Lịch sử Việt Nam là sự minh chứng sức mạnh của ý chí tự lực, tự
cường, khát vọng độc lập, tự do phát triển đất nước. Để chống giặc ngoại xâm và
phòng chống thiên tai, toàn dân tộc Việt Nam đoàn kết, tự lực, tự cường dựa vào
sức mạnh của mình để cùng nhau chống kẻ thù, xây dựng bảo vệ nền độc lập Khát
vọng độc lập dân tộc, ý chí tự lực, tự cường là cốt lõi sức mạnh nội sinh của
dân tộc ta. Với khát vọng và ý chí kiên cường đó, dân tộc Việt Nam chiến thắng
thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ biên cương Tổ quốc ở Tây Nam và phía
Bắc. Trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân
dân Việt Nam phát huy ý chí tự lực, tự cường trong công cuộc xây dựng, phát
triển kinh tế - khoa học đất nước, trước sự chuyển biến không ngừng của tình
hình trong nước và những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế. Thanh niên
đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Ở bất cứ
hoàn cảnh nào, trước mọi khó khăn thách thức, thanh niên Việt Nam luôn nỗ lực
vượt qua, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu
xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, phồn vinh và hạnh phúc, cần
phát huy ý chí tự lực, tự cường của thanh niên Việt Nam. Như lời của Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Thanh niên có mạnh thì dân tộc mới mạnh;
trong sức mạnh của dân tộc có sức mạnh của thanh niên. Trong suốt chiều dài
lịch sử của đất nước, thanh niên luôn nêu cao truyền thống yêu nước, chí khí
anh hùng, bất khuất của dân tộc, hăng hái đi tiên phong trên mọi lĩnh vực, có
nhiều cống hiến to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước”. Thanh niên là lực
lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có vai trò quan trọng trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Thanh niên - lực lượng xã hội có nhiều tiềm năng về sức khỏe,
trí tuệ và khả năng thích ứng với mọi sự thay đổi, tác động tới. Họ có tinh
thần nhiệt tình, hăng hái, ham học hỏi, có óc sáng tạo. Họ dám mơ ước và theo
đuổi ước mơ của mình. Song, do còn những hạn chế nhất định về trình độ, kinh
nghiệm sống nên thanh niên dễ bị lôi kéo, kích động, dễ có tâm lý chán nản, bị
quan trước những cám dỗ thường nhật. Do vậy, thanh niên cần được định hướng,
khơi dậy nội lực để thanh niên phát huy được tài năng, sức lực, tính sáng tạo,
có tư tưởng chính trị vững vàng. Ý chí tự lực, tự cường của dân tộc đã bồi đắp
tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; góp phần vào những
thành công của cách mạng Việt Nam. Ý chí tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn,
thôi thúc cổ vũ con người đứng lên, vượt qua những rào cản trên con đường phấn
đấu để đạt được mục đích. Ý chí giúp con người phát huy được sức mạnh bên trong
của mỗi cá nhân, đôi khi đến mức độ phi thường. Ý chí của một cộng đồng dân tộc
dựa trên sự thống nhất về tư tưởng, có lợi ích chung, tạo thành sức mạnh tinh
thần to lớn của dân tộc trong giành, bảo vệ nền độc lập cũng như trong xây
dựng, phát triển đất nước. Ý chí chính là năng lực thực hiện các hành động có
mục đích của con người hay khả năng vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích.
Như vậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường cho thanh niên Việt Nam hiện nay là
kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện lâu dài và đòi hỏi sự phối hợp của
các chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục. Tuổi trẻ là tương lai, muốn có
tương lai tốt đẹp thì mỗi thanh niên phải nỗ lực xây dựng bằng ý chí và nghị
lực của bản thân. Việc giữ gìn thành quả và tiếp tục phát huy ý chí tự lực, tự
cường và khát vọng phát triển đất nước cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay
góp phần hình thành một thế hệ thanh niên biết phát huy truyền thống tốt đẹp
của dân tộc; có lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng; có chí tiến
thủ; có khát vọng vươn lên lập thân, lập nghiệp, cống hiến sức trẻ và trí tuệ
cho sự phát triển của đất nước là một nhiệm vụ cơ bản và cấp thiết./.
Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023
RÈN LUYỆN Ý CHÍ TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG CHO THANH NIÊN VIỆT NAM
Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM THỰC THI CÔNG VỤ HIỆN NAY
Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ,
công chức về trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ trong thi hành công vụ, về trách
nhiệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch. Vì vậy, các cấp ủy đảng cần triển khai thực hiện nghiêm các chỉ
thị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị
khoá XII, ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Chỉ thị
số 23-CT/TW ngày 09/02/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về “tiếp tục đổi mới,
nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ
nghĩa Mác - Lênin, tu tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”.
