Hiển thị các bài đăng có nhãn bản sắc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bản sắc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

NGUY CƠ PHAI NHẠT BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC

“Văn hóa còn thì dân tộc còn” là khẳng định hết sức đúng đắn về vị trí và vai trò của văn hóa trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, đồng thời là một trong những yếu tố mà từ khi ra đời, tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến nay, Đảng ta luôn luôn cùng toàn dân nỗ lực bảo đảm, phát triển. Tuy nhiên, thời gian gần đây đã và đang xuất hiện một số hiện tượng có thể đẩy tới nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc đòi hỏi cần được kịp thời chấn chỉnh.

Qua những chặng đường lịch sử của dân tộc, từ quá trình dựng nước, giữ nước đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, dù trải qua nhiều biến động, thăng trầm nhưng chúng ta luôn hướng đến một nền văn hóa lấy con người làm trung tâm, và xây dựng nền văn hóa của dân, do dân, vì dân. Khi lãnh đạo dân tộc tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập và xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ nhận thức, nắm bắt các vấn đề mới của thực tiễn mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn bổ sung nội dung mới cho khái niệm văn hóa, để văn hóa luôn “soi đường cho quốc dân đi” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.

Từ năm 1943, “Đề cương văn hóa” của Đảng đã nêu lên ba yếu tố then chốt, là mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam là dân tộc - đại chúng - khoa học. Vì thế, từ quá trình vận động, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng làm nên Cách mạng tháng Tám năm 1945, thành lập Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đến trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chúng ta đã xây dựng được vị trí tiên phong của nền văn hóa văn nghệ chống đế quốc, phong kiến trên phạm vi toàn thế giới trong thời đại ngày nay như Đảng ta tổng kết. Đó chính là di sản lớn lao thấm đẫm mồ hôi và máu của bao lớp đồng chí, đồng bào đi trước mà thế hệ hôm nay và mai sau phải giữ gìn, phát huy; cũng là kế tục xứng đáng các giá trị cốt lõi của truyền thống anh hùng, đầy tính nhân văn đã được cha ông xây dựng từ hàng nghìn năm trước, và trao lại cho chúng ta.

Có thể thấy, khi đề ra đường lối phát triển văn hóa Việt Nam, dù trong giai đoạn nào, hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hòa bình, Đảng ta cũng luôn đề cao tính dân tộc. Và nổi lên là bản sắc văn hóa dân tộc với những giá trị văn hóa tốt đẹp của tổ tiên, ông cha phải được giữ gìn, phát huy. Có thể coi đây chính là “tấm căn cước” để mỗi người Việt Nam hội nhập với thế giới. Văn hóa còn thì dân tộc còn là ở đó. Hòa nhập song không hòa tan cũng ở đó. Truyền thống tốt đẹp khi biết giữ gìn và phát huy không hề mâu thuẫn, đối lập với đổi mới, tiến bộ, hiện đại. Bởi, trong tổng hòa nguồn lực để xây dựng văn hóa hôm nay, có các giá trị được cha ông tạo dựng từ quá khứ.

Tuy vậy nhìn vào bối cảnh hiện tại, dù chúng ta đã làm được rất nhiều điều tốt đẹp cho xã hội - con người, thì vẫn phải thẳng thắn nói rằng vẫn còn có không ít biểu hiện “lệch chuẩn” văn hóa đáng băn khoăn, trăn trở. Đó là những biểu hiện lệch lạc, nông cạn trong nhận thức về văn hóa của một bộ phận xã hội, thậm chí có người còn quan niệm văn hóa chỉ là “cờ đèn kèn trống, đóng đinh leo thang”, múa may, hát xướng… Ngay trong đội ngũ người làm công tác văn hóa không hẳn ai cũng hoàn toàn thấm nhuần trong cả nhận thức và hành động để đáp ứng phát triển văn hóa là phải phát triển toàn diện, thống nhất trong sự đa dạng, thấm đậm tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, nội lực quan trọng để phát triển đất nước.

Vì thế vẫn xảy ra tình trạng còn coi nhẹ văn hóa, đặt văn hóa thấp hơn kinh tế. Hệ quả là trong khi đạt nhiều mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đời sống vật chất vượt trội so với trước đây, nhưng ở một số nơi, trong một số trường hợp, đạo đức, văn hóa xã hội lại bị xuống cấp nghiêm trọng, chủ nghĩa cá nhân bành trướng, không ít cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất, phai nhạt lý tưởng, coi thường kỷ luật, tham ô, lãng phí…

Hiện thực xã hội hiện nay đang đan xen các mảng sáng - tối, tốt - xấu hết sức phức tạp. Bên cạnh rất nhiều tấm gương tốt đẹp, giàu lòng vị tha, thiện tâm, khi có thiên tai, dịch bệnh sẵn sàng chia sẻ với đồng bào theo tinh thần “lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, “thương người như thể thương thân”, chung tay cùng đất nước, chính quyền để vượt qua mọi khó khăn… lại có một số người ích kỷ, tham lam, lợi dụng dịch bệnh để trục lợi. Lối sống thực dụng cực đoan như một thứ dịch bệnh đang nguy cơ lan rộng trong xã hội, nhất là lớp trẻ.

