Thứ Năm, 2 tháng 6, 2016

SỰ THIÊNG LIÊNG PHẢI GIỮ GÌN ĐỘC LẬP, TỰ DO CỦA TỔ QUỐC

 Là một dân tộc đất không rộng, người không đông, nhưng trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta luôn phải đấu tranh chống lại sự xâm lược của các thế lực hùng mạnh. Các thế hệ người Việt Nam đã sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành và giữ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đó là sự hy sinh tự nguyện cho một mục tiêu chân chính, một lý tưởng cao đẹp; là hành động ái quốc của một dân tộc anh hùng - một biểu tượng ngời sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Trong đêm trường nô lệ, các phong trào đấu tranh yêu nước vẫn liên tục nổ ra nhưng đều bị dìm trong biển máu và thất bại. Đến những năm đầu của thế kỷ XX, với khát vọng cháy bỏng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[1], Người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm ra con đường cứu nước. Và khi thời cơ thuận lợi đã tới “dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Khát vọng và ý chí quyết giành độc lập, tự do của toàn dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người tự do. Thay mặt toàn thể đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[2].
Thế nhưng, nền độc lập của dân tộc, quyền tự do của nhân dân vừa mới giành được lại đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài cấu kết với nhau nhằm bóp chết chính quyền còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”[3]. Lời kêu gọi đã động viên toàn dân tộc ta đứng lên chống thực dân Pháp. Sau chín năm trường kỳ kháng chiến, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, toàn dân tộc tộc đã đứng lên đánh bại đế quốc, thực dân, làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, giải phóng miền Bắc.
Nhưng ngay sau đó đế quốc Mĩ lại kế chân xâm lược nước ta, chúng không cho dân tộc ta được sống trong hoà bình, độc lập, tự do. Sau 20 năm chiến đấu ròng rã, hàng chục triệu người đã hiến dâng tuổi thanh xuân, hiên ngang “Nhằm thẳng quân thù - bắn!” đã đánh bại tên đế quốc giàu mạnh nhất hành tinh. Thắng lợi đó có nhiều nguyên nhân, nhưng xét đến cùng, nguyên nhân sâu xa, đó là ý chí quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ để bảo vệ vững chắc quyền độc lập, tự do của Tổ quốc. Khi phân tích nguyên nhân thất bại của Mĩ tại Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kì Mắc Na-ma-ra nêu lên 11 nguyên nhân chính khiến nước Mĩ thảm bại, trong đó có nguyên nhân từ phía giới lãnh đạo nước Mĩ: “Đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc đã thúc đầy một dân tộc giàu lòng yêu nước đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó, chúng tôi thiếu sự hiểu biết cơ bản về lịch sử, văn hoá, chính trị của Việt Nam”[4].
Một dân tộc đã gan góc đấu tranh, triệu người như một, đồng tâm, hiệp lực chiến đấu kiên cường đánh bại mọi mọi âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù, giải phóng hoàn toàn đất nước, thống nhất Tổ quốc, đi lên chủ nghĩa xã hội. Hàng vạn người con ưu tú của dân tộc ta đã ngã xuống trên chiến trường hoặc khi trở về đã mang trên mình thương tật suốt đời, hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ đã mãi mãi không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó.
Trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị của độc lập, tự do, hiện nay đại bộ thanh thiếu niên đã và đang tích cực học tập, lao động, công tác góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhưng vẫn còn một bộ phận sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; xem nhẹ truyền thống, coi thường đạo lý, phủ nhận quá khứ. Thậm chí, có người còn lên tiếng ủng hộ các luận điệu xuyên tạc, phản động cho rằng, các cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta trong thế kỷ XX là “cuộc chiến tranh phi nghĩa”, là “sự hy sinh xương máu một cách vô ích”; cá biệt một số người còn bị kích động, lôi kéo tham gia các hoạt động trái pháp luật, bị các thế lực thù địch lợi dụng làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia dân tộc.
