Hiển thị các bài đăng có nhãn thời kỳ quá độ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thời kỳ quá độ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

MỘT SỐ KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Cùng với những thuận lợi, thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Đảng ta đánh giá: “Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Trước hết, nước ta quá độ đi lên CNXH có xuất phát điểm thấp, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, một xã hội nông nghiệp lạc hậu, chưa trải qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa nên hầu như chưa có những tiền đề cơ bản cho sự ra đời của CNXH; tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, lực lượng sản xuất rất thấp; có không ít tàn dư của chế độ thực dân, phong kiến để lại. Thêm vào đó, mấy chục năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến tranh biên giới đã để lại hậu quả nặng nề cho đất nước, còn ảnh hưởng lâu dài về sau.

Nước ta vẫn đang đối mặt với những nguy cơ, thách thức: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hoá, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù”. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt một số kết quả tích cực nhưng còn những vấn đề đặt ra. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”. Điều đó đã làm giảm sút niềm tin của một bộ phận nhân dân vào Đảng và Nhà nước và chính quyền các cấp. Chúng ta tiếp tục phải chủ động phòng, chống những biểu hiện xa rời mục tiêu CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể làm chệch hướng XHCN. Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động đã và đang chống phá cách mạng nước ta cả về nhiều mặt hòng làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý Nhà nước. Chúng tuyên truyền, kích động tư tưởng ly khai, “tự trị” ở các vùng dân tộc thiểu số nhằm phá vỡ sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ nước ta., chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng ta chỉ rõ: Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.

Trong thời kỷ đổi mới, mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng: “Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch Covid-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra”. Sức cạnh tranh của nền kinh tế không cao, độ mở ngày càng lớn và đang chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới còn đặt ra. Cho nên, nước ta cần tranh thủ xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, tiếp tục chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng các yếu tố tích cực về vốn, công nghệ, xuất khẩu để phát triển kinh tế; gắn tăng trưởng kinh tế với đảm bảo công bằng xã hội.

Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, một số vấn đề bức xúc nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm được giải quyết. Tình trạng suy thoái đạo đức xã hội với nhiều tệ nạn diễn biến phức tạp như: nghiện hút chất ma túy, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, lối sống thực dụng, đề cao đồng tiền... Bản sắc văn hóa dân tộc có nguy cơ bị phai nhạt. Tỷ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số còn cao. Thực trạng giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là những trở ngại để đất nước có thể phát triển nhanh và bền vững. Cùng với đó là: “Xu hướng già hoá dân số nhanh; tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá tăng mạnh; đặc biệt biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh gay gắt, phức tạp... ngày càng tác động mạnh đến sự phát triển của đất nước”.

Trên trường quốc tế, thế giới đang trải qua những biến động lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo, đặt ra nhiều thách thức đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế mới bước đầu phục hồi. Những nước đi theo con đường XHCN, phong trào Cộng sản và cánh tả còn gặp nhiều khó khăn, bị các thế lực thù địch tiếp tục chống phá. Cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc vẫn diễn biến phức tạp. Các nước đang phát triển, chậm phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp chính trị cường quyền, áp đặt và xâm lược từ bên ngoài để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia. Những biến động phức tạp của tình hình thế giới, những khó khăn trong quá trình xây dựng CNXH nước ta, đã tác động đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng tới công cuộc xây dựng CNXH. Một số cán bộ, đảng viên và nhân dân có tâm trạng hoài nghi, hoang mang, dao động.

Các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau. Hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn nhưng tình hình thế giới có những diễn biến mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Những căng thẳng, xung đột dân tộc, tôn giáo, ly khai, chiến tranh cục bộ, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn gia tăng. Chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh, thích nghi và còn tiềm năng phát triển, nhưng những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư bản tư nhân ngày càng trở nên sâu sắc. Suy thoái kinh tế, khủng hoảng chính trị - xã hội tiếp tục xảy ra ở nhiều nơi. Trật tự thế giới đa cực ngày càng rõ hơn. Nhiều nước lớn thực thi chính trị cường quyền, đã và đang chi phối các quan hệ quốc tế. Toàn cầu hóa, hội nhập và cách mạng khoa học công nghệ mở ra cơ hội phát triển cho các nước nhưng cũng tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trên tất cả các lĩnh vực giữa các nước. Sự cạnh tranh về kinh tế, thương mại, tranh giành các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, công nghệ, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao... giữa các nước ngày càng mạnh mẽ. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động và gia tăng vị thế kinh tế trên thế giới nhưng tiềm ẩn những yếu tố mất ổn định, như tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên... ngày càng phức tạp.

Mặt khác, thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống phức tạp, liên quan đến vận mệnh loài người và tất cả các quốc gia. Đó là các vấn đề: giữ gìn hòa bình, xóa bỏ chiến tranh và bạo lực, khủng hoảng nhân đạo, khủng bố, đói nghèo, bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu, sự bùng nổ dân số, dịch bệnh hiểm nghèo, an ninh lương thực v.v. Vì thế, đòi hỏi các quốc gia, trong đó có Việt Nam, phải có sự hợp tác và trách nhiệm của tất cả các quốc gia, dân tộc trong giải quyết những vấn đề toàn cầu. Có điều, chế độ chính trị và lợi ích của mỗi nước khác nhau đã chi phối đến việc giải quyết tình hình vì lợi ích quốc gia dân tộc.

Như vậy, nước ta đang quá độ đi lên CNXH với nhiều thời cơ, thuận lợi lớn đan xen với không ít khó khăn, thách thức, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, chúng ta cần có nhận thức đúng đắn, kiên định con đường đi lên CNXH, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đi lên CNXH; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH./.

THỜI CƠ VÀ THUẬN LỢI CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Về tổng thể, xét trên cả bình diện thế giới và trong nước, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay diễn ra trong điều kiện có những thời cơ và thuận lợi to lớn đan xen với nhiều khó khăn, thách thức.

Việt Nam quá độ lên CNXH là phù hợp với qui luật phát triển khách quan của lịch sử và nguyện vọng của nhân dân ta. Vì vậy, Việt Nam đã và đang nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới và đông đảo bạn bè quốc tế. Hiện nước ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang kiên định thực hiện có hiệu quả mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng cách mạng đã được tôi luyện qua các thời kỳ cách mạng. Thời kỳ quá độ lên CNXH nước ta đã chuyển sang chặng đường phát triển mới: thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã vạch rõ: “Chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng dày dặn kinh nghiệm lãnh đạo; dân tộc ta là một dân tộc anh hùng; nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển”. Hơn nữa, con đường đi lên CNXH của Đảng và nhân dân ta ngày càng sáng rõ. Mục tiêu, đặc trưng, những phương hướng cơ bản và những quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được bổ sung, cụ thể hoá, phát triển với những nhận thức quan trọng. Đó chính là những yếu tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Một thuận lợi cơ bản trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là chúng ta có những tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên, vị trí địa lý, nguồn lao động dồi dào của thời kỳ dân số vàng, những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc các dân tộc, ý chí và nghị lực của con người Việt Nam. Đây là những lợi thế so sánh trong hội nhập phát triển của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên; nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật cao, lành nghề. Đây là tiền đề quan trọng để đất nước ta tiếp thu, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới, là cơ hội lớn để Việt Nam thu hút đầu tư, chuyển giao khoa học công nghệ.

Cùng với đó, thành tựu, kinh nghiệm của thời kỳ đổi mới đã tạo ra cho đất nước thế và lực mới, có sức mạnh tổng hợp to lớn về nhiều mặt. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.Điều đó tạo ra cho đất nước thời cơ và vận hội mới, nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Những năm tới là giai đoạn kinh tế nước ta tiếp tục phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy giảm. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên. Nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình. Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, an sinh xã hội có nhiều tiến bộ. Tình hình chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ XHCN, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố và phát huy. Nước ta mở rộng giao lưu, nâng tầm hợp tác với các nước lớn, với các nước khắp năm châu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế phát triển và thu hút vốn đầu tư, khoa học công nghệ tiên tiến của các nước.