Trong khi đó nghệ thuật dường như lại quá coi trọng chức năng giải trí. Có thời điểm trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng phải gióng lên hồi chuông báo động về một số cuốn sách chạy theo thị hiếu thấp kém, phản văn hóa. Ở đó, nhân danh cách tân, đổi mới, một số người ca tụng lối viết bí hiểm, rắc rối, tù mù, đánh đố… Thái độ sùng ngoại biểu hiện song song với việc chê bai, bỉ bôi, hạ thấp văn học truyền thống. Nguy hại hơn là coi thường, công kích các giá trị tiêu biểu của nghệ thuật kháng chiến, hoặc mượn chữ nghĩa văn chương để bôi lem, làm xấu hình ảnh một số anh hùng, danh nhân của đất nước.

Với một số người, nghệ thuật không chỉ là phương tiện, mà còn là “vũ khí” tấn công quá khứ. Không phải không có hiện tượng “hai mặt” trong văn nghệ sĩ hiện nay. Đã xuất hiện hiện tượng, nghệ thuật, thu mình vào “cái tôi” đơn độc, riêng biệt, duy nhất, và phai nhạt sự gắn bó sâu sắc với công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc có tầm vóc rộng lớn, phong phú; dẫn đến tình trạng xa rời dân tộc và đời sống của nhân dân... Đương nhiên, hội nhập là vươn tỏa ra nhân loại, nhưng lan tỏa thế nào vẫn phải đặt trên mẫu số chung là dân tộc - nơi nghệ sĩ là thành viên, là nguồn cội - nơi nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành. Đồng bào, chiến sĩ yêu quý văn nghệ sĩ bởi khi soi vào tác phẩm, họ thấy có bóng dáng, tâm hồn mình, niềm vui được nhân lên, nỗi buồn được chia sẻ…

Do đó, cùng với việc khuyến khích, cổ vũ, nâng đỡ các sáng tác nghệ thuật có tính thể nghiệm, cũng nên chú ý tới nguy cơ đoạn tuyệt với nguồn mạch văn hóa dân tộc để rồi cóp nhặt, bắt chước, lai căng vô lối, nhố nhăng. Cũng phải nhắc đến tình trạng đó đây, thuần phong mỹ tục của dân tộc bị lãng quên, bị coi thường, thậm chí bị xâm hại. Đến cả một số di sản văn hóa quý báu của dân tộc cũng chưa được bảo tồn gìn giữ cẩn trọng dẫn tới bị xuống cấp, hay hủy hoại. Có công trình đưa vào trùng tu, phục chế sau khi làm xong người ta không còn nhận ra được đường nét, màu sắc xưa cũ bởi sự đắp điếm, tô vẽ tùy tiện, cẩu thả…

Nghệ thuật không thể tồn tại nếu mất gốc rễ văn hóa dân tộc. Không thể có một nền nghệ thuật đứng ngoài văn hóa dân tộc. Đáng lo ngại là trong khi nghệ thuật Việt Nam đang vắng bóng, thiếu hụt các tác phẩm có giá trị tư tưởng - nghệ thuật sâu sắc, hấp dẫn, xứng đáng với chiều kích, tầm vóc công cuộc đổi mới của đất nước; thì lại xuất hiện nhiều tác phẩm làng nhàng, nhợt nhạt; những chương trình truyền hình ồn ào, vô bổ; những bộ phim dễ dãi, lê thê cùng sự khen chê, định giá tù mù, cánh hẩu, bè phái, cơ hội. Ngay cả sách giáo khoa cũng phơi bày không ít sỏi sạn, một số ngữ liệu, dữ liệu đưa vào chương trình dạy cho học sinh còn thiếu chọn lọc kỹ càng, buộc dư luận phải lên tiếng mạnh mẽ, nhưng nơi có trách nhiệm lại chậm sửa chữa, thay đổi.

Trên mạng xã hội, trong đời sống cộng đồng đang tồn tại không ít “nọc độc” hoặc xu hướng, nguy cơ có thể gây nguy hại cho văn hóa dân tộc. Một ca sĩ nước ngoài bỗng nhiên được không ít bạn trẻ coi là “thần tượng”, mê muội tung hô thái quá, thậm chí hôn cả ghế “thần tượng” đã ngồi! Còn có cả “thánh chửi” trên mạng xã hội được một bộ phận thanh niên tán dương rầm rộ. Tại sao lại có các hiện tượng đó? Phải chăng đời sống văn hóa tinh thần đang tồn tại lỗ hổng ở nhiều nơi, từ truyền thông, báo chí, chương trình biểu diễn,… đến gia đình, nhà trường, xã hội?...

Khó có thể liệt kê, kiểm đếm hết những biểu hiện “lệch chuẩn” văn hóa nhưng vẫn có thể nói rằng sự “lệch chuẩn” ấy là mối nguy hại không hề nhỏ của đất nước, của dân tộc. Đó là một thứ vi-rút gây hại cho đời sống văn hóa tinh thần của xã hội, cần phải ngăn chặn, bài trừ. Văn hóa Việt Nam cần phải tỏa sáng bởi những giá trị tốt đẹp của kết hợp sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại.

Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, sự giao lưu, kết nối giữa con người với con người, giữa dân tộc với nhân loại có thể diễn ra dễ dàng, cái hay cũng dễ thấy nhưng điều dở cũng dễ lây. Bởi vậy văn hóa cần được trang bị bộ lọc tinh diệu để “gạn đục khơi trong” như lời dạy cổ nhân. Chưa lúc nào văn hóa cần phải nâng cao sức đề kháng như bây giờ. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa là của mọi người, vì vậy công tác văn hóa không chỉ là nhiệm vụ của những người công tác trong lĩnh vực văn hóa.

Ở đâu có hoạt động của con người ở đó có văn hóa. Vì thế điều trước tiên trong nhận thức của mọi cấp, mọi ngành, của mọi người cần phải hiểu đúng, hiểu sâu về vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội. Văn hóa cũng là môi trường sống cho nên không thể và không bao giờ được phép đánh đổi văn hóa để lấy kinh tế. Nhận thức đúng, tư duy đúng sẽ hành động đúng. Xây dựng văn hóa là xây dựng đất nước, xây dựng tương lai, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân.

Văn hóa là chân - thiện - mỹ, là cái đẹp ngàn xưa, cái đẹp hôm nay, cái đẹp mai sau của dân tộc Việt Nam. Xã hội càng trong sạch thì cơ hội phát triển vững mạnh càng lớn. Một xã hội vừa tuân thủ nghiêm kỷ cương, luật lệ vừa coi trọng văn hóa, đạo đức là một xã hội tốt đẹp. Đấy là thước đo trình độ phát triển văn minh của một đất nước, một xã hội.

Đó cũng là điều kiện tiên quyết tạo nên hạnh phúc cho nhân dân. Đường lối phát triển văn hóa của Đảng luôn lấy con người làm trung tâm. Điều này hoàn toàn phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân mà toàn Đảng, toàn dân đang nỗ lực phấn đấu, thực hiện. Bất luận trong hoàn cảnh nào, chúng ta vẫn cần phải xác định xây dựng xã hội phát triển lành mạnh, xây dựng con người tiến bộ, phát triển hài hòa, sống nhân nghĩa,… là mục tiêu, động lực của văn hóa .

Nhà thơ NGUYỄN HỮU QUÝ

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2020

KHÔNG ĐỂ “KHOẢNG TRỐNG VỀ TƯ TƯỞNG” ĐỂ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG CHỐNG PHÁ

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch luôn xác định chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là một “mũi đột phá”. Thực hiện mũi tiến công này, các thế lực thù địch luôn thay đổi cách thức, thủ đoạn tiến công để tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm, tạo ra “khoảng trống” về tư tưởng, gây mơ hồ, làm nhụt ý chí, suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Qua đó tạo ra mảnh đất tốt cho hệ tư tưởng tư sản ngày càng xâm nhập sâu rộng hơn vào đời sống tinh thần của xã hội, nhằm tiến tới là xóa bỏ hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam khỏi đời sống tinh thần của đất nước.

Chúng tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm giảm niềm tin của nhân dân vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng trắng trợn vu cáo Đảng ta đem tư tưởng Chủ nghĩa Mác-Lênin áp dụng vào Việt Nam là một sự gán ghép, gượng gạo dẫn đến sai lầm. Đồng thời, chúng ra sức ca tụng mô hình phát triển và thích ứng “vạn năng” của chủ nghĩa tư bản. Bằng nhiều thủ đoạn mới hết sức thâm độc, các thế lực thù địch tìm cách tạo ra sự phân hóa, đối lập, xung đột trong đời sống tinh thần, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với CNXH, tạo ra “khoảng trống” và từng bước rơi vào vòng xoáy của tư tưởng, giá trị tư sản. Mặt khác, chúng còn hướng nhận thức của nhân dân tin theo con đường “CNXH dân chủ”, “CNXH nhân văn”, “nhân bản”, mà thực chất là từ bỏ CNXH khoa học.

Chúng đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng xuyên tạc cho rằng: Hồ Chí Minh du nhập Chủ nghĩa Mác-Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt”. Rằng “Con đường Hồ Chí Minh đã lựa chọn là con đường dân tộc, không phải CNXH”. Chúng tìm mọi cách để thực hiện ý đồ “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh”, dựng chuyện, xuyên tạc bôi nhọ thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài ra chúng còn dùng thủ đoạn tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh để đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Chúng xuyên tạc, bôi đen giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc, lối sống XHCN. Đồng thời, ra sức cổ súy tuyên truyền, quảng bá, tìm cách du nhập văn hóa, lối sống phương Tây vào nước ta. Coi đây là một vấn đề then chốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa hiện nay. Chúng luôn khuyến khích khuynh hướng đòi văn hóa, văn nghệ hoạt động độc lập với chính trị, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước đối với văn hóa, văn nghệ. Chúng đưa nhiều thông tin sai lệch, độc hại lên internet, qua đó tác động xấu tới nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ, văn hóa, lối sống của nhân dân ta.