Vì vậy, để thế hệ trẻ có nhận thức đầy đủ về giá trị của độc lập, tự do; thấu hiểu những hy sinh mất mát to lớn của các thế hệ cha anh trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, cần tập trung giáo dục lịch sử dân tộc; truyền thống văn hóa của dân tộc, của Đảng; những anh hùng, liệt sĩ; những tấm gương yêu nước tiêu biểu và tuyên truyền âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta trong tình hình mới.
 Để làm được điều đó, cần tích cực hóa quá trình dạy học môn lịch sử bằng cách tái hiện một cách sinh động, có hồn những sự kiện lịch sử quan trọng. Kết hợp nhiều kênh thông tin cung cấp kiến thức lịch sử, truyền thống nhất là sách, báo, tranh ảnh, tư liệu, phim, nhạc… kích thích sự hứng thú, say mê tìm tòi, nghiên cứu về lịch sử. Sử dụng phổ biến các hình thức: tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề, diễn đàn, thi tìm hiểu, tuyên truyền, biểu dương người tốt, việc tốt trong học tập, lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, ý chí kiên cường, dũng cảm; khơi dậy ước mơ, hoài  bão lớn trong mỗi người.
Chú trọng phát huy giá trị của những chứng tích lịch sử; tăng cường các hoạt động tham quan các di tích lịch sử, căn cứ địa cách mạng; tổ chức giao lưu, nói chuyện truyền thống để thế hệ trẻ tìm hiểu về những người thật, việc thật, nhận rõ cái giá phải trả cho độc lập, tự do của dân tộc, tự hào với truyền thống của các thế hệ cha anh, soi mình vào những tấm gương tiêu biểu trong xã hội; từ đó nhận thấy trách nhiệm của mình với Tổ quốc, với gia đình và xã hội, góp sức mình xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.
Xây dựng môi trường văn hóa tôn vinh những giá trị truyền thống, lịch sử; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng chuẩn mực đạo đức, tấm gương điển hình với “chống” mọi biểu hiện, hành vi trái với đạo lý, truyền thống dân tộc. Mỗi gia đình, các cấp, các ngành và các tổ chức xã hội cần tiếp tục biểu hiện lòng biết ơn sâu sắc, sự tôn vinh đối với những người đã hy sinh vì nước bằng những việc làm cụ thể, thiết thực để thế hệ trẻ học tập, noi theo.
Đặc biệt, mỗi thanh thiếu niên cần đề cao tinh thần tự học, tự rèn; tích cực tìm hiểu về lịch sử, truyền thống của dân tộc, của quê hương; tham gia tích cực vào các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, chia sẻ giúp đỡ các gia đình có công với nước, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn; sống thủy chung, chí nghĩa, chí tình, không bàng quang, vị kỷ cá nhân; xây dựng thái độ học tập, lao động, công tác đúng đắn; xây dựng tinh thần lao động cần cù, sáng tạo; thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện hoàn thiện bản thân; chủ động hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Có lẽ, hơn bất cứ dân tộc nào trên thế giới, dân tộc Việt Nam thấu hiểu sự vô giá của độc lập, tự do. Bởi để có hòa bình, độc lập, tự do, dân tộc ta đã phải đánh đổi bằng tính mạng, xương máu và nước mắt của lớp lớp các thế hệ người Việt Nam. Thế hệ trẻ hôm nay không có quyền quên và không được phép quên những cống hiến, hy sinh của các thế hệ cha anh, trái lại phải luôn tự hào và nguyện sống xứng đáng với các thế hệ đi trước; luôn trân trọng, giữ gìn và góp phần giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc; biến truyền thống thành bản lĩnh, ý chí; chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh./.




