Hiển thị các bài đăng có nhãn phong cách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phong cách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

QUAN ĐIỂM VỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM”

Bài viết đã phân tích, làm rõ nội dung tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, “Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại”. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một người cộng sản Việt Nam mẫu mực, mà còn là một chiến sĩ cộng sản quốc tế trong sáng, thủy chung, là biểu tượng vĩ đại, sáng ngời và lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, của đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, của hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện một tầm nhìn lớn lao, một nhãn quan văn hóa rất mực nhân văn, sâu sắc và tinh tế; đó là tầm vóc của một danh nhân văn hóa thế giới. Người để lại cho Đảng ta, nhân dân ta, cho các thế hệ hiện nay và mai sau một di sản tư tưởng vô cùng quý báu, một tấm gương sáng ngời về đạo đức, phong cách và lối sống. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát: “Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã hun đúc nên sự nghiệp Hồ Chí Minh, thời đại Hồ Chí Minh - thời đại rực rỡ nhất, vinh quang nhất trong lịch sử dân tộc ta”; “Tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người là hiện thân của những khát vọng lớn lao của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc” trên thế giới.

Về nội hàm khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đạo đức Hồ Chí Minh  Phong cách Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là kết quả của quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định tầm nhìn, vai trò, bản lĩnh, trí tuệ và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là cống hiến to lớn và đầy sáng tạo của Người trong việc thành lập, giáo dục và rèn luyện một đảng cách mạng chân chính để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. 

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời, là biểu tượng mẫu mực về đạo đức cách mạng cao đẹp. Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức cách mạng, là những phẩm chất cao quý của người cách mạng. Đó là: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Phong cách Hồ Chí Minh là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân, là đầy tớ của nhân dân chứ không phải “làm quan nhân dân”. Đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, giữa lời nói và việc làm một cách tự nhiên. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân ta tìm thấy trong những lời dạy của Người và từ tấm gương đạo đức cao đẹp, từ phong cách của Người những chuẩn mực cần noi theo trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện để mỗi ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, vươn tới những giá trị chân - thiện - mỹ. 

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2022

XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ĐẢNG VIÊN TIÊN PHONG, GƯƠNG MẪU THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là một tấm gương đạo đức sáng ngời về sự tiên phong, gương mẫu. Ở Người kết tinh chặt chẽ sự thống nhất trong tư tưởng, đạo đức và phong cách, giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức và nêu gương sáng về đạo đức, đạt tới sự nhất quán giữa công việc và cuộc sống đời tư, giữa đạo đức của bậc vĩ nhân và đạo đức của một người làm cách mạng.

Kể từ khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (tiền thân của tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam) được thành lập, Người đã luôn đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bằng chứng là người đã viết tác phẩm “Đường Kách Mệnh” để làm tư liệu giáo dục những thanh niên yêu nước đi theo con đường cách mạng đúng đắn, có khát vọng và lý tưởng. Người coi “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt” và đi đến kết luận: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Vì thế, Người rất quan tâm đến đạo đức cách mạng, hình tượng người đảng viên trong lòng quần chúng nhân dân, luôn đề cao việc rèn luyện tính tiên phong, gương mẫu đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng.

Trong giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, Người đặc biệt quan tâm và đề cao tính tiên phong, gương mẫu. Người từng dạy: “Nói miệng ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, làm gương trong anh em, và khi đi công tác, làm gương cho dân. Làm gương cả về ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được ta phải: quyết tâm, tín tâm, đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí thành công”. Tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên không thể ngày một, ngày hai mà có được. Đảng viên thể hiện được sự tiên phong, gương mẫu phải gắn chặt việc học tập và làm theo gương Bác từ những việc làm cụ thể hàng ngày trong đời sống xã hội. Phải thực hành tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tác phong qua mỗi nhiệm vụ được tổ chức đảng giao phó, qua mỗi việc làm cá nhân. Đảng viên phải tự nâng cao đạo đức cách mạng và phẩm chất chính trị của bản thân mỗi ngày. Việc thực hành gương mẫu phải được đề cao, phải biến những phẩm chất tốt đẹp, những hành động tử tế, đúng đắn thành thói quen hàng ngày. Đảng viên phải đóng vai trò thực sự là người tiên phong, đi đầu trong mọi hoạt động, nhận thức được vai trò của người đảng viên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong giai đoạn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng ngày càng tăng. Để giữ gìn sự gương mẫu, mỗi đảng viên cần phải xác định vai trò hạt nhân của bản thân, của tổ chức đảng tại đơn vị. Đảng viên phải ra sức củng cố vai trò, vị thế của tổ chức đảng trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị mà các cấp bộ đảng giao phó.

Tính gương mẫu của người đảng viên được Người chỉ rõ: để mọi người noi gương thì bản thân cán bộ, đảng viên phải thực hành làm mẫu trong công việc, hết lòng vì công việc, hết sức làm tròn trách nhiệm với công việc được giao: “khi có Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công.”. Không những vậy, Người còn đề cao tinh thần trách nhiệm, chính tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân sẽ là tiền đề, là hạt nhân xây dựng nên tính gương mẫu của người đảng viên. Người nói: “Tinh thần trách nhiệm là: Nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ... Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy. Theo chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, hiểu suốt hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình. Rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực, để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu thấu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy. Như thế là làm tròn nhiệm vụ”. Cán bộ, đảng viên là người tiên phong, là lực lượng nồng cốt dẫn dắt quần chúng, muốn quần chúng làm theo thì bản thân phải “cố gắng làm kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi việc”. Chỉ có làm tốt cho quần chúng thấy thì quần chúng mới có thể lấy đó làm tấm gương mà học tập, noi theo. Như thế thì người đảng viên mới thực sự nêu gương và trở thành hình mẫu trong lòng quần chúng.

“Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Một câu nói rất quen thuộc trong việc giáo dục đạo đức cách mạng của người đảng viên được Người nhiều lần nhắc đến trong các tài liệu, các bài nói. Quan điểm này của Người nhằm mục đích nhấn mạnh sự tiên phong, đi đầu, sự ủng hộ của quần chúng đối với người đảng viên. Nếu đảng viên không hăng hái, tính cực, không có tính tiên phong vậy thì sẽ đánh mất đi vai trò thực sự của tổ chức đảng trong lòng quần chúng. Tổ chức đảng với vai trò lãnh đạo quần chúng nhân dân trong cả kháng chiến và thời bình luôn đề cao tính tiên phong. Đặc biệt hơn, được thể hiện rõ ở các cán bộ lãnh đạo, những hạt nhân đóng vai trò “đầu tàu”, “thuyền trưởng” tại các cơ quan, đơn vị. Người thường căn dặn các cán bộ nòng cốt, lực lượng cốt cán của đảng “đã hứa là phải thực hiện”, “nói thì phải làm”, “lí luận gắn liền với thực tiễn”, người đảng viên không thể chỉ nói suông, không thể chỉ nói mà không nêu gương, không thực hành, không làm mẫu để quần chúng noi theo. Trong thực thi các công việc của đảng, người cũng đã phê bình, phê phán những cán bộ “Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”.

Từ những giá trị đạo đức, tư tưởng Người để lại, ta thấy rằng cần thiết phải xây dựng hình tượng người đảng viên tiên phong, gương mẫu trên tất cả các mặt trận kinh tế - xã hội, nhân rộng những gương điển hình tiên tiến trong các phong trào, hoạt động thi đua. Chính họ sẽ là những hình mẫu lan tỏa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng sâu rộng đến quần chúng nhân dân. Sinh thời, Người chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Với Người, người tốt việc tốt ở đâu cũng có; ngành nào cũng có. Phải biết phát huy và tuyên dương kịp thời gương người tốt việc tốt để làm động lực cho sự phát triển các mặt trong đời sống xã hội. Từ đó làm nền tảng cho xã hội ngày một phát triển phồn vinh, văn minh, hiện đại và nghĩa tình.

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

TRAU DỒI ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG THÔNG QUA HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Để có sự chuyển biến tích cực mang tính lâu dài, bền vững, cần tăng cường và tạo sự thay đổi về chất trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Thời gian qua một số cấp ủy Đảng chưa nhận thức đầy đủ tính chất phức tạp của những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường, của đời sống xã hội cũng như yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của đạo đức cách mạng trong điều kiện mới hiện nay, do đó chưa thường xuyên, tích cực và chủ động tiến hành công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Vì thế, chưa kịp thời và kiên quyết ngăn chặn có hiệu quả những tiêu cực nảy sinh trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả một số cán bộ cao cấp của Đảng, cán bộ công an cũng vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước. Do vậy, trong thời gian tới, mỗi cấp ủy, mỗi chi bộ cần có kế hoạch định kỳ kiểm điểm việc thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, chống tư tưởng cơ hội, thực dụng. Mặt khác, cần thường xuyên làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý quá trình rèn luyện, tu dưỡng phấn đấu của cán bộ, đảng viên, tạo điều kiện cho họ thường xuyên làm tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, chấp hành nghiêm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, phải xây dựng môi trường sống của cơ quan, đơn vị, trong sạch vững mạnh và làm cho cán bộ, đảng viên có nếp sống lành mạnh, có đạo đức cách mạng trong sáng; cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ, đảng viên nêu gương cho quần chúng, nói và làm đi đôi với nhau. 

Đặc biệt, các cấp uỷ đảng cần coi trọng việc nêu cao tính tích cực tự giác tu dưỡng rèn luyện phấn đấu về mọi mặt của mỗi cán bộ, đảng viên; chú trọng việc nêu gương, động viên các cá nhân, tập thể có tinh thần tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm; có cơ chế tạo mọi điều kiện cho nhân dân tham gia giám sát hoạt động, công tác của cán bộ, đảng viên. 