 Các thế lực thù địch, phản động đã triệt để sử dụng phương tiện thông tin đại chúng, như: Sách, báo, phim ảnh, internet, mạng xã hội… để phá hoại trận địa tư tưởng của ta. Chúng triệt để lợi dụng các con đường hợp tác văn hóa để tiếp xúc, “trao đổi” văn hóa; đặc biệt quan tâm tìm cách tiếp cận giới trẻ, văn nghệ sĩ để tác động, làm cho họ xa rời lý tưởng XHCN và say mê với lối sống, văn hóa phương Tây. Thúc đẩy việc truyền bá văn hóa phương Tây đối với học sinh, sinh viên, cán bộ đi học tập, công tác ở nước ngoài. Chúng coi đây là biện pháp tốt nhất, hiệu quả nhất để chuyển hóa tư tưởng văn hóa đối với lớp trẻ theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Để làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới, cần nâng cao chất lượng giáo dục, tuyên truyền Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong toàn xã hội. Đẩy mạnh đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Chủ động tiến hành cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đoàn thể xã hội và mọi tầng lớp nhân dân trong đấu tranh chống các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thực hiện nghiêm việc định hướng chính trị trong các sinh hoạt văn hóa và hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng. Chống mọi biểu hiện “thương mại hóa”, “phi chính trị” trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tăng cường lãnh đạo, quản lý công tác thông tin, báo chí, xuất bản, văn hóa văn nghệ; kịp thời ngăn chặn những quan điểm lệch lạc, xa rời tôn chỉ mục đích. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng chính trị trong các hoạt động văn hóa, làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch hòng thay đổi hệ giá trị văn hóa Việt Nam theo ý đồ của chúng, bảo vệ và phát triển nền văn hóa truyền thống, cách mạng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong tình hình mới./.

Nguồn: https://nhanvanviet.com

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2019

VĂN HOÁ DÂN TỘC - NỀN TẢNG CỦA SỰ TRƯỜNG TỒN!

Danh sách kẻ thù của Đế quốc Hoa Kỳ và phương Tây là những ai? Là Nga, Trung Quốc, Triều Tiên, Trung Đông (trọng tâm là khu vực Lưỡng Hà gồm Iran, Iraq, Syria), Mỹ Latinh (trọng tâm là Cuba, Venezuela, Bolivia).
Hãy ngẫm mà xem, không chỉ về lý do tài nguyên thiên nhiên hay ý thức hệ, mà tất cả các “kẻ thù” đó đều là những quốc gia có nền văn minh lâu đời, bản sắc văn hoá rõ rệt. Văn hoá có cội có nguồn chính là điều khiến Phương Tây và Kito La Mã khiếp sợ và tìm mọi cách tận diệt, để chúng có thể bành trướng mà đô hộ cả nhân loại.
Việt Nam không còn nằm trong danh sách kẻ thù của chúng thì ngoài việc nhờ tinh thần đấu tranh bất khuất, đường lối ngoại giao mềm dẻo linh hoạt, thì nguyên nhân căn bản còn lại là nền văn minh hơn 4.000 năm Lạc Hồng phương Bắc không thể đồng hoá nổi nhưng nay nó...tự chuyển hoá đâu mất, bởi những mặt trái không được kịp thời ngăn chặn trong quá trình mở cửa hội nhập, toàn cầu hoá; các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc bị mai một, thay vào đó là sự thâm nhập và lấn át của các giá trị “văn minh” phương Tây và Kito La Mã. Thậm chí có những người coi việc theo Mỹ và phương Tây là..mệnh lệnh thời đại!
Đó chính là lý do khiến nhiều nhà nghiên cứu quốc tế và trong nước đã phải đặt vấn đề “Việt Nam có thực sự giành chiến thắng trong cuộc đối đầu với phương Tây?”. Đó là sự lo lắng, tự vấn, chứ không hề tiêu cực.
Đó cũng chính là điều mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã phải suy tư căn dặn lại trước lúc đi xa, và Đảng ta đã luôn phải nhấn mạnh “xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc”. Không có điều đó, hình ảnh anh hùng và vị thế bất khuất của Việt Nam sẽ không còn nữa, là sự “tự diễn biến, tự chuyển hoá” nguy hiểm của cả một dân tộc!
Hãy xem tấm gương nhãn tiền của Châu Phi, cái nôi của văn minh nhân loại, nay họ không bao giờ có thể ngóc đầu lên được nữa. Cùng tấm gương của Châu Âu, một sự thoái hoá, già cỗi và chết mòn, cũng trong đơn điệu thê lương không kém gì Châu Phi.
Tự đánh mất mình, sẽ không thể trường tồn!

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

BÁO ĐỘNG NGUY CƠ BỊ ĐỒNG HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC RẤT ÍT NGƯỜI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

