Hiển thị các bài đăng có nhãn do dân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn do dân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ VÀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA NHÂN DÂN, DO NHÂN DÂN, VÌ NHÂN DÂN

Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phản ánh tầm nhìn bao quát, sâu rộng về giá trị phổ quát này, mà còn là tư tưởng để thực hành trong thực tiễn nhằm xây dựng chế độ dân chủ trên một đất nước vừa được giải phóng khỏi sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc cách đây 75 năm. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ được phản ánh một cách chắt lọc, cô đọng, cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hành, biểu hiện ở ba vấn đề cốt lõi sau:

Thứ nhấtkhẳng định vai trò, địa vị của nhân dân trong chế độ chính trị dân chủ.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân. Nó được hình thành trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đồng thời, nó phản ánh mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và nhân dân trong chế độ chính trị - xã hội nhất định. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định xây dựng một Nhà nước Việt Nam kiểu mới, đó là nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Người tuyên bố dứt khoát: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Theo Người, ở nước ta, mọi quyền hành và lực lượng đều là của nhân dân, từ nhân dân mà ra. Người nhấn mạnh rằng: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Như vậy, nội dung cơ bản và cốt lõi nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là: Nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị  - xã hội, thể chế chính trị dân chủ phải bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, nhân dân là người có quyền quyết định vận mệnh của quốc gia - dân tộc; nhân dân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ xây dựng, củng cố và thực hành quyền lực của mình thông qua hệ thống chính trị và thể chế chính trị dân chủ, xây dựng và củng cố bộ máy quản lý nhà nước nhằm hướng tới phục vụ lợi ích của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân... Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ mối quan hệ giữa nhân dân và Nhà nước: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì nhân dân không ai dẫn đường. Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối. Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Thứ hai, xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Ngay từ năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước cách mạng được thành lập, Người nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Đây là điểm khác biệt về bản chất giữa nhà nước dân chủ nhân dân với các nhà nước của giai cấp bóc lột từng tồn tại trong lịch sử.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước của dân là nhà nước mà ở đó tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Nhân dân là gốc, là chủ của quyền lực nhà nước, bao nhiêu quyền hạn của Nhà nước đều là của nhân dân. Do đó, đội ngũ cán bộ của chính quyền các cấp là đầy tớ trung thành của nhân dân, là công bộc của nhân dân, chứ không phải là cha mẹ dân, cai trị dân như nhà nước của chế độ bóc lột trước đây. Nhân dân là người có quyền quyết định các vấn đề hệ trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc. Ngay trong Điều 32 Hiến pháp năm 1946 đã nêu rõ: “Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra cho nhân dân phúc quyết”. Thực chất ở đây là trưng cầu ý dân, một hình thức dân chủ trực tiếp được đề ra ở nước ta khá sớm. Nhân dân bầu ra Quốc hội và chính quyền các cấp, có quyền kiểm soát nhà nước, giám sát và có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước cho nên nhân dân có quyền kiểm soát quyền lực nhà nước.

Nhà nước do dân là nhà nước do nhân dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình, những đại biểu này thay mặt nhân dân tổ chức, điều hành các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương thông qua chế độ tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu. Đồng thời, Nhà nước do dân cũng là nhà nước mà nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước, ủng hộ, giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần cho hoạt động của bộ máy nhà nước, thực hiện các nghĩa vụ và quyền hạn đối với Nhà nước trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Mặt khác, nhân dân tham gia góp ý xây dựng Nhà nước, kiểm soát và giám sát quyền lực của Nhà nước. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”, nghĩa là Nhà nước không đáp ứng được nhu cầu và lợi ích chính đáng của nhân dân thì nhân dân có quyền bãi miễn Chính phủ.

Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Nhà nước không có đặc quyền, đặc lợi, đứng trên nhân dân mà phải thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở: Việc gì có lợi cho dân thì dù nhỏ cũng cố gắng làm. Việc gì có hại cho dân thì dù nhỏ cũng cố gắng tránh. Nhà nước vì dân là Nhà nước luôn đề cao ý thức trách nhiệm chính trị trước nhân dân. Người cho rằng: Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi.