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI GƯƠNG MẪU TRONG ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Đây là nội dung quan trọng, nhiệm vụ cốt yếu, thường xuyên đối với cán bộ, đảng viên trong học tập, và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Bởi, Chỉ thị 05 tác động trực tiếp đến công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, góp phần khắc phục hiệu quả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; xây dựng các tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.  Nó có sức lan tỏa mạnh mẽ, trở thành giải pháp quan trọng trong xây dựng Đảng, mỗi cán cán bộ, đảng viên nâng cao đạo đức cách mạng; góp phần quan trọng trong xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.

Tăng cường đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên đã trở thành hành động của toàn Đảng, toàn dân và mỗi cán bộ, đảng viên để làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bản lĩnh cầm quyền, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Vì vậy, các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội cần tiếp tục học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII của Đảng, Nghị quyết của cấp trên và cấp mình.


Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

VẬN DỤNG PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO KHOAN DUNG, ĐỘ LƯỢNG CỦA HỒ CHÍ MINH CHO CÔNG TÁC CÁN BỘ TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Trong bối cảnh đó, từ nghiên cứu phong cách lãnh đạo khoan dung, độ lượng của Hồ Chí Minh, có thể đúc rút một vài gợi mở như sau:

Thứ nhất, cần phải nâng cao nhận thức của cán bộ lãnh đạo về sự cần thiết học tập phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh, trong đó có phong cách khoan dung, độ lượng. Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh, qua kiểm chứng của thực tiễn, không chỉ giúp hoàn thiện người lãnh đạo, mà còn là một bí quyết để lãnh đạo thành công, là một giá trị trong văn hóa lãnh đạo Việt Nam hiện đại.

Thứ hai, phong cách là sự ngoại hiện của tư tưởng và đạo đức. Vì thế, xây dựng phong cách lãnh đạo khoan dung, độ lượng cần phải bắt đầu từ xây dựng tư tưởng và đức tính khoan dung, độ lượng trong cán bộ lãnh đạo, người lãnh đạo phải có tư tưởng sâu sắc về khoan dung, độ lượng và khoan dung, độ lượng phải thực sự là đức tính của người lãnh đạo trong các mối quan hệ.

Thứ ba, hạt nhân quan trọng bậc nhất của khoan dung, độ lượng, đó đức Nhân. Nhân là yêu thương con người, là tình thương yêu của cán bộ lãnh đạo dành cho cấp dưới và nhân dân. Trau dồi đức Nhân là tạo dựng giá trị cốt lõi cho phong cách khoan dung, độ lượng của cán bộ lãnh đạo.

Thứ tư, tư tưởng, đạo đức, phong cách khoan dung, độ lượng liên quan mật thiết đến quá trình tu dưỡng, rèn luyện của bản thân cán bộ lãnh đạo cũng như đến công tác cán bộ, vì thế, việc xây dựng tư tưởng, đạo đức, phong cách này phải được thực hiện bằng những kế hoạch cụ thể, với quyết tâm cao, gắn liền với công tác kiểm tra, đánh giá từ phía tổ chức, chiến sĩ và nhân dân, trong đó sự nỗ lực tự giác của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy là rất quan trọng.

Tóm lại, phong cách lãnh đạo khoan dung, độ lượng của Hồ Chí Minh là một tài nguyên vô cùng quý báu. Việc đi sâu nghiên cứu và áp dụng một hệ giải pháp đồng bộ để xây dựng phong cách khoan dung, độ lượng nói riêng, phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh nói chung cho cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược, là nhiệm vụ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc./.

TẤM GƯƠNG TU DƯỠNG, THỰC HÀNH PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO KHOAN DUNG ĐỘ LƯỢNG CỦA HỒ CHÍ MINH

Hồ Chí Minh là con người thống nhất giữa tri và hành, giữa nói và làm, giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách. Điều này cũng được thấy rõ khi nghiên cứu phong cách lãnh đạo khoan dung, độ lượng Hồ Chí Minh.

Trên bình diện tư tưởng, Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ, khoan dung, độ lượng là một phẩm chất của người cách mạng, đặc biệt là của cán bộ lãnh đạo cách mạng. Quan điểm này của người là nhất quán, kiên trì trong mọi tình huống cách mạng khác nhau. Tùy từng hoàn cảnh, đối tượng, sắc thái nội dung, Hồ Chí Minh sử dụng nhiều từ khác nhau để nói đến phong cách này: khoan thứ, khoan hòa, khoan dung, khoan hồng…

Ngay trong những bài giảng tại Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sau này được in thành sách Đường Kách mệnh (1927), khi nói đến tư cách một người cách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Với từng người thì khoan thứ”. Khoan thứ ở đây bao gồm: (1) khoan hòa, tức là rộng rãi, hòa hợp với mọi người, và (2) lượng thứ, tức là rộng lòng tha thứ cho người. Quan niệm này tiếp tục được Hồ Chí Minh nhắc lại trong bài Người cách mạng mẫu mực (18/9/1926): “Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hoà, lượng thứ…”. Năm 1957, trong bài nói chuyện tại lớp chỉnh huấn trung, cao cấp của Bộ Quốc phòng và các lớp trung cấp của các tổng cục, Người nhấn mạnh: “Khiêm tốn và rộng lượng, đó là hai đức tính mà người cách mạng nào cũng phải có”. Điều đặt biệt là, đối với người lãnh đạo, Hồ Chí Minh càng khẳng định cần phải có đức Khoan. Nhân luận bàn về cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trọng người hiền tốt, ưa người lẽ phải, khoan hồng và cương trực, dũng cảm và nhiều mưu, đó là đại tướng”.

 Để giúp hiểu đúng về đức tính khoan dung, độ lượng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mặt đối lập của nó là sự hẹp hòi – biểu hiện của tính tự kiêu, tự mãn; và nhiều lần Người đã dùng hình ảnh so sánh để làm nổi bật sự đối lập giữa hai tính cách này. Chẳng hạn, trong bài nói về bệnh tự kiêu, tự ái, Hồ Chí Minh viết: “Tự kiêu là hẹp hòi… Thí dụ một cái cốc, vì hẹp hòi mà chỉ đựng được rất ít nước, thêm một chút nước nữa, là phải tràn. Trái với cái độ lượng rộng lớn của bể, bao nhiêu nước cũng vẫn chứa được”. Trong bài Cần, kiệm, liêm, chính, Người nói rõ thêm: “Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn”. Và Người rút ra kết luận: “Như sông như bể mới gọi là độ lượng của người cách mạng”.

Như vậy, có thể thấy, nếu phong cách là những đức tính bên trong, thể hiện ra bên ngoài ở cách sống, cách hành xử, được thực hiện trước sau như một, trở thành nét nổi bật, đặc trưng ở chủ thể hành động, thì với Hồ Chí Minh, khi Người luôn nhấn mạnh, luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là cá bộ lãnh đạo phải luôn trau dồi và thực hành khoan dung, độ lượng, thì khoan dung, độ lượng chính là một phong cách của người cách mạng, trong đó có người cán bộ lãnh đạo cách mạng.

Không chỉ khẳng định người cán bộ lãnh đạo cách mạng cần có đức tính, phong cách khoan dung, độ lượng, Hồ Chí Minh còn luận giải sâu về giá trị mà đức tính, phong cách này mang lại, xét trên cả hai phương diện:

Thứ nhất, với mình, là hoàn thiện bản thân. Người chỉ rõ: “Tài đức độ lượng nhỏ nhen, không bao dung được những ý kiến và những phê bình của người khác”. Rõ ràng, những người không có khả năng lắng nghe, tiếp thu những ý kiến đóng góp, phê bình, kể cả của cấp dưới, thì những người đó không thể tiến bộ được. Trái lại, biết tôn trọng, chấp nhận cái khác biệt, cầu đồng tồn dị, thì không những thể hiện đức khoan dung, độ lượng, mà còn có khả năng không ngừng bồi dưỡng đạo đức, nhân cách của mình, qua đó mà trưởng thành thêm.

Thứ hai, với người, là tập hợp, giáo dục, sử dụng và phát huy được cán bộ, hay rộng hơn là các lực lượng cách mạng.

Theo Hồ Chí Minh, “mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi”; “Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gụi những người mình không ưa”. Như thế, khoan dung, độ lượng chính là để “cán bộ không bị bỏ rơi”, để tập hợp rộng rãi lực lượng. Những người lãnh đạo càng cao, càng cần có đức tính, phong cách này, có như vậy với thành đại đoàn kết. Có đại đoàn kết cách mạng mới đại thành công, tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang. Quan điểm này của Hồ Chí Minh thể hiện rõ tính nhân văn, tính cách mạng sâu sắc.

Người còn chỉ rõ, có khoan dung, độ lượng mới có thể không chỉ tập hợp rộng rãi, đông đảo lực lượng, mà còn có thể giáo dục, bồi dưỡng những đối tượng còn kém, từ đó không ngừng nâng cao chất lượng của lực lượng cách mạng. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, “phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ”; “Các đồng chí già là rất quý, là gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ. Đồng chí già phải giúp đỡ cho đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi ở đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa”.

Khoan dung, độ lượng, theo Hồ Chí Minh, còn là cơ sở để sử dụng cán bộ, sử dụng các lực lượng cách mạng. Người nhấn mạnh: “Khoan hồng là biết dùng người”. Mà biết dùng người, khéo dùng người, thì người tài ngày một nhiều thêm, lực lượng cách mạng ngày một đông đảo và được phát huy. Đó là gốc của thành công.

