Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

“TÔI HÂN HẠNH ĐƯỢC LÀM KẺ CHIẾN BẠI CỦA TƯỚNG GIÁP”, “TÔI NGƯỠNG MỘ VÀ KÍNH PHỤC ÔNG”- TƯỚNG DE CASTRIES CỦA PHÁP

Khác với các chính khách, tướng lĩnh khác từng thất trận ở Việt Nam, De Castries không viết hồi kí. Tuy nhiên, trước khi được trao trả, ông ta đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương”.

Tổng chỉ huy quân đội Pháp thừa nhận: “Đối phương cao hơn chúng ta”!

Với cái tên dài dằng dặc Christian Marie Ferdinand de la Croix de Castries, Tướng De Castries (1902-1991) sinh ra trong một gia đình quý tộc, vì vậy còn được gọi là “Bá tước Đờ Cát” (Le Comte de Castries). Dòng họ de Castries từng sinh ra một nguyên soái là Bộ trưởng Hải quân Pháp vào thế kỷ 18, một trung tướng, bảy thiếu tướng và bốn thống đốc.

Tốt nghiệp Trường kỵ binh Saumur và Trường võ bị Saint Cyr nổi tiếng, de Castries đã tham gia chiến đấu chống phát xít Đức ở Bắc Phi, Ý, Nam Pháp và Nam Đức. Năm 1946, De Castries được phái đến Đông Dương, đã chỉ huy nhiều cuộc hành quân bình định vùng Hưng Yên, Ninh Bình và nhanh chóng nổi tiếng vì xông xáo trận mạc, từng bị thương nặng gãy hai chân. Khi ra trận, thường de Castries có dáng điệu rất oai phong với chiếc mũ ca lô đỏ trên đầu, cổ thắt chiếc khăn đỏ sặc sỡ, tay cầm cây gậy bằng hợp kim nhôm nhẵn bóng.

Ngoài binh nghiệp, De Castries còn là vận động viên có hạng, từng vô địch thế giới về nhảy cao năm 1933, về nhảy xa năm 1935. Ông cũng là kỵ sĩ đua ngựa giỏi.

Ngày 7/12/1953, đại tá Christian De Castries được Cogny và Navarre chỉ định chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trả lời câu hỏi vì sao lại trao quyền chỉ huy Điện Biên Phủ đáng lẽ phải là một viên tướng, cho một đại tá, Navarre trả lời: "Tôi không trông lon mà xét người nên cũng chẳng sùng bái gì lắm mấy ngôi sao cấp tướng. Tôi khẳng định: Trong số các chỉ huy được lựa chọn, không ai có thể làm giỏi hơn Castries". Bản thân de Castries rất hãnh diện về điều này. Ông ta đã cố xây dựng Điện Biên Phủ thành một pháo đài “bất khả xâm phạm”, một “pháo đài mạnh nhất chưa từng có ở Đông Dương”. Chính Navarre đã nhận định: không một quan chức dân sự, quân sự nào kể cả Pháp lẫn Mỹ đến thăm Điện Biên Phủ mà không ngạc nhiên về sức mạnh phòng thủ của nó và không tỏ cảm tình với de Castries.

Rất chủ quan về tính “bất khả xâm phạm” của Điện Biên Phủ, De Castries cho máy bay rải truyền đơn khiêu khích, thách thức quân ta tấn công. Một tuần trước khi quân ta nổ súng mở màn chiến dịch, Navarre định bổ sung cho Điện Biên Phủ 3 tiểu đoàn để tăng cường phòng thủ, song De Castries đã khước từ.

Đến giữa tháng 4/1954, khi đã mất sân bay Mường Thanh và vòng vây ngày một bị quân ta siết chặt, thì thái độ của De Castries chuyển từ chủ quan, hung hăng sang hoảng hốt. Chiếc mũ ca lô đỏ và cây gậy bị “bỏ quên”. Thay vì đi kiểm tra, đốc chiến, suốt ngày ông ta ngồi lì trong hầm Sở chỉ huy chất đầy các bao cát dầy tới 3m, gào thét vào điện thoại về tình cảnh bi đát của “Con Nhím” và yêu cầu tăng viện cứu nguy.

Ngày 16/4/1954, trong một nỗ lực nằm khích lệ tinh thần của một vạn rưởi quân đang ngụp lặn trong các chiến hào Điện Biên Phủ, De Castries được thăng hàm thiếu tướng (General de brigade). Oái ăm thay, lon và quà mừng như rượu hảo hạng, thuốc lá thơm, xúc xích, bít tết… gửi bằng dù lại bay vào trận địa quân ta. Cực chẳng đã, ngài bá tước phải cho quân lính cắt vỏ đồ hộp làm cho ông ta bộ lon cấp tướng để đeo tạm. Hai tuần sau (ngày 7/5), tập đoàn cứ điểm thất thủ, Castries bị bắt làm tù binh, kết thúc số phận hẩm hiu của một viên tướng thực dân.

Khác với các chính khách, tướng lĩnh khác từng thất trận ở Việt Nam, De Castries không viết hồi kí. Tuy nhiên, trước khi được trao trả, ông ta đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

"Tướng Giáp không những giỏi về chỉ huy đánh du kích mà còn giỏi cả về chỉ huy trận địa chiến, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng, và cả về nghi binh đánh lừa tình báo đối phương”.

De Castries không thể tin rằng Đại tướng Võ Nguyên Giáp chưa hề qua một trường lớp quân sự bài bản nào. Ông ta khăng khăng cho rằng: "Nhất định Tướng Giáp đã tốt nghiệp tại học viện quân sự cấp cao ở Nga Xô hoặc ở Mỹ…". Và viên bại tướng đã phải thốt lên rất thành thực: "Tôi thừa nhận Tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan hơn, tài giỏi hơn tôi đã đành, mà còn hơn cả tướng Cogny và tướng Navarre. Tôi hân hạnh được làm đối thủ của Tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như Tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông”.

TIN KHẨN CỦA BỘ Y TẾ: TỪ HÔM NAY CÁCH LY TẬP TRUNG DÀI HƠN 14 NGÀY

Do liên tiếp có một số trường hợp lây nhiễm COVID-19 sau khi đã hoàn thành cách ly, Bộ Y tế vừa gửi tin khẩn cho biết tạm thời chưa cho rời khỏi khu cách ly với những người đã cách ly tập trung đủ 14 ngày và có 2 xét nghiệm âm tính.

Tin khẩn Bộ Y tế vừa gửi sáng nay, cho biết thực hiện lệnh chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng ban chỉ đạo Quốc gia phòng chống COVID-19 Vũ Đức Đam, Bộ Y tế thông tin và đề nghị báo cáo Ban chỉ đạo tỉnh/thành phố thực hiện ngay từ 0h ngày 4-5 quyết định này.

Cụ thể, Bộ Y tế hướng dẫn tạm thời chưa giải quyết kết thúc và cho ra khỏi khu cách ly tập trung (cả của quân đội, dân sự quản lý) đối với tất cả các trường hợp đã đủ điều kiện hết cách ly tập trung.

Điều kiện hoàn thành cách ly tập trung hiện nay là thời gian cách ly tối thiểu 14 ngày, xét nghiệm 2 lần âm tính. Lý do là thời gian gần đây có 1 số trường hợp hết cách ly tập trung vẫn ghi nhận (+) với SASR-CoV2, làm lây lan dịch (ca bệnh 2899 cách ly ở Đà Nẵng, 2 người Trung Quốc cách ly ở Yên Bái).

Bộ Y tế cho biết hời gian bắt đầu thực hiện từ: 0 giờ ngày 4-5. Các tỉnh, thành thực hiện chờ cho tới khi có Thông báo mới của Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống COVID-19.

Trước đó, từ 29-4 đến nay đã ghi nhận 35 ca mắc COVID -19, lây từ 3 người đã hoàn thành cách ly tại Đà Nẵng và Yên Bái.

CẦN LẮM SỰ ĐOÀN KẾT MỘT LÒNG CỦA TOÀN DÂN!

Công an các địa phương đẩy mạnh phát động toàn dân phát hiện, tố giác những vi phạm quy định về phòng, chống dịch và người nhập cảnh trái phép.

Chỉ đạo trên được lãnh đạo Bộ Công an đưa ra tại buổi họp trực tuyến về phòng, chống dịch Covid-19 diễn ra ngày 3/5 tại Hà Nội.

Theo báo cáo, sau 34 ngày không có ca mắc mới trong cộng đồng, từ 29/4 đến 15h ngày 3/5, Việt Nam ghi nhận tổng cộng 34 ca mắc Covid-19 trong cộng đồng tại 5 tỉnh, thành phố gồm Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hà Nội, TP.HCM, Hưng Yên.

Ưu tiên nhiệm vụ phòng chống dịch, Bộ yêu cầu công an các địa phương có ca nhiễm trong cộng đồng tăng cường rà soát về cư trú, tập trung quản lý người nước ngoài để chủ động khi truy vết, sàng lọc, khoanh vùng, dập dịch.

Công an các cấp, nhất là công an xã, cần thường xuyên kiểm tra các điểm cách ly tập trung và cách ly tại nhà; tuyệt đối không để xảy ra vi phạm như trốn cách ly, mất cảnh giác khiến dịch lan ra cộng đồng.

"Đẩy mạnh việc phát động toàn dân phát hiện, tố giác người vi phạm quy định về phòng, chống dịch, những đối tượng nhập cảnh trái phép", Bộ Công an chỉ đạo.

Đặc biệt, lãnh đạo Bộ yêu cầu các địa phương nhắc nhở, đề nghị người dân đeo khẩu trang nơi công cộng; tăng cường kiểm tra công khai xen lẫn sử dụng thiết bị kỹ thuật, trích xuất hình ảnh để làm căn cứ xử lý nghiêm các vi phạm về giãn cách xã hội, không đeo khẩu trang nơi công cộng, tập trung đông người, chống người thi hành công vụ...

Ngoài các nhiệm vụ trên, Bộ Công an cũng chỉ đạo toàn lực lượng tăng cường đấu tranh, phòng, chống tội phạm, xử lý nghiêm mọi vi phạm quy định liên quan dịch bệnh Covid-19.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đấu tranh với các hành vi lan truyền thông tin sai trái, xuyên tạc về việc phòng, chống dịch tại các địa phương nhằm đảm bảo an ninh, an toàn phục vụ bầu cử Quốc hội Khóa XV và HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2021-2026.

Từ ngày 20/4 đến 2/5, công an các quận Thanh Xuân và Cầu Giấy, Hà Nội, phát hiện 67 người Trung Quốc lưu trú trái phép trên địa bàn sau khi nhập cảnh "chui" vào Việt Nam. Quá trình điều tra, cơ quan chức năng đã khởi tố 2 nữ sinh viên và một người Trung Quốc do đã tổ chức, hướng dẫn và thuê nhà cho 17 người trong số này ở lại Hà Nội.

Theo Nghị định 167/2013, hành vi giúp đỡ, chứa chấp, che giấu hay tạo điều kiện cho người khác nhập cảnh trái phép hoặc ở lại Việt Nam sẽ bị phạt 15-25 triệu đồng. Nếu tổ chức, đưa dẫn hoặc môi giới cho người khác nhập cảnh Việt Nam trái phép bị phạt 30-40 triệu.

Còn Điều 348 Bộ luật hình sự quy định người nào vì vụ lợi mà tổ chức hoặc môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép, thì bị phạt tù từ 1 đến 15 năm.

BÀI HỌC LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ TỪ CÁCH ỨNG XỬ CỦA BÁC HỒ

Không chỉ tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, thương dân, trí tuệ và nhãn quan chính trị nhạy bén, năng lực thực tiễn và dự báo thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là hiện thân của phong cách ứng xử chứa đựng nhiều nét văn hóa đặc sắc, để lại bài học quý giá trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ của Đảng hôm nay.

Từ những câu chuyện về cách ứng xử của Bác...

Có rất nhiều câu chuyện về phong cách ứng xử của Bác Hồ, chứa đựng những nét văn hóa đặc sắc, lưu lại cho bao thế hệ người Việt Nam và nhân dân trên thế giới. Dưới đây chỉ là một vài câu chuyện về cách ứng xử của Bác, để lại nhiều bài học quý giá cho hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ.

Câu chuyện mời Bác cưỡi ngựa: Năm 1950, Bác Hồ đi chiến dịch Biên giới. Anh em cảnh vệ kiếm được con ngựa, mời Bác cưỡi. Bác bảo: Chúng ta có bảy người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện. Anh em cố nài Bác: Chúng cháu còn trẻ, Bác đã nhiều tuổi, đường xa, công việc nhiều xin Bác lên ngựa cho. Bác nói: Các chú đều khỏe, còn trẻ cả, để đi đường xem các chú có theo kịp Bác không. Anh em khẩn khoản mãi, không nỡ từ chối, Bác trả lời: Thôi được, các chú cứ mang ngựa theo để nó đỡ hộ balô, gạo nước và thức ăn. Trên đường đi, ai mệt thì cưỡi. Bác mệt, Bác cũng sẽ cưỡi.

“Chú ngã có đau không?”: Vào đầu năm 1954, tiết trời đã sang xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét, Bác vẫn làm việc rất khuya. Một lần, đồng chí bảo vệ Bác bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy bay. Đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng hỏi: Chú nào ngã đấy? Bác tới rồi luồn tay vào hai nách, vừa kéo, vừa hỏi: Chú ngã có đau không? Bác sờ khắp người, nắn chân, nắn tay. Bác nói: Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống! Thưa Bác, cháu không việc gì ạ. Bác cười hiền hậu và căn dặn: “Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận”.

“Bác có phải vua đâu”: Năm 1961, Bác về thăm xã Vĩnh Thành (Yên Thành, Nghệ An), xã có phong trào trồng cây tốt. Tại một ngọn đồi, Bác đứng nói chuyện với nhân dân. Càng gần trưa, nắng càng gắt. Nhìn Bác đứng giữa nắng, ai cũng thấy xót lòng. Đồng chí chủ tịch huyện cho tìm mượn được chiếc ô định giương lên che cho Bác. Bác quay lại hỏi: Thế chú có đủ ô cho tất cả đồng bào không? Thôi cất đi. Bác có phải là vua đâu.

Thăm gia đình chị Chín: Tối 30 Tết năm 1962, Bác thăm gia đình chị Chín ở phố Lý Thái Tổ. Chồng chị mất sớm, để lại ba đứa con nhỏ dại. Chị phải đi làm công nhật để lấy tiền nuôi con. Gặp Bác, chị Chín khóc nức nở. Bác an ủi: Năm mới sắp đến, Bác đến thăm thím, sao thím lại khóc? Cố nén xúc động, chị nói: Có bao giờ… có bao giờ Chủ tịch nước lại tới thăm nhà chúng con…, mà bây giờ mẹ con chúng con lại được thấy Bác ở nhà. Con cảm động quá! Mừng quá thành ra con khóc ạ.

Bác nhìn chị Chín, nhìn các cháu một cách trìu mến và ôn tồn nói: Bác không tới thăm những người như mẹ con thím, thì còn thăm ai? Rồi Bác đến bên các cháu, âu yếm xoa đầu và trao quà Tết cho các cháu. Bác hỏi thăm và ân cần dặn dò chị về việc làm ăn và học hành cho các cháu. Sau Tết, Bác đã chỉ thị cho Ủy ban hành chính Thành phố Hà Nội phải chú ý tạo công ăn việc làm cho những người lao động gặp nhiều khó khăn như chị Chín.

Bác đi thăm địa phương: Nhiều lần đi thăm các địa phương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Xuống thăm các địa phương là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém. Bác còn nói vui: “Để tỉnh chiêu đãi thì họ cho mình ăn một nhưng sẽ hết cả con bò. Nếu Bác đến thăm 4 tỉnh như vậy kinh tế sẽ lạm phát”. Có tỉnh nọ mặc dù đã được báo trước là Bác có mang cơm theo, nhưng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

“Nước nóng, nước nguội”: Có một đồng chí cán bộ Trung đoàn thường hay quát mắng chiến sĩ. Một hôm, Bác cho gọi lên Việt Bắc. Trời mùa hè, nắng chang chang, đi bộ đúng Ngọ nên đồng chí cán bộ vã cả mồ hôi, người như bốc lửa. Trên bàn đặt hai cốc nước, một cốc nước sôi vừa như mới rót, bốc hơi nghi ngút, còn cốc kia là nước lạnh. Bác chỉ vào cốc nước nóng nói: Chú uống đi.

Đồng chí cán bộ kêu lên: Trời! Nắng thế này mà Bác lại cho nước nóng làm sao cháu uống được. Bác mỉm cười: À ra thế. Thế chú thích uống nước nguội, mát không? Dạ có ạ. Bác nghiêm nét mặt nói: Nước nóng, cả chú và tôi đều không uống được. Khi chú nóng, cả chiến sĩ của chú và cả tôi cũng không tiếp thu được. Hòa nhã, điềm đạm cũng như cốc nước nguội dễ uống, dễ tiếp thu hơn. Hiểu ý Bác, đồng chí cán bộ nhận lỗi, hứa sẽ sửa chữa.

Đến bài học lãnh đạo, quản lý

Những câu chuyện về cách ứng xử của Bác để lại nhiều bài học quý giá cho đội ngũ cán bộ của Đảng về phong cách lãnh đạo, cách giao tiếp, ứng xử, động viên cấp dưới và quần chúng cũng như sử dụng quyền lực trong lãnh đạo, quản lý.

Một là, cách ứng xử của đội ngũ cán bộ cần dựa trên tình yêu thương, tôn trọng con người, hiểu biết tâm lý và phong cách quần chúng. Biết quan tâm đến hoàn cảnh gia đình, sức khỏe, cũng như những điều quan trọng trong đời sống của quần chúng, đặc biệt là những người có địa vị yếm thế trong xã hội. Như trong câu truyện trên, Bác chọn gia đình chị Chín - một gia đình có nhiều khó khăn để đến thăm.

Cán bộ phải luôn sâu sát, gần gũi, biết hòa mình vào cuộc sống của người lao động, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, tìm cách tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, giúp họ vươn lên. Tuyên truyền, vận động, giáo dục cho quần chúng sống, làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật, đồng thời chăm lo cho quần chúng có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, như ý nguyện của Bác: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Học Bác lối sống giản dị, thanh tao, tiết kiệm, chống lãng phí. Tiết kiệm cho mình, cho người khác, cho cơ quan, đơn vị, cho Nhân dân và đất nước. Khi đi thăm hoặc kiểm tra cơ sở hay địa phương cần biểu thị thái độ không hài lòng, hoặc phê bình ngay việc tổ chức đón tiếp gây tốn kém cho dân, cho cơ sở. Sử dụng phương tiện, ăn mặc, đi đứng, cách nói chuyện phải gần gũi, tránh xa cách quần chúng (đi xe sang trọng, ăn mặc chải chuốt, thái độ quan cách...).

Hai là, khi tiếp xúc với mọi người cần thể hiện sự khiêm tốn, chân thành, tôn trọng, quan tâm và chia sẻ. Luôn hòa nhã, điềm đạm, niềm nở, cử chỉ thân thiện, xóa bỏ sự cách biệt về chức vụ, địa vị, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với quần chúng. Không nên sử dụng “nghệ thuật xã giao” mà phải thực sự xuất phát từ tâm hồn, đạo đức và nhân cách.

Bác thường dùng từ ngữ rất bình dị, thân mật, với giọng nói ôn tồn và thái độ trìu mến khiến mọi người cảm thấy gần gũi như những người thân thuộc, như xưng bằng Bác, gọi người khác là chú, thím: “Chú ngã có đau không?”; “Bác không tới thăm những người như mẹ con thím, thì còn thăm ai?”; Bác nhìn các cháu trìu mến và ôn tồn...

Trong lãnh đạo, việc phê bình, nhắc nhở là cần thiết, nhưng thái độ và cách phê bình phải hết sức tế nhị và khéo léo. Khi người khác có khuyết điểm, không nên phê bình trực tiếp, trước mặt mọi người với những lời lẽ quá mạnh mẽ hoặc xúc phạm. Nên gặp gỡ riêng, phê bình nghiêm khắc nhưng tế nhị, giúp họ hiểu ra lỗi của mình mà không cảm thấy bị xúc phạm.

Ba là, lãnh đạo, quản lý con người là lĩnh vực khó khăn, phức tạp nhất, đòi hỏi những hiểu biết về tâm lý và tầm nhìn sâu rộng. Muốn vậy, cán bộ cần có kiến thức nhất định về tâm lý học nhân cách, tâm lý học lãnh đạo để có thể nắm bắt được những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của cấp dưới và quần chúng, từ đó có những cách thức tác động phù hợp.

Người cán bộ phải có nghệ thuật động viên cấp dưới và quần chúng có thành tích trong lao động, sản xuất và công tác, nhằm kích thích sự hăng hái, nhiệt tình, tin tưởng ở họ. Tuy nhiên, động viên, khen ngợi phải được tiến hành một cách công khai, kịp thời, đúng lúc, đúng mức độ, với ngôn ngữ phù hợp và thái độ chân thành mới có tác dụng thực sự.

Bốn là, cán bộ phải biết sử dụng quyền lực của mình một cách hợp lý, tuyệt đối không lạm dụng quyền lực. Biết lắng nghe, tranh thủ ý kiến của cấp dưới và quần chúng, có nghệ thuật đưa họ tham gia vào việc ra quyết định và thực hiện quyết định của lãnh đạo; có cách thức làm việc khoa học, tác phong sâu sát, cụ thể, tỷ mỷ. Đồng thời, giữ vững nguyên tắc, có tính quyết đoán, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, không dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể.

Cần phê phán những quan điểm lạm dụng quyền lực như: chỉ biết ra mệnh lệnh, luôn nhắc đến chức vụ, cố tình tạo lối sống “độc đáo” để thể hiện mình thay cho tạo dựng uy tín bằng phẩm chất, năng lực và cách đối nhân xử thế của mình. Học Bác, cán bộ luôn nhớ rằng, 24 năm làm Chủ tịch nước, Bác không bao giờ coi mình là lãnh tụ mà chỉ như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trận, suốt đời tận tụy phục vụ Nhân dân.

Năm là, mỗi cán bộ cần quan tâm rèn luyện để có được tính khí hoạt bát, hòa nhã, vui vẻ. Luôn giữ sự bình tĩnh, làm chủ và kiểm soát cảm xúc, hành vi, tuyệt đối không được để rơi vào trạng thái nóng nảy, giận dữ “cả giận mất khôn”, làm tổn thương đến những người xung quanh, lưu lại trong ký ức của họ một hình ảnh không tốt đẹp. Vì vậy, trong mọi mối quan hệ, mọi trường hợp cần thật bình tĩnh, xử lý khéo léo tình huống để có được kết quả tốt nhất./.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG - RẤT CẦN CÁI NHÌN KHÁCH QUAN, TỈNH TÁO

Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan.

Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này.

Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường.

Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và những cuộc chiến tranh trên thế giới đã chứng minh cho hậu quả nghiêm trọng của xung đột vũ trang. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Cũng từ vấn đề Biển Đông, các thế lực thù địch rêu rao rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. Thực tế có phải như vậy?

Nên nhớ rằng, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định.

Tiếc rằng, một số người vẫn dễ dàng sập bẫy bởi những quan điểm xuyên tạc kiểu này trên mạng xã hội hoặc trong lúc trà dư tửu hậu. Hậu quả là tâm lý của một bộ phận dư luận trong nước bất an, thậm chí dẫn tới những hành động gây mất ổn định trật tự xã hội, ít nhiều làm tổn hại đến những nỗ lực của Việt Nam và các nước liên quan trong giải quyết vấn đề Biển Đông.

Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra.

CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH NHẤT QUÁN CỦA VIỆT NAM

Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử, có thể thấy người dân Việt Nam luôn đề cao sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, sẵn sàng mở rộng vòng tay đón nhận những người từng lầm đường, lạc lối nếu họ thực sự có thiện chí, biết quay đầu về với Tổ quốc. Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam tại nước ngoài đã khẳng định chủ trương: “Cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người Việt Nam là giữ vững nền độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Tại Chỉ thị số 45 – CT/TW ngày 19/5/2015 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam”, “Đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung…; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai; xoá bỏ mặc cảm, định kiến; chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Thực tế, công tác hòa hợp, hòa giải dân tộc đã đat được những kết quả hết sức tích cực. Mặc dù một số người vẫn còn giữ thái độ định kiến, mặc cảm; một số còn có tư tưởng, hành động không phù hợp với lợi ích dân tộc, tuy nhiên về cơ bản, khối đại đoàn kết đã được củng cố, ý thức tự hào dân tộc, lòng yêu nước, gắn bó với quê hương đất nước đã được phát huy.

Trong đó, có thể kể đến một số ví dụ như trường hợp ông Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống của chính quyền Sài Gòn, sau gần 30 năm rời xa đất nước, cuối năm 2003, ông đã nộp đơn xin về thăm quê hương và đến đầu năm 2004 đã được trở về Việt Nam đón Tết. Khi trả lời phỏng vấn báo chí, ông Nguyễn Cao Kỳ cho biết: “Tôi bảo đảm rằng sau gần 30 năm rồi, đất nước đã được thống nhất rồi, đang cần những người trong và ngoài nước bắt tay nhau phục hưng đất nước, đưa đất nước trở thành con rồng châu Á, thì tất cả những kẻ vẫn muốn quay trở lại dĩ vãng, nói những chuyện không tưởng, giờ phút này mà còn đánh đấm, phục hưng thế này thế nọ, không hướng tới tương lai mà chỉ lo nghĩ quá khứ là một lũ…”.

Hay như trường hợp của luật sư Hoàng Duy Hùng từng là một người chống Cộng khét tiếng ở hải ngoại với lời thề “quyết tâm lật đổ chế độ cộng sản”, từng xâm nhập về nước để thực hiện mưu đồ đánh bom tại TP Hồ Chí Minh, nhưng sau khi nhận thức được chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề đoàn kết dân tộc; tận mắt chứng kiến và trải nghiệm thực tiễn đời sống tại Việt Nam; thấy rõ giá trị của hòa bình, độc lập và bản chất của chế độ, quan điểm ông đã thay đổi. Ông trở thành một người ủng hộ Đảng Cộng sản, tham gia viết báo Đảng, phản bác các quan điểm thù địch, sai trái, các nhận định, đánh giá phiến diện, sai thực tế về tình hình Việt Nam.

Không có chuyện phải lãng quên, chối bỏ lịch sử hay phải thay đổi thể chế chính trị mới có thể hòa hợp, hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù như các đối tượng xấu đang rêu rao. Tổ quốc là điều vô cùng thiêng liêng, là chất keo vững chắc nhất gắn kết người Việt Nam ở mọi nơi trên thế giới. Để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; để đất nước phát triển ngày càng hùng cường, vững mạnh, tất cả người Việt Nam cần phải nêu cao tinh thần dân tộc, xóa bỏ những định kiến, phát huy tinh thần đoàn kết, truyền thống nhân nghĩa, chung tay xây dựng đất nước…

TÔN TRỌNG LỊCH SỬ, HƯỚNG ĐẾN TƯƠNG LAI

Chiến thắng 30/4/1975 là một dấu mốc đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và các thế lực phản động, tay sai, thống nhất Nam – Bắc, đưa giang sơn thu về một mối. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, Việt Nam đã có sự phát triển toàn diện, vị thế, uy tín trên trường quốc tế được khẳng định rõ nét. Tuy nhiên, một số đối tượng xấu vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc, truyền bá những tư tưởng hận thù, chống phá.

Vừa qua, Thượng nghị sĩ Tom Umberg đã đệ trình trước Thượng viện California, Hoa Kỳ bản Nghị quyết SCR2 với những nội dung sai trái về chiến thắng 30/4 của Việt Nam. Vẫn lặp lại luận điệu cũ, Tom Umberg gọi chiến thắng 30/4 của Việt Nam là “tháng tư đen”, xuyên tạc lịch sử bằng luận điệu: “Tháng tư đen là thời điểm tang tóc, thời điểm tưởng nhớ, không chỉ cho những sinh mạng đã mất trong chiến tranh, mà còn là cuộc sống của những người Việt Nam trong cuộc đấu tranh lịch sử vì tự do và nhân quyền.

SCR2 không chỉ là sự tưởng nhớ về mất mát bi thảm mà còn biểu dương tinh thần kiên cường và sức mạnh của người Việt Nam để vươn lên phát triển trước nghịch cảnh”. Tom Umberg giễu cợt với lối suy nghĩ đánh lận bản chất: “Việt Nam không nên khơi gợi lại quá khứ Sài Gòn thất thủ đau buồn, không ăn mừng chiến thắng 30/4 thì người Việt tại Mỹ mới chấp nhận hòa hợp dân tộc”.

Theo quy luật, mỗi khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam tổ chức kỷ niệm ngày lễ 30/4 thì một số đối tượng xấu, chống đối lại đào xới, xuyên tạc quá khứ. Một số người Việt Nam định cư tại nước ngoài có cái nhìn lệch lạc, phiến diện, hận thù, cực đoan đã tụ tập tiến hành kỷ niệm “ngày quốc hận”, đòi “phục hồi danh dự cho những người trong chế độ Việt Nam Cộng hòa”, đòi Việt Nam phải thừa nhận cuộc chiến vệ quốc là cuộc “nội chiến”.

Thậm chí, dưới danh nghĩa hòa hợp, hòa giải dân tộc, các đối tượng cơ hội chính trị, phản động, chống phá còn đưa ra luận điệu cho rằng chỉ khi nào Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ quyền lãnh đạo đất nước, chỉ khi nào Việt Nam lựa chọn đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có thể thực hiện việc hòa hợp, hòa giải dân tộc. Hài hước hơn, một số kẻ đánh lừa quần chúng bằng cách đưa ra lập luận phải coi việc xóa bỏ chế độ cộng sản là một “mệnh lệnh của lương tâm, là tương lai của dân tộc”!

Thực tiễn, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nhất quán chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, hòa hợp, hòa giải dân tộc phải dựa trên sự tôn trọng lịch sử; bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc; xuất phát từ sự chân thành, thiện chí của tất cả các bên. Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử.

Chiến thắng 30/4 là chiến thắng của chính nghĩa và sức mạnh của sự đoàn kết dân tộc; là thắng lợi trọn vẹn nhất, vững chắc nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, của độc lập, tự do, đi lên CNXH. Những quan điểm, luận điệu, yêu sách sai trái, tiêu cực không phải xuất phát từ thiện chí hòa hợp, hòa giải dân tộc mà chỉ là một thủ đoạn để khoét sâu hận thù, kích động, gây thêm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của những thế lực chống phá đất nước.