Thứ ba, giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trên tinh thần dân chủ.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhân dân cần Nhà nước để lãnh đạo và tổ chức lực lượng xây dựng, phát triển đất nước. Mặt khác, Nhà nước phải dựa vào mọi nguồn lực của nhân dân để phục vụ nhân dân. Trong tư tưởng của Người, nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của Nhà nước là nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhà nước phát huy dân chủ đến cao độ mới động viên được tất cả các lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên. Đồng thời, phải tập trung cao độ để thống nhất lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Bên cạnh việc đề cao dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu rõ vai trò của chuyên chính: Chế độ nào cũng có chuyên chính. Vấn đề là chuyên chính với ai? Dân chủ là của quý báu của nhân dân, chuyên chính là cái khóa, cái cửa để đề phòng kẻ phá hoại... Có dân chủ thì cũng cần phải có chuyên chính để giữ gìn dân chủ. Chính vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào cả nước và toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định tính hợp pháp của Chính phủ lâm thời. Sau đó, Người tiến hành xây dựng Hiến pháp dân chủ, tổ chức Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2-3-1946, Quốc hội họp phiên đầu tiên và bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Đây là Chính phủ hợp hiến đầu tiên do nhân dân bầu ra, có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề đối nội và đối ngoại của đất nước. Cũng vào năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng đến việc xây dựng luật pháp, quản lý đất nước bằng luật pháp và làm cho luật pháp có hiệu lực trong thực tế. Theo Người, trong Nhà nước dân chủ nhân dân, dân chủ và pháp luật phải đi đôi với nhau, bảo đảm cho chính quyền hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.

Một nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là tập trung xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân. Để xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải được đào tạo chính quy, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ quản lý hành chính ở tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 197 thành lập Ban Pháp lý học tại Trường Đại học Việt Nam; năm 1950, ký Sắc lệnh số 76 ban hành “Quy chế công chức” để bảo đảm công bằng trong thi tuyển, bổ nhiệm vào ngạch bậc hành chính. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng nền móng cho pháp quyền Việt Nam.

Bên cạnh việc tập trung xây dựng thể chế quản lý đất nước thông qua pháp luật, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chú ý đến công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao trình độ giác ngộ và chấp hành pháp luật của nhân dân, nhấn mạnh sự nêu gương của đội ngũ thực thi pháp luật. Trong thư gửi Hội nghị tư pháp toàn quốc (tháng 1 -1946), Người căn dặn: Các bạn là những người thi hành pháp luật, lẽ tất nhiên các bạn phải nêu cao tấm gương “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư!”.

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2021

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN LÀ NGUYỆN VỌNG CỦA NHÂN DÂN

Có thể nói, nguyện vọng lớn nhất của mỗi người dân Việt Nam trước năm 1945 là: đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đáp ứng ước nguyện đó, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời; ngày 06/01/1946, mỗi người dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên được tự tay cầm lá phiếu bầu ra Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước kiểu mới và bước vào cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Nhưng mấy chục năm sau đó, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã thay nhau xâm lược nước ta (1946 - 1975), với quyết tâm: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Đảng, Nhà nước đã tập hợp, lãnh đạo Nhân dân ta đoàn kết “vừa kháng chiến vừa kiến quốc” và đã làm lên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954) “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, Đại thắng Mùa Xuân (30/4/1975) thống nhất đất nước. Bước vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước, nhất là từ khi đổi mới đến nay, vai trò, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ngày càng sáng tỏ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân... tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Thực tế là, thành viên trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở đều do Nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua đại diện) bầu ra và bãi miễn khi họ không còn xứng đáng. Mọi hoạt động của nhà nước đều hướng tới: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; chính sách và chất lượng các lĩnh vực: y tế, giáo dục, an sinh xã hội... ngày càng hoàn thiện, nâng lên. Hiếm có quốc gia nào, mà Nhà nước phát động phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - không để ai bị bỏ lại phía sau”, tỉ lệ xóa đói, giảm nghèo, các mục tiêu thiên niên kỷ đều đạt và vượt chỉ tiêu được thế giới ca ngợi. Để hạn chế ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch Covid -19 và thảm họa thiên tai ở các tỉnh miền Trung năm 2020, Nhà nước chi hàng trăm nghìn tỷ đồng hỗ trợ nhân dân, lao động mất việc, khắc phục hậu quả thiên tai… Việc cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử “liêm chính, kiến tạo”, chuyển đổi số... đã và đang giúp người dân trực tiếp tương tác với Chính phủ ngày càng nhiều hơn, Chính phủ quản lý, điều hành, phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn. Mọi người được tham gia đóng góp ý kiến vào các văn bản hoạch định đường lối lãnh đạo trình Đại hội của Đảng, cũng như quá trình xây dựng, sửa đổi bổ sung Hiến pháp, pháp luật. Nhân dân ta ngày càng phát huy vai trò, trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống chính trị, phát hiện, tố giác những hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững kỷ cương, tăng cường pháp chế. Công tác điều tra, xét xử bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, công khai, bình đẳng “không có vùng cấm”, góp phần giữ vững niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là quá trình vận động, phát triển hợp quy luật, phù hợp tiến bộ xã hội đã được thực tiễn Việt Nam kiểm nghiệm, mọi luận điệu trái với đường lối này đều cần nhận diện, đấu tranh bác bỏ.

NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN LÀ SỰ LỰA CHỌN LỊCH SỬ VIỆT NAM

Sau tiếng súng xâm lược (năm 1858), thực dân Pháp biến nước ta thành thuộc địa của chúng, nhân dân ta bị áp bức, bóc lột tàn nhẫn, cuộc sống lầm than, cơ cực; thậm chí, người dân không được quyết định những những vấn đề tối thiểu thuộc về bản thân mình. Tình cảnh đó đã thôi thúc phong trào đấu tranh kháng Pháp nổ ra ở khắp nơi, điển hình như: Trương Định tổ chức nghĩa quân ở Gò Công, Tân An (1859 - 1864); Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân đốt cháy tàu Hy Vọng (Espérance) của Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông, rồi lập căn cứ khắp vùng Rạch Giá, Hà Tiên và đảo Phú Quốc (1861 - 1868); Tống Duy Tân cùng Cao Điền dựng cờ khởi nghĩa ở Hùng Lĩnh, Thanh Hóa (1886 - 1892); Phan Đình Phùng với “Chiếu Cần Vương” chiêu mộ nghĩa quân, lập căn cứ ở vùng núi thuộc hai huyện Hương Sơn, Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh (1885 - 1896); Hoàng Hoa Thám thành lập nghĩa quân ở Yên Thế, đánh Pháp suốt 25 năm (1887 - 1913), v.v. Mỗi phong trào diễn ra ở những nơi với thời điểm và người đứng đầu khác nhau,... nhưng đều nhằm đánh đuổi giặc Pháp; song, do đường lối, phương pháp, mục tiêu không phù hợp nên đều bị đàn áp đẫm máu. Trước đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam ra đời, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp và lãnh đạo nhân dân làm lên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập ra Nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đó đến nay, các tầng lớp nhân dân ta luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, đoàn kết, thống nhất, tạo ra sức mạnh tổng hợp, lập lên những kỳ tích mang tầm thời đại, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đưa Việt Nam từng bước sánh vai với các cường quốc năm châu.

NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN LÀ KẾT QUẢ VẬN ĐỘNG HỢP QUY LUẬT CỦA XÃ HỘI

Từ vận dụng phép biện chứng duy vật vào nghiên cứu lịch sử, C. Mác xem xã hội là một bộ phận của tự nhiên và đã tìm ra quy luật về sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất; quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; giai cấp và đấu tranh giai cấp; nhà nước và cách mạng xã hội… Ông khẳng định: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử, tự nhiên”. Theo đó, khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đạt đến đỉnh điểm sẽ diễn ra cách mạng xã hội mở đường cho lực lượng sản xuất thoát khỏi “xiềng xích” của quan hệ sản xuất đã lạc hậu, đưa đến sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội với đại diện là một giai cấp mới, thiết lập nhà nước và chế độ xã hội trên cơ sở kinh tế - xã hội mới, tiến bộ hơn; cứ như vậy làm cho xã hội luôn vận động, phát triển từ thấp đến cao. Đến nay, nhân loại đã và đang trải qua các kiểu nhà nước tương ứng với các giai cấp đại diện là: chiếm hữu nô lệ do giai cấp chủ nô đại diện; phong kiến với đại diện là giai cấp phong kiến, địa chủ; tư bản - đại diện là giai cấp tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa do giai cấp vô sản, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản làm đại diện. Theo lý luận, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của giai cấp công nhân – giai cấp có sứ mệnh: xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội Cộng sản chủ nghĩa văn minh, “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”. Để hoàn thành sứ mệnh đó, giai cấp công nhân phải thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản để lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng vô sản thủ tiêu giai cấp tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đến giai đoạn mà lao động trở thành nhu cầu cống hiến cao nhất, mọi cá nhân đều bình đẳng, được phát triển toàn diện “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, nhà nước hết vai trò, sẽ tự tiêu vong. Như vậy, mục tiêu và lợi ích căn bản của giai cấp công nhân phù hợp với nguyện vọng, lợi ích của nhân dân lao động. Vì thế, ở giai đoạn xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là phù hợp với quy luật và lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn cho thấy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Liên xô và một loạt các nước (bao gồm Việt Nam) đã thiết lập nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và đã trở thành hệ thống lớn mạnh, đe dọa sự diệt vong chế độ tư bản trên toàn thế giới. Đáng tiếc là, những năm cuối thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và các nước Đông Âu “chệch hướng” dẫn đến sụp đổ. Cùng thời điểm đó, Việt Nam và một số nước đã vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp thực tiễn, tiến hành đổi mới toàn diện đất nước và đã thu được nhiều thành tựu to lớn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) ghi rõ: “Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC THẬT SỰ CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

- Quan điểm xây dựng Nhà nước cộng hòa dân chủ Việt Nam là một sáng tạo lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghiên cứu lịch sử xây dựng nhà nước độc lập dân tộc từ khi đức vua Ngô Quyền giành lại được nền độc lập, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và khẳng định đặc trưng độc lập, tự chủ của Nhà nước Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã trực tiếp, đến tận nơi nghiên cứu các kiểu nhà nước dân chủ tư sản ở Mỹ và Pháp, nhà nước Xô viết của Liên Xô và lựa chọn hình thức Nhà nước cộng hòa, dân chủ, nhân dân ở Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước thống nhất với mục tiêu của cách mạng do Đảng lãnh đạo. Năm 1945 là Nhà nước: "Dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc". Tại Đại hội II năm 1951, mục tiêu đấu tranh của Đảng là xây dựng một nước Việt Nam "độc lập, hòa bình, dân chủ, phú cường". Trong Di chúc, được Người viết từ năm 1965 đến năm 1969, mục tiêu đấu tranh được thể hiện trong "mong muốn cuối cùng" của Người là: xây dựng một nước Việt Nam "Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh". Mục tiêu cụ thể của ba thời điểm nêu trên có khác nhau do từng hoàn cảnh, nhưng các đặc trưng: độc lập, dân chủ, hạnh phúc (phú cường, giàu mạnh) đều được nhắc đến.

- Về bản chất của Nhà nước, sáng tạo của Hồ Chí Minh tập trung trong bản chất nhân dân của nhà nước. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nhà nước cách mạng ra đời, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.. . chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Bản chất nhân dân của Nhà nước không mâu thuẫn với bản chất giai cấp và tính dân tộc. Hồ Chí Minh khẳng định: “Tính chất nhà nước là vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo". Giải thích về bản chất giai cấp công nhân và sự thống nhất, hài hoà giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân, tính dân tộc của Nhà nước, Người viết: (1). Giai cấp công nhân không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của dân tộc và chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp công nhân một cách triệt để. (2). Nhà nước dân chủ mới của ta ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ với sự hy sinh gương mẫu của bao thế hệ cách mạng trong toàn dân tộc. (3). Nhà nước ta bảo vệ lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích của dân tộc làm nền tảng. Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu luôn luôn là Chính phủ đại đoàn kết dân tộc. (4). Nhà nước ta vừa ra đời đã phải đảm nhiệm nhiệm vụ lịch sử là tổ chức cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của dân tộc để bảo vệ thành quả của cách mạng…

- Tư tưởng xây dựng một nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ của Hồ Chí Minh được thể hiện rất rõ, ngay từ năm 1919, trong Yêu sách tám điểm gửi Hội nghị Véc-xai (bản yêu sách này sau đó được Người dịch ra tiếng Việt theo thể thơ lục bát, chuyển về phổ biến rộng rãi với đồng bào trong nước dưới nhan đề “Việt Nam yêu cầu ca” trong đó có có hai câu thơ:“Bảy xin Hiến pháp ban hành/Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Sau cách mạng Tháng Tám, người chủ trương xây dựng một nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, trước hết phải là một nhà nước hợp hiến, Người chủ trương bầu cử Quốc hội theo hình thức phổ thông đầu phiếu “càng sớm càng tốt".

Trong quản lý xã hội, Nhà nước phải tiến hành quyền lực quản lý đất nước bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế. Dân chủ và pháp luật phải luôn luôn đi đôi với nhau. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, có hiệu lực, phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có trình độ văn hoá, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư “phụng công, thủ pháp”. Phải tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức; kiên quyết chống ba thứ  "giặc nội xâm" là tham ô, lãng phí, quan liêu.

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2019

QUỐC HỘI VIỆT NAM LÀ QUỐC HỘI DÂN CHỦ, CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

Cứ đến dịp Quốc hội họp, đâu đó lại xuất hiện một vài giọng điệu đả kích, cho rằng: "Quốc hội Việt Nam chỉ quyết định theo chỉ đạo của Đảng, là cơ quan thảo luận cho vui và chỉ mang tính hình thức". Những giọng điệu này hoàn toàn lạc lõng trước sự tín nhiệm ngày càng cao của cử tri, nhân dân dành cho Quốc hội Việt Nam-một cơ quan liên tục tự đổi mới, cải tiến cách thức làm việc nhằm tăng cường dân chủ, công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả làm việc và thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của cử tri, nhân dân cả nước.

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2019

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN THEO TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Quân đội nhân dân Việt Nam của dân, do dân, vì dân là sự vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang, quân đội trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta. Tư tưởng này có nội dung rộng lớn, xuyên suốt, chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự nói riêng, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam nói chung. Thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội của dân, do dân, vì dân là tư tưởng về tính nhân nhân của quân đội kiểu mới ở Việt Nam. Trong tư tưởng của Người, tính nhân dân của quân đội không tách rời mà có quan hệ biện chứng, thống nhất với tính dân tộc và bản chất giai cấp công nhân của nó.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội của dân, do dân, vì dân được hình thành từ sớm, gắn liền với tư tưởng của Người về cách mạng Việt Nam. Trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930 do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo và Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã chỉ rõ nhiệm vụ "Tổ chức ra quân đội công nông". Quân đội đó bao gồm lực lượng của toàn dân mà nòng cốt là công nhân, nông dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đấu tranh để thực hiện mục tiêu là "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Đến những ngày chuẩn bị khởi nghĩa, Người dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp rằng, trong tổ chức và hoạt động của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân "phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân thì kẻ địch sẽ không thể nào tiêu diệt được" Có thể nói, quan điểm về "dân, nhân dân - toàn dân" của Hồ Chí Minh đã được thể hiện rất sâu sắc trong lĩnh vực quân sự của cách mạng Việt Nam mà trực tiếp là trong tổ chức xây dựng và hoạt động của quân đội ta ngay từ khi được thành lập.


Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM LÀ NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

Từ khi ra đời đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt  Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình, thể hiện bản chất tốt đẹp của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,  phục vụ lợi ích của dân tộc, đã quản lý đất nước, làm tròn trọng trách mà nhân dân giao phó, được lịch sử ghi nhận, nhân dân tin tưởng, thế giới ngưỡng mộ.
Trong thực hiện chức năng đối nội
Trên lĩnh vực kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Việt Nam đạt những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển; duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên. Nhờ đó, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi dẫn đến niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước ngày càng được củng cố; uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng cao.
Trên lĩnh vực chính trị, Nhà nước ta đã đạt được thành tựu quan trọng về thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền con người, nhất là vấn đề quyền làm chủ của nhân dân, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân đã được xác lập và thực thi trên thực tế. Hiến pháp năm 2013 khẳng định nhất quán quan điểm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đồng thời, thể hiện đầy đủ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp và pháp luật…
Trên lĩnh vực xã hội, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục…  Các chính sách dân tộc, tự do tín ngưỡng tôn giáo ngày càng hoàn thiện được bảo đảm trong thực tiễn… Đó là điều đáng mừng. Bởi, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là đúng đắn, bảo đảm sự phát triển bền vững, mang lại công bằng cho người dân.
Trong thực hiện chức năng đối ngoại
Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế, đến nay, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 187 nước; trong đó, 3 đối tác chiến lược toàn diện, 13 đối tác chiến lược và 11 đối tác toàn diện. Đồng thời, tham gia nhiều tổ chức quốc tế. Cho đến nay, Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ trên thế giới, điển hình như: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO), Diễn đàn hợp tác Á–Âu (ASEM)… Điều đó, không chỉ khẳng định uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc.
Tuy nhiên, Nhà nước ta cũng thẳng thắn thừa nhận còn nhiều hạn chế trong quản lý xã hội, phát triển kinh tế, nhất là tình trạng tham nhũng trong một bộ phận cán bộ, công chức, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Những tồn tại đó, hiện đang được Đảng, Nhà nước ta kiên quyết đấu tranh, khắc phục với quyết tâm chính trị cao và đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Việc điều tra, đưa ra xét xử công khai các vụ án tham nhũng gần đây là một minh chứng. Qua đó, góp phần xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn sinh động trên đã khẳng định, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đủ năng lực để quản lý, tổ chức, xây dựng đất nước phát triển; và chỉ có Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, thể hiện tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc mới đem lại dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh cho nhân dân, tất cả vì nhân dân phục vụ, chứ không thể là nhà nước nào khác.

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2017

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN


Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, quân đội ta đã ra sức học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội của dân, do dân, vì dân. Nhờ đó quân đội ta luôn tỏ rõ trên thực tế là một quân đội có tính nhân dân thực sự sâu sắc, mối quan hệ máu thịt, cá nước giữa quân đội với nhân dân càng được củng cố, góp phần tạo nên sức mạnh to lớn của quân đội, bảo đảm cho quân đội hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Tuy nhiên, trong xây dựng quân đội của dân, do dân và vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn bộc lộ không ít những hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau, có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ quan là chính. Điều cần nhấn mạnh là một số những khuyết điểm, tiêu cực trong quan hệ của cán bộ, chiến sĩ quân đội với nhân dân mà Người đã nhắc nhở phê bình, cảnh báo thì hiện nay vẫn chưa được khắc phục triệt để, làm cho sự tin cậy, yêu mến, cảm phục và sự giúp đỡ của nhân dân ở nơi này, nơi khác có lúc bị suy giảm, hình ảnh đẹp của Bộ đội Cụ Hồ - Bộ đội của dân bị ảnh hưởng xấu.
Trong tình hình, nhiệm vụ của cách mạng, của quân đội ta hiện nay, cần phải tập trung giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về quân đội của dân, do dân, vì dân gắn liền với tăng cường giáo dục bản chất giai cấp công nhân, truyền thống tốt đẹp của quân đội và giá trị cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ”. Trên cơ sở này mà đẩy mạnh hoạt động thực tiễn xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân. Tích cực chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, phủ nhận tính nhân dân của quân đội, phá hoại sự đoàn kết quân dân và đòi "phi chính trị hóa” quân đội.
Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, chiến sĩ và tổ chức trong quân đội ta cần phải nỗ lực khắc phục khó khăn, nâng cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phát huy truyền thống "vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh", "trung với nước, hiếu với dân". Phải thực hiện đúng lời dạy của Hồ Chí Minh "mọi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân phải hết lòng phục vụ, không nên một nửa thì phục vụ, một nửa thì suy bì ghen tỵ". Mục đích, động cơ phấn đấu trong quân ngũ của mọi quân nhân phải được xác định rõ ràng, nhất quán là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội phải thực hiện tốt lời dạy của Người là "việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh", trong mọi công việc và quan hệ phải cố gắng để "không phiền đến dân", phải ra sức giúp đỡ dân, bảo vệ dân, học hỏi nhân dân, làm cho nhân dân ngày càng tin, càng phục và càng yêu mến bộ đội. Tiếp tục thực hiện tốt những lời thề danh dự và những điều kỷ luật trong quan hệ với nhân dân. Quán triệt và thực hiện tốt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và quy chế công tác dân vận của quân đội trong tình hình mới. Mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải hiểu và phải là một người tuyên truyền "cho dân hiểu" và "làm cho dân ta có Tín tâmQuyết tâm"thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong nội dung tuyên truyền  phải tập trung làm cho nhân dân chẳng những hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước mà phải nhận thức rõ nhiệm vụ quân sự quốc phòng và xây dựng quân đội nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ phải biết "đưa chính trị vào giữa dân gian". Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ chính trị to lớn không chỉ của Đảng, Nhà nước, quân đội mà là nhiệm vụ của toàn dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội phải phối hợp với các tổ chức chính trị xã hội tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi người dân thấy rõ trách nhiệm của người làm cha mẹ, người "đẻ ra" quân đội và nhân dân phải làm tròn trách nhiệm cao cả đó. Quân đội hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, nhưng về phía mình thì nhân dân phải tích cực ủng hộ, giúp đỡ bộ đội; không để các phần tử xấu kích động, lôi kéo nhằm chia rẽ, phá hoại tình đoàn kết quân dân. Nhân dân phải tích cực, chủ động tham gia có hiệu quả vào việc nâng cao chất lượng thanh niên nhập ngũ và các nguồn nhân lực vào quân đội, thường xuyên động viên, giáo dục người thân đang phục vụ tại ngũ, tạo điều kiện thuận lợi để họ hoàn thành mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và quân đội giao cho. Quân đội và nhân dân ngày càng phải yêu mến và giúp đỡ nhau, thực hiện tốt lời dạy của Hồ Chí Minh "Quân dân đoàn kết, là đường thành công"