Bên cạnh đó, tình hình thế giới và những đặc điểm của thời đại hiện nay đã mở ra thời cơ lớn để nước ta có thể phát triển nhanh và bền vững, tạo những điều kiện thuận lợi cho nước ta quá độ đi lên CNXH. Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn. Trật tự thế giới mới theo xu hướng đa cực ngày càng rõ. Các nước tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền, lãnh thổ của nhau. Cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội tiếp tục phát triển dù có những khó khăn, phức tạp. Một số nước kiên định con đường XHCN đã tiến hành cải cách, đổi mới và thu được nhiều thành tựu phát triển như Trung Quốc, Cu Ba. Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế đã có sự phục hồi và phát huy ảnh hưởng trên con đường đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ.

Loài người đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với nền tảng công nghệ kỹ thuật số, nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ. Mặc dù có những “cấm vận” với một vài quốc gia nhưng toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ, tác động đa chiều đến các nước, mang tính vừa hợp tác vừa cạnh tranh, tùy thuộc vào nhau. Quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng. Kinh tế thế giới tuy còn nhiều khó khăn sau đại dịch Covid - 19 và bất ổn chiến tranh, xung đột nhưng sẽ phục hồi. Sự phát triển của cách mạng khoa học, công nghệ và đặc điểm giai đoạn hiện nay của thời đại đã tạo ra cơ hội thuận lợi để nước ta tiếp cận với nguồn vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý kinh tế - xã hội tiên tiến của thế giới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã chủ động nắm bắt xu thế quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội với các nước, các tổ chức quốc tế, đem lại thời cơ thuận lợi để Việt Nam xây dựng cơ sở kinh tế - xã hội của CNXH, có điều kiện phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Vì vậy, chúng ta cần nắm bắt thời cơ, tranh thủ các cơ hội quốc tế thuận lợi để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở độc lập, tự chủ, nhằm phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tăng cường vị thế và tiềm lực đất nước. Có như vậy, nước ta mới có thể rút ngắn thời gian phát triển trong chặng đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VỀ NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Đại hội VI của Đảng năm 1986 xác định nội dung với nhiệm vụ của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ là: sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo đảm nhu cầu quốc phòng và an ninh. Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta xác định nội dung cơ bản là: Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Do nhân dân lao động làm chủ. Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

Đến Đại hội XI của Đảng năm 2011, Đảng ta nêu nội dung xây dựng CNXH gọn và rõ hơn: Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. 

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của phát triển kinh tế ngay sau Cách mạng Tháng Tám qua câu nói: “Độc lập mà dân vẫn đói khổ thì độc lập cũng chẳng để làm gì”. Đó là sự diễn đạt mới về mục đích, nhiệm vụ phát triển kinh tế là đảm bảo và không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Xuất phát từ đặc điểm của thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, khi mức sống của nhân dân còn rất thấp và con người là lực lượng sản xuất chủ yếu nhất, Người chủ trương: “Phát triển kinh tế đến đâu, cải thiện đời sống nhân dân đến đấy”.

- Trong bối cảnh cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung đang được đề cao và thực hiện phổ biến, đồng loạt ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, Hồ Chí Minh đã khẳng định sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ. Người viết: “Nền kinh tế Việt Nam tồn tại bốn hình thức sở hữu chính: Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân; sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động; sở hữu của người lao động riêng lẻ; tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”. “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công  nghiệp (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh). Nói về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, Người đã sớm nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế quá độ, khi viết: “Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản”.

- Điểm sáng tạo trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là sự nhấn mạnh về tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, tăng gia sản xuất phải đi đôi với thực hành tiết kiệm. Người coi “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”. Điểm nổi bật là tư tưởng của Người về chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong nền kinh tế, coi đó là những “giặc nội xâm”, đồng minh với giặc ngoại xâm.

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2019

PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Đại hội XI của Đảng đã nêu ra 8 phương hướng cơ bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta như sau:
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Hai là, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.
Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

MỤC TIÊU TỔNG QUÁT VÀ MỤC TIÊU CỤ THỂ CỦA CHẶNG ĐƯỜNG ĐẦU THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

Cương lĩnh 1991 xác định rõ mục tiêu tổng quát khi kết thúc TKQĐ ở Việt Nam là “xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh”. Trong đó, mục tiêu của chặng đường đầu TKQĐ ở nước ta là: “thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định, vững chắc tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau”.
Tổng kết việc thực hiện mục tiêu của Đại hội VII, Cương lĩnh 1991 và căn cứ vào tình hình thực tế đất nước, Đại hội VIII (1996) khẳng định, nước ta đã “ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng”, kết thúc chặng đường đầu tiên và bắt đầu bước vào chặng đường tiếp theo của TKQĐ đi lên CNXH với nội dung trọng tâm là đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Điều này cũng được nhấn mạnh lại ở Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006). Đây thực chất là việc cụ thể hóa mục tiêu chung, đồng thời trực tiếp thực hiện mục tiêu của chặng đường đầu TKQĐ mà Cương lĩnh đã xác định. Hiện nay, Đảng xác định: Phát triển nhanh và bền vững để sớm kết thúc TKQĐ, với mục tiêu tổng quát là “xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”(19)là định hướng mà Đại hội XI (2011) đề ra. Theo đó, đến giữa thế kỷ XXI, Việt Nam cần phấn đấu trở thành “một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”./.

QUAN ĐIỂM CỦA V. LÊNIN VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

V.I. Lênin đã phát triển lý luận về TKQĐ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH.            Theo ông, TKQĐ lên CNXH là tất yếu, khách quan đối với mọi nước xây dựng CNXH, song đối với những nước có lực lượng sản xuất phát triển cao thì TKQĐ lên CNXH có nhiều thuận lợi hơn, có thể ngắn hơn so với những nước đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. V.I.Lênin khái quát đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
          - Là thời kỳ xét trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều do nhiều thành phần không thuần nhất tạo nên. Đó là thời kỳ có sự đan xen, thâm nhập vào nhau giữa CNTB và CNXH.
          - Là thời kỳ, sự phát triển của cái cũ, của những trật tự cũ đôi khi lấn át những mầm mống của cái mới, của những trật tự mới.
- Là thời kỳ, xét về mọi phương diện đều có sự phát triển của tính tự phát tiểu tư sản, chứa đựng những mâu thuẫn không thể dung hòa được giữa tính kỷ luật nghiêm ngặt của GCCN và tính vô chính phủ, vô kỷ luật của tần lấp tiểu tư sản.
- Là thời kỳ lâu dài, có rất nhiều khó khăn, phức tạp, trải qua nhiều lần thủ nghiệm để rút ra những kinh nghiệm, hướng đi đúng đắn, và trong quá trình đó có thể phải trả giá cho những sai lầm nghiêm trọng.

QUAN ĐIỂM CỦA C. MÁC VÀ PH. ĂNGGHEN VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội có những đặc điểm cơ bản sau:
- Xã hội thời kỳ quá độ: xã hội vừa thoát thai từ xã hội TBCN, còn mang nặng dấu ấn của xã hội cũ.
          - Thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Tương ứng với thời kỳ quá độ về kinh tế - xã hội là TKQĐ về chính trị. Nhà nước của giai đoạn này là nhà nước chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.
          - Thời kỳ quá độ là thời kỳ “sinh đẻ” lâu dài và “đau đớn”.
          - Thời kỳ quá độ bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, liên tục và các điều kiện biến đổi không ngừng.
          - Đặc điểm bao trùm: xã hội quá độ, bao gồm trong đó sự hiện diện những dấu vết, những bộ phận của xã hội cũ (TBCN) ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đồng thời xuất hiện và hình thành những nhân tố mới của xã hội mới.