 Những năm qua, nhiều luồng văn hoá khác nhau xâm nhập vào đời sống xã hội các dân tộc thiểu số, gây ảnh hưởng, tác động mạnh đến văn hoá các dân tộc, nhiều giá trị văn hóa đặc sắc bị mai một, thậm chí có dân tộc ngay cả tiếng nói, chữ viết, trang phục đang đứng trước nguy cơ bị mất hẳn. Đặc biệt, đối với các dân tộc rất ít người, việc sử dụng, vay mượn ngôn ngữ của dân tộc khác đang diễn ra ở hầu hết cộng đồng. Một bộ phận lớn người dân, đặc biệt là lớp trẻ có xu hướng ngày càng ít sử dụng tiếng mẹ đẻ, thay vào đó là sử dụng ngôn ngữ của dân tộc Kinh hay các dân tộc khác trên địa bàn (tiếng H’mông, tiếng Tày, Nùng, Thái…). Nhiều dân tộc thiểu số hiện nay không còn dùng tiếng mẹ đẻ như: Người Tu Dí ở Lào Cai đã không còn nhớ tiếng mẹ đẻ và chuyển sang nói tiếng Quan Hỏa; người Bố Y ở Hà Giang lại dùng tiếng Giáy và tiếng Tày; Người Pu Là đã chuyển sang sử dụng tiếng Quan Hỏa. Việc không còn nói được tiếng mẹ đẻ cũng diễn ra với người Cờ Lao đỏ, La Ha, Xinh Mun… Trong sinh hoạt văn hóa, các dân tộc như người Mảng, Hà Nhì, người Pù Lá... đều có nhạc cụ cổ truyền đặc trưng riêng của mình, nhưng ngày nay còn rất ít. Nhiều giá trị văn hóa, văn nghệ, làn điệu dân ca, dân vũ truyền thống của từng dân tộc theo thời gian bị mai một bởi văn hóa của các dân tộc khác hoặc bị thất truyền, lãng quên ở các cộng đồng có số dân rất ít như Brâu, Rơ Măm, Ơ đu… Các nghề truyền thống như dệt vải, thổ cẩm, đan lát… còn rất ít hoặc đã mất hẳn. Các lễ hội tiêu biểu, đặc sắc của các dân tộc ngày càng ít được tổ chức và bị mai một dần. Cộng đồng các dân tộc rất ít người tại các thôn, bản không còn lưu giữ được các lễ hội truyền thống của dân tộc mình; ở nhiều nơi, các dân tộc rất ít người chịu ảnh hưởng bởi phong tục tập quán, lễ hội của các dân tộc khác sống trên địa bàn.
Kiến trúc của các dân tộc này cũng bị mai một nghiêm trọng. Người Kháng, La Ha, Xinh Mun, Mảng đang bị người Thái chi phối về văn hóa vật chất. Do ảnh hưởng của người Thái, kết hợp với ảnh hưởng của người Kinh, nên một số di sản văn hóa còn sót lại của các dân tộc ít người đang tiếp tục bị bào mòn. Ngoài ra, ở vùng biên giới Việt - Trung, yếu tố “Hán hóa” cũng thâm nhập vào các bản làng của người Phù Lá, Bố Y, Cờ Lao, Pu Péo. Đồng thời, đồng bào ngày càng ít sử dụng trang phục truyền thống, nhất là nam giới; chỉ có một số ít nữ giới sử dụng trang phục truyền thống hàng ngày, số còn lại chuyển sang mặc theo trang phục của các dân tộc có số dân đông trên địa bàn, hầu hết các hộ gia đình chuyển sang sử dụng trang phục của người Kinh, nhất là lớp trẻ. Sự giao thoa, đồng hoá về văn hoá đang diễn ra ngày càng sâu sắc trên các phương diện văn hóa vật thể (nhà ở, ăn uống….) và phi vật thể (ngôn ngữ, trang phục, lễ hội…). Thậm chí, có dân tộc (như người Ơ Đu) ít tìm được các nét văn hóa đặc trưng.

CẦN LOẠI BỎ NHỮNG “LUỒNG GIÓ ĐỘC” DU NHẬP VÀO NƯỚC TA

Khi chúng ta thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế, bên cạnh những “luồng gió mát”, cũng có không ít “luồng gió độc” tràn vào nước ta, cản trở sự phát triển. Lối sống, cách sống xa lạ, trái với những giá trị chuẩn mực tốt đẹp của xã hội, bất chấp những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã và đang xâm nhập vào đời sống xã hội. Nhiều sản phẩm văn hoá ra đời vội vã, chạy theo lợi nhuận và hiệu quả thương mại hoặc chiều theo thị hiếu tầm thường, quay lưng lại với những giá trị tinh thần cao đẹp, tạo ra những chướng ngại cho việc nâng cao mặt bằng dân trí. Văn hoá hình chiếm lĩnh hết cả không gian và thời gian, uy hiếp văn hoá đọc, văn hoá chữ, tạo cho thanh thiếu niên sức ỳ và sự lười biếng. Nhiều người bị trói chặt vào màn hình, màn số, mải mê với thú vui ẩm thực, nhạc mới, thời trang…mà quên đi những lĩnh vực tinh thần phong phú và đa dạng có chiều sâu văn hoá. Hậu quả của những tác động tiêu cực đó dẫn tới một bộ phận trong các tầng lớp, thành phần xã hội thiên về mưu cầu lợi ích cá nhân đã chà đạp lên những khuôn mẫu, những giá trị đạo đức đích thực của xã hội. Không ít người trong lớp trẻ hiện nay có tâm lý học đòi cách sống thực dụng, buông thả, sùng bái đồng tiền, tiêu dùng phương Tây, quay lưng lại với văn hoá, đạo đức truyền thống. Những phong tục tập quán được coi là thuần phong mỹ tục, nay được thế hệ trẻ coi là “cổ hủ”, lỗi thời. Sự thâm nhập của văn hóa độc hại, của sự lai căng văn hóa, của lối sống thực dụng và những tiêu cực khác, đã và đang ảnh hưởng, làm băng hoại những giá trị văn hóa truyền thống, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của đất nước. Do đó, chủ động  hội nhập quốc tế nhưng cũng phải chủ động đấu tranh với những biểu hiện sai trái như những khuynh hướng sùng ngoại, lai căng, mất gốc, khắc phục tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thường các giá trị nhân văn. Kiên quyết đấu tranh chống lại hệ tư tưởng tư sản, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, trên cơ sở giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA THANH NIÊN TRONG GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC HIỆN NAY

