa người ta khen ngợi, tâng bốc mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình. Không thèm học hỏi quần chúng. Không muốn người khác phê bình mình. Việc gì cũng muốn làm thày người khác”.
“5. Bệnh hiếu danh, tham danh, trục lợi, đích địa vị quyền hành, tự cho mình là anh hùng, là vĩ đại: Vì tham vọng đó mà việc không đáng làm cũng làm. Khi bị công kích, bị phê bình thì tinh thần lung lay. Những người đó chỉ biết lên mà không biết xuống. Chỉ chịu được sướng mà không chịu được khổ. Chỉ ham làm chủ tịch này, ủy viên nọ, chứ không ham làm công tác thiết thực”.
“6. Bệnh hữu danh vô thực: Làm việc không thiết thực, không từ chỗ gốc, chỗ chính, không từ dưới lên. Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít, xuýt ra nhiều, để làm một báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ thì rỗng tuyếch”.
“7. Bệnh cận thị: Không trông xa thấy rộng. Những vấn đề to tát thì không nghĩ đến mà chỉ chăm chút những việc vụn vặt. Những người như thế chỉ trông thấy sự lợi hại nhỏ nhen mà không thấy lợi hại to lớn”.
“8. Bệnh tỵ nạnh: Cái gì cũng muốn bình đẳng, sinh ra hiểu lầm hai chữ bình đẳng, không hiểu rằng người khỏe gánh nặng, người yếu gánh nhẹ, người làm việc nặng thì phải ăn nhiều, người làm việc ít, việc dễ thì ăn ít thế mới bình đẳng”.
“9. Bệnh xu nịnh a dua: Những người trước mặt thì ai cũng tốt, sau lưng thì ai cũng xấu. Thấy xôi nói xôi ngọt, thấy thịt nói thịt bùi”.
“10. Bệnh kéo bè kéo cánh: Ai hợp với mình thì dù xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đạy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau. Ai không hợp với mình thì người tốt cũng cho là xấu, việc hay cũng cho là dở, rồi tìm cách dèm pha, nói xấu, tìm cách dìm người ta xuống. Từ đó đi đến bè phái chia rẽ, mất đoàn kết, thiếu tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước”.

VĂN HOÁ DÂN TỘC - NỀN TẢNG CỦA SỰ TRƯỜNG TỒN!

Danh sách kẻ thù của Đế quốc Hoa Kỳ và phương Tây là những ai? Là Nga, Trung Quốc, Triều Tiên, Trung Đông (trọng tâm là khu vực Lưỡng Hà gồm Iran, Iraq, Syria), Mỹ Latinh (trọng tâm là Cuba, Venezuela, Bolivia).
Hãy ngẫm mà xem, không chỉ về lý do tài nguyên thiên nhiên hay ý thức hệ, mà tất cả các “kẻ thù” đó đều là những quốc gia có nền văn minh lâu đời, bản sắc văn hoá rõ rệt. Văn hoá có cội có nguồn chính là điều khiến Phương Tây và Kito La Mã khiếp sợ và tìm mọi cách tận diệt, để chúng có thể bành trướng mà đô hộ cả nhân loại.
Việt Nam không còn nằm trong danh sách kẻ thù của chúng thì ngoài việc nhờ tinh thần đấu tranh bất khuất, đường lối ngoại giao mềm dẻo linh hoạt, thì nguyên nhân căn bản còn lại là nền văn minh hơn 4.000 năm Lạc Hồng phương Bắc không thể đồng hoá nổi nhưng nay nó...tự chuyển hoá đâu mất, bởi những mặt trái không được kịp thời ngăn chặn trong quá trình mở cửa hội nhập, toàn cầu hoá; các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc bị mai một, thay vào đó là sự thâm nhập và lấn át của các giá trị “văn minh” phương Tây và Kito La Mã. Thậm chí có những người coi việc theo Mỹ và phương Tây là..mệnh lệnh thời đại!
Đó chính là lý do khiến nhiều nhà nghiên cứu quốc tế và trong nước đã phải đặt vấn đề “Việt Nam có thực sự giành chiến thắng trong cuộc đối đầu với phương Tây?”. Đó là sự lo lắng, tự vấn, chứ không hề tiêu cực.
Đó cũng chính là điều mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã phải suy tư căn dặn lại trước lúc đi xa, và Đảng ta đã luôn phải nhấn mạnh “xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc”. Không có điều đó, hình ảnh anh hùng và vị thế bất khuất của Việt Nam sẽ không còn nữa, là sự “tự diễn biến, tự chuyển hoá” nguy hiểm của cả một dân tộc!
Hãy xem tấm gương nhãn tiền của Châu Phi, cái nôi của văn minh nhân loại, nay họ không bao giờ có thể ngóc đầu lên được nữa. Cùng tấm gương của Châu Âu, một sự thoái hoá, già cỗi và chết mòn, cũng trong đơn điệu thê lương không kém gì Châu Phi.
Tự đánh mất mình, sẽ không thể trường tồn!