[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 2002, tr.161
[2] Hồ Chí Minh,  Toàn tập, Nxb CTQG, tập 4, H.2009, tr.4
[3] Hồ Chí Minh,  Toàn tập, Nxb CTQG, tập 4, H.2009, tr.480
[4] Robet Mc. Namara, Nxb CTQG, H.1995, tr.3163. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, tập 7 (1940  - 1945) tr.113.

ĐẰNG SAU LUẬN ĐIỆU ĐỀ NGHỊ ĐỔI TÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Hiện nay, có một số người lợi dụng tự do, dân chủ trong nghiên cứu khoa học, đề xuất đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng Dân chủ Việt Nam hoặc quay trở lại với tên gọi trước đây là Đảng Lao động Việt Nam; thực chất phía sau luận điệu đó là gì?
Chúng ta đều biết, ngày 3 tháng 2 năm 1930 dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với chủ trương hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Đông Dương theo chủ trương của Quốc tế Cộng sản. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời chính là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác –Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam. Ngay từ tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
 Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn dân tộc Việt Nam. Mục tiêu cao nhất của Đảng là giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, đấu tranh vì độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và từng bước tiến tới xã hội cộng sản. Đảng là một tổ chức chặt chẽ thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh; đồng thời thực hiện các nguyên tắc tự phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam mới 15 tuổi, với hơn 5000 đảng viên đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng tháng Tám thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ngày 2 tháng 9 năm 1945) – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Với sự quy tụ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân giành chiến thắng vĩ đại trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; thống nhất đất nước, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đạt được “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” trong công cuộc đổi mới, đưa đất nước vững bước hội nhập quốc tế và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Chủ nghĩa Mác – Lênin, là kết tinh ở tầm cao trí tuệ nhân loại, là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ; là một học thuyết cách mạng, khoa học giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới, về những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy con người, về những con đường cách mạng để xóa bỏ chế độ bóc lột, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản.
 Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Hơn 86 năm qua, với đường lối lãnh đạo đúng đắn, nền tảng tư tưởng vững vàng,  đội ngũ cán bộ - đảng viên luôn kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đội ngũ đảng viên của chúng ta xứng đáng với tên gọi đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng luôn coi trọng  tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận để làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đảng ta luôn luôn kiên định những nguyên lý có tính nền tảng và vận dụng đúng đắn những học thuyết đó vào thực tiễn đất nước ta; kiên quyết sửa chữa sai lầm khuyết điểm nếu mắc phải, lắng nghe ý kiến của nhân dân, đấu tranh khắc phục khuynh hướng giáo điều, quan liêu xa dân. Thực tế, có một thời kỳ lịch sử, Đảng ta có tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam từ Đại hội II (năm 1951) đến trước Đại hội IV(năm 1976). Tuy tên gọi của Đảng khác nhau để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhưng bản chất của Đảng là đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân thì không hề thay đổi. Đại hội Đảng lần thứ IV, toàn thể các đại biểu đều nhất trí với tên gọi như thời kỳ đầu thành lập Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam; đó là sự phù hợp với mục tiêu, lý tưởng và bản chất của Đảng. Hiện nay, với tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam với những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử đã ghi sâu đậm trong trái tim nhân dân và bạn bè quốc tế. Do đó, việc đổi tên Đảng là sự không cần thiết, thậm chí còn gây lãng phí và tốn kém cho việc phải sửa chữa và hiệu đính lại các văn bản, giấy tờ, điều đó đi ngược lại với di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: điều gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, điều gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh.
Thực chất đằng sau luận điệu đề nghị đổi tên Đảng là biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, xét lại dưới hình thức khác nhau, hòng làm mơ hồ ảo tưởng trong quần chúng nhân dân và xóa bỏ sự tồn tại mô hình đảng cộng sản thực chất là để tìm kiếm tuyên ngôn không cộng sản trong thế kỷ XXI. Từ việc đề nghị đổi tên Đảng đến việc từ bỏ hệ tư tưởng của Đảng là một việc làm trong gang tấc, rồi đến thay đổi điều 4 trong Hiến pháp quy định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Đây là những giọng điệu thể hiện một kịch bản rất sâu xa nằm trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đang ra sức kích động.

Bài học rút ra từ sự đổ vỡ của Liên Xô có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, trong đó có việc tự đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, làm cho chế độ bị sụp đổ nhanh chóng. Do vậy ở nước ta hiện nay, ai đó có vô tình hay hữu ý, là đảng viên hay không phải đảng viên, là người trong nước hay ở ngoài nước hãy thức tỉnh và có ý nghĩ đúng về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay cũng như mãi mãi về sau. Chúng ta có thể khẳng định rằng, không có một đảng phái chính trị mới nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo dân tộc, lãnh đạo nhân dân, đúng đắn và đạt được thành tựu vẻ vang như Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, giữ nguyên tên gọi: “Đảng Cộng sản Việt Nam”, vừa là tình cảm, vừa là trách nhiệm cao cả của mỗi cán bộ, đảng viên mà còn là lương tri và hòn đá thử tình yêu với Đảng, với dân tộc của mỗi người dân Việt Nam. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã diễn ra và thành công tốt đẹp, tiếp tục đưa ra những quyết sách rất quan trọng để lãnh đạo đất nước trong giai đoạn cách mạng mới và sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp, trong đó có nội dung tiếp tục lãnh đạo công tác xây dựng Đảng. Đảng ta từ khi ra đời đến nay đã lãnh đạo dân tộc ta giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thực sự là một đảng “đạo đức và văn minh”, là “người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân”, đang ra sức thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN XẤU, XUYÊN TẠC VỀ CUỘC BẦU CỬ QUỐC HỘI KHÓA XIV VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2016-2021


Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, sẽ được tổ chức vào ch nhật (ngày 22/5/2016). Đây là một ngày hội lớn của toàn dân – ngày mà cử tri cả nước thực hiện quyền cao cả là bầu cử để lựa chọn ra các đại biểu có đủ phẩm chất, năng lực, để tham gia đảm nhiệm có hiệu quả đến công việc của đất nước, của cấp trung ương đến các địa phương. Tuy nhiên, gần đây, trên internet xuất hiện nhiều trang mạng núp bóng “truyền thông xã hội”, đưa tin, giật tít rầm rộ, như “giúp phổ biến kiến thức cho người tự ứng cử và cử tri”, “thúc đẩy quá trình dân chủ hóa”, “cung cấp các thông tin hữu ích về ứng cử, bầu cử dành cho các ứng viên tự do và cử tri”... Thực tế nội dung của các bài viết trên là những thông tin mang tính chủ quan cá nhân, thông tin không đúng sự thật... Như một phản ứng dây chuyền, có kịch bản từ trước, một số trang mạng và báo, đài hải ngoại của tổ chức phản động nước ngoài (Đối thoại, Đàn chim Việt, RFI, RFA..., đã từng đăng tải các tin bài xuyên tạc về Đại hội lần thứ XII của Đảng), tăng cường đăng tải những bài viết có nội dung sai trái, xuyên tạc về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021.
          Một số người tự cho là “cấp tiến”, “yêu nước”, đã hô hào vận động tranh cử trên mạng, có nhóm lập facebook “Vận động ứng cử đại biểu Quốc hội 2016” nhưng hoạt động như một tờ báo điện tử, ngang nhiên cử người xưng là “phóng viên” đi phỏng vấn, viết bài “đánh bóng”, lăng xê một số người tự ứng cử thuộc nhóm “xã hội dân sự”. Các cá nhân này đã vi phạm các quy định của pháp luật: điều 20, Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý hoạt động thông tin điện tử trên internet; điều 65, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân: Về hình thức vận động bầu cử, có hai hình thức: Gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri ở địa phương nơi mình ứng cử và thông qua phương tiện thông tin đại chúng (được quy định tại điều 67 của Luật này).
          Một s trang mạng và đài, báo nước ngoài đưa ra các luận điệu xuyên tạc: “Cuộc bầu cử này là không chính danh, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”. Họ bày tỏ rõ ý định phá hoại cuộc bầu cử, “Hãy tranh cử để ít nhất là làm cho Đảng phải mệt hơn, tốn tiền đối phó”(!). Trên trang của cái gọi là “Hội nhà báo độc lập Việt Nam” họ phát động “thảo luận đầu xuân” về tự ứng cử đại biểu Quốc hội và đưa ra tuyên bố yêu cầu “xóa cơ chế Đảng cử, dân bầu”...Thực tế chứng minh, chính những người đưa ra các luận điệu trên đã quên mất rằng, mỗi quốc gia có một thể chế chính trị khác nhau và ở Việt Nam, việc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc bầu cử đã được hiển định rõ ràng trong điểm 1, điều 4, Hiến pháp năm 2013 “Đảng Cộng sàn Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Thông qua việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội ở một số các khóa gần đây cho thấy, tại kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII (năm 2007) có 30 người tự ứng cử, Quốc hội khóa XIII (năm 2011) có 82 người tự ứng cử. Số người tự ứng cử được lọt vào vòng chính thức để kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII (18%) cao hơn kỳ Quốc hội khóa XII (12%). Đáng chú ý là, có người 2 lần liền tự ứng cử đại biểu Quốc hội đều trúng. Tại kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV này, cả nước đã có 154 người tự ứng cử, tăng nhiều hơn so với các nhiệm kỳ trước. Điều đó đã bác bỏ một số ý kiến quy chụp cho rằng, bầu cử đại biểu Quốc hội ở Việt Nam chỉ là sân chơi “độc diễn” của Đảng, không có cửa cho các ứng cử viên tự đo (!).
        Trong thời gian gần đây, trên mạng xã hội và đài, báo nước ngoài xuất hiện nhiều thông tin về việc những người tự ứng cử bị “gây khó dễ”, “phân biệt đối x; thậm chí có người còn cho rằng “đang có một chiến dịch “tẩy chay”, “đấu tố” những người tự ứng cử”... Vậy, sự thực là gì? Một số cá nhân tự ứng cử đại biểu Quốc hội khỏa XIV kỳ này mà họ muốn tham gia, có người là thành viên Đảng Dân chủ Việt Tân, đã tham gia phiên điều trần tại Hạ viện Mỹ; và đã tụ tập đông người trái pháp luật (vi phạm Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 18-3-2005 của Chính phủ)... Ngoài ra, còn có người tự ứng cử có nhiều phát ngôn, bài viết trên mạng xã hội có nội dung thiếu văn hóa, phản cảm, cổ vũ các đối tượng nhân danh và lợi dụng bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ môi trường… tụ tập đông người gây rối nơi công cộng. Việc làm của họ được chính quyền nơi cu trú ghi nhận xét vào lý lịch, được nhân dân nơi cư trù đóng góp, phê bình và không tín nhiệm, không thể coi là bị phân biệt đối xử, bị đấu tố.
Cần phải khẳng định rằng, tiến trình bầu cử Quốc hội ở nước ta tuân thủ một quy trình chặt chẽ, dân chủ, bình đẳng, khách quan, với tinh thần “thượng tôn pháp luật”. Thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn bầu cử của Bộ chính trị (khóa XI), thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các ban ngành, đoàn thể Trung ương… đến nay, công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đã hoàn tất, đảm bảo đúng tiến độ, tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật. Sau khi kết thúc ba vòng hiệp thương, ngày 26/4/2016, Văn phòng Quốc hội đã họp báo công bố danh sách 870 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV. Trong đó, đại biểu do Trung ương chiếm tỷ lệ 38,97%; 204 người dân tộc thiểu số, chiếm 23,34%; 268 người dưới 40 tuổi, chiếm 30,80%; 97 người ngoài Đảng chiếm 11,155; 11 người tự ứng cử.
Niềm vui của toàn Đảng, toàn dân ta trên khắp mọi miền Tổ quốc, không khí náo nức đợi chờ ngày hội lớn đã thể hiện, lan tỏa trong mỗi người dân Việt Nam. Thành công của cuộc bầu cử sẽ tạo cơ sở vững chắc để nhân dân ta tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời, đó cũng là bằng chứng thuyết phục nhất để bác bỏ các luận điểm sai trái, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng ta có thể thấy rằng, trong thời gian trước ngày bầu cử và sau bầu cử, các thể lực thù địch sẽ vẫn tiếp tục xuyên tạc chống phá cuộc bầu cử với nhiều hình thức, thủ đoạn… với tinh thần cảnh giác và kiên quyết của mỗi người dân Việt Nam thì những âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch sẽ bị vạch trần và không thể thực hiện được mưu đồ xấu xa của chúng. Thực tế cho chúng ta thấy, với lịch sử 70 năm phát triển và không ngừng hoàn thiện, Quốc hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng với kỳ vọng của nhân ta. Qua XIV lần bầu cử đã diễn ra trong lịch sử dân tộc, luôn thể hiện sự tôn trọng quyền tự do dân chủ của mỗi cử tri, các quy trình theo đúng luật pháp; do vậy, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 tất yếu thành công tốt đẹp, là một bước tiến để đi đến mục tiêu: dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Thứ Tư, 20 tháng 1, 2016

GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM VẪN LÀ GIAI CẤP DUY NHẤT CÓ ĐỦ TRÍ TUỆ VÀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI MỚI!

Lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 80 năm qua đã chứng minh rằng, ngoài giai cấp công nhân, thông qua đội tiên phong chân chính của nó, không một giai cấp, một tầng lớp xã hội nào khác có thể lãnh đạo được cách mạng nước ta. Đó là một thực tế không thể phủ nhận.
Lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong điều kiện đất nước trải qua một cuộc chiến tranh lâu dài, hậu quả vô cùng nặng nề; nền kinh tế còn thấp kém, lạc hậu; trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật của công nhân chưa thật sự tiên phong trong sản xuất và đời sống; Đảng và giai cấp công nhân Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm trong đấu tranh và xây dựng xã hội mới, do đó những thiếu sót, sai lầm là khó tránh khỏi. Bên cạnh những thành tích to lớn, Đảng ta có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan; nhưng Đảng đã công khai thừa nhận, nghiêm túc tự phê bình và kiên quyết sửa chữa. Công cuộc đổi mới đã và đang thu được những thành tựu to lớn, nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng, khó khăn đang trên đà phát triển. Vị thế của đất nước ngày càng tăng trên trường quốc tế. Tuy nhiên, trên những bước đường đi lên, khó khăn và thử thách còn rất gay gắt. Song nếu vì thế mà có ai đó nói rằng phải trao quyền lãnh đạo cho trí thức thì mới đưa cách mạng tiếp tục tiến lên được thì đó là một sai lầm cả về lý luận và thực tiễn. Ngày nay nền sản xuất hiện đại vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho công nhân nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ của mình. Nền sản xuất ấy đang và sẽ tạo ra ngày càng đông đảo đội ngũ công nhân trí thức hoá và trí thức công nhân hoá. Cũng chỉ có như vậy giai cấp công nhân mới thích ứng và điều hành được nền sản xuất hiện đại. Nội hàm lãnh đạo của giai cấp công nhân là lãnh đạo đi theo mục tiêu lý tưởng của Đảng. Vì vậy, để giai cấp công nhân hoàn thành được sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình, Đảng và Nhà nước ta cần có biện pháp hữu hiệu để củng cố, chăm lo xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam vững mạnh, chăm lo xây dựng bộ phận lãnh đạo của mình vững mạnh về mọi mặt. Đi đôi với việc phát triển số lượng, cần nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và trình độ lý luận cho công nhân, cần tăng cường thành phẩn công nhân tiên tiến trong Đảng, trong bộ phận lãnh đạo của nó. Đưa những công nhân cố trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi, có trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ lý luận và phẩm chất đạo đức tốt vào các cấp lãnh đạo của Đảng, cấc cấp quản lý nhà nước. Vấn đề then chốt nhất hiện náy là chỉnh đốn, đổi mới Đảng, nâng tầm trí tuệ và sức chiến đấu của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc. Giữ vững và không ngừng củng cố, tăng cường, nâng cao bản chất giai cấp công nhân của Đảng, xứng đáng là đội tiên phong chính trị của toàn xã hội, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2015

Tại sao các quan điểm sai trái phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân?

Nhận diện và đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái không chỉ là trách nhiệm của Đảng ta mà cũng là trách nhiệm chung của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế, của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và lực lượng yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới. Đồng thời, còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ đảng viên, của mỗi nhà khoa học và mỗi giảng viên làm công tác giảng dạy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…Để thực hiện tốt trọng trách này, vấn đề nhận diện các loại quan điểm sai trái là hết sức cần thiết, do vậy chúng ta cần nắm vững một số luận điểm chủ yếu mà các thế lực thù địch đang tiến hành hiện nay, đó là: 
Tiến công, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin trong giai đoạn hiện nay: Các thế lực thù địch, chống cộng đang ra sức phê phán, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng và tạo ra một khoảng trống trong trận địa tư tưởng và để thay vào đó là hệ tư tưởng tư sản. Chúng tung ra đủ các luận điệu nhằm bác bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam. Ví dụ chúng đã lớn tiếng cho rằng, do du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam nên dẫn đến sai lầm lịch sử là diễn ra hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hậu quả của hai cuộc kháng chiến đó làm cho đất nước bị kiệt quệ về kinh, tổn thất về con người và làm cho đất nước nghèo nàn kéo dài. Hoặc có luận điểm cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc; lý luận Mác - Lênin chỉ giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp, còn tư tưởng Hồ Chí Minh giải quyết đấu tranh dân tộc thuần túy nên nó đối lập nhau và không phù hợp với Việt Nam. Để phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng  còn cho rằng tội lớn nhất của Hồ Chí Minh là du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm.
 Tiến công phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng đã cho rằng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội chỉ là một lý thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng không bao giờ thực hiện được. Sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu là một tất yếu được dự báo trước; chủ nghĩa xã hội chỉ là một dạng xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân – xã hội tạo điều kiện cho những tư sản đỏ nắm quyền lãnh đạo xã hội nên bên ngoài thì đỏ nhưng bên trong đã đổi màu theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: Chúng cho rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn thấp, những lãnh tụ của giai cấp công nhân cũng thường có trình độ văn hóa không cao, lại được “đào luyện trong một môi trường đấu tranh giai cấp”, cho nên giỏi lắm cũng chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể lãnh đạo toàn dân xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển. Họ lập luận: “… nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là “người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò lịch sử của mình? Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có số lượng rất ít công nhân là đảng viên nên mang đậm bản chất giai cấp nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa phong kiến. Với những điều kiện như vậy, giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo, xây dựng được chủ nghĩa xã hội đích thực ở Việt Nam...”.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2015

Đảng cộng sản Việt Nam tại sao phải kiên trì bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh?

Đây là trách nhiệm, là sứ mệnh lịch sử trọng đại của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay, mà thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam phải ra sức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đảng ta đã xác định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ bản chất cách mạng khoa học của chủ nghĩa  Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đấu tranh chống lại các luận điệu, quan điểm phủ nhận, xuyên tạc và phản động nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong ba mặt công tác chính như giáo dục, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nó thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, tinh thần của toàn xã hội; nghiên cứu bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho theo kịp sự phát triển của đời sống xã hội; đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm chống lại những quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa  Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, góp phần giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Trong bối cảnh hiện nay, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mang tính cấp bách, liên quan trực tiếp đến sự sống còn của chế độ, của dân tộc. Điều đó do các lý do cơ bản sau đây quy định: Thứ nhất, từ vai trò quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Nền tảng tư tưởng có vững thì mới có đường lối chính trị, công tác tổ chức, cán bộ đúng, mới thực hiện được công cuộc đổi mới. Thứ hai, việc giảng dạy, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời gian qua dù có những thành tựu nhưng cũng còn nhiều hạn chế, bất cập, kém hiệu quả. Thứ ba, việc nghiên cứu, bổ sung phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh còn nhiều bất cập, chưa góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra bức bách để phát triển đất nước, nhiều vấn đề thực tiễn chưa có câu trả lời lý luận thỏa đáng. Thứ tư, hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch điên cuồng tiến công chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, làm cho Đảng ta “biến chất” chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Thứ năm, thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ta hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề rất mới đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để nó thực sự theo kịp đòi hỏi của cuộc sống mới, công cuộc xây dựng xã hội mới.  Việc bác bỏ những luận điệu thù địch, sai trái  trên lĩnh  vực tư tưởng lý luận, bội nhọ quan điểm, đường lối của đảng góp phần làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Củng cố sự thống nhất về tư tưởng trong đảng, sự đồng thuận trong xã hội, là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong công tác tư tưởng, lý luận của đảng hiện nay.