Như vậy, có thể thấy rằng, nếu công tác cán bộ là công tác gốc của Đảng, thì khoan dung, độ lượng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, chính là một cơ sở, điều kiện tiên quyết để có thể thực hiện thành công nhiều khâu của công tác cán bộ, đồng thời, giúp tránh được nhiều tật bệnh liên quan đến cán bộ, đến lực lượng cách mạng như cánh hẩu, đố kị, coi khinh quần chúng, v.v… Chính vì quan trọng như vậy, nên theo Hồ Chí Minh, khoan dung, độ lượng phải trở thành cách nhìn thế giới, cách nhìn đời, nhìn người của người cách mạng: “Cái nhìn của người cách mạng phải rộng rãi, thái độ phải khiêm tốn”. Cách nhìn độ lượng, rộng rãi, để thấy sức mạnh vĩ đại của thế giới, của cuộc đời, của con người, từ đó mà nhìn lại chính mình, để trở nên khiêm tốn. Khoan dung, độ lượng khi hướng ra bên ngoài như thế, có sức tạo sinh mạnh mẽ những phẩm chất tốt đẹp trong chủ thể, khi chủ thể hướng cách nhìn đó trở lại chính mình. Giá trị với người, với mình của đức tính, phong cách khoan dung, độ lượng hòa quyện chặt chẽ với nhau.

Trên bình diện đạo đức, phong cách, rõ ràng, Hồ Chí Minh không chỉ nói về khoan dung, độ lượng, mà bản thân Người luôn trau dồi, thực hành đức tính đó một cách kiên trì, bền bỉ, từ đó hình thành nên phong cách của Người. Có thể đưa ra biết bao nhiêu dẫn chứng về phong cách khoan dung, độ lượng của nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh, từ cách nhìn đến cách ứng xử của Người đối với các đối tượng khác nhau trong suốt cuộc đời cách mạng của Người. Đúng như đánh giá của Jawaharlan Nehru: “Hồ Chủ tịch là một người có độ lượng rộng rãi”.

Tóm lại, có thể thấy rằng, Hồ Chí Minh đã để lại nhiều quan điểm sâu sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn về đức tính, phong cách khoan dung, độ lượng và bản thân Người, trong suốt cuộc đời đã luôn tu dưỡng, thực hành đức tính này, để từ đó hình thành nên một phong cách lãnh đạo khoan dung, độ lượng độc đáo, đặc sắc, có giá trị gợi mở to lớn đối với hiện nay.

PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO KHOAN DUNG, ĐỘ LƯỢNG – NGUỒN SỨC MẠNH QUY TỤ, CHUYỂN HÓA

Nhà lãnh đạo chính trị Hồ Chí Minh không chỉ được yêu mến, ca ngợi bởi tư tưởng, đạo đức của Người, mà còn bởi phong cách, trong đó có phong cách lãnh đạo rất đặc biệt của Người.

Phong cách nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh không chỉ gây nên những xúc cảm mạnh mẽ, tích cực ở những người tiếp xúc, tìm hiểu; mà còn gợi mở hình mẫu có giá trị tham khảo quý báu về một nhà lãnh đạo chính trị trong thế giới hiện đại và cả tương lai, không chỉ cho giới nghiên cứu Chính trị học, mà còn cho chính những nhà lãnh đạo chính trị trong hiện thực. Jawaharlan Nehru, một nhà lãnh đạo chính trị tầm cỡ thế giới đã từng viết về Hồ Chí Minh với đầy lòng kính trọng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhân vật rất vĩ đại của thế giới trong lịch sử 50 năm gần đây: một người hoà nhã, thân ái, dễ mến, không phô trương, khiêm tốn, một người của quần chúng, một người chân thực”; “Ngoài phần gặp gỡ một con người vĩ đại, chúng ta đã gặp một mảng của lịch sử. Do đó chúng ta không chỉ được nâng tầm tư tưởng, suy nghĩ mà còn được lớn lên ở bên Người”.

Trong phong cách nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh, có một nét đặc sắc, độc đáo, đó là sự khoan dung, độ lượng. Nói đến lãnh đạo là nói đến quan hệ giữa người lãnh đạo và đối tượng được lãnh đạo, trong đó vai trò của người lãnh đạo là dẫn đường cho đối tượng được lãnh đạo. Quan hệ lãnh đạo không loại trừ quyền lực cứng, nhưng chủ yếu dựa trên quyền lực mềm, trên sức mạnh của sự thuyết phục của người lãnh đạo và tinh thần tự nguyện của người được lãnh đạo. Chính vì thế, khoan dung, độ lượng để nhìn khắp, thấy hết, không bỏ sót ai, mở rộng tối đa đối tượng được lãnh đạo; đồng thời nhân ái, bao dung để chấp nhận cái khác biệt, để giáo dục, bồi dưỡng, nâng đỡ những đối tượng còn yếu kém, thậm chí đã từng lạc lối lầm đường; để công tâm, khách quan sử dụng, phát huy nhiều kiểu người tài; ngăn chặn, loại bỏ những tật bệnh có thể làm hỏng công tác cán bộ; v.v., qua đó phát triển cả về lượng và chất đối tượng được lãnh đạo, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng thành công. Khoan dung, độ lượng một cách khoa học, cách mạng và nhân văn như thế còn tạo nên, củng cố, tăng cường sức hấp dẫn, cảm hóa của người lãnh đạo, và vì thế thực sự là một giá trị cốt lõi trong văn hóa lãnh đạo, một bí quyết thành công trong lãnh đạo.

Trong thực tiễn, phong cách khoa dung, độ lượng của nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh đã trở thành một nguồn sức mạnh quy tụ, chuyển hóa, giúp Người và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người lãnh đạo có thể tập hợp và phát huy mạnh mẽ nguồn lực con người, nguồn lực văn hóa, góp phần quan trọng làm nên những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam. Đây thật sự là một tài nguyên vô cùng quý báu, cần tiếp tục được đi sâu nghiên cứu, khai thác, nhất là đối với đội ngũ những người lãnh đạo.

Thứ Hai, 20 tháng 12, 2021

VỮNG LÒNG TIN VÀO ĐẢNG

Với những toan tính chính trị bẩn thỉu của bọn “kền kền” chống phá cách mạng Việt Nam, bất kỳ một diễn biến nào xảy ra trong xã hội hiện nay đều có thể trở thành cái cớ để chúng tập trung “mổ”, “rỉa”. Đặc biệt, khi mạng xã hội trở thành phổ biến, thì cường độ, thủ đoạn chống phá của chúng lại càng trở nên hung hăng, đê tiện. Trong những này vừa qua, nhân việc một số người tự nhận là “đảng viên” tuyên bố “bỏ đảng”, trên hàng loạt trang thông tin mạng, bọn “kền kền” lại ra rả những luận điệu cũ rích chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thật không khó để nhận diện những luận điệu chống phá của bọn “kền kền”. chúng đặt Đảng đối lập với Nhân dân, tự nhận là người “đại diện” Nhân dân để phán xét Đảng, hòng làm lay chuyển lòng tin chính trị của Nhân dân với Đảng. Nhưng chúng đã nhầm, cố tình nhầm. Chúng càng hung hăng hò reo chống phá thì càng khẳng định lòng tin chính trị vững bền của Nhân dân với Đảng. Đồng thời khẳng định, giữ vững lòng tin chính trị của Nhân dân với Đảng là mục tiêu phấn đấu của Đảng, cũng là cơ sở để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng vượt qua mọi thử thách, xây dựng thành công nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng được lòng tin chính trị trong lòng dân tộc. Lòng tin chính trị đó được xây dựng bằng bao hy sinh, phấn đấu của các thế hệ đảng viên, từ khi Đảng còn hoạt động bí mật, bằng uy tín cách mạng cũng như nhân cách cao cả của các lãnh tụ của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ thực tế cách mạng Việt Nam có thể thấy, vai trò và uy tín của người đứng đầu là vô cùng quan trọng với việc Đảng giữ vững được lòng tin của nhân dân. Với việc bôn ba cách mạng, hy sinh cả xương máu và hạnh phúc cá nhân cho sự nghiệp cách mạng, những thế hệ lãnh đạo cách mạng tiền bối, mà đại diện tiêu biểu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giành được lòng tin yêu và kính trọng của quần chúng, qua đó củng cố và giữ vững lòng tin với Đảng của nhân dân.

Giai đoạn hiện nay, cũng không thiếu những tấm gương đảng viên ở mọi cương vị, bằng lời nói, bằng hành động, bằng quyết tâm chính trị bền bỉ, sắt đá đã góp phần giữ vững lòng tin chính trị của quần chúng nhân dân với Đảng, đồng thời được nhân dân tin yêu, kính trọng.

Trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc hiện nay, đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vẫn tin tưởng vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã phát động cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng với quyết tâm cao độ và niềm tin mãnh liệt chính là một trong những biện pháp để Đảng tích cực giữ gìn và bồi đắp lòng tin chính trị trong lòng dân tộc. Chính vì vậy, cùng với tiếp tục lãnh đạo thực hiện có kết quả các mục tiêu về phát triển kinh tế, xây dựng văn hóa, ổn định xã hội, thì việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, XIII về xây dựng Đảng gắn với triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII, về tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội chính là để khẳng định vững chắc vị trí của Đảng trong giai đoạn cách mạng hiện nay./.

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2021

PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO KHOAN DUNG ĐỘ LƯỢNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ GỢI MỞ CHO CÔNG TÁC CÁN BỘ TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam hành động, luôn coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ. Đặc biệt, trong những năm gần đây, Đảng đã rất chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cao nhất là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược. Trong xây dựng đội ngũ, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng nhấn mạnh xây dựng toàn diện cả tư tưởng, đạo đức, phong cách cho cán bộ. Chỉ thị số 05 ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" ra đời đến nay đã chỉ rõ: "Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu". Nghị quyết số 26-NQ/TƯ, ngày 19 tháng 5 năm 2018, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đã chỉ rõ việc đẩy mạnh học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu.

Trong bối cảnh đó, từ nghiên cứu phong cách lãnh đạo khoan dung, độ lượng của Hồ Chí Minh, có thể đúc rút một vài gợi mở như sau:

Thứ nhất, cần phải nâng cao nhận thức của cán bộ lãnh đạo về sự cần thiết học tập phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh, trong đó có phong cách khoan dung, độ lượng. Phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh, qua kiểm chứng của thực tiễn, không chỉ giúp hoàn thiện người lãnh đạo, mà còn là một bí quyết để lãnh đạo thành công, là một giá trị trong văn hóa lãnh đạo Việt Nam hiện đại.

Thứ hai, phong cách là sự ngoại hiện của tư tưởng và đạo đức. Vì thế, xây dựng phong cách lãnh đạo khoan dung, độ lượng cần phải bắt đầu từ xây dựng tư tưởng và đức tính khoan dung, độ lượng trong cán bộ lãnh đạo, người lãnh đạo phải có tư tưởng sâu sắc về khoan dung, độ lượng và khoan dung, độ lượng phải thực sự là đức tính của người lãnh đạo trong các mối quan hệ.

Thứ ba, hạt nhân quan trọng bậc nhất của khoan dung, độ lượng, đó đức Nhân. Nhân là yêu thương con người, là tình thương yêu của cán bộ lãnh đạo dành cho cấp dưới và nhân dân. Trau dồi đức Nhân là tạo dựng giá trị cốt lõi cho phong cách khoan dung, độ lượng của cán bộ lãnh đạo.

Thứ tư, tư tưởng, đạo đức, phong cách khoan dung, độ lượng liên quan mật thiết đến quá trình tu dưỡng, rèn luyện của bản thân cán bộ lãnh đạo cũng như đến công tác cán bộ, vì thế, việc xây dựng tư tưởng, đạo đức, phong cách này phải được thực hiện bằng những kế hoạch cụ thể, với quyết tâm cao, gắn liền với công tác kiểm tra, đánh giá từ phía tổ chức, chiến sĩ và nhân dân, trong đó sự nỗ lực tự giác của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy là rất quan trọng.

Tóm lại, phong cách lãnh đạo khoan dung, độ lượng của Hồ Chí Minh là một tài nguyên vô cùng quý báu. Việc đi sâu nghiên cứu và áp dụng một hệ giải pháp đồng bộ để xây dựng phong cách khoan dung, độ lượng nói riêng, phong cách lãnh đạo Hồ Chí Minh nói chung cho cán bộ lãnh đạo, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược, là nhiệm vụ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc./.

HỒ CHÍ MINH - TẤM GƯƠNG TU DƯỠNG, THỰC HÀNH PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO KHOAN DUNG ĐỘ LƯỢNG

Hồ Chí Minh là con người thống nhất giữa tri và hành, giữa nói và làm, giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách. Điều này cũng được thấy rõ khi nghiên cứu phong cách lãnh đạo khoan dung, độ lượng Hồ Chí Minh.

Trên bình diện tư tưởng, Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ, khoan dung, độ lượng là một phẩm chất của người cách mạng, đặc biệt là của cán bộ lãnh đạo cách mạng. Quan điểm này của người là nhất quán, kiên trì trong mọi tình huống cách mạng khác nhau. Tùy từng hoàn cảnh, đối tượng, sắc thái nội dung, Hồ Chí Minh sử dụng nhiều từ khác nhau để nói đến phong cách này: khoan thứ, khoan hòa, khoan dung, khoan hồng…

Ngay trong những bài giảng tại Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sau này được in thành sách Đường Kách mệnh (1927), khi nói đến tư cách một người cách mệnh, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Với từng người thì khoan thứ”. Khoan thứ ở đây bao gồm: (1) khoan hòa, tức là rộng rãi, hòa hợp với mọi người, và (2) lượng thứ, tức là rộng lòng tha thứ cho người. Quan niệm này tiếp tục được Hồ Chí Minh nhắc lại trong bài Người cách mạng mẫu mực (18/9/1926): “Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hoà, lượng thứ…”. Năm 1957, trong bài nói chuyện tại lớp chỉnh huấn trung, cao cấp của Bộ Quốc phòng và các lớp trung cấp của các tổng cục, Người nhấn mạnh: “Khiêm tốn và rộng lượng, đó là hai đức tính mà người cách mạng nào cũng phải có”. Điều đặt biệt là, đối với người lãnh đạo, Hồ Chí Minh càng khẳng định cần phải có đức Khoan. Nhân luận bàn về cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trọng người hiền tốt, ưa người lẽ phải, khoan hồng và cương trực, dũng cảm và nhiều mưu, đó là đại tướng”.

 Để giúp hiểu đúng về đức tính khoan dung, độ lượng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mặt đối lập của nó là sự hẹp hòi – biểu hiện của tính tự kiêu, tự mãn; và nhiều lần Người đã dùng hình ảnh so sánh để làm nổi bật sự đối lập giữa hai tính cách này. Chẳng hạn, trong bài nói về bệnh tự kiêu, tự ái, Hồ Chí Minh viết: “Tự kiêu là hẹp hòi… Thí dụ một cái cốc, vì hẹp hòi mà chỉ đựng được rất ít nước, thêm một chút nước nữa, là phải tràn. Trái với cái độ lượng rộng lớn của bể, bao nhiêu nước cũng vẫn chứa được”. Trong bài Cần, kiệm, liêm, chính, Người nói rõ thêm: “Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn”. Và Người rút ra kết luận: “Như sông như bể mới gọi là độ lượng của người cách mạng”.

Như vậy, có thể thấy, nếu phong cách là những đức tính bên trong, thể hiện ra bên ngoài ở cách sống, cách hành xử, được thực hiện trước sau như một, trở thành nét nổi bật, đặc trưng ở chủ thể hành động, thì với Hồ Chí Minh, khi Người luôn nhấn mạnh, luôn yêu cầu cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là cá bộ lãnh đạo phải luôn trau dồi và thực hành khoan dung, độ lượng, thì khoan dung, độ lượng chính là một phong cách của người cách mạng, trong đó có người cán bộ lãnh đạo cách mạng.

Không chỉ khẳng định người cán bộ lãnh đạo cách mạng cần có đức tính, phong cách khoan dung, độ lượng, Hồ Chí Minh còn luận giải sâu về giá trị mà đức tính, phong cách này mang lại, xét trên cả hai phương diện:

Thứ nhất, với mình, là hoàn thiện bản thân. Người chỉ rõ: “Tài đức độ lượng nhỏ nhen, không bao dung được những ý kiến và những phê bình của người khác”. Rõ ràng, những người không có khả năng lắng nghe, tiếp thu những ý kiến đóng góp, phê bình, kể cả của cấp dưới, thì những người đó không thể tiến bộ được. Trái lại, biết tôn trọng, chấp nhận cái khác biệt, cầu đồng tồn dị, thì không những thể hiện đức khoan dung, độ lượng, mà còn có khả năng không ngừng bồi dưỡng đạo đức, nhân cách của mình, qua đó mà trưởng thành thêm.

Thứ hai, với người, là tập hợp, giáo dục, sử dụng và phát huy được cán bộ, hay rộng hơn là các lực lượng cách mạng.

Theo Hồ Chí Minh, “mình phải có độ lượng vĩ đại thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không có thành kiến, khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi”; “Phải có tinh thần rộng rãi, mới có thể gần gụi những người mình không ưa”. Như thế, khoan dung, độ lượng chính là để “cán bộ không bị bỏ rơi”, để tập hợp rộng rãi lực lượng. Những người lãnh đạo càng cao, càng cần có đức tính, phong cách này, có như vậy với thành đại đoàn kết. Có đại đoàn kết cách mạng mới đại thành công, tương lai chắc chắn sẽ vẻ vang. Quan điểm này của Hồ Chí Minh thể hiện rõ tính nhân văn, tính cách mạng sâu sắc.

Người còn chỉ rõ, có khoan dung, độ lượng mới có thể không chỉ tập hợp rộng rãi, đông đảo lực lượng, mà còn có thể giáo dục, bồi dưỡng những đối tượng còn kém, từ đó không ngừng nâng cao chất lượng của lực lượng cách mạng. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, “phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho họ tiến bộ”; “Các đồng chí già là rất quý, là gương bền bỉ đấu tranh, dìu dắt, bồi dưỡng, đào tạo thêm đồng chí trẻ. Đồng chí già phải giúp đỡ cho đồng chí trẻ tiến bộ. Như thế đòi hỏi ở đồng chí già phải có thái độ độ lượng, dìu dắt đồng chí trẻ. Đó cũng là một tiêu chuẩn đạo đức cộng sản chủ nghĩa”.

Khoan dung, độ lượng, theo Hồ Chí Minh, còn là cơ sở để sử dụng cán bộ, sử dụng các lực lượng cách mạng. Người nhấn mạnh: “Khoan hồng là biết dùng người”. Mà biết dùng người, khéo dùng người, thì người tài ngày một nhiều thêm, lực lượng cách mạng ngày một đông đảo và được phát huy. Đó là gốc của thành công.

Như vậy, có thể thấy rằng, nếu công tác cán bộ là công tác gốc của Đảng, thì khoan dung, độ lượng, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, chính là một cơ sở, điều kiện tiên quyết để có thể thực hiện thành công nhiều khâu của công tác cán bộ, đồng thời, giúp tránh được nhiều tật bệnh liên quan đến cán bộ, đến lực lượng cách mạng như cánh hẩu, đố kị, coi khinh quần chúng, v.v… Chính vì quan trọng như vậy, nên theo Hồ Chí Minh, khoan dung, độ lượng phải trở thành cách nhìn thế giới, cách nhìn đời, nhìn người của người cách mạng: “Cái nhìn của người cách mạng phải rộng rãi, thái độ phải khiêm tốn”. Cách nhìn độ lượng, rộng rãi, để thấy sức mạnh vĩ đại của thế giới, của cuộc đời, của con người, từ đó mà nhìn lại chính mình, để trở nên khiêm tốn. Khoan dung, độ lượng khi hướng ra bên ngoài như thế, có sức tạo sinh mạnh mẽ những phẩm chất tốt đẹp trong chủ thể, khi chủ thể hướng cách nhìn đó trở lại chính mình. Giá trị với người, với mình của đức tính, phong cách khoan dung, độ lượng hòa quyện chặt chẽ với nhau.

Trên bình diện đạo đức, phong cách, rõ ràng, Hồ Chí Minh không chỉ nói về khoan dung, độ lượng, mà bản thân Người luôn trau dồi, thực hành đức tính đó một cách kiên trì, bền bỉ, từ đó hình thành nên phong cách của Người. Có thể đưa ra biết bao nhiêu dẫn chứng về phong cách khoan dung, độ lượng của nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh, từ cách nhìn đến cách ứng xử của Người đối với các đối tượng khác nhau trong suốt cuộc đời cách mạng của Người. Đúng như đánh giá của Jawaharlan Nehru: “Hồ Chủ tịch là một người có độ lượng rộng rãi”.

Tóm lại, có thể thấy rằng, Hồ Chí Minh đã để lại nhiều quan điểm sâu sắc, có giá trị lý luận và thực tiễn về đức tính, phong cách khoan dung, độ lượng và bản thân Người, trong suốt cuộc đời đã luôn tu dưỡng, thực hành đức tính này, để từ đó hình thành nên một phong cách lãnh đạo khoan dung, độ lượng độc đáo, đặc sắc, có giá trị gợi mở to lớn đối với hiện nay.

KHOAN DUNG, ĐỘ LƯỢNG – NÉT ĐẶC SẮC TRONG PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO HỒ CHÍ MINH

        Trước hết, phong cách khoan dung, độ lượng của nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa tư tưởng – văn hóa chính trị Đông – Tây.

Phong cách khoan dung, độ lượng của Hồ Chí Minh đặc biệt bắt nguồn từ truyền thống khoan hòa trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Ta nhìn thấy trong phong cách Hồ Chí Minh tấm lòng rộng lượng của con người Việt Nam trong các ứng xử xã hội, thấy triết lý khoan giản an lạc của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, thấy kế sách khoan thư sức dân của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, thấy đạo nghĩa khoan dung, vị tha của Nguyễn Trãi, Quang Trung… Chính truyền thống khoan hòa, hiện thân của đức Chí Nhân của dân tộc Việt Nam, là mạch nguồn chủ yếu dung dưỡng nên phong cách khoan dung, độ lượng Hồ Chí Minh.

Trên nền tảng văn hóa dân tộc, ta còn có thể thấy dấu ấn của tư tưởng – văn hóa chính trị Nho giáo trong phong cách khoan dung, độ lượng Hồ Chí Minh. Sách Luận Ngữ - công trình phản ánh tư tưởng của Khổng tử, người sáng lập nên Nho giáo – đã rất coi trọng chữ “Khoan”. Thiên Dương Hóa trong sách Luận Ngữ chép, khi học trò của Khổng tử là Tử Trương hỏi về đức Nhân, Khổng tử đã trả lời rằng: “có thể thực hiện 5 điều sau đây trong thiên hạ, đó là Nhân”, và ông giải thích 5 điều đó là: “cung, khoan, tín, mẫn, huệ: cung thì không khinh mạn, khoan tất sẽ được lòng người, tín thì được mọi người gửi gắm, mẫn thì có công lao, huệ thì đủ để sai khiến người”. Như vậy, cùng với cung kính, tín nhiệm, cần mẫn và ân huệ, sự khoan hậu là một hiện thân của đức Nhân, một đức tính của người lãnh đạo, một giá trị cần được phổ quát hóa trong xã hội. Hệ quả của Khoan, theo Khổng tử, chính là được lòng người, quy tụ được lực lượng đông đảo – “khoan tắc đắc chúng”. Khổng tử từng nói rõ với những người lãnh đạo: "Kẻ ở trên mà không rộng lượng, hành lễ mà không có sự kính trọng, đến chỗ tang tế mà không bi ai – những kẻ đó còn gì đáng để mắt đến?". Là một người xuất thân trong gia đình Nho học, từ bé đã được giáo dục “kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử” của Nho gia, có thể khẳng định tinh thần “khoan tắc đắc chúng” của các bậc chân Nho ưu thời mẫn thế, không chỉ qua sách vở, mà còn qua phong cách hiện thực của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, cùng bao nhà Nho yêu nước Việt Nam khác, đã sớm thấm sâu vào cậu bé Nguyễn Sinh Cung, để rồi sau này trở thành một nét đặc sắc trong phong cách của Hồ Chí Minh.

Không chỉ tư tưởng – văn hóa phương Đông, mà nhiều giá trị văn hóa phương Tây cũng góp phần hình thành nên phong cách khoan dung, độ lượng của Hồ Chí Minh. Chính Hồ Chí Minh đã nhiều lần ca ngợi “lòng nhân ái cao cả” trong tôn giáo do Đức Chúa Giê-su sáng lập, ca ngợi lý tưởng Bác ái của Đại Cách mạng Pháp, v.v., và cả phong cách “dũng cảm và rộng lượng” của các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác – Lênin. Trong bài Lênin và các dân tộc thuộc địa (21/7/1924), Hồ Chí Minh đã dùng những chữ “dũng cảm và rộng lượng” để viết về phong cách mẫu mực của Lênin - người thầy của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Tiếp đó, phong cách khoan dung, độ lượng của Hồ Chí Minh còn là ánh phản của sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam đại nghĩa, chính nghĩa, quang minh chính đại, văn minh dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính Hồ Chí Minh, trong bức thư gửi đồng bào Nam Bộ ngày 26/9/1945, đã nói rõ: "Đối với những người Pháp bị bắt trong lúc chiến tranh, ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng. Phải làm cho thế giới, trước hết là làm cho dân Pháp biết rằng: Chúng ta là quang minh chính đại. Chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người cướp nước”. Thấu hiểu sâu sắc sức mạnh vĩ đại của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tận mắt chứng kiến các tầng lớp người Việt Nam, từ các vị vua quan yêu nước, đến mọi giai tầng trong xã hội, đều xả thân vì đại nghiệp giải phóng và phát triển của đất nước, Hồ Chí Minh đã đúc rút một chân lý rằng: "Đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc", đều có mầm Thiện ở trong lòng, vấn đề chỉ là người lãnh đạo có thấy được và có tìm ra cách khơi dậy, phát huy những giá trị đó hay không, và sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam đã, đang và sẽ là sự nghiệp của đại đoàn kết toàn dân, chứ không phải sự nghiệp của riêng ai. Nói cách khác, khoan dung, độ lượng là một đòi hỏi khách quan của chính hiện thực sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam, đã được Hồ Chí Minh nhận thức, và vì thế, chuyển hoá thành tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người.

Nhất là, phong cách khoan dung, độ lượng chính là hiện thân của tâm hồn, khí phách, nhân cách cao đẹp của nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh - bậc Đại Nhân, Đại Chí, Đại Dũng. Ngay từ năm 1923, nhà báo Ôxíp Manđenxtam đã nhận ra điều này khi tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai… Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”.

Có thể thấy rằng phong cách lãnh đạo khoan dung, độ lượng Hồ Chí Minh là sự kết tinh tinh hoa tư tưởng - văn hóa dân tộc và nhân loại, phán ánh đúng và đáp ứng được đòi hòi của thực tiễn sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam, là một hiện thân của nhân cách Hồ Chí Minh, vì thế, có giá trị to lớn, cần được trân trọng nghiên cứu, học tập.

PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO KHOAN DUNG, ĐỘ LƯỢNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Nhà lãnh đạo chính trị Hồ Chí Minh không chỉ được yêu mến, ca ngợi bởi tư tưởng, đạo đức của Người, mà còn bởi phong cách, trong đó có phong cách lãnh đạo rất đặc biệt của Người.

Phong cách nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh không chỉ gây nên những xúc cảm mạnh mẽ, tích cực ở những người tiếp xúc, tìm hiểu; mà còn gợi mở hình mẫu có giá trị tham khảo quý báu về một nhà lãnh đạo chính trị trong thế giới hiện đại và cả tương lai, không chỉ cho giới nghiên cứu Chính trị học, mà còn cho chính những nhà lãnh đạo chính trị trong hiện thực. Jawaharlan Nehru, một nhà lãnh đạo chính trị tầm cỡ thế giới đã từng viết về Hồ Chí Minh với đầy lòng kính trọng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhân vật rất vĩ đại của thế giới trong lịch sử 50 năm gần đây: một người hoà nhã, thân ái, dễ mến, không phô trương, khiêm tốn, một người của quần chúng, một người chân thực”; “Ngoài phần gặp gỡ một con người vĩ đại, chúng ta đã gặp một mảng của lịch sử. Do đó chúng ta không chỉ được nâng tầm tư tưởng, suy nghĩ mà còn được lớn lên ở bên Người”.

Trong phong cách nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh, có một nét đặc sắc, độc đáo, đó là sự khoan dung, độ lượng. Nói đến lãnh đạo là nói đến quan hệ giữa người lãnh đạo và đối tượng được lãnh đạo, trong đó vai trò của người lãnh đạo là dẫn đường cho đối tượng được lãnh đạo. Quan hệ lãnh đạo không loại trừ quyền lực cứng, nhưng chủ yếu dựa trên quyền lực mềm, trên sức mạnh của sự thuyết phục của người lãnh đạo và tinh thần tự nguyện của người được lãnh đạo. Chính vì thế, khoan dung, độ lượng để nhìn khắp, thấy hết, không bỏ sót ai, mở rộng tối đa đối tượng được lãnh đạo; đồng thời nhân ái, bao dung để chấp nhận cái khác biệt, để giáo dục, bồi dưỡng, nâng đỡ những đối tượng còn yếu kém, thậm chí đã từng lạc lối lầm đường; để công tâm, khách quan sử dụng, phát huy nhiều kiểu người tài; ngăn chặn, loại bỏ những tật bệnh có thể làm hỏng công tác cán bộ; v.v., qua đó phát triển cả về lượng và chất đối tượng được lãnh đạo, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng thành công. Khoan dung, độ lượng một cách khoa học, cách mạng và nhân văn như thế còn tạo nên, củng cố, tăng cường sức hấp dẫn, cảm hóa của người lãnh đạo, và vì thế thực sự là một giá trị cốt lõi trong văn hóa lãnh đạo, một bí quyết thành công trong lãnh đạo.

Trong thực tiễn, phong cách khoa dung, độ lượng của nhà lãnh đạo Hồ Chí Minh đã trở thành một nguồn sức mạnh quy tụ, chuyển hóa, giúp Người và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người lãnh đạo có thể tập hợp và phát huy mạnh mẽ nguồn lực con người, nguồn lực văn hóa, góp phần quan trọng làm nên những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam. Đây thật sự là một tài nguyên vô cùng quý báu, cần tiếp tục được đi sâu nghiên cứu, khai thác, nhất là đối với đội ngũ những người lãnh đạo.

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2021

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH - TẤM GƯƠNG MẪU MỰC VỀ NGHỆ THUẬT ỨNG XỬ

Sức mạnh cảm hóa, cuốn hút và tập hợp được mọi người - đó là phong cách ứng xử, một bí quyết thành công trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài viết đề cập những nét tiêu biểu trong phong cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh: khiêm tốn; khoan dung, độ lượng và tình yêu thương, tôn trọng con người... đây là tấm gương mẫu mực về phong cách ứng xử của Người, để mỗi cán bộ, đảng viên luôn không ngừng học tập và làm theo trong cuộc sống và công việc hàng ngày.

1. Phong cách Hồ Chí Minh là những đặc trưng giá trị (chân, thiện, mỹ), mang đậm dấu ấn cá nhân, được thể hiện trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng hết sức đa dạng, phong phú của Người. Trong đó, phong cách ứng xử Hồ Chí Minh là một mẫu mực của phép đối nhân, xử thế; một nhân cách lớn, một tâm hồn lớn của lẽ phải, tình thương và bao dung rộng lớn.

Phong cách ứng xử chính là mối quan hệ giữa người với người trong công việc và trong cuộc sống hàng ngày. Nét nổi bật nhất của phong cách ứng xử Hồ Chí Minh chính là sự khiêm tốn. Cố Tổng thống nước Cộng hòa Chilê Xanvađo Agienđê đã từng khái quát: “Nếu như muốn tìm một sự tiêu biểu cho tất cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đó là đức tính vô cùng giản dị và sự khiêm tốn phi thường”. Địa vị càng cao, uy tín càng lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng khiêm tốn. Người từng nhấn mạnh: “Khiêm tốn là nền tảng đạo đức của cả dân tộc Việt Nam. Đối với bản thân thì bao giờ cũng nhìn ra điều kém cỏi của mình. Đối với đồng chí và bạn bè thì ai cũng là thầy học của mình, tìm cho được điều mình phải học tập. Đối với kẻ thù cần biết cái mạnh của địch, cái yếu của ta”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hành động đúng như những điều mình đã nói, Người có cách ứng xử mang đậm bản chất của người Việt Nam “kính già, yêu trẻ, trọng phụ nữ”. Rất nhiều người khi được gặp Bác đều có chung cảm tưởng là được gặp một con người rất Người, thương người; mới gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu. Bác luôn có sức hút kỳ lạ với mọi người; được gặp Bác là được gặp một nhân cách tỏa sáng thông qua tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người và nhờ vậy mà trưởng thành hơn. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nhận xét sâu sắc: “Lúc gặp một con người, bất cứ ai, làm việc gì, trong hoàn cảnh nào, Bác đều đem lại cho người đó cái người ta cần, nó có thể làm cho người đó suy nghĩ, nó có thể đòi hỏi người đó khá nhiều, và như vậy người đó sẽ vươn lớn lên ngang tầm công việc của mình”.

2. Phong cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sự bao dung, độ lượng vĩ đại, cảm hóa mọi người. Trong công việc và cuộc sống thường ngày, cách giải quyết của Bác bao giờ cũng thấu lý, đạt tình, chan chứa lòng yêu thương và sự quan tâm đến con người. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh (năm 1927), bàn về tư cách một người cách mệnh, Người chỉ rõ: “Với từng người thì khoan thứ”, tức là phải rộng rãi, hòa hợp với mọi người và rộng lòng tha thứ cho người.

Đặc biệt, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), Người nhiều lần đề cập đến đức tính khoan dung, độ lượng của người lãnh đạo: phải biết yêu thương, quý trọng, thành tín và khoan dung đối với người dưới quyền; phải biết lắng nghe, hiểu thấu cán bộ, đảng viên và nhân dân; biết tôn trọng, chấp nhận cái khác biệt… thì mới có thể tập hợp, giáo dục, sử dụng và phát huy được tiềm năng, sức mạnh của mọi người, mọi lực lượng phục vụ cho sự nghiệp chung. Đối với những người có thói hư tật xấu, thậm chí đã từng lầm đường lạc lối thì phải lấy lòng khoan dung, độ lượng mà giáo dục, cảm hóa họ, giúp đỡ họ tiến bộ, trở thành những người có ích cho xã hội. Người nhấn mạnh, sông sâu, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được; nhưng cái đĩa cạn, cái chén nhỏ thì chỉ một giọt nước cũng tràn đầy. Vì vậy, chỉ sợ mình không có lòng bao dung nhân ái, chứ không sợ người ta không theo mình.

3. Xuyên suốt, nhất quán trong chiều sâu tư tưởng và ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tình yêu thương, tôn trọng con người “… ở đời và làm người thì phải biết thương nước, thương dân, thương nhân loại lao khổ”. Người nhấn mạnh: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”. Nhân nghĩa chính là cái gốc trong giao thiệp, ứng xử giữa con người với con người, nên phải quan tâm đến thái độ, hành vi đối nhân xử thế của mình sao cho có tình có nghĩa, thấu lý đạt tình, không nên cứng nhắc, máy móc hay lý luận suông.

Tư tưởng nhân ái, nhân văn cao cả của Người cũng là những tình cảm, hành động rất chân thật, cụ thể. Trong cuốn hồi ký Con đường theo Bác của đồng chí Hoàng Quốc Việt có viết: “Bác biết rõ tính cách và sinh hoạt của cán bộ để lựa chiều uốn nắn. Tính tôi hay nóng, Bác biết lắm. Một hôm, Bác bảo: “Lửa nóng làm mọi người rát mặt, trời nóng làm mọi người đầm đìa mồ hôi, con người ta nóng thường làm mọi người khó chịu”. Bác chỉ nói có ngần ấy lời, vậy mà tôi đã suy nghĩ nhiều, và sau lần đó, tính nóng có phần nào giảm đi.”. Trong quan hệ công tác giữa những người đồng chí, đồng nghiệp với nhau, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức lưu ý một điều là phải biết tôn trọng, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau.

Không phải ngẫu nhiên trong Di chúc, đoạn nói về sự đoàn kết, thống nhất của Đảng, Người đã ghi thêm một câu: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Suy cho cùng, đây chính là điểm cơ bản, quan trọng hàng đầu để bảo đảm đoàn kết thật sự trong Đảng và bao trùm lên tất cả là trong các mối quan hệ giữa người với người. Nếu không xuất phát từ điểm chính yếu này thì chẳng có điều gì có ý nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về nghệ thuật ứng xử. Phong cách ứng xử của Người không phải là bẩm sinh, mà là kết quả của quá trình không ngừng tự tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện, trở thành một mẫu mực, tiêu biểu cho văn hóa ứng xử của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới. Mỗi chúng ta đều có thể học tập và làm theo phong cách của Người để trở nên tốt đẹp hơn. Đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu càng phải không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện và trau dồi phong cách ứng xử có văn hóa; phải thực sự là mẫu mực về nhân cách, lối sống. Người lãnh đạo, quản lý là người truyền cảm hứng, động lực cho sự phát triển sáng tạo các giá trị, các hình mẫu ứng xử trong tổ chức - người lãnh đạo phải là tấm gương mẫu mực trong thực hiện những giá trị, chuẩn mực đó.

Vì vậy, phải quan tâm, chú ý đến cách hành xử của người lãnh đạo với cấp dưới và Nhân dân, sao cho bảo đảm sự thấu hiểu, tôn trọng, tin tưởng, quan tâm và gần gũi mọi người; tạo được niềm tin, gây cảm xúc, hứng thú, hăng say trong công việc với tinh thần tự giác, sáng tạo; đảm bảo lãnh đạo thực sự là “một nghệ thuật động viên”, chứ không phải lãnh đạo theo kiểu mệnh lệnh, ra oai. Do đó, cần: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới. Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý. Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn; xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh”.

Phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu theo phương châm “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”. “Đề cao tính tiên phong, gương mẫu trong văn hóa ứng xử của người lãnh đạo, cán bộ, đảng viên trong các cơ quan, đơn vị”. Khuyến khích, động viên kịp thời những cán bộ, đảng viên có tinh thần, thái độ, hành vi ứng xử đẹp vì lợi ích chung; đồng thời xử lý nghiêm những hành vi, thái độ ứng xử thiếu chuẩn mực của cán bộ, đảng viên gây bức xúc trong cộng đồng, xã hội./.

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

MƯU ĐỒ BÔI NHỌ, XUYÊN TẠC HÌNH ẢNH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ thiên tài, Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam được UNESCO công nhận năm 1987 tại kỳ họp lần thứ 24. Ở Người có sự hội tụ và phát huy đến mức cao nhất, hoàn mỹ nhất tinh hoa văn hóa dân tộc và thời đại, kết hợp phương Ðông và phương Tây, cổ và kim, trí dũng và nhân văn, vĩ đại và giản dị, khiêm nhường.

Chính vì thế, để chống phá cách mạng Việt Nam, ngăn chặn tiến trình đi lên Chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để bôi nhọ danh dự, hình tượng Hồ Chí Minh, phá hoại phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” bằng cách ngụy tạo chứng cứ và xuyên tạc bóp méo tài liệu lịch sử về Bác Hồ để lừa mị nhân dân, đổi trắng thay đen hòng làm mất đi tinh thần dân tộc, lòng yêu nước của nhân dân ta.

Để thực hiện mưu đồ trên, các đối tượng thường tập trung khoét sâu vào các vấn đề nhân thân, lai lịch, đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh theo kiểu dựa trên những nguồn thông tin không rõ nguồn gốc, hình ảnh đã photoshop hoặc cắt xén để nhào nặn ra những tác phẩm sai trái có liên quan đến con người, thân thế và sự nghiệp của Người.

Thủ đoạn của các đối tượng là “tạo sóng ngầm trong bể” khi tung tin cho rằng Nguyễn Ái Quốc đã chết tại Trung Quốc và con người bằng xương, bằng thịt được cả dân tộc Việt Nam tôn kính là một người Đài Loan-Trung Quốc. Việc gán ghép, quy chụp cho rằng Bác Hồ là người gốc Trung Quốc là thủ đoạn nham hiểm khi chúng lợi dụng tâm lý bức xúc của người dân Việt Nam trước những vấn đề lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt là các hành động của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên biển Đông.

Bên cạnh đó, các đối tượng bịa đặt dàn dựng những vở kịch về đời tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các luận điệu như: Hồ Chí Minh không phải là người vĩ đại đã hy sinh cuộc đời riêng để tận hiến cho dân tộc, mà từng có vợ, con và nhiều người tình. Rồi sau đó quy kết cho rằng Hồ Chí Minh không dám thừa nhận và nhẫn tâm bỏ mặc vợ con mình. Chúng còn bịa đặt ra những câu chuyện hoang đường, trong đó Hồ Chí Minh được miêu tả như một con người tầm thường, bản năng và sống xa hoa hưởng lạc, chứ không hề giản dị thanh bạch như “cộng sản tuyên truyền”.

Chính nhờ đi theo chủ nghĩa Cộng sản và thực hiện thành công sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước nên được nhân dân tôn thờ, hình ảnh Bác đã đại diện cho sự cao đẹp của chế độ XHCN trên đất nước Việt Nam. Vậy nên muốn đánh đổ chế độ XHCN để xây dựng một chế độ thân phương Tây thì các đối tượng tìm cách bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ dần dần làm xói mòn hình tượng Người Cha già dân tộc, là bệ phóng để tấn công vào lòng tin của nhân dân vào chế độ XHCN.

Đáng chú ý, trong giai đoạn hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang đẩy mạnh thực hiện phong trào học tập và làm theo tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh, các đối tượng chống đối, những nhà mạo danh “dân chủ” đã và đang tìm mọi lý do để phủ nhận, chối bỏ sự thật lịch sử khi cho rằng, Hồ Chí Minh không hề yêu nước thương dân, mà suốt đời chỉ tôn thờ chủ nghĩa Cộng sản quốc tế, làm “tay sai” cho Trung Quốc, Liên Xô, từ đó quy kết, xuyên tạc Hồ Chí Minh “bán nước”. Tất cả những luận điều này chỉ có thể là sản phẩm của những kẻ vô ơn, bạc bẽo, không có liêm sỉ.

Âm mưu xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam là không hề thay đổi, do đó dịp kỷ niệm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động ráo riết đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền chống phá trên không gian mạng internet. Đó là các chiến dịch phá hoại nguy hiểm trên mặt trận chính trị tư tưởng. Do đó, việc nhận diện những thủ đoạn trên và đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, bôi nhọ hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh chính là nhiệm vụ chính trị xã hội góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và tiến trình đi lên CNXH tại Việt Nam. Vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay trong đấu tranh phòng, chống các luận điệu xuyên tạc là mỗi người dân Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, phát hiện và thẳng thắn lên án luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, các đối tượng chống phá trong và ngoài nước bôi nhọ đến thanh danh, đạo đức, nhân phẩm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

NHẬN DIỆN SỰ XUYÊN TẠC CỦA ĐÁM RẬN CHỦ VỀ VIỆC HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Có thể nói từ khi thực hiện chỉ thị số 05/CT – TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã tạo nên đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta ra sức thi đua, nỗ lực phấn đấu để học tập và làm theo Bác, đạt nhiều thành tích đáng trân trọng, góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển. Như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói trong buổi họp báo công bố kết quả Đại hội XIII của Đảng ngày 01/2/2021 "Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày hôm nay".

Ấy vậy mà đám rận chủ luôn muốn lèo lái dư luận, chúng xuyên tạc rằng: Đảng tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” sẽ tạo nên sự sùng bái cá nhân, gây lãng phí. Đây là luận điệu xuyên tạc hết sức nguy hiểm của đám phản động, thể hiện tư tưởng cực đoan.

Chúng ta cần tỉnh táo, nêu cao tinh thần cách mạng, bản lĩnh chính trị để đập tan luận điệu xuyên tạc này, cụ thể trên những nội dung sau:

Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, một mặt thể hiện sự biết ơn của toàn Đảng, toàn dân ta đối với di sản của Người; giúp mỗi cán bộ, đảng viên gắn việc học tập, làm theo tư tưởng và những lời dạy của Người với nhiệm vụ chính trị được giao; tránh việc học tập qua loa, đại khái, hình thức dẫn đến trong khi thực hiện nhiệm vụ được Đảng và dân giao phó sẽ có lúc sa vào chủ nghĩa cá nhân, xa dần mục tiêu lý tưởng của người đảng viên Đảng Cộng sản, suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, mất đi sự khiêm tốn, nảy sinh thái độ, việc làm hách dịch, quan liêu, cửa quyền, mệnh lệnh, xa rời nhân dân, trở thành “quan cách mạng”.

Tiếp tục đẩy mạnh việc nghiên cứu, học tập Chỉ thị 05 là rất cần thiết, góp phần tiếp tục xây dựng Ðảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh. Hay nói cách khác, nhận thức đúng đắn về tư tưởng Hồ Chí Minh, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người là biện pháp quan trọng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong thời gian tới, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta sẽ tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu, khát vọng Việt Nam hùng cường vào năm 2045.

Thứ Ba, 4 tháng 5, 2021

BÀI HỌC LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ TỪ CÁCH ỨNG XỬ CỦA BÁC HỒ

Không chỉ tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, thương dân, trí tuệ và nhãn quan chính trị nhạy bén, năng lực thực tiễn và dự báo thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là hiện thân của phong cách ứng xử chứa đựng nhiều nét văn hóa đặc sắc, để lại bài học quý giá trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ của Đảng hôm nay.

Từ những câu chuyện về cách ứng xử của Bác...

Có rất nhiều câu chuyện về phong cách ứng xử của Bác Hồ, chứa đựng những nét văn hóa đặc sắc, lưu lại cho bao thế hệ người Việt Nam và nhân dân trên thế giới. Dưới đây chỉ là một vài câu chuyện về cách ứng xử của Bác, để lại nhiều bài học quý giá cho hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ.

Câu chuyện mời Bác cưỡi ngựa: Năm 1950, Bác Hồ đi chiến dịch Biên giới. Anh em cảnh vệ kiếm được con ngựa, mời Bác cưỡi. Bác bảo: Chúng ta có bảy người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện. Anh em cố nài Bác: Chúng cháu còn trẻ, Bác đã nhiều tuổi, đường xa, công việc nhiều xin Bác lên ngựa cho. Bác nói: Các chú đều khỏe, còn trẻ cả, để đi đường xem các chú có theo kịp Bác không. Anh em khẩn khoản mãi, không nỡ từ chối, Bác trả lời: Thôi được, các chú cứ mang ngựa theo để nó đỡ hộ balô, gạo nước và thức ăn. Trên đường đi, ai mệt thì cưỡi. Bác mệt, Bác cũng sẽ cưỡi.

“Chú ngã có đau không?”: Vào đầu năm 1954, tiết trời đã sang xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét, Bác vẫn làm việc rất khuya. Một lần, đồng chí bảo vệ Bác bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy bay. Đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng hỏi: Chú nào ngã đấy? Bác tới rồi luồn tay vào hai nách, vừa kéo, vừa hỏi: Chú ngã có đau không? Bác sờ khắp người, nắn chân, nắn tay. Bác nói: Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống! Thưa Bác, cháu không việc gì ạ. Bác cười hiền hậu và căn dặn: “Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận”.

“Bác có phải vua đâu”: Năm 1961, Bác về thăm xã Vĩnh Thành (Yên Thành, Nghệ An), xã có phong trào trồng cây tốt. Tại một ngọn đồi, Bác đứng nói chuyện với nhân dân. Càng gần trưa, nắng càng gắt. Nhìn Bác đứng giữa nắng, ai cũng thấy xót lòng. Đồng chí chủ tịch huyện cho tìm mượn được chiếc ô định giương lên che cho Bác. Bác quay lại hỏi: Thế chú có đủ ô cho tất cả đồng bào không? Thôi cất đi. Bác có phải là vua đâu.

Thăm gia đình chị Chín: Tối 30 Tết năm 1962, Bác thăm gia đình chị Chín ở phố Lý Thái Tổ. Chồng chị mất sớm, để lại ba đứa con nhỏ dại. Chị phải đi làm công nhật để lấy tiền nuôi con. Gặp Bác, chị Chín khóc nức nở. Bác an ủi: Năm mới sắp đến, Bác đến thăm thím, sao thím lại khóc? Cố nén xúc động, chị nói: Có bao giờ… có bao giờ Chủ tịch nước lại tới thăm nhà chúng con…, mà bây giờ mẹ con chúng con lại được thấy Bác ở nhà. Con cảm động quá! Mừng quá thành ra con khóc ạ.

Bác nhìn chị Chín, nhìn các cháu một cách trìu mến và ôn tồn nói: Bác không tới thăm những người như mẹ con thím, thì còn thăm ai? Rồi Bác đến bên các cháu, âu yếm xoa đầu và trao quà Tết cho các cháu. Bác hỏi thăm và ân cần dặn dò chị về việc làm ăn và học hành cho các cháu. Sau Tết, Bác đã chỉ thị cho Ủy ban hành chính Thành phố Hà Nội phải chú ý tạo công ăn việc làm cho những người lao động gặp nhiều khó khăn như chị Chín.

Bác đi thăm địa phương: Nhiều lần đi thăm các địa phương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm. Xuống thăm các địa phương là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém. Bác còn nói vui: “Để tỉnh chiêu đãi thì họ cho mình ăn một nhưng sẽ hết cả con bò. Nếu Bác đến thăm 4 tỉnh như vậy kinh tế sẽ lạm phát”. Có tỉnh nọ mặc dù đã được báo trước là Bác có mang cơm theo, nhưng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn. Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc.

“Nước nóng, nước nguội”: Có một đồng chí cán bộ Trung đoàn thường hay quát mắng chiến sĩ. Một hôm, Bác cho gọi lên Việt Bắc. Trời mùa hè, nắng chang chang, đi bộ đúng Ngọ nên đồng chí cán bộ vã cả mồ hôi, người như bốc lửa. Trên bàn đặt hai cốc nước, một cốc nước sôi vừa như mới rót, bốc hơi nghi ngút, còn cốc kia là nước lạnh. Bác chỉ vào cốc nước nóng nói: Chú uống đi.

Đồng chí cán bộ kêu lên: Trời! Nắng thế này mà Bác lại cho nước nóng làm sao cháu uống được. Bác mỉm cười: À ra thế. Thế chú thích uống nước nguội, mát không? Dạ có ạ. Bác nghiêm nét mặt nói: Nước nóng, cả chú và tôi đều không uống được. Khi chú nóng, cả chiến sĩ của chú và cả tôi cũng không tiếp thu được. Hòa nhã, điềm đạm cũng như cốc nước nguội dễ uống, dễ tiếp thu hơn. Hiểu ý Bác, đồng chí cán bộ nhận lỗi, hứa sẽ sửa chữa.

Đến bài học lãnh đạo, quản lý

Những câu chuyện về cách ứng xử của Bác để lại nhiều bài học quý giá cho đội ngũ cán bộ của Đảng về phong cách lãnh đạo, cách giao tiếp, ứng xử, động viên cấp dưới và quần chúng cũng như sử dụng quyền lực trong lãnh đạo, quản lý.

Một là, cách ứng xử của đội ngũ cán bộ cần dựa trên tình yêu thương, tôn trọng con người, hiểu biết tâm lý và phong cách quần chúng. Biết quan tâm đến hoàn cảnh gia đình, sức khỏe, cũng như những điều quan trọng trong đời sống của quần chúng, đặc biệt là những người có địa vị yếm thế trong xã hội. Như trong câu truyện trên, Bác chọn gia đình chị Chín - một gia đình có nhiều khó khăn để đến thăm.

Cán bộ phải luôn sâu sát, gần gũi, biết hòa mình vào cuộc sống của người lao động, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, tìm cách tháo gỡ vướng mắc, khó khăn, giúp họ vươn lên. Tuyên truyền, vận động, giáo dục cho quần chúng sống, làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật, đồng thời chăm lo cho quần chúng có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, như ý nguyện của Bác: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Học Bác lối sống giản dị, thanh tao, tiết kiệm, chống lãng phí. Tiết kiệm cho mình, cho người khác, cho cơ quan, đơn vị, cho Nhân dân và đất nước. Khi đi thăm hoặc kiểm tra cơ sở hay địa phương cần biểu thị thái độ không hài lòng, hoặc phê bình ngay việc tổ chức đón tiếp gây tốn kém cho dân, cho cơ sở. Sử dụng phương tiện, ăn mặc, đi đứng, cách nói chuyện phải gần gũi, tránh xa cách quần chúng (đi xe sang trọng, ăn mặc chải chuốt, thái độ quan cách...).

Hai là, khi tiếp xúc với mọi người cần thể hiện sự khiêm tốn, chân thành, tôn trọng, quan tâm và chia sẻ. Luôn hòa nhã, điềm đạm, niềm nở, cử chỉ thân thiện, xóa bỏ sự cách biệt về chức vụ, địa vị, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với quần chúng. Không nên sử dụng “nghệ thuật xã giao” mà phải thực sự xuất phát từ tâm hồn, đạo đức và nhân cách.

Bác thường dùng từ ngữ rất bình dị, thân mật, với giọng nói ôn tồn và thái độ trìu mến khiến mọi người cảm thấy gần gũi như những người thân thuộc, như xưng bằng Bác, gọi người khác là chú, thím: “Chú ngã có đau không?”; “Bác không tới thăm những người như mẹ con thím, thì còn thăm ai?”; Bác nhìn các cháu trìu mến và ôn tồn...

Trong lãnh đạo, việc phê bình, nhắc nhở là cần thiết, nhưng thái độ và cách phê bình phải hết sức tế nhị và khéo léo. Khi người khác có khuyết điểm, không nên phê bình trực tiếp, trước mặt mọi người với những lời lẽ quá mạnh mẽ hoặc xúc phạm. Nên gặp gỡ riêng, phê bình nghiêm khắc nhưng tế nhị, giúp họ hiểu ra lỗi của mình mà không cảm thấy bị xúc phạm.

Ba là, lãnh đạo, quản lý con người là lĩnh vực khó khăn, phức tạp nhất, đòi hỏi những hiểu biết về tâm lý và tầm nhìn sâu rộng. Muốn vậy, cán bộ cần có kiến thức nhất định về tâm lý học nhân cách, tâm lý học lãnh đạo để có thể nắm bắt được những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm, nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của cấp dưới và quần chúng, từ đó có những cách thức tác động phù hợp.

Người cán bộ phải có nghệ thuật động viên cấp dưới và quần chúng có thành tích trong lao động, sản xuất và công tác, nhằm kích thích sự hăng hái, nhiệt tình, tin tưởng ở họ. Tuy nhiên, động viên, khen ngợi phải được tiến hành một cách công khai, kịp thời, đúng lúc, đúng mức độ, với ngôn ngữ phù hợp và thái độ chân thành mới có tác dụng thực sự.

Bốn là, cán bộ phải biết sử dụng quyền lực của mình một cách hợp lý, tuyệt đối không lạm dụng quyền lực. Biết lắng nghe, tranh thủ ý kiến của cấp dưới và quần chúng, có nghệ thuật đưa họ tham gia vào việc ra quyết định và thực hiện quyết định của lãnh đạo; có cách thức làm việc khoa học, tác phong sâu sát, cụ thể, tỷ mỷ. Đồng thời, giữ vững nguyên tắc, có tính quyết đoán, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, không dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể.

Cần phê phán những quan điểm lạm dụng quyền lực như: chỉ biết ra mệnh lệnh, luôn nhắc đến chức vụ, cố tình tạo lối sống “độc đáo” để thể hiện mình thay cho tạo dựng uy tín bằng phẩm chất, năng lực và cách đối nhân xử thế của mình. Học Bác, cán bộ luôn nhớ rằng, 24 năm làm Chủ tịch nước, Bác không bao giờ coi mình là lãnh tụ mà chỉ như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trận, suốt đời tận tụy phục vụ Nhân dân.

Năm là, mỗi cán bộ cần quan tâm rèn luyện để có được tính khí hoạt bát, hòa nhã, vui vẻ. Luôn giữ sự bình tĩnh, làm chủ và kiểm soát cảm xúc, hành vi, tuyệt đối không được để rơi vào trạng thái nóng nảy, giận dữ “cả giận mất khôn”, làm tổn thương đến những người xung quanh, lưu lại trong ký ức của họ một hình ảnh không tốt đẹp. Vì vậy, trong mọi mối quan hệ, mọi trường hợp cần thật bình tĩnh, xử lý khéo léo tình huống để có được kết quả tốt nhất./.