Một là, phát huy vai trò của thanh niên trong tuyên truyền nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân về tầm quan trọng của giữ gìn, phát huy giá trị tốt đẹp của bản sắc văn hóa dân tộc.
Công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức bao giờ và khi nào cũng quan trọng và cần thiết, kể cả trong thời buổi bùng nổ công nghệ thông tin mạnh mẽ như hiện nay. Bởi chỉ khi nào mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ được vai trò, tầm quan trọng và cả những nguy cơ bị mất bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập thì họ mới hình thành ý thức tự giác và tinh thần chủ động trong bảo vệ, giữ gìn. Thực tế chứng minh, chỉ khi nào con người nhận thức đúng và sâu sắc thì hành động mới thiết thực và quyết liệt, khi đó kết quả đạt được sẽ cao và bền vững. Để lực lượng thanh niên tuyên truyền có hiệu quả cao, trước hết bản thân lực lượng họ phải được giáo dục, quán triệt kỹ lưỡng về vấn đề này, họ phải nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng về nhiệm vụ giữ gìn, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trước tác động của xu thế hội nhập. Tiếp đó, thanh niên phải bằng nhiều hoạt động thực tế phong phú, hấp dẫn tuyên truyền sâu rộng tới mọi tầng lớp nhân dân những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời giúp mọi người dân nâng cao cảnh giác trước những âm ưu xuyên tạc của kẻ thù, nỗ lực đẩy lùi những tác động, ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai. Hoạt động tuyên truyền của thanh niên muốn hiệu quả phải được tiến hành thường xuyên liên tục, phong phú về nội dung, hấp dẫn về hình thức, đặc biệt phải gắn sát với từng đối tượng tuyên truyền.
Hai là, lấy thanh niên làm lực lượng nòng cốt trong tổ chức các hoạt động giới thiệu, quảng bá tạo sức lan tỏa rộng lớn bản sắc văn hóa dân tộc tới cộng đồng trong và ngoài nước.
Hoạt động giới thiệu, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc là một nội dung cần được chú trọng nhiều hơn nữa, trên thực tế chúng ta chưa coi trọng và đầu tư đúng mức cho hoạt động này. Đôi khi chúng ta dồn rất nhiều công sức, tiền của cho những hoạt động quảng cáo truyền thống song dường như lại không có sức lan tỏa bằng một hoạt động đơn lẻ của một vài thanh niên tiêu biểu, được nhiều người biết đến. Điều này muốn nhấn mạnh rằng, thanh niên luôn là tâm điểm thu hút sự quan tâm của đông đảo tầng lớp nhân dân và cả cộng đồng quốc tế, chúng ta hãy tập trung nhiều hơn, lấy thanh niên làm lực lượng xung kích trong quảng bá, tuyên truyền những giá trị tốt đẹp về bản sắc văn hóa dân tộc. Đoàn cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức trong xã hội tổ chức đa dạng các hoạt động thực tế, tình nguyện cho thanh niên thông qua đó truyền tải những thông điệp thiết thực tới nhân dân trong giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Ba là, phát huy vai trò thanh niên trong phòng, chống và đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn xấu độc của kẻ thù ảnh hưởng tới bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
Hiện nay kẻ thù đang tìm mọi cách chống phá nước ta trên nhiều lĩnh vực, trong đó văn hóa cũng là một lĩnh vực được kẻ thù rất coi trọng. Hơn nữa, trong thời buổi khoa học công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay, kẻ thù đã triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội, Internet để tuyên truyền, phát tán những quan điểm sai trái, văn hóa phẩm xấu độc, lối sống thực dụng,… làm ảnh hưởng tiêu cực tới một bộ phận thanh thiếu niên. Cần giáo dục, quán triệt cho thanh niên nắm vững nội dung này để nâng cao ý thức cảnh giác, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động, tạo điều kiện thuận lợi để thanh niên được tham gia đấu tranh chống lại những thủ đoạn xấu độc của kẻ thù. Bản thân lực lượng thanh niên thấm nhuần được vai trò, tầm quan trọng của lực lượng mình trong giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đã là một thành công lớn trong công tác đấu tranh.
Bốn là, thanh niên phải giữ vai trò tiên phong, gương mẫu trong giữ gìn, phát huy và bảo vệ bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc.
Đây là điểm mấu chốt của của vấn đề đòi hỏi lực lượng thanh niên phải xung kích thực hiện cho tốt, bởi suy cho cùng, đó là vấn đề của chính họ, đặt ra với họ và yêu cầu họ phải giải quyết. Lực lượng thanh niên là những người dễ để bị mai một về bản sắc văn hóa dân tộc nhất do đặc thù tâm lý, lứa tuổi cùng với sự chống phá của kẻ thù. Do vậy, thanh niên phải tạo bước đột phá, xây dựng cho được uy tín và thương hiệu của lực lượng mình trong vấn đề giữ gìn, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Muốn vậy, họ phải ra sức học tập, tu dưỡng để không ngừng nâng cao trình độ, hiểu biết, đồng thời tích cực tham gia vào các hoạt động thực tiễn phong phú để rèn luyện hình thành bản lĩnh của thanh niên thời hội nhập.