Hai là, chú trọng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, quy tắc ứng
xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của
cán bộ, công chức trong thi hành công vụ. Trước hết là sự tự giác tu dưỡng, rèn
luyện đạo đức để xây dựng uy tín của người cán bộ, công chức cũng như năng lực
thực thi công vụ. Đây là yêu cầu đòi hỏi mỗi cán bộ, công chức thường xuyên, tự
giác thực hiện, phải coi tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là nhu cầu “tự thân” như
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác
học tập, ra sức tu dưỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao trình độ nhận thức,
trở thành những con người có văn hóa, có liêm sỉ”.
Ba là, nâng cao trình độ, năng lực thực thi công vụ. Năng lực thực thi
công vụ được cấu thành bởi ba yếu tố: kiến thức (những tri thức có được qua đào
tạo), kỹ năng (phương pháp, cách thức thực hiện công việc) và thái độ (tinh
thần, ý thức trách nhiệm).
Nâng cao năng lực thực
thi công vụ trước hết là nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ, công chức để
bảo đảm tính chuyên nghiệp, khả năng làm việc trong môi trường hội nhập. Cùng
với đó là bồi dưỡng các kỹ năng cần có trong thi hành công vụ và tăng cường
giáo dục chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, công chức để phát huy tinh thần
trách nhiệm, thái độ tích cực, cầu thị trong thi hành công vụ.
Bốn là, thực hiện nghiêm túc trách nhiệm nêu gương. Quy định số
08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về trách nhiệm
nêu gương của cán bộ, đảng viên: “Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện,
trau dồi đạo đức cách mạng. Mẫu mực về đạo đức, lối sống. Thực sự cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành”. Vì
vậy, mỗi cán bộ, công chức phải trở thành tấm gương thực sự về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật, lề lối làm việc, tác phong công
tác, chức trách, nhiệm vụ được giao.
Năm là, coi trọng công tác đánh giá cán bộ, công chức. Cần phải đánh giá cán bộ theo hướng: Xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương đã được xác định trong Nghị quyết số 26 NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022
PHẢI TỰ GIÁC RÈN LUYỆN, TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC SUỐT ĐỜI
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người nói, đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên để họ thực sự trở thành những công bộc, đày tớ trung thành của nhân dân. “Cái tâm trong sáng, lành mạnh thì mỗi người cán bộ, đảng viên mới thực sự có động cơ, tình cảm và đạo đức cách mạng đúng đắn, mới luôn nghĩ và hành động vì lợi ích của nhân dân, đất nước. Nếu mọi người luôn cảnh giác và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân vốn biểu hiện và được che đậy dưới nhiều hình thức tinh vi, cũng có nghĩa họ đã thực sự có ý thức vươn tới cái chung, vì tập thể, cộng đồng. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, Đảng trở nên vững mạnh, có năng lực trí tuệ và sức chiến đấu cao chính là do đội ngũ của mình gồm những con người vừa hồng, vừa chuyên”.
KẾT HỢP “XÂY ĐI ĐÔI VỚI CHỐNG” TRONG RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY
Đây là nội dung có tính
nguyên tắc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Thực chất của vấn đền
trên phản ánh rõ mỗi quan hệ biện chứng giữa hai mặt “xây” và “chống”, trong đó
lấy "xây" làm chính, giữ vai trò nòng cốt đối với các chủ thể nâng cao đạo đức
cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Do vậy, để nâng cao nâng cao đạo đức cách mạng
cho cán bộ, đảng viên hiện nay. Mọi chủ thể cần quán triệt và thực hiện tốt: tiến
hành thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ và có kế hoạch nhằm phòng, chống
những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống
trong đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa
XII, Khóa XIII). Phải thường xuyên chú trọng xây dựng văn hóa tổ chức, văn hóa
cá nhân để tạo ra sức đầy “kháng” với những tiêu cự hách dịch, tham ô, tham
nhũng, thái hóa phẩm chất đạo đức cách mạng. Cùng với đó, phải chủ động, tích cực
đấu tranh, ngăn ngừa có hiệu quả nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư
tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên. Đây là yêu cầu quan trọng, biện pháp
có tính cấp thiết trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Để xây dựng Đảng ngày
càng trong sạch, vững mạnh, cần đặt trọng tâm vào một số nội dung cơ bản. Trong
đó, cần coi trọng đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. “Thái
độ xem nhẹ việc trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng, chưa nghiêm túc thực hiện
phê và tự phê bình… khiến không ít cán bộ, đảng viên sa ngã trước những cám dỗ
đời thường”. Sự không chiến thắng, không vượt qua nổi cái “tôi” nhỏ bé để thành
nô lệ của những ham muốn cá nhân ở một bộ phận cán bộ, đảng viên vừa là nguồn gốc
sâu xa, vừa là sự tiếp tay dẫn đến những tệ nạn như tham nhũng, hối lộ, cửa quyền,
mất đoàn kết… Chủ nghĩa cá nhân là một trong những nguy cơ tiềm ẩn, thường
xuyên bởi nó núp ngay trong bản thân mỗi con người”. Vì vậy, “phải làm sao cho
phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi,
đó là thái độ của người cách mạng”. Muốn vậy, đồng thời với việc giáo dục, rèn
luyện đạo đức cách mạng phải đi đôi với kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá
nhân, chống những hành vi phi đạo đức.
