Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Các tiêu chí phân định tộc người trên thế giới như thế nào?

Hầu hết các nhà dân tộc học trên thế giới đã thống nhất phân định các tộc người theo 5 tiêu chí sau:
Có chung một ngôn ngữ tộc người. Mỗi một tộc người thường có một ngôn ngữ riêng do họ sáng tạo ra trong lịch sử, gọi là ngôn ngữ tộc người hay tiếng mẹ đẻ. Nó là phương tiện giao tiếp, là đặc trưng quan trọng, dễ nhận biết để phân biệt các tộc người. Qua sử dụng ngôn ngữ, các thành viên phân biệt ra nhau và xác định cá nhân thuộc tộc người nào… Tuy nhiên, thực tế có tộc người từ bỏ ngôn ngữ của mình, sử dụng ngôn ngữ của tộc người khác hoặc một tộc người nhưng sử dụng song ngữ hoặc đa ngữ.
Có chung một lãnh thổ tộc người. Đây là tiêu chí vật chất xác định một tộc người, là điều kiện xuất hiện, gắn bó với tộc người, sau trở thành đặc trưng tộc người quan trọng. Từ chỗ là phương tiện sinh sống, lãnh thổ đã trở thành cơ sở tồn tại, phát triển của tộc người, là không gian sinh tồn thiêng liêng gắn bó với tộc người nên ý thức về lãnh thổ tộc người ngày càng sâu sắc. Khi xã hội có giai cấp, lãnh thổ tộc người nằm trong lãnh thổ quốc gia hoặc trở thành lãnh thổ quốc gia; có trường hợp lãnh thổ tộc người trải rộng ở nhiều nước. Lãnh thổ tộc người là một phạm trù lịch sử, có sự biến động về mở rộng hay thu hẹp do yếu tố lịch sử xã hội - tự nhiên tạo nên.
Có cơ sở kinh kế tộc người. Do cùng sinh sống trên một khu vực lãnh thổ đã hình thành nên cách ứng xử giống nhau trong sinh hoạt kinh tế, tạo ra một cơ sở kinh tế chung của tộc người. Từ đó, hình thành và phát triển các mối liên hệ, quan hệ kinh tế nội bộ tộc người. Mối liên hệ kinh tế là một trong những điều kiện để xuất hiện tộc người (cùng với lãnh thổ), là chất keo cố kết tộc người. Cơ sở kinh tế là đặc trưng, là nguyên nhân, điều kiện cho phát sinh, tồn tại của các loại hình thị tộc - bộ lạc, bộ tộc, dân tộc. Sự thay đổi các mối quan hệ và liên hệ kinh tế tộc người làm thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội và ra đời các loại hình cộng đồng tộc người khác nhau.
Có các đặc trưng văn hóa tộc người. Quá trình sinh tồn, ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội đã tạo ra các đặc trưng văn hóa riêng của từng tộc người và trở thành bản sắc tộc người. Văn hóa tộc người thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, bao giờ cũng mang cốt cách, bản sắc riêng, phân biệt với văn hóa các tộc người khác. Đặc trưng văn hóa truyền từ đời này sang đời khác tạo sự cố kết tộc người, là yếu tố phân biệt tộc người sâu sắc nhất nên văn hóa là tiêu chí quan trọng nhất để xác định tộc người.

Có ý thức tự giác tộc người. Tổng hòa các yếu tố ngôn ngữ, lãnh thổ, đặc trưng văn hóa, cơ sở kinh tế tộc người tạo thành một hiện tượng xã hội quan trọng gọi là ý thức tự giác tộc người. Đó là ý thức của mỗi thành viên cộng đồng và toàn thể cộng đồng về những đặc trưng của cộng đồng mình khác biệt so với các tộc người khác. Ý thức tự giác tộc người được hình thành lâu dài trong lịch sử tộc người, được cá nhân hấp thụ từ thuở nhỏ trong môi trường tộc người, gia đình, nhà trường, xã hội. Nó đóng vai trò quan trọng trong xác định thành phần tộc người của con người. Mất ý thức tự giác tộc người thì tộc người không còn tồn tại, cá nhân không còn bao hàm ở tộc người. 

NHỮNG BÍ MẬT VỀ TISA, TTIP VÀ TPP - ÂM MƯU BÁ QUYỀN THÔNG QUA CHIẾN TRANH KINH TẾ

Trong những lùm xùm về phản ứng của giới báo chí và truyền thông xã hội khi quyết liệt tấn công vào lực lượng Công an vừa qua, với điểm nóng tập trung ở diễn đàn không chính thức của một số cộng tác viên, phóng viên, nhà báo Tuổi Trẻ (đáng lo ngại khi đây lại là cơ quan ngôn luận của Thành Đoàn TP Hồ Chí Minh, “đội dự bị, cánh tay đắc lực của Đảng”) - không khó để nhận thấy ngoài những biểu hiện cực đoan lộ liễu (kích động khủng bố như “phải đi học võ”, “cần sử dụng vũ khí nóng”, “muốn làm chi cục trưởng kiểm lâm”, …Thậm chí kêu gọi lật đổ chế độ như “gạt ngang vào má hệ thống”, “giơ cao chân để tránh chính quyền” còn có những vấn đề sâu xa khác, là nguyên nhân khiến họ giãy dụa mà công khai công kích chế độ
Những người nhân danh báo chí nêu trên đã vô tình để lộ ra trên mạng xã hội, sau khi chửi bới đã xoáy vào việc “Tổng bí thư tham gia vào Đảng ủy Công an TW”, và xa hơn nữa là “Thật bức xúc, không hiểu nổi khi Việt Nam không chịu thông qua TPP”, “Chúng ta đã lường trước việc này từ Đại hội”...
Vậy đó, bản chất của các sự việc lùm xùm là họ đã lợi dụng báo chí để chống lại đường lối chính sách, khi vì lệch lạc nhận thức mà vô tình hoặc chủ ý làm tôi tớ cho ngoại bang, bẻ cong ngòi bút để viết thuê cho đám tài phiệt nước ngoài, cổ súy cho những “Hiệp định thương mại tự do” với rất nhiều cạm bẫy có thể làm suy vong đất nước, dân tộc. Rất có thể chỉ vì "ước vọng không thành" nên họ mới lồng lộn đến vậy.
Những biểu hiện đó, cần được kịp thời chấn chỉnh, xử lý bằng bàn tay sắt của các cơ quan pháp luật. Ở đây, chỉ xin nói đến những cạm bẫy trong các Hiệp định thương mại kia. Dù đang rất bận, vì các công việc cuối năm nhưng không thể không làm "Nhà kinh tế - chính trị học" để nói về điều này, chỉ mang tính chất tham khảo cho mọi người, nhưng có thể liên quan tới cả tương lai của con cháu chúng ta sau này.
Sau đây là nội dung chính:
1. Khái niệm:
+ TISA: Trade in Services Agreement - Hiệp định thương mại về dịch vụ. Gồm hơn 50 nền kinh tế lớn nhất thế giới (các quốc gia và khu vực), chiếm hơn 70% thương mại dịch vụ toàn cầu.
+ TTIP: Transatlantic Trade and Investment Partnership - Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương giữa Mỹ và châu Âu.
+ TPP: Trans-Pacific Partnership Agreement - Hiệp định Đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương. Gồm 12 quốc gia, trong đó có Việt Nam.
+ BRICS: tên viết tắt của Khối liên minh Kinh tế - Chính trị của các nền kinh tế lớn mới nổi. Gồm 5 nước là Brasil, Nga (Russia), Ấn Độ(India), Trung Quốc (China) và Nam Phi (South Africa).
+ WTO: World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế giới. Mang tính toàn cầu.
+ ISDS: Investor-State Dispute Settlement - Điều khoản “Giải quyết Tranh Chấp giữa Nhà đầu tư và Quốc gia” trong các Hiệp định nêu trên.
ÂM MƯU KIỂM SOÁT CÁC QUỐC GIA:
TISA , TTIP và TPP là những Hiệp định thương mại đa quốc gia (trong đó TISA mang tính Hiệp ước thì đúng hơn bởi không ràng buộc lâu dài như Hiệp định) nhằm tạo ra các thiết chế kinh tế do Mỹ đứng đầu (sau khi Nga, Trung Quốc và các quốc gia khối BRICS nổi lên, đe dọa địa vị thống trị của Mỹ đối với WTO) đều được đàm phán một cách bí mật, với cả người dân cũng như Quốc Hội các nước, kể cả lưỡng viện Hoa Kỳ.
WikiLeaks mới đây đã tiết lộ bí mật đáng quan ngại về TISA. Cho thấy mục đích chính của nó là nhằm TỔNG TƯ NHÂN HÓA VÀ THƯƠNG MẠI HÓA CÁC DỊCH VỤ CÔNG CỘNG TOÀN CẦU.
2. Điều đó sẽ đem lại hệ lụy gì?
Ai cũng có thể thấy, một khi cái gì đó được tư nhân hóa, nó sẽ trở nên rất khó khăn để có thể quay trở lại là sở hữu của công chúng. Trong 3 Hiệp định (3T) nêu trên thì TISA là lớn nhất, chiếm hơn 2/3 GDP toàn cầu, nhưng nó lại ít gây chú ý nhất bởi những tính toán sâu xa của giới tài phiệt.
Thời gian vừa qua, các cuộc biểu tình và các hoạt động chống lại TTIP và TPP đã nổ ra mạnh mẽ, khiến nhiều quan chức chính phủ và Quốc Hội các nước đã công khai tuyên bố từ bỏ hoặc trì hoãn thông qua những Hiệp định tiềm ẩn rủi ro lớn này. Nhưng trong lúc đó, những đàm phán về TISA vẫn âm thầm được tiến hành.
Kể từ khi nền kinh tế toàn cầu chuyển dần sang cơ cấu dựa trên thương mại dịch vụ là chính, TISA có khả năng sẽ trở thành một trong các điều ước quốc tế quan trọng nhất trên Trái đất. Tuy nhiên, chúng ta cần biết rằng, các ngành dịch vụ chính đều do Mỹ và EU kiểm soát, nó chiếm tới 78% GDP của Mỹ và 74% GDP của EU. Cùng với TPP và TTIP, TISA sẽ là những vòi bạch tuộc nắm quyền kiểm soát cả thế giới trong tay các tập đoàn kinh tế quốc tế. Điều đó nghĩa là nó sẽ trở thành TẬP ĐOÀN TRỊ, tước bỏ quyền của các quốc gia có chủ quyền và ngăn chặn các chính phủ thiết lập pháp luật, quy định và chính sách để bảo vệ quốc gia, thị trường và người dân của họ.
BẢN CHẤT CỦA TẬP ĐOÀN TRỊ:
Thật nực cười trước các lập luận bảo vệ cho TISA và các Hiệp định quốc tế khác bằng cách cố gắng khẳng định rằng chúng chỉ là tốt đẹp, đem lại việc làm cho người lao động và những lợi ích kinh tế cho mọi quốc gia. Đối với hầu hết mọi quốc gia trong TISA, TTIP và TPP, hệ quả sẽ là thảm họa. Bởi xét về quy luật trong kinh tế, không thể có chuyện các nhà tài phiệt hy sinh quyền lợi của mình để chia cho cần lao hoặc cho các quốc gia, mục đích của các điều ước quốc tế đều là mở toang thị trường cho các tập đoàn đa quốc gia vào khai thác thị trường lao động và tiêu dùng mới, với những quy định của các Chính phủ bị hạ thấp đến tối thiểu, điều mà trước đây phải thực hiện qua các cuộc chiến tranh xâm lược. Những quy định bởi các điều ước sẽ cho phép các tập đoàn có thể thu được lợi nhuận nhiều hơn với mức tiền lương, chi phí tối thiểu nhất, nghĩa là một sự bóc lột hợp pháp – Đó chính là chế độ TẬP ĐOÀN TRỊ!
Một nghiên cứu (ở đây:
"Các điều luật, và quy tắc hiệp ước, sẽ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tự do chiếm lĩnh các thị trường trong nước với "điều kiện không kém thuận lợi hơn các nhà cung cấp trong nước”, và nó còn hạn chế khả năng của các chính phủ để quản lý, điều hành dịch vụ. Điều này về cơ bản sẽ thay đổi các quy định trong chính sách về dịch vụ công cộng và thương mại, từ chỗ phục vụ dân sinh, đảm bảo phúc lợi xã hội, vì lợi ích quốc gia sẽ chuyển sang phục vụ lợi ích lợi nhuận của các công ty tư nhân, nước ngoài".
Bạn có thể không thích các chính phủ độc tài, nhưng các tập đoàn độc tài thậm chí còn tồi tệ hơn rất nhiều, bởi vì ít nhất một chính phủ luôn có thể được kiến nghị điều chỉnh, thay thế hoặc bị lật đổ; nhưng với các công ty tư nhân thì điều đó là không thể, ngoại trừ chính cổ đông của họ, mà cổ đông thì luôn bị chi phối hoàn toàn bởi lợi nhuận cho khoản đầu tư của mình.
Quan điểm của các chính phủ là bảo vệ quyền lợi của người dân, trong đó bao gồm cả phát triển bền vững vì mục tiêu con người trên hết, tăng trưởng gắn với bảo vệ môi trường sinh thái cho tương lai của loài người. Với TISA, TTIP và TPP thì trái lại,các tập đoàn đa quốc gia sẽ đứng trên và điều hành cả chính phủ các nước, buộc họ phải sửa đổi và ban hành những luật để bảo vệ tài sản và lợi nhuận có được từ sự cướp đoạt đối với các công dân. Đó chính là quyền bá chủ của các tập đoàn, công ty tư nhân, rất rõ ràng và đơn giản như vậy.
TISA, TTIP và TPP sẽ là sự cho phép các tập đoàn độc quyền phân phối sản phẩm cây trồng, vật nuôi biến đổi gien thống trị nền sản xuất của các nước, khiến người lao động bị phụ thuộc và hoàn toàn bị khống chế. Mặt khác, những điều ước thương mại về cơ bản sẽ biến Google, Facebook và bất kỳ chủ sở hữu trang web nào cũng trở thành một cơ quan “cảnh sát độc tài” với chiêu bài bản quyền tác giả, từ đó thậm chí sẽ yêu cầu chính phủ tất cả các nước phải ký kết và ban hành pháp luật quốc gia của họ phù hợp với những quy định của các tập đoàn, công ty đã được đưa vào các điều ước mang danh nghĩa quốc tế, nếu không thì cả Chính phủ và đất nước đó sẽ bị đưa ra trước cái gọi là tòa án do các tập đoàn tài phiệt đa quốc gia lập nên!
ISDS – MỘT SIÊU TÒA ÁN:
ISDS là một điều khoản ràng buộc trong tất cả các Hiệp định TISA, TTIP và TPP, nó tồn tại độc lập và thậm chí còn đứng trên hệ thống pháp luật của mọi quốc gia tham gia các Hiệp định. Nó là một hệ thống pháp lý tinh vi, hoàn toàn nằm trong tay các tập đoàn đa quốc gia. Mọi người, các công ty quốc nội và ngay cả các chính phủ không có quyền truy cập và tham gia vào nó. Khi có tranh chấp xảy ra, nó sẽ lập ra một Tòa án ISDS được điều hành bởi những luật sư do các tập đoàn chỉ định. ISDS thậm chí cung cấp cho những tập đoàn đó quyền lực để có thể buộc các quốc gia phải bồi thường những thiệt hại tưởng tượng dưới khái niệm "lợi nhuận dự kiến". Điều này, đã rất nhiều chính phủ các nước bị mắc bẫy, phải bồi thường những khoản tiền khủng khi tìm cách ngăn chặn hoạt động của các công ty nước ngoài gây tổn hại tới công dân, môi trường và lợi ích quốc gia của mình.
Tóm lại, cái tên ISDS gây liên tưởng tới IS, ISIS, ISIL là tên các tổ chức khủng bố khét tiếng, và bản chất thực sự của nó cũng không khác là bao, bởi nó xâm phạm trực tiếp đến chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và làm suy yếu luật pháp quốc gia, đặc biệt là trong lĩnh vực môi trường và y tế.
NHỮNG DẤU HIỆU BẤT THUẬN ĐỐI VỚI TISA, TTIP VÀ TPP:
Mới đây, Quốc hội Việt Nam đã gây bất ngờ cho thế giới khi đột ngột quyết định trì hoãn việc phê chuẩn TPP, dù trước đó đã có những chiến dịch truyền thông cổ súy tích cực cho Hiệp định này, cho rằng TPP sẽ đem lại rất nhiều lợi ích. Tuy nhiên, động thái đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi ở Châu Á, hàng triệu người dân các nước, nhất là Nhật Bản biểu tình chống TPP; Ở châu Âu, hàng trăm ngàn người dân Đức xuống đường phản đối TTIP, Chính phủ Pháp thì chính thức phản đối thỏa thuận này (Thủ tướng Pháp Manuel Valls yêu cầu kết thúc các cuộc đàm phán). Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế Đức Sigmar Gabriel tiết lộ rằng các cuộc đàm phán TTIP cơ bản đã thất bại: "Theo tôi, các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ trên thực tế đã thất bại, mặc dù không ai thực sự thừa nhận nó ... Người châu Âu không thể lệ thuộc vào những thứ người Mỹ yêu cầu.".
Những lý do TPP, TTIP bị phản đối chủ yếu là từ mối đe dọa sự phá sản của các công ty quốc nội; nạn thất nghiệp sẽ trầm trọng hơn cả trong công nghiệp và nông nghiệp, đặc biệt là lao động nông nghiệp các nước sẽ bị bần cùng hóa khi sản phẩm biến đổi gene của Mỹ tràn vào; sự độc quyền trong lĩnh vực dược phẩm được trao vào tay các tập đoàn Hoa Kỳ cũng sẽ gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng tới tất cả các gia đình, đặc biệt là đối tượng người nghèo; ngoài ra còn nhiều vấn đề gây ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, ổn định trật tự xã hội như việc vô hiệu hóa pháp luật trong nước, mở rộng quyền lập các hội nghề nghiệp, công đoàn độc lập….
Đơn cử như trong tiêu chuẩn thực phẩm, quy định của châu Âu cao hơn nhiều so với Mỹ, sẽ bị ảnh hưởng rất lớn và có thể bị phá vỡ bởi công nghệ sinh học sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích độc hại với sản phẩm biến đổi gene GMOs đe dọa giống nòi và sự cân bằng tự nhiên, an toàn sinh học. Tại Mỹ, khoảng 70% thực phẩm siêu thị là GMO và khoảng 90% thịt bò được nuôi bởi hormone tăng trưởng, trong khi tỷ lệ thực phẩm biến đổi gen ở EU được quy định rất thấp, thịt bò hormone thì bị cấm hoàn toàn. Còn ở các nước châu Á và Mỹ latinh, thì nền nông nghiệp truyền thống với tư duy sản xuất gần gũi với thiên nhiên sẽ lập tức bị triệt hạ, nông dân với quy mô sản xuất nhỏ hiện nay chắc chắn sẽ bị bần cùng hóa hoàn toàn.
Và bởi vậy, có lẽ lãnh đạo Việt Nam đã không sai lầm, mà luôn tỉnh táo khi vẫn đàm phán TPP rồi trì hoãn thông qua (không thời hạn), vẫn kịp thời triển khai nhanh chóng các quan hệ kinh tế song phương và đa phương, đặc biệt là việc tham gia vào Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á Âu (VCUFTA).
TISA, TTIP và TTP PHỤC VỤ CHIẾN TRANH ĐẾ QUỐC CHỐNG BRICS
Các điều khoản của TISA, TTIP và TTP khuyến khích và mở đường cho các tập đoàn đa quốc gia phục vụ các chiến lược địa chính trị của Mỹ và các đồng minh để cô lập các quốc gia BRICS. Với khái niệm về một trật tự thế giới mới với tên gọi New World Order nhằm củng cố địa vị thống trị toàn cầu của Mỹ - Anh - Do Thái. Việc tạo ra thiết chế TẬP ĐOÀN TRỊ nhằm thao túng toàn cầu với một “Chính phủ thế giới” của các nhà tài phiệt, bằng cách tập trung sức mạnh chi phối mọi lĩnh vực cuộc sống của các quốc gia: chính trị, quân sự, giáo dục, tài chính, và tất cả. Bản chất của TISA, TTIP và TPP không gì khác hơn là một chiến lược toàn cầu nhằm gây ra chiến tranh kinh tế đế quốc chống lại BRICS.
Đó cũng chính là câu trả lời cho việc tại sao TTIP mở ra quan hệ với EU và các quốc gia xung quanh, nhưng cố tình không bao gồm Nga. TPP gồm Nhật Bản, các quốc gia Thái Bình Dương khác và một số quốc gia Nam Mỹ, nhưng cố tình không bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil. TISA xây dựng mối liên kết với các nước trên thế giới (một sự kết hợp của TTIP và TPP) nhưng không có bất cứ quốc gia nào trong số đó thuộc 5 nước BRICS.
Chiến lược này rõ ràng là nhằm cô lập, lưu đày và làm suy yếu bất cứ quốc gia nào dám thách thức uy quyền tối cao của Mỹ.
KẾT LUẬN:
TISA, TTIP và TTP là những nỗ lực để viết lại luật chơi cho một số lượng lớn trong nền kinh tế thế giới, mang lại áp lực kinh tế cho những đối thủ về tư tưởng mà Mỹ coi là kẻ thù, củng cố thêm sức mạnh cho các tập đoàn trị, mở ra thị trường mới cho tài phiệt khai thác đứng trên cả luật pháp quốc gia, thủ tiêu mọi sự đấu tranh của giai cấp vô sản. Chúng loại bỏ chủ quyền của các quốc gia, khả năng ra quyết định của các địa phương và khu vực, tập trung quyền lực vào tay tài phiệt quốc tế..
Và tất cả những điều đó, sẽ là căn nguyên của mọi sự khủng hoảng, bất ổn trong tương lai, khi nó gây ra sự mất lòng tin của đông đảo quần chúng nhân dân lao động.
Một số nội dung trên, đã từng được những tờ báo chính thống của Việt Nam cảnh báo, nhưng đã bị chìm nghỉm bởi chiến dịch truyền thông quốc tế PR cho các "Hiệp định tự do".

Mong muốn và tin tưởng rằng, lãnh đạo Việt Nam sẽ luôn tỉnh táo, sáng suốt. Thành quả của Việt Nam hôm nay là máu xương và mồ hôi công sức của biết bao thế hệ nối tiếp nhau 2 thế kỷ qua cũng như suốt lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Tộc người là gì?

Tộc người (Ethnic) là một cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, có đặc trưng chung ổn định về ngôn ngữ,  đặc điểm sinh hoạt văn hoá văn hóa, có mối quan hệ nguồn gốc, có chung ý thức tự giác tộc người và tên tự gọi. Ví dụ: tộc người Thái, Tày, Ê-đê…
Tộc người là một phạm trù lịch sử. Nó ra đời là kết quả lâu dài của quá trình lịch sử, xã hội và tự nhiên. Khi quá trình hình thành loài người kết thúc, con người bước vào xã hội loài người, cộng đồng người đầu tiên đã là những cộng đồng tộc người (thị tộc) xuất hiện vào thời đại cộng sản nguyên thủy cách đây khoảng 4-5 vạn năm. Trong tiến trình lịch sử loài người, các tộc người đã hình thành và phát triển trên những vùng lãnh thổ khác nhau ở khắp năm châu. Nhưng do những nguyên nhân tự nhiên và xã hội nhất định đã có không ít tộc người bị tiêu vong. Ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, sự tác động của các nhân tố kinh tế, xã hội đã hình thành nên các hình thức cộng đồng tộc người khác nhau.
Thông thường, mỗi tộc người bao giờ cũng cư trú trên một khu vực địa lý nhất định gọi là lãnh thổ tộc người. Tộc người sử dụng một ngôn ngữ riêng, khác so với ngôn ngữ của các tộc người khác. Trong quá trình tộc người, các thế hệ đã tạo dựng nên các đặc trưng văn hóa chung mang tính ổn định tạo thành bản sắc văn hóa tộc người. Vì thế, tộc người có tính bền vững, có sự thống nhất và mối liên hệ chặt chẽ bên trong nội bộ tộc người, có bản sắc riêng để phân biệt với các tộc người khác.
Tộc người luôn có mối quan hệ nguồn gốc trên hai phương diện: 1) Về sinh học - có chung quan hệ huyết thống, dòng tộc, nhân chủng; 2) Truyền thống lịch sử - có chung ký ức, truyền thống lịch sử trên các lĩnh vực đời sống xã hội đã trải qua, biểu hiện ở các câu chuyện cổ tích, thần thoại và các cứ liệu lịch sử truyền miệng hoặc biên soạn thành văn.

Mỗi tộc người bao giờ cũng tự ý thức về sự thống nhất tộc người của mình, khác biệt so với các tộc người khác trên các yếu tố lãnh thổ cư trú, ngôn ngữ, nguồn gốc, đặc trưng văn hóa và tên gọi tộc người riêng. 

Dân tộc học có mối quan hệ thế nào với một số môn khoa học xã hội và nhân văn khác?

Để nghiên cứu toàn diện các tộc người, dân tộc học sử dụng các tài liệu và tham khảo kết quả nghiên cứu từ các khoa học cận và liên ngành, kể cả các ngành khoa học tự nhiên.
Với Xã hội học, trong nghiên cứu các vấn đề hiện đại của tộc người, dân tộc học đặc biệt gắn với nghiên cứu xã hội học và khoa học xã hội học. Cả hai chuyên ngành này đều quan tâm đến một số hay nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội của tộc người, các nhóm xã hội, các vấn đề xã hội gắn với tộc người. Tuy nhiên, xã hội học và dân tộc học không trùng lặp trong nghiên cứu. Nghiên cứu sự tác động qua lại của các hiện tượng văn hóa tộc người và xã hội - giai cấp (xã hội học tộc người), dân tộc học luôn phải sử dụng kết quả và phương pháp nghiên cứu của xã hội học, như điều tra theo bảng hỏi, phỏng vấn.
Với Sử học, dân tộc học có mối liên hệ chặt chẽ, nhất là lịch sử cổ đại và trung đại trong nghiên cứu thời đại nguyên thủy và các vấn đề của lịch sử tộc người. Đối tượng của sử học là các sự kiện lịch sử trong đời sống xã hội của các tộc người, dân tộc, quốc gia. Khi nghiên cứu nguồn gốc tộc người, dân tộc học thường xuyên quan tâm đến các tài liệu, các tư liệu sử học. Khi nghiên cứu quá trình phát triển của dân tộc, sử học lại chú ý đến sự thay đổi về xã hội, văn hóa của dân tộc ấy.
Với Khảo cổ học, đối tượng của khảo cổ học là lịch sử phát triển của con người thuộc các tộc người thông qua phân tích các di chỉ khảo cổ. Còn dân tộc học lại từ cơ sở đó mà tìm hiểu các cộng đồng người đã trải qua trong lịch sử như thế nào trên các phương diện về đặc điểm kinh tế - xã hội, đặc trưng văn hóa vật chất và tinh thần, tổ chức kết cấu cộng đồng... Khảo cổ học nghiên cứu để tái tạo lại lịch sử, trong đó có việc nghiên cứu lịch sử tộc người từ các di tích khảo cổ học, nên cũng sử dụng rộng rãi tài liệu dân tộc học.
Với Ngôn ngữ học, đối tượng nghiên cứu là các ngôn ngữ. Ngôn ngữ luôn gắn với một tộc người cụ thể, là tiêu chí hàng đầu xác định tộc người. Ngôn ngữ học khi nghiên cứu ngôn ngữ của một tộc người bao giờ cũng chú ý đến kết quả nghiên cứu dân tộc học về tộc người đó. Việc nghiên cứu dân tộc học về sự thân thuộc của ngôn ngữ các dân tộc, sự ảnh hưởng, quan hệ vay mượn, tộc danh, thổ ngữ, mối quan hệ tương hỗ của các quá trình tộc người và ngôn ngữ (dân tộc ngôn ngữ học) có liên quan tới ngành ngôn ngữ học.
Với Lịch sử văn hóa nghệ thuật, Văn hóa dân gian, dân tộc học có quan hệ gần gũi trong việc nghiên cứu sự sáng tạo văn hóa, nghệ thuật của các tộc người. Với tâm lý học, dân tộc học có sự giao thoa chung là bộ môn tâm lý học tộc người. Với địa lý học, dân tộc học có quan hệ trong việc nghiên cứu sự tương tác của tộc người và môi trường tự nhiên, nghiên cứu các dạng thức cư trú và cả các vấn đề của sự hình thành bản đồ địa lý - tộc người. Dân tộc học quan hệ mật thiết với Nhân chủng học trong nghiên cứu nguồn gốc tộc người.

Dân tộc học còn có mối quan hệ tương hỗ với nhiều bộ môn khoa học tự nhiên khác (sinh vật học, môi trường...). Tài liệu của các bộ môn đó góp phần làm rõ các quá trình tộc người của nhân loại nói chung.

Phương pháp nghiên cứu của dân tộc học là gì?

Mỗi trường phái dân tộc học có phương pháp luận khác nhau. Phương pháp luận của nền dân tộc học mácxít là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc.
Điền dã dân tộc học là phương pháp nghiên cứu đặc trưng của dân tộc học, tức là phương pháp nghiên cứu bằng quan sát trực tiếp, tham gia vào chính đời sống sinh hoạt của tộc người để tìm hiểu từ bên trong nội bộ cộng đồng. Phương pháp này cho nguồn tài liệu cơ bản, quan trọng từ chính các nền văn hóa sống động đang được lưu giữ trong đời sống hàng ngày của cư dân. Điền dã dân tộc học thường được thực hiện theo hai hình thức:
Nghiên cứu diện là cách nghiên cứu nhiều điểm trong cùng một thời gian, nghiên cứu và thu thập tư liệu về một vấn đề nào đó ở các địa bàn khác nhau của không gian tộc người giúp so sánh, đối chiếu vấn đề nghiên cứu ở nhiều nơi. Nó có hạn chế khi phải triển khai những nội dung chuyên sâu. 
Nghiên cứu điểm là cách nghiên cứu trong cùng một thời gian tiến hành nghiên cứu một vấn đề ở một địa bàn cụ thể có tính điển hình; tạo điều kiện nghiên cứu tập trung sâu, song lại thiếu tư liệu trong phạm vi rộng để so sánh.
Thông thường, người ta hay kết hợp cả hai cách trên để bổ sung những ưu điểm phương pháp và khắc phục hạn chế, thiếu sót của nhau. Các công cụ, kỹ thuật chủ yếu để điền dã là: Thu thập tư liệu thông qua quan sát tham gia, phỏng vấn mở, điều tra chọn mẫu, nghiên cứu nguồn tài liệu cá nhân, đo vẽ, chụp ảnh, ghi chép, miêu tả...
Hiện nay, trong các nghiên cứu dân tộc học, người ta thường kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để tiếp cận vấn đề nghiên cứu khách quan và khoa học hơn.

Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu liên ngành được ứng dụng rộng rãi trong dân tộc học - một xu hướng được đánh giá cao trên thế giới hiện nay khi vấn đề nghiên cứu được tiếp cận xem xét từ nhiều lý thuyết và phương pháp của nhiều ngành khoa học. Dân tộc học còn sử dụng phương pháp của Sử học, Khảo cổ học, Nhân chủng học, Ngôn ngữ học, Văn hóa dân gian, Địa lý học, Xã hội học, Môi trường, Nông nghiệp, Dân số học...

Nhiệm vụ nghiên cứu của dân tộc học là gì?

Nhiệm vụ chung của dân tộc học là nghiên cứu cơ bản và toàn diện các lĩnh vực đời sống xã hội của tất cả các tộc người từ vật chất, tinh thần đến nguồn gốc lịch sử, các giá trị truyền thống cho đến đời sống xã hội hiện đại.
Dân tộc học có 6 nhiệm vụ cụ thể:
Nghiên cứu cấu tạo thành phần các tộc người trong nước và trên thế giới. Đây là nhiệm vụ cơ bản của dân tộc học nhằm xác định đúng đắn thành phần tộc người trong nước và trên thế giới. Phải phân biệt chuẩn xác cộng đồng nào là tộc người, nhóm nào chỉ là các nhóm địa phương của tộc người.
Nghiên cứu lịch sử tộc người. Dân tộc học làm rõ sự tương đồng và khác biệt của các dân tộc trên thế giới, từ nguồn gốc đến sự biến đổi trong toàn bộ chiều dài lịch sử đến ngày nay.
Nghiên cứu đặc trưng văn hóa tộc người để làm rõ diện mạo văn hóa các tộc người (đặc trưng riêng và chung); nghiên cứu các yếu tố truyền thống, phong tục tập quán, những yếu tố mới nảy sinh. Tìm hiểu lịch sử, di sản truyền thống văn hóa tộc người và đi sâu nghiên cứu đời sống xã hội đương đại.
Nghiên cứu môi trường sinh thái và địa lý tộc người - nghiên cứu môi trường tự nhiên nơi cư trú (địa hình, sông ngòi, đất đai, khí hậu, tài nguyên...) đã ảnh hưởng tích cực và tiêu cực thế nào đến mọi mặt đời sống cư dân của tộc người. Làm rõ lịch sử vùng lãnh thổ cư trú, điều kiện tự nhiên, các ảnh hưởng đến đời sống cư dân, thế ứng xử với môi trường sống, quan niệm và ý thức của cộng đồng về lãnh thổ và địa lý tộc người.
Nghiên cứu quá trình tộc người và quan hệ tộc người - nghiên cứu quá trình ra đời, vận động, biến đổi, phát triển của các tộc người trong tiến trình lịch sử. Dân tộc học làm rõ những vấn đề về quá trình tộc người nhằm đem lại nhận thức toàn diện về các tộc người, cung cấp các tri thức về tình hình tộc người và mối quan hệ tộc người trong nước, khu vực và thế giới.
Nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng của các tộc người. Dân tộc học nghiên cứu đời sống tâm linh, các hình thức sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của từng tộc người. Dân tộc học làm rõ đời sống sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, những giá trị của tôn giáo tín ngưỡng trong xã hội tộc người; những vấn đề mới nảy sinh, không bình thường trong đời sống tín ngưỡng tộc người.
Các nhiệm vụ trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Song tùy từng quốc gia mà dân tộc học có thể có những nhiệm vụ cụ thể khác nhau.

Chức năng nghiên cứu của dân tộc học như thế nào?

Dân tộc học có ba chức năng nghiên cứu cơ bản:
Chức năng nhận thức: Dân tộc học đem lại những hiểu biết cơ bản về các tộc người, các dân tộc và những mối quan hệ giữa các dân tộc trong lịch sử và hiện tại. Dân tộc học không chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản, toàn diện về các tộc người, dân tộc trong nước và thế giới mà còn đóng góp quan trọng vào hệ thống tri thức khoa học xã hội và nhân văn của loài người; khám phá, làm rõ những yếu tố đặc thù và những yếu tố chung của các tộc người, dân tộc.
Chức năng luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách dân tộc của các đảng và nhà nước: Dân tộc học làm rõ lịch sử các tộc người, dân tộc thông qua việc nghiên cứu toàn diện đời sống xã hội từ nguồn gốc, lịch sử cư trú đến ngôn ngữ, văn hóa, địa vực sinh sống, tín ngưỡng, quan hệ tộc người... Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn sinh động cho hoạch định chính sách dân tộc của các đảng cầm quyền, các nhà nước ở quốc gia đa dân tộc. Ở Việt Nam, dân tộc học cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để Đảng và Nhà nước ta hoạch định, đề ra chính sách dân tộc đúng đắn; cung cấp luận cứ khoa học cho tổ chức thực hiện chính sách dân tộc và công tác dân tộc, các chương trình, dự án phát triển quốc gia ở vùng miền núi và dân tộc thiểu số, giải quyết tốt mối quan hệ quốc gia và tộc người.

Chức năng dự báo: Dân tộc học nghiên cứu các tộc người, các dân tộc trong lịch sử và đời sống xã hội hiện đại để tìm ra quy luật vận động, biến đổi và phát triển của các cộng đồng tộc người, các dân tộc; làm rõ những xu hướng vận động và biến đổi trong quan hệ tộc người, những vấn đề có tính quy luật… Từ đó, đưa ra những dự báo khoa học về xu hướng quan hệ tộc người, sự phát triển của các cộng đồng tộc người, các dân tộc trong giai đoạn tiếp theo.