THANH NIÊN TRONG GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC HIỆN NAY

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, là linh hồn, là sức sống của mỗi quốc gia dân tộc. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, văn hóa Việt Nam là một thực thể, đồng thời hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh con người Việt, nhờ vậy nền văn hóa giàu bản sắc của Nước ta không bị mai một và không bị đồng hóa. Theo cách hiểu chung nhất, bản sắc văn hóa của một dân tộc là những giá trị đặc trưng về văn hóa để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Những giá trị đó nằm chủ yếu trong tâm thức, cốt cách của con người và được thể hiện ra trong mọi mặt đời sống cũng như trong mọi hoạt động, mọi quan hệ của con người và trong di sản văn hóa của mỗi dân tộc.
Hiện nay, hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế cùng phát triển đang là xu hướng chung của thế giới, nó mở ra khả năng to lớn để các dân tộc giao lưu toàn diện trên phạm vi toàn cầu, tạo động lực, cơ hội cũng như thách thức cho mỗi quốc gia trong quá trình đổi mới. Việt Nam đang đứng trước cơ hội để phát triển, nâng cao và kế thừa những tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc mình do quá trình hội nhập quốc tế mang lại. Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực của quá trình hội nhập cũng gây ra không ít những khó khăn, thách thức đối với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Đó là các hiện tượng sùng bái ngoại lai, xem nhẹ giá trị dân tộc, chạy theo lối sống hưởng thụ, thực dụng, cá nhân vị kỷ, coi trọng lợi ích vật chất, lợi ích cá nhân, lợi ích trước mắt; hạ thấp giá trị tinh thần, coi nhẹ giá trị cộng đồng; suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; các tệ nạn xã hội ngày càng tăng và tính nguy hiểm cho xã hội và cộng đồng ngày càng lớn…
Đặc biệt, sự chống phá của các thế lực thù địch thông qua tranh ảnh, sách báo, băng nhạc, băng hình có tính chất kích động dâm ô, bạo lực du nhập vào nước ta ngày càng nhiều gây tác động không nhỏ đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, văn hóa vật thể truyền thống bị xâm hại nghiêm trọng hoặc bị chính người dân xem nhẹ, thậm chí lãng quên… Tình hình đó thật sự là một trong những thách thức lớn đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam hiện nay. Do vậy, nó đặt ra một vấn đề nếu không giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc thì không những không thành công trong hội nhập mà còn có thể bị đánh mất giá trị văn hóa truyền thống, trở thành nô lệ văn hóa cho dân tộc khác.
Nhìn lại lịch sử dân tộc, chúng ta không khỏi tự hào bởi truyền thống anh hùng, bất khuất đứng lên chống giặc ngoại xâm của bao thế hệ, kẻ thù đã nhiều lần thực hiện âm mưu “đồng hóa” dân tộc Việt, “khai hóa văn minh”, nhưng chúng đều thất bại. Chúng ta vẫn giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc của văn hóa Việt một cách trọn vẹn. Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam "bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống". Những giá trị đó là sản phẩm sáng tạo của Dân tộc ta qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Tuy chưa phải là tất cả nhưng đó chính là những giá trị trường tồn của dân tộc, những nét chủ yếu, nổi bật nhất trong bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam.
Thanh niên là thế hệ tương lai của đất nước, đảm nhiệm xây dựng đất nước ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lời chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã căn dặn, ngày nay đó là sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đối với nhiệm vụ giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, thế hệ trẻ phải đóng vai trò trụ cột, đi tiên phong trong đấu tranh bảo vệ, giữ gìn và phát huy, để nó ngày càng bền vững, có sức lan tỏa rộng lớn ở trong nước và ra thế giới. Hơn nữa, thực tế cho thấy những hiện tượng có “vấn đề” liên quan tới giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đều tập trung ở lực lượng thanh niên là chủ yếu, họ phải tự mình khắc phục và giải quyết các vấn đề đó một cách ổn thỏa. Nếu thanh niên không sớm nhận thức và có những hành động thiết thực, thậm chí phải quyết liệt để giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc thì không chỉ lực lượng họ khó có điều kiện để phát triển mà đất nước cũng đứng trước nhiều nguy cơ tụt hậu khó lường trong quá trình hội nhập./.

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

KHẮC CỐT, GHI TÂM LỜI BÁC HỒ DẠY: "CÁI GỐC CỦA VĂN HÓA MỚI LÀ DÂN TỘC"