Đảng cần chú ý đẩy mạnh công tác kiểm tra, thực hiện phê bình và tự phê bình để đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân trong các tổ chức Đảng, trong bộ máy Nhà nước, đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng. Xây phải đi đôi với chống, với việc loại bỏ cái sai, cái xấu, cái vô đạo đức trong đời sống hằng ngày, để xây và chống có kết quả phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi.
Thứ Tư, 8 tháng 12, 2021
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ ĐỘI TIỀN PHONG CỦA GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC
Khi nói về
chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân, trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng
sản (tháng 2/1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng: “Những người cộng
sản chỉ khác với các đảng vô sản khác trên hai điểm: một là, trong các cuộc đấu
tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu
và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai
cấp vô sản; hai là, trong các giai đoạn khác nhau của cuộc đấu tranh giữa vô sản
và tư sản, họ luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn thể phong trào. Vậy là về
mặt thực tiễn, những người cộng sản là một bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng
công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên;
về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ
những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”.
Cùng với đó,
“Điều lệ của Liên đoàn những người cộng sản” cũng ghi rõ điều kiện và tiêu chuẩn
để trở thành đảng viên cộng sản, trong đó, không thể không nhắc đến các yêu cầu
như thừa nhận chủ nghĩa cộng sản; không tham gia vào mọi tổ chức chính trị hoặc
tổ chức dân tộc chống cộng sản; hoạt động phù hợp với mục đích của Đảng; có nghị
lực cách mạng và lòng nhiệt thành khi tiến hành công tác tuyên truyền; giữ bí mật
công việc của Đảng; được một chi bộ đồng ý kết nạp… Điều đó có nghĩa là, Đảng Cộng
sản là tổ chức của những con người thực sự tiêu biểu, vượt trội về nhận thức,
tư tưởng, hành động hơn quần chúng ngoài Đảng và đảng viên của Đảng Cộng sản phải
là những người có đủ năng lực, phẩm chất để tuyên truyền, vận động, thuyết phục
giai cấp công nhân và các tầng lớp khác tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại
giai cấp bóc lột.
Ở Việt Nam, được
xây dựng và phát triển theo nguyên tắc một Đảng Mácxít Lêninnít chân chính, Đảng
Cộng sản là một tổ chức của những con người tiên tiến nhất. Đảng là đội tiền
phong của giai cấp công nhân và dân tộc. Trong một chỉnh thể được tổ chức chặt
chẽ, thống nhất ấy, mỗi đảng viên là một tế bào của Đảng; sinh hoạt gắn liền và
chịu sự lãnh đạo, quản lý, kiểm tra của tổ chức Đảng. Để trở thành một thành
viên của tổ chức ấy, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt
Nam (thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng, tháng 2-1930) đã ghi rõ tại mục
III: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc tế Cộng sản,
hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu
phấn đấu trong một bộ phận đảng thời được vào Đảng”. Trong từng giai đoạn
cách mạng, từng thời điểm cụ thể, căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của Đảng và
trình độ giác ngộ cách mạng của quần chúng, Đảng đề ra điều kiện, tiêu chuẩn đảng
viên phù hợp và chặt chẽ, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng
viên, đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Cụ thể, Điều lệ Đảng Cộng
sản Việt Nam (thông qua tại Đại hội lần thứ XI, tháng 1-2011) quy định tại
mục 2, Điều 1 là: “Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên, thừa nhận và tự
nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng
viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người
ưu tú được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng”.
Từ quy định
trong Điều lệ vắn tắt và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt
Nam, có thể thấy rõ rằng, người/quần chúng muốn trở thành đảng viên của Đảng Cộng
sản Việt Nam thì tất yếu phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc và Điều lệ Đảng.
Đó gọi là “tính Đảng”, đồng thời cũng chính là sự thừa nhận một cách tự nguyện
và tuyệt đối trung thành với nền tảng tư tưởng của Đảng; với lý tưởng cách mạng
chiến đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của giai cấp công
nhân và dân tộc Việt Nam mà Đảng lựa chọn. Người được kết nạp vào Đảng nhất định
phải là những người ưu tú trong quần chúng; phải có giác ngộ chính trị tốt, thể
hiện được tính tiên phong trong mọi lĩnh vực công tác và cuộc sống đời thường;
đồng thời, có khả năng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao
phó. Đó chính là giá trị cao quý của Đảng để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiền
phong; đồng thời cũng là giá trị của mỗi người đảng viên trong quá trình phấn đấu,
trưởng thành. Điều đó cũng có nghĩa là quần chúng đã muốn/đã quyết tâm phấn đấu
vào Đảng thì đều phải nhận thức sâu sắc rằng, đã "gọi là đảng viên thì phải
biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì…Vào Đảng là để phục vụ nhân dân,
phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng… Đảng không bắt buộc ai vào Đảng cả. Vào
thì có nhiệm vụ, có trách nhiệm của đảng viên, nếu sợ không phục vụ được nhân
dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào” như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ.
Để làm tròn nhiệm
vụ rất nặng nề nhưng rất vẻ vang là lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập
dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì Đảng phải luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế, Chủ
tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do
các đảng viên đều tốt”, song “Đảng không phải chỉ cần con số cho nhiều, tuy nhiều
là tốt, nhưng phải có cái chất của người đảng viên. Mỗi người đảng
viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng: Mình vào Đảng
để làm đày tớ cho nhân dân, Bác nhấn mạnh: Làm đày tớ nhân dân chứ không
phải là “quan” nhân dân”. Vì thế, Người yêu cầu "Đảng phải phát triển
tổ chức của mình một cách thận trọng, vững chắc và rộng rãi trong quần
chúng”, thông qua quá trình phát hiện, bồi dưỡng quần chúng về mọi mặt; đồng thời,
các tổ chức cơ sở Đảng “cần phải xem công tác củng cố và phát triển đảng là một
công tác quan trọng và thường xuyên. Và phải nắm vững phương châm phát triển Đảng
là trọng chất hơn lượng” để đề phòng các phần tử thù địch, cơ hội chui vào Đảng.
Vì nghiêm túc trong công tác phát triển đảng viên và coi đó là một nội dung quan trọng để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cho nên trong hơn 90 năm qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, phương hướng phát triển đảng viên được đẩy mạnh theo từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Theo nghị quyết các nhiệm kỳ Đại hội Đảng và kế hoạch công tác hằng năm, các cấp ủy Đảng đã căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương, cơ quan, đơn vị để tập trung phát triển Đảng toàn diện; đặc biệt, đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân và các thành phần khác như sinh viên đang học tập tại hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các học viện, nhà trường, ở các vùng nông thôn hay tại các doanh nghiệp, trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và lao động tự do tại các địa phương… tự nguyện rèn luyện tư tưởng, lập trường giai cấp công nhân/mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cao cả của Đảng.
Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021
LÊ VĂN THƯƠNG - TỪ KẺ VÔ KỶ LUẬT ĐẾN CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC
Thời
gian gần đây, một số đối tượng vì bất mãn, hám lợi đã bị các phần tử xấu, các tổ
chức phản động dụ dỗ, lôi kéo thực hiện những hành vi sai trái, chống phá đất
nước.
Mặc dù
đã chạy trốn ra nước ngoài, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật, nhưng các đối
tượng này vẫn ngoan cố lợi dụng không gian mạng tán phát thông tin xuyên tạc, bịa
đặt, bôi nhọ chính quyền khiến dư luận hết sức bất bình.
Một trong số đó là Lê Văn Thương, kẻ vô kỷ luật, thoái hóa biến chất, hiện đang bị cơ quan công an truy nã với tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Lê Văn Thương (sinh năm 1988 tại Quảng Ngãi) từng có thời gian phục vụ trong quân ngũ, được quan tâm tạo điều kiện để phấn đấu trưởng thành, nhưng do không chịu rèn luyện, tu dưỡng, nhiều lần vi phạm kỷ luật. Mặc dù đã được động viên, giáo dục, Thương vẫn tính nào tật ấy, do đó đã bị kỷ luật và được giải quyết cho xuất ngũ.
Thương được cho phục viên về quê mở xưởng mộc. Lẽ ra, nếu giữ gìn bản lĩnh và nhân cách, Thương có thể làm lại cuộc đời, sửa chữa sai lầm bởi xưởng mộc của Thương cũng khá đông khách. Nhưng Thương lại bị kích động, lôi kéo, bỏ trốn ra nước ngoài và lên mạng xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, quân đội.
Trước
những hoạt động chống phá đất nước, Lê Văn Thương đã bị khởi tố về hành vi hoạt
động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, đồng thời đã bị Cơ quan Cảnh sát Điều
tra-Công an tỉnh Quảng Ngãi phát lệnh truy nã sau khi bỏ trốn khỏi địa phương vào
năm 2018. Các cơ quan chức năng đã nhiều lần có văn bản gửi gia đình, vận động,
kêu gọi Thương ra đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Sau khi
bỏ trốn ra nước ngoài, Lê Văn Thương tiếp tục lún sâu vào con đường tội lỗi khi
núp bóng các thế lực phản động chống phá Đảng, Nhà nước ta. Để được các thế lực
ngoại bang sử dụng và có tiền sinh sống, Lê Văn Thương đã tạo lập các tài khoản
trên không gian mạng để xuyên tạc, nói xấu tình hình đất nước. Trên tài khoản
facebook cá nhân và tài khoản youtube “Tiếng nói Dân chủ Việt”, Lê Văn Thương
đã công khai bộc lộ là một kẻ phản bội khi liên tục phát tán những thông tin
sai trái, bịa đặt.
Chính Lê Văn Thương đã tự bôi xấu bản thân, làm ảnh hưởng đến những người thân và tự chọn con đường quay lưng lại với trở về quê hương mà một số kẻ đã sai lầm mắc phải trước đây. Nhiều đồng đội đau xót cho Thương chỉ vì thiếu bản lĩnh mà sa ngã. Đó là bài học đắt giá về việc rèn luyện, giữ gìn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Nếu không tu dưỡng, rèn luyện có thể sa ngã, thậm chí từ tự diễn biến tự chuyển hóa chuyển rất nhanh sang tiếp tay cho thế lực thù địch.
Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021
PHẢI RÈN LUYỆN BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ ĐỂ PHÒNG CHỐNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” HIỆN NAY
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một
bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là do sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo
đức cách mạng; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động
trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị
cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, v.v.. Trong đó, có “không ít cán bộ trẻ thiếu
bản lĩnh, ngại rèn luyện. Một bộ phận không nhỏ cán bộ phai nhạt lý tưởng, giảm
sút ý chí, làm việc hời hợt, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
V.I.Lênin từng chỉ rõ, các thế lực thù địch không ai
có thể đánh đổ được chúng ta, trừ chính những sai lầm của chúng ta và “không một
ai trên thế giới này có thể làm mất được uy tín của những người Mácxít cách mạng
nếu họ không tự làm mất uy tín của họ”. Vì vậy, phải rèn luyện bản lĩnh
chính trị để phòng và chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ,
đảng viên, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch,
vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.
Theo đó, các cấp ủy cần tập trung thực hiện tốt các biện
pháp căn cốt sau:
Một là, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng,
lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Kém lý luận,
hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông” dẫn tới khuyết điểm và trước hết, nguy
hiểm nhất là “khuyết điểm về tư tưởng, tức là bệnh chủ quan” mà “nếu không chữa
ngay, để nó lây ra, thì có hại vô cùng”. Vì thế, học tập lý luận chính trị,
đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị là công việc quan trọng, cần thiết,
cấp bách, thường xuyên và lâu dài của mỗi tổ chức, cán bộ, đảng viên. Trau dồi,
bồi dưỡng về lý luận chính trị; khắc phục những hạn chế trong công tác giáo dục
chính trị tư tưởng; giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng... sẽ giúp cán bộ,
đảng viên hiểu sâu sắc bản chất cách mạng, khoa học; những nguyên lý, quan điểm
cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cộng sản, đạo đức
cách mạng; thấu suốt đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Từ
đó có nhận thức chính trị, tình cảm chính trị đúng đắn, có thế giới quan, phương
pháp luận khoa học. Trong học tập, phải gắn lý luận với thực tiễn, phục vụ nhu
cầu công tác, phát huy tính độc lập, tích cực, chủ động, sáng tạo, “học đi đôi
với hành”. Đa dạng hóa các phương thức giáo dục lý luận chính trị theo hướng
thiết thực, hiệu quả nhằm nâng cao khả năng “tự miễn dịch, tự đề kháng” trước
những tác động tiêu cực, trái chiều.
Hai là, thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức
cách mạng, phòng và chống chủ nghĩa cá nhân.
Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, phát huy vai
trò nêu gương, thống nhất giữa nói và làm của mỗi cán bộ, đảng viên nhằm tăng
cường “sức đề kháng” chống lại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị phải luôn gắn với “nâng cao đạo đức cách
mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” theo phương châm mọi tổ chức, cán bộ, đảng
viên phải tự giáo dục và rèn luyện hằng ngày.
Trong đó, gắn thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ
Chính trị với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng và
Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết
là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”…
Thực hiện tốt chương trình kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp
đối với việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết và đưa vào tiêu chí thi đua, đánh
giá xếp loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền; kịp thời nêu gương người
tốt, việc tốt, nhân rộng các tập thể, cá nhân tiêu biểu đi liền với nghiêm túc
phê phán những biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Tạo không khí thi đua thiết thực
trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với các
phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động ở từng cơ quan, địa phương, đơn
vị.
Ba là, đổi mới công tác cán bộ theo tinh thần Nghị
quyết Trung ương 4, 6, 7 khóa XII.
Bố trí, sử dụng cán bộ đúng chỗ, đúng lúc, đúng năng lực,
sở trường, đúng việc, đúng người. Lựa chọn và tìm được người tài đức xứng đáng
với sự tin tưởng của tập thể và niềm tin nhân dân. Tiếp tục đổi mới, nâng cao
chất lượng, hiệu quả công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng,
đánh giá, luân chuyển, bố trí cán bộ. Thực hiện chính sách phát triển và trọng
dụng nhân tài gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, với đổi mới cơ cấu,
chức năng của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể trong hệ thống chính trị.
Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại theo hướng thiếu cái gì đào tạo, bồi
dưỡng cái ấy nhằm nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng của cán bộ, đảng viên để
làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn.
Tăng cường luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý;
tăng cường cán bộ cho các lĩnh vực và địa bàn cần thiết. Khắc phục tình trạng cục
bộ, lợi ích nhóm trong công tác cán bộ và sự khép kín trong từng vùng, ngành, từng
địa phương, cơ quan, đơn vị. Tạo điều kiện để cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ
trong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn. Hoàn thiện chính sách phát triển
và trọng dụng nhân tài, thu hút nhân tài vào những lĩnh vực quan trọng, không
phân biệt những người trong Đảng hay ngoài Đảng, tạo sự đồng thuận, thống nhất
cao của tất cả các cấp, ngành trong hệ thống chính trị.
Bốn là, nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức đảng;
tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng.
Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ
chức cơ sở đảng - nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở - để mỗi tổ chức
cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên xứng đáng là “người lãnh đạo, người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân”. Cán bộ, đảng viên phải tiên phong gương mẫu, vững
vàng trước mọi biến động của tình hình chính trị - xã hội.
Nâng cao chất lượng sinh hoạt của chi bộ, chăm lo xây
dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh; gắn nâng cao chất lượng ra nghị quyết với tổ
chức thực hiện và kiểm tra, giám sát. Chủ động khắc phục những biểu hiện tiêu cực,
sai trái, hạn chế, khuyết điểm. Kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm,
hành động thù địch để bảo vệ nền tảng, đường lối, quan điểm của Đảng.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảng viên chấp
hành chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước; thực hiện
Điều lệ Đảng và quy định về những điều đảng viên không được làm; tự soi, tự sửa
các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Có cơ chế để nhân dân
tham gia vào công tác xây dựng Đảng; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức chính trị - xã hội, báo chí truyền thông... trong kiểm tra, giám sát
cán bộ, đảng viên.
Gắn kiểm tra, giám sát với thi hành kỷ luật Đảng; kiên
quyết, nghiêm minh xử lý đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm và những tổ chức
đảng yếu kém.
Tăng cường kiểm tra trách nhiệm chính trị, vai trò nêu
gương của người đứng đầu trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí
và lợi ích nhóm.
Năm là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội
bộ.
Chủ động triển khai các biện pháp, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị chức năng thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa, ngăn chặn, vô hiệu hóa những hoạt động phá hoại chính trị nội bộ. Cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì các cấp luôn nắm vững và thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đồng thời, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo về công tác này. Đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên; gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với xây dựng cơ quan, đơn vị, địa bàn cơ sở an toàn, vững chắc về mọi mặt...
Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021
BÀI HỌC LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ TỪ CÁCH ỨNG XỬ CỦA BÁC HỒ
Không chỉ tiêu biểu cho tinh thần yêu nước,
thương dân, trí tuệ và nhãn quan chính trị nhạy bén, năng lực thực tiễn và dự báo
thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là hiện thân của phong cách ứng xử chứa đựng
nhiều nét văn hóa đặc sắc, để lại bài học quý giá trong hoạt động lãnh đạo, quản
lý của đội ngũ cán bộ của Đảng hôm nay.
Từ những câu chuyện về cách ứng xử của
Bác...
Có rất nhiều câu chuyện về phong cách ứng
xử của Bác Hồ, chứa đựng những nét văn hóa đặc sắc, lưu lại cho bao thế hệ người
Việt Nam và nhân dân trên thế giới. Dưới đây chỉ là một vài câu chuyện về cách ứng
xử của Bác, để lại nhiều bài học quý giá cho hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội
ngũ cán bộ.
Câu chuyện mời Bác cưỡi ngựa: Năm 1950,
Bác Hồ đi chiến dịch Biên giới. Anh em cảnh vệ kiếm được con ngựa, mời Bác cưỡi.
Bác bảo: Chúng ta có bảy người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện. Anh em
cố nài Bác: Chúng cháu còn trẻ, Bác đã nhiều tuổi, đường xa, công việc nhiều
xin Bác lên ngựa cho. Bác nói: Các chú đều khỏe, còn trẻ cả, để đi đường xem
các chú có theo kịp Bác không. Anh em khẩn khoản mãi, không nỡ từ chối, Bác trả
lời: Thôi được, các chú cứ mang ngựa theo để nó đỡ hộ balô, gạo nước và thức
ăn. Trên đường đi, ai mệt thì cưỡi. Bác mệt, Bác cũng sẽ cưỡi.
“Chú ngã có đau không?”: Vào đầu năm 1954,
tiết trời đã sang xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét, Bác vẫn làm việc rất
khuya. Một lần, đồng chí bảo vệ Bác bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy
bay. Đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng hỏi: Chú nào ngã đấy? Bác
tới rồi luồn tay vào hai nách, vừa kéo, vừa hỏi: Chú ngã có đau không? Bác sờ
khắp người, nắn chân, nắn tay. Bác nói: Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống
đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống! Thưa Bác, cháu không việc gì ạ.
Bác cười hiền hậu và căn dặn: “Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận”.
“Bác có phải vua đâu”: Năm 1961, Bác về
thăm xã Vĩnh Thành (Yên Thành, Nghệ An), xã có phong trào trồng cây tốt. Tại một
ngọn đồi, Bác đứng nói chuyện với nhân dân. Càng gần trưa, nắng càng gắt. Nhìn
Bác đứng giữa nắng, ai cũng thấy xót lòng. Đồng chí chủ tịch huyện cho tìm mượn
được chiếc ô định giương lên che cho Bác. Bác quay lại hỏi: Thế chú có đủ ô cho
tất cả đồng bào không? Thôi cất đi. Bác có phải là vua đâu.
Thăm gia đình chị Chín: Tối 30 Tết năm
1962, Bác thăm gia đình chị Chín ở phố Lý Thái Tổ. Chồng chị mất sớm, để lại ba
đứa con nhỏ dại. Chị phải đi làm công nhật để lấy tiền nuôi con. Gặp Bác, chị
Chín khóc nức nở. Bác an ủi: Năm mới sắp đến, Bác đến thăm thím, sao thím lại
khóc? Cố nén xúc động, chị nói: Có bao giờ… có bao giờ Chủ tịch nước lại tới
thăm nhà chúng con…, mà bây giờ mẹ con chúng con lại được thấy Bác ở nhà. Con cảm
động quá! Mừng quá thành ra con khóc ạ.
Bác nhìn chị Chín, nhìn các cháu một cách
trìu mến và ôn tồn nói: Bác không tới thăm những người như mẹ con thím, thì còn
thăm ai? Rồi Bác đến bên các cháu, âu yếm xoa đầu và trao quà Tết cho các cháu.
Bác hỏi thăm và ân cần dặn dò chị về việc làm ăn và học hành cho các cháu. Sau
Tết, Bác đã chỉ thị cho Ủy ban hành chính Thành phố Hà Nội phải chú ý tạo công
ăn việc làm cho những người lao động gặp nhiều khó khăn như chị Chín.
Bác đi thăm địa phương: Nhiều lần đi thăm
các địa phương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, lúc nào thuận tiện
thì dừng lại ăn cơm. Xuống thăm các địa phương là để nắm tình hình thực tế và
góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn
kém. Bác còn nói vui: “Để tỉnh chiêu đãi thì họ cho mình ăn một nhưng sẽ hết cả
con bò. Nếu Bác đến thăm 4 tỉnh như vậy kinh tế sẽ lạm phát”. Có tỉnh nọ mặc dù
đã được báo trước là Bác có mang cơm theo, nhưng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn.
Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.
“Nước nóng, nước nguội”: Có một đồng chí
cán bộ Trung đoàn thường hay quát mắng chiến sĩ. Một hôm, Bác cho gọi lên Việt
Bắc. Trời mùa hè, nắng chang chang, đi bộ đúng Ngọ nên đồng chí cán bộ vã cả mồ
hôi, người như bốc lửa. Trên bàn đặt hai cốc nước, một cốc nước sôi vừa như mới
rót, bốc hơi nghi ngút, còn cốc kia là nước lạnh. Bác chỉ vào cốc nước nóng
nói: Chú uống đi.
Đồng chí cán bộ kêu lên: Trời! Nắng thế
này mà Bác lại cho nước nóng làm sao cháu uống được. Bác mỉm cười: À ra thế. Thế
chú thích uống nước nguội, mát không? Dạ có ạ. Bác nghiêm nét mặt nói: Nước
nóng, cả chú và tôi đều không uống được. Khi chú nóng, cả chiến sĩ của chú và cả
tôi cũng không tiếp thu được. Hòa nhã, điềm đạm cũng như cốc nước nguội dễ uống,
dễ tiếp thu hơn. Hiểu ý Bác, đồng chí cán bộ nhận lỗi, hứa sẽ sửa chữa.
Đến bài học lãnh đạo, quản lý
Những câu chuyện về cách ứng xử của Bác để
lại nhiều bài học quý giá cho đội ngũ cán bộ của Đảng về phong cách lãnh đạo,
cách giao tiếp, ứng xử, động viên cấp dưới và quần chúng cũng như sử dụng quyền
lực trong lãnh đạo, quản lý.
Một là, cách ứng xử của đội ngũ cán bộ cần
dựa trên tình yêu thương, tôn trọng con người, hiểu biết tâm lý và phong cách
quần chúng. Biết quan tâm đến hoàn cảnh gia đình, sức khỏe, cũng như những điều
quan trọng trong đời sống của quần chúng, đặc biệt là những người có địa vị yếm
thế trong xã hội. Như trong câu truyện trên, Bác chọn gia đình chị Chín - một
gia đình có nhiều khó khăn để đến thăm.
Cán bộ phải luôn sâu sát, gần gũi, biết
hòa mình vào cuộc sống của người lao động, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, tìm cách
tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, giúp họ vươn lên. Tuyên truyền, vận động, giáo dục
cho quần chúng sống, làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật, đồng thời chăm lo
cho quần chúng có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, như ý nguyện của Bác:
“Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn
toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc,
ai cũng được học hành”.
Học Bác lối sống giản dị, thanh tao, tiết
kiệm, chống lãng phí. Tiết kiệm cho mình, cho người khác, cho cơ quan, đơn vị,
cho Nhân dân và đất nước. Khi đi thăm hoặc kiểm tra cơ sở hay địa phương cần biểu
thị thái độ không hài lòng, hoặc phê bình ngay việc tổ chức đón tiếp gây tốn
kém cho dân, cho cơ sở. Sử dụng phương tiện, ăn mặc, đi đứng, cách nói chuyện
phải gần gũi, tránh xa cách quần chúng (đi xe sang trọng, ăn mặc chải chuốt,
thái độ quan cách...).
Hai là, khi tiếp xúc với mọi người cần thể
hiện sự khiêm tốn, chân thành, tôn trọng, quan tâm và chia sẻ. Luôn hòa nhã, điềm
đạm, niềm nở, cử chỉ thân thiện, xóa bỏ sự cách biệt về chức vụ, địa vị, cấp
trên với cấp dưới, cán bộ với quần chúng. Không nên sử dụng “nghệ thuật xã
giao” mà phải thực sự xuất phát từ tâm hồn, đạo đức và nhân cách.
Bác thường dùng từ ngữ rất bình dị, thân mật,
với giọng nói ôn tồn và thái độ trìu mến khiến mọi người cảm thấy gần gũi như
những người thân thuộc, như xưng bằng Bác, gọi người khác là chú, thím: “Chú
ngã có đau không?”; “Bác không tới thăm những người như mẹ con thím, thì còn
thăm ai?”; Bác nhìn các cháu trìu mến và ôn tồn...
Trong lãnh đạo, việc phê bình, nhắc nhở là
cần thiết, nhưng thái độ và cách phê bình phải hết sức tế nhị và khéo léo. Khi
người khác có khuyết điểm, không nên phê bình trực tiếp, trước mặt mọi người với
những lời lẽ quá mạnh mẽ hoặc xúc phạm. Nên gặp gỡ riêng, phê bình nghiêm khắc
nhưng tế nhị, giúp họ hiểu ra lỗi của mình mà không cảm thấy bị xúc phạm.
Ba là, lãnh đạo, quản lý con người là lĩnh
vực khó khăn, phức tạp nhất, đòi hỏi những hiểu biết về tâm lý và tầm nhìn sâu
rộng. Muốn vậy, cán bộ cần có kiến thức nhất định về tâm lý học nhân cách, tâm
lý học lãnh đạo để có thể nắm bắt được những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm, nhu cầu,
nguyện vọng chính đáng của cấp dưới và quần chúng, từ đó có những cách thức tác
động phù hợp.
Người cán bộ phải có nghệ thuật động viên
cấp dưới và quần chúng có thành tích trong lao động, sản xuất và công tác, nhằm
kích thích sự hăng hái, nhiệt tình, tin tưởng ở họ. Tuy nhiên, động viên, khen
ngợi phải được tiến hành một cách công khai, kịp thời, đúng lúc, đúng mức độ, với
ngôn ngữ phù hợp và thái độ chân thành mới có tác dụng thực sự.
Bốn là, cán bộ phải biết sử dụng quyền lực
của mình một cách hợp lý, tuyệt đối không lạm dụng quyền lực. Biết lắng nghe,
tranh thủ ý kiến của cấp dưới và quần chúng, có nghệ thuật đưa họ tham gia vào
việc ra quyết định và thực hiện quyết định của lãnh đạo; có cách thức làm việc
khoa học, tác phong sâu sát, cụ thể, tỷ mỷ. Đồng thời, giữ vững nguyên tắc, có
tính quyết đoán, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, không dựa dẫm, ỷ lại
vào tập thể.
Cần phê phán những quan điểm lạm dụng quyền
lực như: chỉ biết ra mệnh lệnh, luôn nhắc đến chức vụ, cố tình tạo lối sống “độc
đáo” để thể hiện mình thay cho tạo dựng uy tín bằng phẩm chất, năng lực và cách
đối nhân xử thế của mình. Học Bác, cán bộ luôn nhớ rằng, 24 năm làm Chủ tịch nước,
Bác không bao giờ coi mình là lãnh tụ mà chỉ như một người lính vâng lệnh quốc
dân ra trận, suốt đời tận tụy phục vụ Nhân dân.
Năm là, mỗi cán bộ cần quan tâm rèn luyện
để có được tính khí hoạt bát, hòa nhã, vui vẻ. Luôn giữ sự bình tĩnh, làm chủ
và kiểm soát cảm xúc, hành vi, tuyệt đối không được để rơi vào trạng thái nóng
nảy, giận dữ “cả giận mất khôn”, làm tổn thương đến những người xung quanh, lưu
lại trong ký ức của họ một hình ảnh không tốt đẹp. Vì vậy, trong mọi mối quan hệ,
mọi trường hợp cần thật bình tĩnh, xử lý khéo léo tình huống để có được kết quả
tốt nhất./.