Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo viên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giáo viên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2022

LUÔN ĐỀ CAO VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ THẦY CÔ GIÁO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi thầy giáo, cô giáo phải là những người chiến sĩ trên mặt trận giáo dục; là “những người vẻ vang nhất, là những người anh hùng vô danh”. Người luôn có sự tin tưởng và mong muốn các thế hệ học sinh không ngừng cố gắng học tập, rèn luyện tốt để mai sau trở thành những người có ích cho Tổ quốc.

Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường tháng 9/1945, Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năn châu hay không, chính là nhờ một phần lớn công học tập của các em”. Lời dạy của Người đã hiệu triệu, tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ hàng triệu thầy giáo, cô giáo và các em học sinh trên cả nước tích cực thi đua dạy tốt- học tốt; trở thành chỉ dẫn mang tính chân lý phát triển của Việt Nam từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, bị thực dân, đế quốc đàn áp, bóc lột đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây chính là một lời khẳng định của Người về vị trí, vai trò to lớn của giáo dục.

Theo Hồ Chí Minh, vấn đề then chốt quyết định chất lượng giáo dục là xây dựng đội ngũ những nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Bởi vì “nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục, phải xây dựng đội ngũ những người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo. Đó là những người yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng “khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ”. Phải thường xuyên tự bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn, phương pháp sư phạm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo; chủ động thích ứng với điều kiện và đối tượng trong quá trình dạy - học hiện nay. Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy “người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình”. Người dẫn lại câu nói của Khổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”, và lời dạy của Lênin: “Học, học nữa, học mãi” để nhấn mạnh rằng người huấn luyện nào tự cho mình là đã biết đủ rồi thì người đó dốt nhất. 

Người luôn nhắc nhở các nhà giáo và cán bộ quản lý phải thanh liêm, trung thực, biết đặt lợi ích của đất nước, của nhà trường lên trên lợi ích cá nhân: “Cô giáo, thầy giáo trong chế độ ta cần phải góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc” nghĩa là khó khăn thì phải chịu trước thiên hạ, sung sướng thì hưởng sau thiên hạ. Đây là đạo đức cách mạng” và “Thầy và trò phải luôn luôn nâng cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất kỳ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”…

Bên cạnh việc nêu lên những điều mà nhà giáo phải làm cho tốt, Người còn dặn dò các thầy, cô giáo và cán bộ quản lý không được đánh mất phẩm chất của mình, dù hoàn cảnh nào cũng phải là tấm gương cho học sinh noi theo, tránh thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống thực tế, lười biếng trong học tập và nâng cao trình độ; thái độ kèn cựa địa vị, xem nhẹ công việc của mình, thiếu tinh thần xây dựng tập thể… và quyết tâm: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”.

Có thể khẳng định, những quan điểm sáng tạo, tấm gương về tự học và học tập suốt đời và đổi mới về giáo dục của Hồ Chí Minh chính là nền tảng tư tưởng cho việc thực hiện công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục của Đảng và Nhà nước ta trong 35 năm đổi mới và tiếp tục được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các cấp đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài...” và “xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới có tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phấn đầu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

ĐỪNG “ĐÁNH BÙN SANG AO” VỀ VIỆC GIÁO VIÊN XIN NGHỈ VIỆC TẠI ĐỒNG NAI

Liên quan đến lá đơn đề nghị giải quyết thôi việc của ông Lê Trần Ngọc Sơn, giáo viên tiếng Anh trường Tiểu học An Lợi (xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) với lý do: “công tác trong một cơ sở giáo dục nhưng có quá nhiều điều phi giáo dục, tởm nhất là vấn nạn dối trá, tôi cảm thấy mình không phù hợp nên nghỉ” vào ngày 06/10/2021 đã làm dậy sóng cộng đồng mạng những ngày qua và đáng tiếc hơn khi một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Đảng, Nhà nước như BBC Tiếng Việt, RFA, Việt Tân đã lợi dụng vụ việc này để “đánh bùn sang ao” để tuyên truyền, xuyên tạc về ngành giáo dục ở Việt Nam và vụ việc này cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm tư, tình cảm, uy tín của những nhà giáo hiện nay.

Hơn thế nữa, điều dư luận cũng quan tâm không kém khi thầy hiệu trưởng Trường Tiểu học An Lợi là ông Nguyễn Thanh Tùng đã kí xác nhận vào đơn với nội dung: "Qua xem xét đơn của ông Lê Trần Ngọc Sơn, giáo viên Trường Tiểu học An Lợi; Trường Tiểu học An Lợi chấp thuận cho ông Sơn nghỉ việc theo nguyện vọng. Kế toán liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết chế độ chính sách cho ông Sơn" bởi không chỉ lý do đưa ra rất phản cảm mà còn không đúng theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật và thể hiện sự yếu kém của vị lãnh đạo này. Thực tế hiện nay, theo quy định hiện hành, giữa Hiệu trưởng và giáo viên cùng ký kết hợp đồng làm việc (hợp đồng làm việc có xác định thời hạn và Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn) thì mỗi bên đều có quyền chấm dứt hợp đồng làm việc khi có nguyện vọng.

Tuy nhiên đối chiếu theo đơn đề nghị giải quyết thôi việc theo luật định của ông Lê Trần Ngọc Sơn là không phù hợp và hình thức trình bày không đúng với kỹ thuật trình bày một văn bản.

Vậy thực hư vụ việc giáo viên Lê Trần Ngọc Sơn này xin nghỉ việc là như thế nào và tại sao vụ việc này lại nhận được sự quan tâm của dư luận và cộng đồng mạng xã hội trong những ngày qua như vậy?

Được biết, ông Lê Trần Ngọc Sơn đang chuẩn bị đi du học Canada, vợ cũng làm giáo viên và đã xin nghỉ. Quá trình công tác của ông Lê Trần Ngọc Sơn cũng đã trải qua nhiều trường khác nhau, nhưng năm nào giữa thầy và nhà trường nơi thầy công tác cũng có “vấn đề’. Theo như thông tin được đăng tải trên không gian mạng thì ngày 10/10/2021, trường Tiểu học An Lợi cũng đã họp các ban ngành chức năng của trường, đơn của ông Lê Trần Ngọc Sơn đã được đưa ra xem xét; trường đã liên hệ với phòng giáo dục huyện, thanh tra đồng ý cho hiệu trưởng ký, đồng ý cho nghỉ việc để hưởng trợ cấp thôi việc 1 lần. Trước đó, vào tháng 09 vừa qua, ông Lê Trần Ngọc Sơn cũng đã từng định xin nghỉ việc 1 lần, đi nước ngoài rồi, nhưng lại rút do chỉ ở nhà dạy trực tuyến, không tiếp xúc với ai.

Dõi theo facebook cá nhân của vị thầy giáo này thì cộng đồng mạng cũng đã vỡ lẽ và phải chăng đơn xin nghỉ việc hay lý do mà vị ông Lê Trần Ngọc Sơn đưa ra cũng là quá trình thoái hóa, biến chất của thầy giáo này. Một người thường xuyên lên mạng xã hội (facebook cá nhân) để đăng tải những bài viết có nội dung kích động, chia rẽ về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là liên quan đến chủ trương, biện pháp chống dịch COVID-19 thời gian qua hay cổ vũ, chia sẻ cho các bài viết về hoạt động chống đối, những nhà “dân chủ” vi phạm pháp luật như Trần Huỳnh Duy Thức… thì cũng đủ hiểu về nhân cách, đạo đức của vị nhà giáo này.

Đó là còn chưa kể đến, những từ ngữ mà ông Lê Trần Ngọc Sơn đề cập đến trong đơn xin nghỉ việc cũng đã đủ thể hiện toàn bộ những thoái hóa, biến chất về nhân cách của vị nhà giáo này. Một thầy giáo tiểu học, những người không chỉ là gieo những con chữ mà hơn cả là dạy cả một thế hệ học trò về chuẩn mực của đạo đức mà có thể dùng những từ ngữ như “tởm”, ‘nạn dối trá”… trên cả một tờ đơn như vậy thì liệu có xứng đáng là một nhà giáo nữa hay không? Chưa hiểu sự dối trá hay cái “tởm” ở cơ sở giáo dục này thực hư như thế nào nhưng có lẽ đây cũng chỉ là chiêu trò để cho ông Lê Trần Ngọc Sơn đánh bóng tên tuổi của mình và tạo điều kiện để cho các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí xuyên tạc về ngành giáo dục Việt Nam mà thôi. Rất mong rằng các cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai đặc biệt là, UBND huyện, Phòng GD-ĐT huyện Long Thành cần nhanh chóng vào cuộc để thanh tra, kiểm tra, làm rõ vụ việc và không để ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của những người giáo viên cũng như ngành giáo dục Việt Nam và đồng thời vạch trần bản chất của những kẻ đang cố tình thực hiện chiêu trò “đánh bùn sang ao” như Việt Tân, BBC, RFA… như những ngày qua.


Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

TƯ TƯỞNG CỦA A.S.MAKAARENCÔ VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

A.S. Makaarencô( 1888 – 1939) là nhà giáo dục Xô viết lỗi lạc đã để lại cho nhân loại một kho tàng lý luận giáo dục vô giá, nhưng trước hết ông là một nhà giáo hoạt động trong thực tiễn giáo dục suốt 32 năm. Vì vậy, hơn ai hết ông hiểu rõ vai trò to lớn của người giáo viên – nhà giáo dục, đồng thời ông cũng yêu cầu rất cao đối với nhân cách của họ. Macaarencô yêu cầu tất cả mọi người làm công tác giáo dục phải rèn luyện và học tập, không chỉ về phẩm chất tư cách mà về tri thức, năng lực, nghệ thuật giáo dục, dạy học. Ông nói: “ Tôi đi đến một niềm tin sâu sắc là không có nhà giáo dục nào cả, còn tốt hơn  là có những nhà giáo dục tự rèn luyện kém. Thà có 4 nhà giáo dục có khả năng còn hơn là có 40 người thiếu khả năng hoặc được đào tạo tồi”.và “điều  quan trọng là phải làm việc một cách có ý thức và tích cực, coi trọng nghề nghiệp”. Makarencô cũng yêu cầu tập thể  các nhà giáo dục phải là một thể thống nhất trong suy nghĩ và hành động, “Không có gì nguy hiểm hơn là chủ nghĩa cá nhân và sự tranh chấp trong tập thể giáo viên, không có gì ghê tởm hơn, nguy hại hơn cái đó”. Ông cho rằng: “ Sự giáo dục đúng đắn chỉ có thể thực hiện được với tập thể nhà giáo dục nhất trí về quan điểm và tin tưởng giúp đỡ lẫn nhau...” . Đóng góp lớn lao của Makarencô cho khoa học đào tạo giáo viên chính là ở chỗ xác định ý nghĩa, vai trò của tập thể các nhà giáo dục, tính thống nhất trong hoạt động sư phạm, những điều đó trong lịch sử giáo dục nhân loại, chưa có ai đề cập tới sâu sắc, có giá trị thực tiễn Makarencô. Ngày nay, những kinh nghiệm và lý luận của ông về người giáo viên, và tập thể giáo viên cần được quán triệt sâu sắc trong công tác đào tạo giáo viên của các trường sư phạm.

TƯ TƯỞNG CỦA V.I.LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

Bàn về người thầy giáo xã hội chủ nghĩa, Lê Nin nhiều lần nhấn mạnh tất cả nhiệm vụ nặng nề của nhà trường Xô viết chỉ có thể thực hiện tốt nếu có sự tham gia của đội ngũ giáo viên. Người đánh giá cao vị trí xã hội, vai trò của người thầy giáo trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ cũng  như trong cuộc cách mạng văn hoá, khoa học, kỹ thuật: “ Giáo viên có nhiệm vụ truyền bá giáo dục to lớn, trước hết phải trở thành đội quân chủ yếu của sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa,  phải giải phóng cuộc sống, tri thức khỏi  phụ thuộc giai cấp tư sản, khỏi sự đô hộ của giai cấp bóc lột...” . Từ đó Lê Nin khẳng định chế độ xã hội chủ nghĩa phải thay đổi vị trí xã hội của người giáo viên, phải có trách nhiệm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người thầy giáo thực hiện nhiệm vụ của  họ... 

NGƯỜI GIÁO VIÊN TRONG LỊCH SỬ GIÁO DỤC VIỆT NAM

Đất nước ta luôn tự hào với truyền thống ngàn năm văn hiến. Lịch sử dân tộc ta ghi nhiều trang oanh liệt, văn chương và tư tưởng Việt Nam có vẻ đẹp riêng, khoa học kỹ thuật Việt Nam vẫn đúc kết nên những kinh nghiệm nhất định...Tất cả những thành quả ấy là do sức sống, do bản lĩnh của nhân dân, trong đó có phần của những thầy giáo qua các thời đại.
Ở nước ta, trong xã hội cũ trước năm 1945 ( xã hội phong kiến và thời kỳ Việt Nam bị nước ngoài đô hộ), giai cấp thống trị cũng luôn ý thức một cách sâu sắc vai trò, ý nghĩa của giáo dục nên cũng luôn tìm cách nắm  lấy đội ngũ giáo viên, buộc họ phải thực hiện ý đồ chính trị, tư tưởng đạo đức của giai cấp mình. Trong cuộc đấu tranh gây gắt giữa các giai cấp về giáo dục, đội ngũ giáo viên bị phân hoá thành hai bộ phận: một bộ phận giáo viên làm việc trong các nhà trường dành cho con em giai cấp thống trị, do vậy, họ có điều kiện sống và làm việc thuận lợi hơn; đại bộ phận giáo viên làm việc trong các nhà trường dành cho con em nhân dân lao động thì có cuộc sống vật chất khó khăn, không được tôn trọng về mặt pháp lý, bị coi thường, luôn phải chịu đựng những bất công...Tuy nhiên, trong hoàn cảnh chung đó, một bộ phận giáo viên đã thể hiện tài đức cao sáng và có công lớn trong việc đem giáo dục đến với quần chúng nhân dân lao động.
Trong xã hội phong kiến có những người dã từ bỏ chức tước, địa vị cao sang ở chốn quan đường để sống một cuộc đời thanh bạch nhưng cao thượng, làm người giáo viên dạy dỗ con em nhân dân lao động, nêu cao khí tiết và tinh thần dân tộc, yêu nước thương nòi. Thông qua những trường tư do họ mở ở các địa phương và với vai trò là những thầy “ đồ”, họ đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài cho đất nước. Nhân dân kính mến yêu thương họ, học sinh cảm  phục và biết ơn họ. Những tấm gương thầy giáo tiêu biểu soi sáng muôn đời sau như Chu Văn An( 1292 – 1370), Nguyễn Bỉnh Khiêm ( 1491 – 1585), Ngô Thế Vinh( 1803- 1856), Nguyễn Đức Đạt( 1825 – 1887), Nguyễn Văn Siêu (1796-1869); Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888)...
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta làm thuộc địa. Cùng với chính sách bình định, khủng bố, cai trị, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân rất thậm tệ. Trong khuôn khổ chính sách giáo dục và tổ chức nhà trường công khai dưới chế độ thực dân Pháp, đội ngũ giáo viên tất nhiên không phải là thuần tuý, nhưng những thầy giáo đúng đắn, nghiêm túc vẫn xứng đáng với lòng kỳ vọng của học sinh và nhân dân. Họ đã cố gắng say mê, tận tuỵ với nghề, áp dụng những kinh nghiệm sư phạm phương Tây vào công tác dạy học. Trong hoàn cảnh thực dân Pháp muốn học sinh Việt Nam quên mình, quên dân tộc mình... họ đã góp phần làm cho học sinh hiểu được cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ, của nền văn chương Việt Nam, nuôi dưỡng tinh thần tự hào dân tộc, giữ gìn được lương tri của người dân mất nước. Họ cũng nêu tấm gương sáng về học lực uyên bác, về phương pháp sư phạm xuất sắc và lòng nhân hậu đối với học sinh. Những thầy giáo tiêu biểu như : Dương Quảng Hàm, Nguyễn Hữu Tảo, Đặng Thai Mai.... Cũng trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ, nhiều nhà giáo dục đã đứng lên đấu tranh, trở thành những tấm gương của ý chí tự cường, tinh thần độc lập tự do, yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh... Một số thầy giáo đã trở thành những chiến sĩ cách mạng đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập dân tộc và bình đẳng xã hội, tiêu biểu nhất là thầy giáo Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch Hồ Chí Minh...
Nhìn chung, vị trí của người giáo viên Việt Nam trong xã hội cũ là không xứng đáng với nghề nghiệp của họ, nhưng đội ngũ giáo viên đã đóng góp to lớn vào công tác giáo dục thế hệ trẻ, giữ gìn và phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Tinh thần tôn sư trọng đạo, nói một cách  thiết thực hơn là hiếu học,  trọng thầy của nhân dân ta luôn có những nét riêng biệt. Nhân dân, học sinh trọng thầy, biết ơn thầy vì gắn thành quả của thầy với thành quả của lao động, “ Không thầy đố mày làm nên”. Mặt khác, ông thầy trong xã hội Việt nam xưa – không kể bọn thầy đồ, nho sĩ tha hóa - đại đa số là những người thực sự có công với đất nước. Có thể khẳng định rằng, trên thế giới này, ít có một đất nước mà hầu hết những con người có vai trò quan trọng trong lịch sử đều trải qua nghề thầy và có khá nhiều người thầy không có chức tước, học vị gì cao, nhưng lại có công lớn ( Lý Công Ẩn đào tạo ra Lý Thường Kiệt, Trương Văn Hiến dạy dỗ Quang Trung, Nguyễn Thức Tự bồi dưỡng cho Phan Bội Châu...). Người thầy giáo vẫn được coi là cầu nối, nối liền quá khứ, hiện tại, tương lai.

NGƯỜI GIÁO VIÊN TRONG LỊCH SỬ GIÁO DỤC THẾ GIỚI

Lịch sử phát triển của giáo dục và nhà trường qua các thời kì xã hội, đã chứng tỏ rằng trong xã hội, có giai cấp thì giai cấp thống trị bao giờ cũng dành độc quyền về giáo dục, dùng giáo dục làm công cụ,  phương thức truyền bá tư tưởng chính trị,  đường lối chính sách và duy trì vị trí xã hội của mình. Do vậy, giai cấp thống trị xã hội bao giờ cũng nắm lấy đội ngũ giáo viên, tìm mọi cách buộc đội ngũ giáo viên trở thành người tuyên truyền tư tưởng, thực hiện ý đồ và bảo vệ những quyền lợi của giai cấp thống trị. Xét trên quan điểm lịch sử, bất kì một chế độ xã hội nào, một giai đoạn phát triển nào của nhân loại, mục đích  giáo dục vẫn là chuẩn bị một lớp người thay thế, là chăm sóc, dạy dỗ con người..., cho nên, đội ngũ giáo viên trong xã hội ấy vẫn là lực lượng chủ yếu thực hiện mục đích giáo dục. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện sứ mệnh cao cả của mình,  đã có nhiều thầy giáo dám đấu tranh với những bất công trong xã hội, có những tư tưởng tiến bộ, những đóng góp lớn lao vì một nền giáo dục tiến bộ. Họ là những tấm gương lớn về nhân cách của nhà giáo mà sử sách còn lưu truyền đến hôm nay.
Bắt đầu từ chế độ chiếm hữu nô lệ, giai cấp chủ nô đã dựng ra “ nhà trường” là nơi con cái chủ nô đến để được chăm sóc, giáo dục, chủ nô cũng uỷ quyền cho một lớp người chuyên môn làm nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục con cái họ - đó là thầy giáo. Thầy giáo dạy trực tiếp cho trò theo hình thức dạy học cá nhân, mỗi thầy một trò... Giáo dục nhằm tạo ra 2 lớp người trong xã hội: tầng lớp lao động trí óc thuộc về chủ nô, tầng lớp lao động chân tay thuộc về người nô lệ và dân tự do...
Giai đoạn phát triển tiếp theo của chế độ chiếm hữu nô lệ là chế độ phong kiến – xã hội có giai cấp với hai giai cấp chính là địa chủ và nông dân ở phương Đông,  lãnh chúa và công nô ở phương Tây. Các triều đại phong kiến Trung Hoa- Quốc gia phong kiến điển hình ở  phương Đông -đều dựng ra trường học riêng để giáo dục cho con cái của tầng lớp quý tộc. Do vậy, người thầy giáo trong xã hội phong kiến cũng thực hiện mục đích giáo dục đào tạo con người nhằm phục vụ cho lợi ích của tầng lớp trên của xã hội phong kiến.
Từ cuối thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XVII, ở các nước Tây Âu, giai cấp tư sản mới ra đời như là một lực lượng tiến bộ xã hội chống lại giai cấp phong kiến, nhưng thực chất vẫn là giai cấp bóc lột. Nhiều  nhà giáo dục là đại biểu trung thành của giai cấp tư sản và quý tộc mới trên con đường phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhưng họ đã có những tư tưởng giáo dục tiến bộ như đề cao vai trò của giáo dục; chủ trương giáo dục bình đẳng cho mọi trẻ em, giáo dục con người phát triển  toàn diện, coi trọng khoa tự nhiên và các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của người học... Một số nhà giáo dục tiêu biểu của thời kì này là: J. A. Cômexki ( 1592 – 1670), J. Locke ( 1632- 1704), J.J.Ruxô( 1712 – 1778)...
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX, các nước tư bản chủ nghĩa phát triển ở phương Tây chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chủ nghĩa đế quốc xuất hiện làm cho mâu thuẫn vốn có giữa giai cấp tư sản và vô sản càng thêm sâu sắc. Giáo dục thời kì đế quốc chủ nghĩa hết sức đa dạng nhưng mục đích chung là chuẩn bị cho trẻ em của giai cấp tư sản có đủ năng lực để quản lý nhà nước và quản lý nền kinh tế – sản xuất hiện đại. Do đòi hỏi của nền sản xuất công nghiệp  phát triển buộc giáo dục tư sản lúc này  phải chuẩn bị cho người lao động vốn tri thức và kỹ năng tối thiểu để có thể trở thành người lao động làm thuê nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất cho chủ. Phong trào “ nhà trường mới” ra đời với việc tổ chức, nội dung, phương pháp và đầu tư cho giáo dục đều ưu việt hơn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục để chuẩn bị một lớp người kế tục sự nghiệp quản lý nhà nước tư bản chủ nghĩa. Như vậy, “ Nhà trường mới” chỉ là trường học dành riêng cho tầng lớp trên của xã hội tư bản và một bộ phận giáo viên thuộc tầng lớp trên làm việc trong các nhà trường này cũng trung thành với mục đích đào tạo con người phục vụ giai cấp tư sản.
Chủ nghĩa Mác ra đời là một tất yếu lịch sử do những đòi hỏi của thực tế khách quan để phát triển xã hội loài người. Học thuyết Mác bao gồm triết  học Mác xít, chủ nghĩa xã hội khoa học và kinh tế chính trị Mác xít là vũ khí tư tưởng, vũ khí luận và là kim chỉ nam cho hành động của giai cấp vô sản thế giới trong cuộc đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa cộng sản. Học thuyết giáo dục của Mác – ăng nghen là một bộ phận của chủ nghĩa cộng sản khoa học,  nó được hoàn thiện dần bằng tư tưởng giáo dục vĩ đại của V.I. LêNin,  của các nhà giáo dục xã hội chủ nghĩa, trước hết là các nhà giáo dục Xô Viết.
Như vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội, hiện diện trong tất cả mọi chế độ, mọi giai đoạn phát triển của lịch sử. Do vậy, dù khác nhau về địa lý, lịch sử, truyền thống, dù được đặt vào những vị trí khác nhau trong từng chế độ xã hội.... nhưng vai trò, tác dụng của người giáo viên vẫn được khẳng định và đánh giá cao trong lịch sử giáo dục của nhân loại.

VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN XƯA VÀ NAY

Trong bất kỳ xã hội nào, bất kỳ giai đoạn phát triển  nào của nhân loại, đội ngũ giáo viên đều đóng vai trò vô cùng quan trọng, bởi vì họ là những người trực tiếp làm công tác giáo dục - đào tạo thế hệ tương lai. Xã hội loài người đã trải qua nhiều chế độ xã hội khác nhau, nhiều phương thức sản xuất khác nhau, vị trí, vai trò của người giáo viên trong từng chế độ đó cũng được quan niệm khác nhau, nhưng ý nghĩa xã hội to lớn của nghề dạy học là không ai phủ nhận được.
J.A.Cômen xki đã gọi người giáo viên là người “ chuyển giao ngọn đuốc của nền văn minh”, “ sợi dây chuyền giữa các thế hệ” và coi chức vụ mà xã hội trao cho người giáo viên là chức vụ quang vinh mà dưới ánh mặt trời này không có chức vụ nào ưu việt cho bằng. A.Đixtecvec nhận định: “chính giáo viên là những người gieo hạt giống, không có giáo viên thì thế giới sẽ lùi lại chỗ dã man. K.Đ.Usinxki cũng đã khẳng định: “sự nghiệp dạy học trông bề ngoài thì bình thường, nhưng đó là sự nghiệp vĩ đại nhất của lịch sử loài người” ... Nhiều lời ca ngợi và nhiều danh hiệu cao quý được trao cho người giáo viên: “ Người kỹ sư tâm hồn”; “viên kim cương của nhân loại”, “ người gieo hạt giống vàng của chân lý”, “ nhà kiến trúc mẫu người tương lai của đất nước”…
Nước ta có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, truyền thống đó vẫn được bảo tồn và phát triển, người giáo viên vẫn luôn được nhân dân yêu mến và ca ngợi. Từ xưa đến nay, trong dân gian ai cũng thuộc câu: “ không thày đối mày làm nên”, “ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”: Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy... Cả đến khi công thành doanh toại, người ta cũng nhắc nhau: “ Mười năm rèn luyện sách đèn, công danh gặp bước chớ quên ơn thầy”
Ở thời kỳ phong kiến - khi mà tri thức là thầy, thầy là tri thức, thầy có quyền ban phát tri thức cho người học. Thì thời đại ngày nay, tri thức không còn nằm độc quyền trong tay người thầy nữa mà bản thân người học có thể tìm kiếm tri thức ở nhiều nguồn khác nhau, người thầy lúc này chỉ là người cầu nối, là một trong những kênh để cung cấp tri thức cho người học.
 Do vậy trong thời đại ngày nay, giáo dục luôn được xem là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, vai trò của người giáo viên đặc biệt được coi trọng, chức năng của người giáo viên có nhiều thay đổi và yêu cầu đối với nhân cách người giáo viên cũng ngày càng cao hơn. Ở nước ta, trong suốt cuộc đấu tranh trường kỳ giữ nước và dựng nước, nhân dân ta, Đảng và nhà nước ta luôn luôn tôn vinh nghề dạy học và vị trí cao cả của người thầy. Đội ngũ giáo viên đã không quản khó khăn gian khổ, vượt qua mọi thiếu thốn có mặt trên khắp mọi miền đất nước, cống  hiến toàn bộ tài năng cho sự nghiệp “ trồng người”, góp phần vào sự nghiệp chung.
Ngày nay,  trước xu thế đổi mới của thế giới-  thời đại của khoa học- công nghệ hiện đại.  Đất nước Việt Nam  đang bước vào giai đoạn phát triển mới- một xã hội công nghiệp, hiện đại, văn minh, công bằng,  thì  vai trò, chức năng, nhiệm vụ của nhà trường, của người giáo viên đã có sự thay đổi cơ bản. Người giáo viên của thế kỷ XXI phải được đào tạo ở trình độ cao về học vấn cả về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn và khoa học giáo dục; phải nắm vững phương pháp dạy học theo xu thế dạy học lấy học sinh làm trung tâm; phải được trang bị những tri thức cơ bản về công nghệ thông tin và ứng dụng vào trong quá trình dạy học. Người giáo viên không chỉ thực hiện chức năng dạy học, giáo dục mà còn là một nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà đạo đức, nhà hoạt động xã hội....Muốn có một đội ngũ giáo viên như vậy, cần “phát triển đội ngũ nhà  giáo”, trong đó đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục phải được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục hiện nay

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

MẤY SUY NGHĨ VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ GIÁO TRONG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO HIỆN NAY

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Còn gì vẻ vang hơn nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Người thầy tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất dù là tên tuổi không được đăng trên báo, không được hưởng huân chương, những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh”. Nhận thức sâu sắc sứ mệnh cao cả của mình, lớp lớp các thế hệ nhà giáo đã không ngừng tu dưỡng phẩm chất, nâng cao năng lực, cống hiến trí tuệ, công sức và cuộc đời cho sự nghiệp “trồng người”.
Hiện nay, trước thời cơ, vận hội và thách thức mới của dân tộc, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) của Đảng ta về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học... Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học.”. Đội ngũ giảng viên là nhân tố trực tiếp quyết định chất lượng của quá trình đổi mới giáo dục, đào tạo. Tuy nhiên, hiện nay, người giảng viên không đóng vai trò truyền dạy kiến thức, mà trở thành người trực tiếp tổ chức hoạt động giáo dục, đào tạo; chuyển từ vai trò người “truyền thụ kiến thức” trở thành người “dạy cách học. Chức năng chủ yếu của người giáo viên là tổ chức, dẫn dắt, định hướng quá trình học tập của người học và thúc đẩy động cơ, truyền cảm hứng cho người học, làm cho người học tự giác cao độ về việc học tập, tự tìm kiếm kiến thức bằng suy nghĩ, hành động của bản thân. Người giảng viên trở thành người đạo diễn, “bạn đồng hành” “bình đẳng” cùng học trò trong quá trình đi tìm chân lý. Dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giảng viên, người học tự tìm cách chiếm lĩnh tri thức khoa học, tự giác rèn luyện một cách tính tích cực, chủ động, sáng tạo để từng bước phát triển năng lực nghề nghiệp. Công việc của người giảng viên không phải dễ dàng hơn mà càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn - đó không chỉ là công việc của nhà giáo mà còn là công việc của nhà khoa học, nhà văn hóa.
  Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, đòi hỏi mỗi giảng viên phải có sự nỗ lực  cao để nâng cao phẩm chất, năng lực của bản thân. Trong thời đại của tri thức và khoa học công nghệ hiện đại, người giảng viên phải năng động, chủ động tiếp thu những kiến thức mới, không ngừng học tập, nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn. Hơn thế nữa, trước những tác động mạnh mẽ của mặt trái cơ chế thị trường, mỗi giảng viên cần phải thường xuyên bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong công tác khoa học, giữ gìn, rèn dũa đạo đức nghề nghiệp. Đồng thời, mỗi giảng viên phải thật sự trở thành những chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, có đủ sức mạnh của ý chí, bản lĩnh và nhiệt huyết để vượt qua những khó khăn, thách thức trong công việc cũng như trong cuộc sống. 

 Dù xã hội có nhiều biến động, Nhà giáo vẫn là những người được tôn vinh, kính trọng, nghề giáo vẫn là nghề cao quý trong những nghề cao quý. Điều đó, đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, vươn lên, luôn tìm tòi, sáng tạo, tiếp nối xứng đáng truyền thống của các thế hệ đi trước; góp phần tạo ra những “sản phẩm” có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới./.