Hiển thị các bài đăng có nhãn phương pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phương pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHUYÊN TRÁCH LÀM CÔNG TÁC ĐẤU TRANH CÓ BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ, NĂNG LỰC, PHƯƠNG PHÁP, KỸ NĂNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đã nêu ra 7 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Để thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết 35-NQ/TW, Đảng đã xác định mục tiêu, phương châm chỉ đạo xuyên suốt và thực hiện đồng bộ các giải pháp đề ra. Trong đó, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là một giải pháp cấp thiết. Trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa năng lực này của cán bộ, đảng viên. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. rèn luyện kỹ năng tuyên truyền của đội ngũ cán bộ, đảng viên làm công tác tuyên truyền đấu tranh. Đặc biệt cần trang bị tốt kiến thức, kỹ năng ứng phó với các tình huống xảy ra để đội ngũ cán bộ, đảng viên vận dụng sáng tạo sự chỉ đạo của cấp trên vào các tình huống đấu tranh cụ thể. Thường xuyên tổ chức hội nghị tập huấn bồi dưỡng các kỹ năng kỹ năng tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên, tổ chức các buổi trao đổi kinh nghiệm, tập huấn kỹ năng “đối thoại” cho cán bộ, đảng viên nhằm kịp thời cung cấp thông tin và trang bị kỹ năng, nghiệp vụ đấu tranh./.

 

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2022

ĐỔI MỚI VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dạy học nhằm phát triển trí tuệ, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Trong giáo dục, người học bao giờ cũng là trung tâm, Hồ Chí Minh luôn lưu ý những người dạy, những nhà giáo phải chú ý tới đặc điểm của đối tượng, phải “đóng giầy theo chân”, không phải “khoét chân cho vừa giầy”. Điều này đòi hỏi người thầy phải bám sát, hiểu rõ đặc điểm đối tượng người học từ đó có phương pháp dạy phù hợp nhằm đảm bảo tính vừa sức. Người nhiều lần bày tỏ quan điểm chống lại cách dạy, cách học không hướng vào sự phát triển của người học, không kích thích sự suy nghĩ trong học tập. Người yêu cầu phải tránh lối dạy nhồi sọ. Người thầy cần phải có phương pháp dạy sao cho phát huy tốt tính chủ động, sáng tạo của người học. Cần phải thực hành dân chủ trong giáo dục. Đối với mọi vấn đề “thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu. Điều gì chưa thông suốt, thì hỏi, bàn cho thông suốt”. Đây là quan điểm mới trái ngược với phương pháp giáo dục nhồi sọ, áp đặt của chế độ thực dân, phong kiến.

Hồ Chí Minh rất chú trọng đến tính thiết thực của việc dạy. Người nhiều lần nhắc nhở phải tránh lối dạy học ôm đồm, chạy theo số lượng, chạy theo thành tích, vừa không đạt hiệu quả đặt ra, vừa gây tốn kém, lãng phí cả về thời gian, công sức và tiền của. Người cho rằng giáo dục phải bảo đảm tính vừa sức, phải căn cứ vào đặc điểm của đối tượng, trình độ, năng lực và tâm lý người học, không nên tham nhiều sẽ tạo tâm lý chán nản, không hứng thú trong học tập, vì thế sẽ không phát triển trí tuệ, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học

Trong toàn bộ di sản tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng về tự học, đặc biệt là tấm gương mẫu mực tự học và học suốt đời của Người là bài học vô cùng quý giá đối với các thế hệ người Việt Nam, vấn đề cơ bản nhất, nổi bật nhất là vấn đề xây dựng và hoàn thiện con người thông qua hoạt động giáo dục và tự giáo dục. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Người đã có những chỉ dẫn xác đáng “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”. Sau này, khi nói về công tác huấn luyện và học tập (năm 1950), Người lại nhấn mạnh: “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”. Những lời dạy ngắn gọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm nổi bật lên tính cần thiết của việc tự học và mối liên hệ khăng khít của các chủ đề tham gia vào quá trình tự học.

Học tập là công việc đòi hỏi mỗi người phải luôn tự trau dồi kiến thức của mình qua nhiều hình thức học tập đa dạng, học mọi nơi, mọi lúc. Hồ Chí Minh lưu ý: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhay và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót lớn”. Với Người học tập là một sống việc suốt đời, là một nhiệm vụ cách mạng. Xã hội ngày càng phát triển, công việc ngày càng nhiều, máy móc ngày càng tinh xảo, để không lạc hậu, không bị đào thải, phải không ngừng học tập. Người khẳng định “Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ, càng thấy phải học thêm”. Sự học là vô cùng vì “dừng lại là lùi bước, là lạc hậu, mình tự đào thải mình trước”.

ĐỔI MỚI VỀ PHƯƠNG CHÂM, PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC, XÂY DỰNG NỀN GIÁO DỤC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Để đạt được mục tiêu đề ra và nội dung giáo dục trở thành hiện thực, cần phải có phương châm, phương pháp giáo dục đúng đắn, nhằm làm cho học sinh học tập, rèn luyện một cách tự giác và tích cực để tiếp thu được nội dung giáo dục, chuyển hoá nội dung giáo dục thành phẩm chất tốt đẹp của nhân cách. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi giáo dục là một mặt trận quan trọng, giáo dục cho tất cả mọi người và làm sao hướng tới cả dân tộc được học, mọi người được học Ý tưởng kiến tạo “nền giáo dục cho tất cả mọi người” đã được Hồ Chí Minh đề ra và luôn theo đuổi trên con đường cách mạng. Năm 1919, trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Véc-xây, Người nêu rõ điểm thứ 6 ghi rõ phải có quyền “Tự do học tập” cho tất cả các giai tầng ở Việt Nam. Học tập, giáo dục không phải là đặc quyền của riêng một nhóm người nào, mà là quyền chung, quyền cơ bản của tất cả mọi người, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, lứa tuổi, giới tính trong xã hội.

Theo Hồ Chí Minh, học và hành là hai khâu của quá trình nhận thức gắn bó khăng khít với nhau, chỉ khi học đi đôi với hành, học tập kết hợp với lao động sản xuất thì người học mới rèn luyện được cả tri thức và kỹ năng, mới gắn tri thức với thực tiễn xã hội. Người chỉ rõ: “Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhằm theo lý luận. Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên. Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Chỉ học thuộc lòng, để đem loè thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích. Vì vậy, chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành...”.

Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ. Người nhấn mạnh “Giáo dục các em là việc chung của gia đình, của trường học và xã hội. Bố mẹ, thầy giáo và người lớn phải cùng nhau phụ trách; trước hết là phải làm gương cho các em trước mọi việc”. Vì vậy, giáo dục phải kết hợp cả ba khâu giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Người nhận thấy, “trồng người” là sự nghiệp vẻ vang nhưng rất công phu, bền bỉ, khó khăn và phải có sự phối hợp của nhiều lực lượng mới đạt kết quả tốt

Quan điểm kết hợp giáo dục nhà trường, gia đình, xã hội của Người đã trở thành phương châm giáo dục được các cấp quản lý và các cơ sở giáo dục cố gắng thực hiện. Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở những người làm công tác giáo dục phải nhận thức đúng đắn giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp, các ngành và toàn dân, kết quả giáo dục tuỳ thuộc rất nhiều vào sự tham gia tích cực, sự giúp đỡ thiết thực và sự giác ngộ về trách nhiệm đối với giáo dục của các cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp và toàn xã hội. Để có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội cần phát huy dân chủ, xây dựng mối quan hệ đoàn kết giữa thầy với thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa nhà trường với nhân dân. Để gắn kết các yếu tố nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục cần chú trọng các phong trào thi đua. Người dành sự quan tâm chỉ đạo cụ thể, sát sao các phong trào thi đua, như phong trào “Người tốt, việc tốt” trong toàn quốc, phong trào “Dạy tốt - học tốt” trong nhà trường, đề xuất công tác Trần Quốc Toản, phong trào “Kế hoạch nhỏ” cho các cháu thiếu niên và nhi đồng... nhằm tạo nên môi trường xã hội rộng lớn và thuận lợi cho công tác giáo dục.    

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một nền giáo dục mới hướng vào các giá trị dân tộc, nhân văn, đồng thời kết hợp chặt chẽ với những tinh hoa văn hóa nhân loại. Nền giáo dục đó phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cách mạng, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đất nước, do đó khi tình hình thực tiễn có sự thay đổi thì nền giáo dục cũng phải có sự điều chỉnh, đổi mới cho hợp với hoàn cảnh mới.

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Bằng phương pháp tiếp cận khoa học, sáng tạo, sát thực tiễn đất nước, Hồ Chí Minh, luôn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo các nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người đã bổ sung nhiều luận điểm góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, xây dựng được một hệ thống lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ giá trị thực tiễn của việc nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh.

Trước hết, về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Từ luận điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin: Cách mạng vô sản sẽ nổ ra và giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển; cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một số nước, thậm chí là một nước riêng lẻ của chủ nghĩa đế quốc và cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa. Người đã phát triển thêm một bước nhận thức lý luận khi cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính quốc.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp tại Việt Nam. Từ thực tiễn Việt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, Người xác định con đường cách mạng vô sản tại Việt Nam phải là cách mạng giải phóng dân tộc rồi mới đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong Chính cương vắn tắt của Đảng năm 1930, Người khởi thảo: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Nhận thức lý luận đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam và nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển một cách sáng tạo lý luận Mác - Lênin về đảng cộng sản vào việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Người xác định, Đảng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Người đã dày công xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; quan tâm giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, mỗi cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận Mác - Lênin về tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng. Người khẳng định, động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta là đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ đó để quy tụ, tập hợp sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của các lực lượng yêu nước với thế trận chiến tranh nhân dân để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dựa trên nguyên tắc pháp quyền. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Trên nền tảng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển một hệ thống các quan điểm sáng tạo về nhà nước kiểu mới: Tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân, một nhà nước của nhân dân, chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương do nhân dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do nhân dân tổ chức nên, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.

Thứ sáu, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy quan điểm Mác - Lênin làm nền tảng để phát triển tư duy, lý luận về văn hóa, đạo đức và quan hệ quốc tế trong tiến trình cách mạng Việt Nam: Về văn hóa, xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa có tính dân tộc đó là củng cố, phát huy và khắc phục những thiếu hụt những giá trị văn hóa truyền thống, sáng tạo những giá trị văn hóa mới; về đạo đức cách mạng: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng; về đoàn kết quốc tế: kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để hoàn thành sự nghiệp cách mạng nước nhà, đóng góp cho phong trào cách mạng thế giới.

Những luận điểm sáng tạo về tư duy lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nỗ lực tìm tòi, khám phá không ngừng, bằng trí tuệ mẫn tiệp, kết hợp hài hòa giữa kinh nghiệm thực tiễn với nghiên cứu, lý luận. Thực tiễn biến đổi không ngừng, vì vậy, lý luận phải không ngừng vận động và phát triển để phù hợp với thực tiễn./.

Thứ Tư, 11 tháng 8, 2021

BỒI DƯỠNG NÂNG CAO KỸ NĂNG, PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH CHO LỰC LƯỢNG ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI

Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là lực lượng đấu tranh trên không gian mạng kinh nghiệm còn ít, đặc biệt là còn thiếu về kỹ năng, phương pháp viết tin, bài đấu tranh. Do đó, để nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh thì các cơ quan chức năng cần tập trung bồi dưỡng:

Thứ nhất, cách nhận diện các quan điểm sai trái và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

Thứ hai, bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về lĩnh vực báo chí và truyền thông, đặc biệt là báo mạng; phương pháp khai thác, xử lí thông tin, viết bài đấu tranh trên không gian mạng.

Thứ ba, bồi dưỡng về các qui định, nguyên tắc giữ bí mật quân sự và bí mật quốc gia; những hiểu biết nhất định về internet và cách thiết lập, sử dụng mạng xã hội, blog. Khi thiết lập facebook hoặc blog, phải dùng địa chỉ email mới, tuyệt đối không được dùng địa chỉ email cũ hoặc số điện thoại cá nhân để tránh lộ lọt thông tin. Khi đặt tên của facebook, blog không được liên quan đến phiên hiệu của cơ quan, đơn vị; không chia sẻ các thông tin liên quan đến cá nhân và Quân đội… Tất cả các yếu tố trên là điều kiện cần thiết, song, yếu tố quyết định đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ phải có bản lĩnh vững vàng, sự nhạy cảm về chính trị, luôn đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước và Quân đội lên trên hết; trong đấu tranh phải kiên quyết, triệt để, trong tuyên truyền phải mềm dẻo, linh hoạt.

Thứ tư, phải nắm chắc đặc điểm, âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, chống phá của địch trên không gian mạng để tổ chức đấu tranh hiệu quả.

Đấu tranh chống các quan điểm sai trái diễn ra rất phức tạp, khó lường, dưới nhiều màu sắc khác nhau. Các thế lực thù địch sử dụng nhiều hình thức phương pháp tuyên truyền xuyên tạc, kích động, đặc biệt, chúng sử dụng kỹ thuật sao chép, cắt dán hình ảnh để tạo dựng sự kiện “giả như thật”; mở diễn đàn với nhiều tên gọi khác nhau, như: “chống tham nhũng”, “liêm chính”, “cứu quốc”, “hội những người Việt Nam yêu nước”, “hãy vì tự do, dân chủ”… sau đó cho đăng các bài viết, bình luận mạo danh các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các lão thành cách mạng, các trí thức, văn nghệ sĩ nổi tiếng gây nhiễu loạn thông tin trên không gian mạng nhằm kích động, lôi kéo, gây sự chú ý của dư luận. Muốn chiến thắng địch thì phải hiểu và nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của chúng./.

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2020

TĂNG CƯỜNG ĐỔI MỚI HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY.

Đòi hỏi thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng hiện nay là một trong những đòi hỏi cao nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh trong tình hình mới.

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2020

TĂNG CƯỜNG ĐỔI MỚI HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY.

Đòi hỏi thường xuyên đổi mới hình thức, phương pháp đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng hiện nay là một trong những đòi hỏi cao nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh trong tình hình mới.

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2019

ĐỔI MỚI NỘI DUNG, HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG ĐỘI NGŨ SĨ QUAN TRẺ QUÂN ĐỘI

Sĩ quan trẻ trong Quân đội sinh ra và lớn lên trong hoà bình, nhận thức, tư tưởng, tình cảm, nhu cầu, lợi ích, quan hệ xã hội có sự phát triển rất cao, song cũng rất đa dạng, phức tạp. Đặc biệt, họ chưa được rèn luyện, thử thách trước khi vào Quân đội nên dễ mắc phải những khuyết điểm, hạn chế về phẩm chất chính tri, đạo đức, lối sống, ý chí quyết tâm, sự hy sinh, cống hiến, trách nhiệm đối với Tổ quốc, gia đình và bản thân. Nếu không chủ động phòng ngừa những diễn biến tiêu cực về tâm lý, tư tưởng thì dễ xảy những hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống - nguyên nhân chính dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của sĩ quan trẻ. Để chủ động phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cần tích cực đổi mới nội dung, hình thức tiến hành phù hợp lứa tuổi trẻ, đặc điểm, nhiệm vụ của đơn vị, song phải toàn diện cả về công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác quản lý. Đối với công tác tư tưởng, tích cực đổi mới nội dung giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng; nắm, quản lý, phân tích, đánh giá, phân loại và giải quyết tư tưởng; dự báo xu hướng vận động của những tư tưởng tiêu cực dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với đội ngũ sĩ quan trẻ. Đối với công tác tổ chức, chú trọng vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Trong công tác quản lý, đổi mới hình thức, biện pháp quản lý các mối quan hệ xã hội, quản lý tư tưởng, phát huy dân chủ trong chấp hành kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy, môi trường văn hóa,... đảm bảo phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Bên cạnh đó, cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với sĩ quan trẻ; tăng cường tổ chức các buổi tọa đàm, thông tin chuyên đề trên các phương tiện thông tin đại chúng; duy trì và phát huy tốt các hình thức thông báo chính trị, đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, truyền thanh nội bộ, góp phần nâng cao nhận thức về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để sĩ quan trẻ tự điều chỉnh nhận thức, hành vi của mình.

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

NHẬN DIỆN PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC CHỐNG PHÁ, XUYÊN TẠC VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Phương pháp, hình thức chống phá rất đa dạng, theo kiểu “nói lấy được”, vu khống, chửi bới bậy bạ, vô văn hóa,… thông qua rỉ tai những “câu chuyện bí mật”, viết truyện, viết báo, làm đĩa hình, truyền đơn,… rồi đăng tải, xuất bản ở nước ngoài và lén lút chuyển về trong nước. Đặc biệt, chúng cấu kết với các đài truyền hình, phát thanh tiếng Việt có tư tưởng chống cộng cực đoan ở nước ngoài (BBC, VOA, RFA), sử dụng internet, mạng xã hội như: facebook, youtube,... để chống phá. Thậm chí, chúng ngang nhiên lập trang mạng, thành lập “hội đoàn”, “cộng đồng”,… với nhiều tên gọi khác nhau, như: Dân làm báo (danlambao), Quan làm báo (quanlambao), fanpage của Việt Tân, Nhật ký yêu nước, Ngụy biện, Dân luận,... để tung tin, bình luận xuyên tạc, kích động, chuyển tải thông tin xấu độc về Hồ Chí Minh. Các hoạt động này của chúng ngày càng có hệ thống, với tần suất dày đặc và đều được các thế lực phản động quốc tế bảo vệ, tài trợ, giúp sức và vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam.

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA ĐỂ LẠI BÀI HỌC MẪU MỰC VỀ CHIẾN LƯỢC, SÁCH LƯỢC VÀ PHƯƠNG PHÁP CÁCH MẠNG

Một trăm năm trước, ngày 7 tháng 11 năm 1917, tức ngày 25 tháng 10 theo lịch Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích đứng đầu là V.I.Lênin, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã nổi dậy khởi nghĩa vũ trang lật đổ chính quyền tư sản phản động, thành lập chính quyền Xôviết đại biểu công nhân, nông dân và binh lính ở thủ đô Pêtrôgrát, sau đó tiếp tục khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Cách mạng Tháng Mười thành công. Đây là cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới.
Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự thành lập, tồn tại, phát triển Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xôviết (Liên Xô) sau đó, Liên Xô đã trở thành một cường quốc lớn mạnh và ưu việt chưa từng thấy, có những đóng góp lớn lao đối với sự phát triển của lịch sử thế giới và lịch sử nhiều quốc gia, dân tộc. Cách mạng Tháng Mười Nga đã để lại những bài học mẫu mực về chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng; về sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản; về khối liên minh công nông và nghệ thuật chớp thời cơ để giành thắng lợi cho phong trào cộng sản quốc tế. Cách mạng Tháng Mười Nga có sự chỉ đạo thiên tài của V.I.Lênin và Đảng Cộng sản Nga, đã phân tích tình hình cách mạng một cách khách quan, đánh giá chính xác các yếu tố và điều kiện cách mạng, đề ra chiến lược, sách lược đúng đắn cho từng giai đoạn chuyển biến cách mạng như: vấn đề về sự lãnh đạo duy nhất của đảng cộng sản; vấn đề thời cơ cách mạng, thay đổi sách lược; vấn đề sử dụng bạo lực cách mạng, vấn đề lợi dụng và khoét sâu mâu thuẫn chủ yếu của địch; vấn đề xây dựng khối liên minh công nông… Có thể nói, những nguyên lý của C.Mác, Ph.Ăngghen đã được V.I.Lênin vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga không chỉ là sự cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế, mà còn để lại những bài học quí báu, chỉ ra cho phong trào cộng sản quốc tế con đường đi tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản.
Cách mạng Tháng Mười Nga thực sự là điểm khởi đầu cho sự chấm dứt ách bóc lột, đô hộ, thống trị của chủ nghĩa tư bản đối với người lao động và các dân tộc thuộc địa, đồng thời bắt đầu cho việc xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Các đảng cộng sản trong phong trào cộng sản quốc tế đã nhận được những bài học lớn từ Cách mạng Tháng Mười để đối phó với sự đối đầu giữa hai mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Toàn bộ hệ thống luật pháp quốc tế của thời Chiến tranh lạnh và hiện nay đều được định hình từ chính sự đối lập này.
Đặc biệt, cách thức Nhà nước Nga Xôviết (giai đoạn đầu) xử lý các vấn đề kinh tế như tăng trưởng, thương mại, đầu tư; những vấn đề xã hội như công bằng, dân chủ, an sinh, môi trường, giáo dục; những vấn đề về quản lý từ vĩ mô đến vi mô… đều là những bài học quý cho các đảng cộng sản trong quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước mình. Còn những bài học đắt giá mà nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười Nga để lại như cách thức bảo đảm an sinh xã hội của Liên Xô trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội được dựa chủ yếu trên nền tảng  mệnh lệnh hành chính chứ không phải bằng những nguồn lực có thật. Hệ quả là Liên Xô và các đảng cộng sản theo “mô hình Xôviết” dần suy kiệt về vật chất cũng như mô hình phúc lợi xã hội bị biến dạng thành kiểu “xin - cho” rồi đi đến thất bại. Những bài học của Cách mạng Tháng Mười và nước Nga Xôviết đang được các đảng cộng sản, nhất là các đảng đang cầm quyền, lãnh đạo công cuộc đổi mới, cải cách ở các nước xã hội chủ nghĩa nghiêm túc tiếp thu, bổ sung cho phù hợp, đưa những nước này trở thành “điểm sáng thành công nhất” trong phong trào cộng sản quốc tế kể từ sau Chiến tranh lạnh đến nay.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Phương pháp nghiên cứu của dân tộc học là gì?

Mỗi trường phái dân tộc học có phương pháp luận khác nhau. Phương pháp luận của nền dân tộc học mácxít là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc.
Điền dã dân tộc học là phương pháp nghiên cứu đặc trưng của dân tộc học, tức là phương pháp nghiên cứu bằng quan sát trực tiếp, tham gia vào chính đời sống sinh hoạt của tộc người để tìm hiểu từ bên trong nội bộ cộng đồng. Phương pháp này cho nguồn tài liệu cơ bản, quan trọng từ chính các nền văn hóa sống động đang được lưu giữ trong đời sống hàng ngày của cư dân. Điền dã dân tộc học thường được thực hiện theo hai hình thức:
Nghiên cứu diện là cách nghiên cứu nhiều điểm trong cùng một thời gian, nghiên cứu và thu thập tư liệu về một vấn đề nào đó ở các địa bàn khác nhau của không gian tộc người giúp so sánh, đối chiếu vấn đề nghiên cứu ở nhiều nơi. Nó có hạn chế khi phải triển khai những nội dung chuyên sâu. 
Nghiên cứu điểm là cách nghiên cứu trong cùng một thời gian tiến hành nghiên cứu một vấn đề ở một địa bàn cụ thể có tính điển hình; tạo điều kiện nghiên cứu tập trung sâu, song lại thiếu tư liệu trong phạm vi rộng để so sánh.
Thông thường, người ta hay kết hợp cả hai cách trên để bổ sung những ưu điểm phương pháp và khắc phục hạn chế, thiếu sót của nhau. Các công cụ, kỹ thuật chủ yếu để điền dã là: Thu thập tư liệu thông qua quan sát tham gia, phỏng vấn mở, điều tra chọn mẫu, nghiên cứu nguồn tài liệu cá nhân, đo vẽ, chụp ảnh, ghi chép, miêu tả...
Hiện nay, trong các nghiên cứu dân tộc học, người ta thường kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để tiếp cận vấn đề nghiên cứu khách quan và khoa học hơn.

Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu liên ngành được ứng dụng rộng rãi trong dân tộc học - một xu hướng được đánh giá cao trên thế giới hiện nay khi vấn đề nghiên cứu được tiếp cận xem xét từ nhiều lý thuyết và phương pháp của nhiều ngành khoa học. Dân tộc học còn sử dụng phương pháp của Sử học, Khảo cổ học, Nhân chủng học, Ngôn ngữ học, Văn hóa dân gian, Địa lý học, Xã hội học, Môi trường, Nông nghiệp, Dân số học...