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2015

TẠI SAO PHẢI BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN?

Nội dung đấu tranh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản trên toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội, ở mỗi giai đoạn cách mạng có những nội dung, hình thức đấu tranh đặc thù. Cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản là cuộc đấu tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử, mỗi một giai đoạn khác nhau có những yêu cầu, nội dung, hình thức khác nhau, do tương quan so sánh lực lượng và xu thế thời đại quy định. Việc nhận biết, xác định đúng các nội dung đấu tranh ở mỗi giai đoạn cách mạng sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc tập hợp lực lượng, xác định mục tiêu và hình thức đấu tranh cho phù hợp. Trong các nội dung đấu tranh giai cấp đó thì nội dung đấu tranh về tư tưởng luôn là vấn đề xuyên suốt, khó khăn và phức tạp. Thực tiễn chứng minh ở đâu và thời kỳ nào mà giai cấp công nhân không nhận thức, thực hiện tốt sứ mệnh lịch sử của mình là bảo vệ hệ tư tưởng tiên phong của giai cấp- nền tảng tư tưởng và kim chỉ lam cho mọi hoạt động của đảng thì sự nghiệp cách mạng ở đó sẽ bị thất bại mà vai trò lãnh đạo của đảng, của giai cấp cũng bị mất. Các đảng cộng sản, công đoàn ở các nước tư bản phát triển phải hoạt động, đấu tranh cả về ý thức hệ, về chính trị - xã hội, đấu tranh bảo vệ quyền lợi kinh tế… Chống những bất công, những tệ nạn xã hội trong giai cấp công nhân; giáo dục lập trường giai cấp, chống chủ nghĩa cơ hội, hữu khuynh và chống chủ nghĩa chống cộng để xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh về chính trị, về tư tưởng và tổ chức.

Trong tình hình hiện nay, việc đấu tranh bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vừa  trở thành  nhiệm vụ thường xuyên, vừa trở thành nhiệm vụ lịch sử cấp thiết của giai cấp công nhân. Bởi lẽ, từ khi hệ thống xã hội không còn, tương quan so sánh tạm thời có lợi thuộc về chủ nghĩa tư bản. Tận dụng lợi thế đó, chủ nghĩa tư bản đang điên cuồng phản kích, chống lại chủ nghĩa xã hội bằng tất cả các quan điểm sai trái, luận điệu phản động và phản khoa học, với các âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm độc, xảo quyệt và bước đầu chúng đã đạt được mục đích làm sụp đổ chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu. Một trong những trọng điểm của cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay là chúng muốn xóa bỏ niềm tin của nhân loại tiến bộ về chủ nghĩa Mác - Lênin, đây là âm mưu thâm độc. Bởi lẽ, giai cấp cấp công nhân không còn hệ tư tưởng tiên phong thì cũng đồng nghĩa là giai cấp không còn sứ mệnh lịch sử, không còn là giai cấp giữ vai trò lãnh đạo xã hội. Chúng lợi dụng hiện tượng đã diễn ra thực tế là sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô(cũ) và một số nước xã hội chủ nghĩa ở  Đông Âu, để đưa ra một lý lẽ giản đơn là sự sụp đổ đó là do học thuyết Mác – Lênin đã lỗi thời lạc hậu. Tính chất sai trái của những luận điệu đó là đã đánh đồng giữa hai sự vật hiện tượng khác nhau, mà không thấy sự sụp đổ đó chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xã hội cụ thể và không vận dụng đúng đắn các nguyên lý cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chủ nghĩa Mác – Lênin từ khi ra đời đến nay chưa có một học thuyết nào ra đời tiến bộ hơn và thay thế được, sức sống của nó đã thực tiễn lịch sử kiểm chứng và vẫn là một học thuyết cách mạng, khoa học, có giá trị vạch thời đại mà khiến cho các học giả tư sản cũng phải ra sức nghiên cứu để tìm ra những giải pháp để hóa giải những căn bệnh nan y trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa.