Hiển thị các bài đăng có nhãn cương lĩnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cương lĩnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

NỘI DUNG CƯƠNG LĨNH CỦA PHÁI TẢ DO V.I.LÊNIN VẠCH RA LÀ GÌ?

 

Hưởng ứng lợi kêu gọi của V.I.Lênin, những người xã hội chủ nghĩa ở các nước đã tổ chức hai hội nghị liên tiếp ở Dimmécvan (9/1915) và Kientan (4/1916) ở Thụy Sĩ. Sau hội nghị, phái tả Dimmécvan đã được thành lập, bao gồm Đảng Bônsêvích Nga, đại biểu của phái tả Đức, Ba Lan, Thụy Điển, Na Uy, Thụy Sĩ, Hà Lan. Thay mặt cho phái tả, V.I.Lênin vạch ra cương lĩnh gọi là Cương lĩnh của phái tả với nội dung:

- Biến chiến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng. Nghĩa là làm cho chính phủ nước mình thất bại trong chiến tranh đế quốc, không được bỏ phiếu cho chiến tranh, những người xã hội chủ nghĩa phải rút khỏi chính phủ tư sản.

- Đoạn tuyệt hoàn toàn với Quốc tế II, tiến tới thành lập Quốc tế Cộng sản. Nhưng đến cuối năm 1916, những người trong liên minh phái tả Dimmécvan (trừ Đảng Bônsêvích Nga) đã rơi vào lập trường hòa bình tư sản, kỳm hãm việc mở rộng phong trào cách mạng của giai cấp công nhân. Trước tình hình đó, V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích Nga kiên quyết tách khỏi phái này. Trong Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương của Đảng tháng 4 năm 1917, V.I.Lênin cho rằng, không thể trông chờ vào lực lượng nào khác, đề nghị Đảng Bônsêvích Nga phải đảm nhiệm lấy sứ mệnh lịch sử đứng ra thành lập quốc tế mới - Quốc tế III.

Thứ Sáu, 26 tháng 1, 2024

QUAN ĐIỂM VỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN NĂM 2011)?

Về vị trí của đoàn kết các dân tộc: Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta.

Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc, xây dựng đoàn kết các dân tộc Việt Nam: Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Một số nội dung phải thực hiện tốt trong thời gian tới để xây dựng, củng cố đoàn kết các dân tộc Việt Nam: Nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công tác dân tộc: Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. 

Những định hướng cơ bản trong giải quyết vấn đề dân tộc: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc; các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số. 

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2021

NGỌN CỜ TƯ TƯỞNG CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ

Cách đây 173 năm, ngày 24-2-1848, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” do Karl Marx và Friedrich Engels soạn thảo đã được xuất bản. Sự ra đời của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đánh dấu sự hình thành cơ bản của chủ nghĩa Marx và là văn kiện đánh dấu bước ngoặt sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, K.Marx và F.Engels trình bày rõ những quan điểm cơ bản về chủ nghĩa duy vật lịch sử, về đấu tranh giai cấp, về sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản, về xây dựng chính đảng của giai cấp công nhân. Bên cạnh đó, K.Marx và F.Engels còn trình bày tính tiên phong của Đảng Cộng sản, mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và giai cấp, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, một số nguyên lý chiến lược, sách lược cách mạng... K.Marx và F.Engels khẳng định rằng, giai cấp vô sản không thể giải phóng mình nếu không đồng thời giải phóng toàn xã hội. Song, giai cấp vô sản không thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử nếu không tổ chức thành chính đảng của giai cấp. Đảng được hình thành và phát triển xuất phát từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản.

Những nguyên lý được K.Marx và F.Engels trình bày trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho toàn bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; phản ánh đúng đắn, sâu sắc các quy luật vận động, phát triển của lịch sử nhân loại. Giá trị thực tiễn của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã được minh chứng sống động bằng Công xã Paris, thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917; bằng sự ra đời và phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa với những thành tựu to lớn không thể phủ nhận; bằng sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân ở chính trong lòng các nước tư bản chủ nghĩa; bằng phong trào đòi độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên phạm vi toàn cầu và bằng sự thành công của mô hình CNXH hiện thực ở một số nước hiện nay, trong đó có Việt Nam. Lãnh tụ V.I.Lenin từng nhận xét: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng bộ sách, tinh thần của nó, đến bây giờ, vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và chiến đấu của thế giới văn minh”.

Là người Việt Nam đầu tiên đến với chủ nghĩa Marx-Lenin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, Chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, huy động được mọi nguồn lực của đất nước, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại để giành những thắng lợi vẻ vang và vững bước đi lên CNXH.

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam trong 35 năm qua là minh chứng sống động thể hiện sự vận dụng, phát triển đúng đắn, sáng tạo tinh thần của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” trong điều kiện mới. Trong bài phát biểu tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng ngày 26-1 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay... Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam và những thành quả mà nhân dân ta đạt được trong những năm qua tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của đất nước ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam. Điều đó một lần nữa khẳng định, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” sẽ tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng soi sáng con đường đi tới chủ nghĩa cộng sản của nhân loại, trong đó có Việt Nam.

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2020

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU “DÂN CHỈ MONG THAY ĐỔI ĐƯỜNG LỐI” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Mỗi kỳ Đại hội Đảng là một sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, mà văn kiện chính là “linh hồn” của Đại hội. Việc lấy ý kiến nhân dân đóng góp xây dựng văn kiện Đại hội là một công việc hệ trọng, nhằm tập hợp và phát huy trí tuệ, quyền làm chủ của nhân dân trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, quyết sách quan trọng của đất nước, thể hiện quan điểm nhất quán “lấy dân làm gốc” của Đảng; mọi chính sách phát triển đều “vì nhân dân”. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm, tình cảm, tâm huyết của nhân dân, góp phần tạo sự thống nhất về nhận thức, ý chí, hành động của toàn Đảng, toàn dân, hòa quyện lòng Dân - ý Đảng. Ngay sau khi Dự thảo các Văn kiện được công bố, quần chúng nhân dân đã đóng góp nhiều ý kiến có giá trị, đề cập nhiều nội dung quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, được Đảng ta trân trọng, nghiêm túc tiếp thu những ý kiến xác đáng để hoàn thiện dự thảo các văn kiện.

Thế nhưng, bên cạnh các ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của đông đảo quần chúng nhân dân, thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại lợi dụng việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân để xuyên tạc, tuyên truyền những luận điệu sai trái, chống phá công tác chuẩn bị Đại hội, gây tâm lý hoài nghi, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Một trong những ngón đòn không mới, nhưng rất thâm hiểm, đó là tung ra các luận điệu vô căn cứ, như: “Dân chỉ mong thay đổi đường lối”. Cụ thể là, với thủ đoạn “thêm bớt”, “cắt xén” từ ngữ trong các quan điểm có tính nguyên tắc trong đường lối chính trị của Đảng ta, như: về “phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, thì họ đòi bỏ cụm từ “định hướng xã hội chủ nghĩa”, chỉ “phát triển kinh tế thị trường” là đủ. Về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì họ ra sức tung hô, cổ xúy cho cái gọi là “đa nguyên, đa đảng”. Hay trên lĩnh vực văn hóa, lại đòi phải “cởi trói cho văn hóa”, nghĩa là “nền văn hóa Việt Nam phải được hòa nhập vào thế giới”, phải “Tự do báo chí”, “Tự do ngôn luận”. Thậm chí, họ đòi phải thay đổi tên nước “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thành “Việt Nam dân chủ cộng hòa”, v.v.

Có thể khẳng định ngay rằng, tất cả các quan điểm, luận điệu đó không phải là ý kiến của đông đảo quần chúng nhân dân, không có chuyện “Dân chỉ mong thay đổi đường lối”. Đó chẳng qua chỉ là sự áp đặt khiên cưỡng, xuyên tạc vô căn cứ, ngụy biện, che giấu cho một mưu đồ đen tối của một số kẻ cơ hội chính trị, phản động, nhằm hướng lái con đường cách mạng Việt Nam, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Tính chất nguy hại của luận điệu là làm cho nhân dân ta mơ hồ, mất cảnh giác, thiếu tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, dẫn đến hoài nghi, mất niềm tin vào Đảng, chia rẽ giữa Đảng với quần chúng nhân dân.

Vậy, “Thay đổi đường lối” là thay đổi thế nào? Phải chăng là thay đổi cái mục tiêu, con đường cốt lõi: “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”???.

Thực tiễn hơn 90 năm qua, từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn kiên định, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây là con đường duy nhất đúng, phù hợp với khát vọng, ý chí của Nhân dân và được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh. Kiên định, nhất quán với đường lối đúng đắn, sáng tạo ấy, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta giành được nhiều thành tựu to lớn: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa người dân Việt Nam từ kiếp nô lệ đứng lên thành người làm chủ đất nước; giành thắng lợi vĩ đại trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội; bảo vệ vững chắc biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam; tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, v.v. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (khóa XII), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Từ một nước nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu, trình độ rất thấp, hầu như không có tên trên bản đồ thế giới, ngày nay Việt Nam đã vươn lên trở thành một nước có quy mô dân số gần 100 triệu người, đang phát triển, có thu nhập trung bình, quan hệ với hầu hết các nước trên thế giới, tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế và là thành viên, đối tác tin cậy và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Những thành tựu to lớn đó đã khẳng định: con đường “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là duy nhất đúng” và “Sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Hiện nay, thế giới đang phải đối mặt với sự hoành hành của đại dịch Covid-19, nhưng nền kinh tế nước ta vẫn tăng trưởng dương (đạt trên 2% trong 9 tháng đầu năm), dự kiến tăng 2% - 3% trong năm 2020; đời sống nhân dân ta được bảo đảm. Công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công, người có hoàn cảnh khó khăn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm. Đối với nhân dân vùng thiên tai, thảm họa môi trường ở miền Trung vừa qua, Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương tập trung tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục sạt lở đất nhanh nhất có thể. Với phương châm “bốn tại chỗ” và “không được để dân đói, không được để dân rét, không để dân không có chỗ ở”, cấp ủy, chính quyền địa phương cùng các đơn vị Quân đội, Công an đã huy động nguồn nhân lực, vật lực cao nhất, tập trung bảo vệ tính mạng, tài sản, ổn định đời sống người dân. Thủ tướng Chính phủ đã quyết định xuất hơn 16.000 tấn gạo dự trữ quốc gia; hơn 1.200 tỷ đồng và hàng ngàn tấn nhu yếu phẩm, thuốc men;  Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tiếp nhận hơn 350 tỷ đồng để cứu trợ cho người dân vùng lũ, lụt. Cùng với đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm tiếp tục có hiệu quả. Những thành tựu đó, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là minh chứng thuyết phục, sinh động về đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, thể hiện bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng vững chắc cho con đường phát triển đi lên của đất nước trong giai đoạn tiếp theo.

Như vậy, luận điệu “Dân chỉ mong thay đổi đường lối” của các thế lực thù địch chỉ là sự xuyên tạc, vô căn cứ,  nhằm chủ đích kích động, gây rối, chống phá Đại hội lần thứ XIII của Đảng về cương lĩnh, đường lối. Luận điệu ấy không chỉ gây chia rẽ Đảng với Nhân dân, mà còn gây tâm lý do dự, hoài nghi dẫn đến mất niềm tin đối với Đảng. Tuy nhiên, dù có thâm độc, xảo trá như thế nào, chúng cũng không thể chia rẽ được mối quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Nhân dân Việt Nam được vun đắp, phát huy, tỏa sáng trong hơn 90 năm qua. Hơn lúc nào hết, chúng ta luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần vào sự thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

NHẬN DIỆN CHIÊU TRÒ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN CƯƠNG LĨNH, ĐƯỜNG LỐI VÀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Đây là thủ đoạn cũ rích, nhưng chúng luôn coi là một trọng điểm chống phá với những chiêu trò hết sức tinh vi, thâm độc. Chúng xuyên tạc, phủ nhận đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng. Chúng cố tình lờ đi vấn đề mang tính khách quan trong quy luật phát triển xã hội là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người chỉ thực sự triệt để khi có sự kết hợp chặt chẽ với nhau, điều này đồng nghĩa với mục tiêu độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH. Đặc biệt, sau sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, chúng “lý sự” rằng: “Mọi câu hỏi của xã hội đều được tìm thấy ở chủ nghĩa tư bản”(!); Đảng Cộng sản Việt Nam “bảo thủ” với con đường đi lên CNXH là trái quy luật, hoặc “đã phát triển kinh tế thị trường thì đâu còn là CNXH”(!); Việt Nam hiện nay là “đỏ vỏ, xanh lòng”(!)... 

Đối với quân đội, chúng cho rằng “quân đội chỉ trung thành và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”, “quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị”(!)... Bên cạnh đó, chúng còn ra sức tuyên truyền cho luận điệu “có nhiều đảng cạnh tranh mới là dân chủ”, logic của chúng là phải xóa bỏ sự “độc tài, toàn trị” của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 của nước ta. Thực chất là, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo và cầm quyền, thực hiện đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng đối lập; phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN), hướng lái Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đó là hai vấn đề căn cốt để chúng tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2019

MỤC TIÊU TỔNG QUÁT VÀ MỤC TIÊU CỤ THỂ CỦA CHẶNG ĐƯỜNG ĐẦU THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

Cương lĩnh 1991 xác định rõ mục tiêu tổng quát khi kết thúc TKQĐ ở Việt Nam là “xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh”. Trong đó, mục tiêu của chặng đường đầu TKQĐ ở nước ta là: “thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định, vững chắc tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau”.
Tổng kết việc thực hiện mục tiêu của Đại hội VII, Cương lĩnh 1991 và căn cứ vào tình hình thực tế đất nước, Đại hội VIII (1996) khẳng định, nước ta đã “ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng”, kết thúc chặng đường đầu tiên và bắt đầu bước vào chặng đường tiếp theo của TKQĐ đi lên CNXH với nội dung trọng tâm là đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Điều này cũng được nhấn mạnh lại ở Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006). Đây thực chất là việc cụ thể hóa mục tiêu chung, đồng thời trực tiếp thực hiện mục tiêu của chặng đường đầu TKQĐ mà Cương lĩnh đã xác định. Hiện nay, Đảng xác định: Phát triển nhanh và bền vững để sớm kết thúc TKQĐ, với mục tiêu tổng quát là “xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”(19)là định hướng mà Đại hội XI (2011) đề ra. Theo đó, đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam cần phấn đấu trở thành “một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”./.

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2018

Một số vấn đề lý luận về thời đại trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta năm 1991

Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn, sâu sắc.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước ở mức độ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước lạc hậu về kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr.312-313)
- Đánh giá về tương quan giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, Cương lĩnh nêu rõ: “... do duy trì quá lâu những khuyết tật các mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội, chậm trễ trong cách mạng khoa học và công nghệ, nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Ở một số nước, Đảng Cộng sản và công nhân không còn nắm vai trò lãnh đạo; chế độ xã hội đã thay đổi. Các thế lực đế quốc lợi dụng những sai lầm và khó khăn đó đẩy mạnh cuộc phản kích quyết liệt nhằm xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản đang diễn ra gay gắt.
Trước mắt, chủ nghĩa tư bản còn có tiềm năng phát triển kinh tế, nhờ ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, cải tiến phương pháp quản lý, thay đổi cơ cấu sản xuất, điều chỉnh các hình thức sở hữu và chính sách xã hội. Tuy vậy, chủ nghĩa tư bản vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân rộng rãi với giai cấp tư sản, giữa các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các trung tâm tư bản lớn tiếp tục phát triển. Mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển ngày càng tăng lên. Chính sự vận động của tất cả mâu thuẫn đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định số phận của chủ nghĩa tư bản.
Các nước độc lập dân tộc và các nước đang phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn và phức tạp, chống nghèo nàn và lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức, chống sự can thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr.313-314.)
- Nhận định về đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại, Cương lĩnh năm 1991 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi:
“Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc gay go, phức tạp của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ nghĩa xã hội đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr.314)

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2018

“TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” - CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ CỦA ĐỒNG MINH NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN

Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C. Mác - Ph. Ăngghen bằng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã trình bày sáng tỏ cơ sở lý luận thực tiễn về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; sự tất yếu diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; vai trò của Đảng cộng sản; những nguyên tắc chiến lược, sách lược của Đảng cộng sản cũng như thái độ của Đảng cộng sản đối với các đảng đối lập.
Những nguyên tắc cơ bản mà tuyên ngôn chỉ ra cho giai cấp vô sản là:
Thứ nhất: Trong xã hội hiện đại, chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng nhất có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chủ nghĩa tư bản xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Sứ mệnh đó là do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp vô sản quy định.
Thứ hai: Sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân phải do chính giai cấp công nhân đảm nhiệm dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản của giai cấp công nhân.
Thứ ba: Để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình giai cấp vô sản phải tiến hành đấu tranh cách mạng, dùng bạo lực lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, tổ chức giai cấp mình thành giai cấp thống trị, từng bước xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
Thứ tư: Trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng giai cấp công nhân phải tổ chức ra được chính đảng độc lập của mình, đối lập với tất cả các chính đảng của giai cấp hữu sản.
Thứ năm: Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản diễn ra trước hết trên từng địa bàn dân tộc, giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc.
Thứ sáu: Nguyên tắc sách lược chung của Đảng cộng sản là phải ủng hộ mọi phong trào cách mạng chống chế độ bóc lột và tìm cách tập trung tất cả các lực lượng  dân chủ. Trong đó những người cộng sản phải giữ vững tính độc lập của giai cấp mình, phải tiến hành cách mạng không ngừng.
Thứ bảy: Để thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải thực hiện khẩu hiệu chiến lược “Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại!”. 
Tuyên ngôn được kết thúc bằng lời tuyên bố công khai: “Những người cộng sản công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành. Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết ngoài xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới”./.