Có một câu danh ngôn, đại ý: Văn hóa là những cái còn lại khi tất cả cái khác mất đi. Lịch sử thế giới từng chỉ ra: Mất lãnh thổ, chủ quyền có thể đấu tranh lấy lại, giành lại được; nhưng mất văn hóa là mất tất cả, mất vĩnh viễn. Bài học lịch sử của tổ tiên, ông cha ta quyết giữ bằng được văn hóa dân tộc trong thời kỳ hơn nghìn năm Bắc thuộc để “ta vẫn là ta”, là minh chứng hùng hồn về điều đó.
Thế nhưng, thời đại ngày nay khác rất xa thời xưa, bởi lẽ cả thế giới đều có thể nằm ngay trong lòng bàn tay thông qua một cú “nhấp chuột” trên máy tính hay một cái vuốt tay trên màn hình máy tính bảng, điện thoại thông minh thì không dễ gì giữ được bản sắc văn hóa vốn là “cái riêng” của dân tộc mình. Hơn nữa, như một chuyên gia UNESCO từng khuyến cáo, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 dù có mang lại rất nhiều tiện ích văn minh cho cuộc sống con người, song cũng dễ làm tâm hồn con người trở nên xơ cứng, văn hóa các dân tộc trở nên đơn điệu, nghèo nàn, thậm chí có nguy cơ lụi bại trước sự “tiến công” vừa công khai, vừa ngấm ngầm của nền công nghiệp văn hóa nghe nhìn phương Tây đang “tung hoành” hầu như khắp nơi mọi chốn trên thế giới.
Do đó, điều mấu chốt để bảo tồn được bản sắc dân tộc là phải vừa chú trọng giữ gìn, vừa bồi đắp, nâng tầm bản lĩnh văn hóa, trí tuệ dân tộc để có đủ khả năng nhận diện, lọc bỏ những “virus văn hóa ngoại lai” độc hại đang hằng ngày, hằng giờ tác động, thẩm thấu vào xã hội; đồng thời luôn thích ứng cởi mở với các nền văn hóa khác, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để không ngừng làm giàu văn hóa cho dân tộc mình. Phải khắc sâu, thấm thía lời Bác Hồ dạy: Phương Tây hay phương Đông có gì hay, có gì tốt ta phải học lấy, song điều cốt yếu là “đừng biến ta thành kẻ bắt chước”, vì theo Bác: “Cái gốc của văn hóa mới là dân tộc”. Gốc có vững, cây mới bền. Giữ được cái gốc dân tộc của văn hóa, đó cũng là cơ sở vững vàng để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và cũng là thành trì chắc chắn để bảo vệ nền văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.

Thấm đẫm, kết tinh công sức, tài năng, trí tuệ và cả xương máu của các thế hệ người Việt trong hơn hai thiên niên kỷ dồn tụ lại, bản sắc văn hóa dân tộc được ví như một tấm gương của tiền nhân trao truyền cho hậu thế. Vì vậy, một khi chủ động chăm lo giữ gìn chu đáo thì tấm gương ấy sẽ ánh lên khuôn mặt dân tộc Việt ngày càng khởi sắc, xán lạn. Ngược lại, nếu không chú trọng, thường xuyên “bảo dưỡng” thì tấm gương ấy sẽ “hắt” lên diện mạo văn hóa dân tộc những vết mờ bụi và làm cho quá khứ bị tổn thương, nền độc lập dân tộc bị đe dọa, tương lai quốc gia khó phát triển ổn định, bền vững./.  

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Thế nào là bản sắc tộc người?

Bản sắc tộc người là tổng thể các giá trị đặc trưng, bản chất của văn hóa tộc người, gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của tộc người được hình thành, tồn tại và phát triển trong quá trình lịch sử.
Các giá trị đặc trưng bắn sắc tộc người mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn. Muốn nhận biết chúng, phải thông qua các sắc thái văn hóa biểu hiện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội tộc người. Các sắc thái biểu hiện tương đối cụ thể, bộc lộ, dễ nhận biết như: nhà cửa, trang phục... Bản sắc vǎn hóa tộc người còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính độc đáo, đặc trưng.
Bản sắc là cái gốc, cái căn bản, cốt lõi, cái hạt nhân của một tộc người. Khi nói đến bản sắc tộc người tức là nói đến những giá trị căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của tộc người, dân tộc. Song bản sắc không hẳn là tất cả mọi giá trị của văn hóa tộc người, mà thường là những giá trị tiêu biểu, bản chất nhất, mang thuộc tính tộc người sâu sắc.
Bản sắc tộc người vừa chịu tác động của kinh tế - xã hội để có sự biến đổi, vừa tồn tại bền vững trong tiến trình lịch sử, có cốt lõi xuyên qua mọi giai đoạn lịch sử tộc người. Nó được tạo dựng và xác lập dần dần trong quá trình lịch sử ra đời, vận động và phát triển của tộc người; là thành quả lâu dài của lao động sáng tạo; là kết quả tiếp xúc, giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều tộc người.
Bản sắc tộc người cũng bao gồm cả cái chung ở các tộc người khác. Các giá trị bản sắc không phải là không thay đổi, “nhất thành bất biến”. Có các yếu tố cũ, lỗi thời bị xóa bỏ, có những giá trị mới, tiến bộ được bổ sung, tiếp biến vào bản sắc tộc người, làm giàu thêm nền văn hóa. Có các giá trị tiếp tục phát huy tác dụng, dưới những hình thức mới, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu nó không được giữ gìn, bồi dưỡng, tiếp biến để kế thừa qua các thế hệ thì sẽ bị mai một và tàn lụi.

Trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập, giao lưu tiếp xúc giữa các tộc người, dân tộc là tất yếu. Bản sắc văn hóa tộc người đều có sự biến đổi và phát triển. Tộc người bao giờ cũng có sự học hỏi, tiếp thu, chắt lọc tinh hoa văn hóa. Bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ của các dân tộc khác và nhân loại. Giữ gìn bản sắc dân tộc đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ.