Hiển thị các bài đăng có nhãn quy luật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quy luật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

THỜI CƠ VÀ THUẬN LỢI CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Về tổng thể, xét trên cả bình diện thế giới và trong nước, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay diễn ra trong điều kiện có những thời cơ và thuận lợi to lớn đan xen với nhiều khó khăn, thách thức.

Việt Nam quá độ lên CNXH là phù hợp với qui luật phát triển khách quan của lịch sử và nguyện vọng của nhân dân ta. Vì vậy, Việt Nam đã và đang nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới và đông đảo bạn bè quốc tế. Hiện nước ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang kiên định thực hiện có hiệu quả mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng cách mạng đã được tôi luyện qua các thời kỳ cách mạng. Thời kỳ quá độ lên CNXH nước ta đã chuyển sang chặng đường phát triển mới: thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã vạch rõ: “Chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng dày dặn kinh nghiệm lãnh đạo; dân tộc ta là một dân tộc anh hùng; nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển”. Hơn nữa, con đường đi lên CNXH của Đảng và nhân dân ta ngày càng sáng rõ. Mục tiêu, đặc trưng, những phương hướng cơ bản và những quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được bổ sung, cụ thể hoá, phát triển với những nhận thức quan trọng. Đó chính là những yếu tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Một thuận lợi cơ bản trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là chúng ta có những tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên, vị trí địa lý, nguồn lao động dồi dào của thời kỳ dân số vàng, những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc các dân tộc, ý chí và nghị lực của con người Việt Nam. Đây là những lợi thế so sánh trong hội nhập phát triển của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên; nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật cao, lành nghề. Đây là tiền đề quan trọng để đất nước ta tiếp thu, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới, là cơ hội lớn để Việt Nam thu hút đầu tư, chuyển giao khoa học công nghệ.

Cùng với đó, thành tựu, kinh nghiệm của thời kỳ đổi mới đã tạo ra cho đất nước thế và lực mới, có sức mạnh tổng hợp to lớn về nhiều mặt. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.Điều đó tạo ra cho đất nước thời cơ và vận hội mới, nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Những năm tới là giai đoạn kinh tế nước ta tiếp tục phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy giảm. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên. Nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình. Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, an sinh xã hội có nhiều tiến bộ. Tình hình chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ XHCN, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố và phát huy. Nước ta mở rộng giao lưu, nâng tầm hợp tác với các nước lớn, với các nước khắp năm châu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế phát triển và thu hút vốn đầu tư, khoa học công nghệ tiên tiến của các nước.

Bên cạnh đó, tình hình thế giới và những đặc điểm của thời đại hiện nay đã mở ra thời cơ lớn để nước ta có thể phát triển nhanh và bền vững, tạo những điều kiện thuận lợi cho nước ta quá độ đi lên CNXH. Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn. Trật tự thế giới mới theo xu hướng đa cực ngày càng rõ. Các nước tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền, lãnh thổ của nhau. Cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội tiếp tục phát triển dù có những khó khăn, phức tạp. Một số nước kiên định con đường XHCN đã tiến hành cải cách, đổi mới và thu được nhiều thành tựu phát triển như Trung Quốc, Cu Ba. Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế đã có sự phục hồi và phát huy ảnh hưởng trên con đường đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ.

Loài người đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với nền tảng công nghệ kỹ thuật số, nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ. Mặc dù có những “cấm vận” với một vài quốc gia nhưng toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ, tác động đa chiều đến các nước, mang tính vừa hợp tác vừa cạnh tranh, tùy thuộc vào nhau. Quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng. Kinh tế thế giới tuy còn nhiều khó khăn sau đại dịch Covid - 19 và bất ổn chiến tranh, xung đột nhưng sẽ phục hồi. Sự phát triển của cách mạng khoa học, công nghệ và đặc điểm giai đoạn hiện nay của thời đại đã tạo ra cơ hội thuận lợi để nước ta tiếp cận với nguồn vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý kinh tế - xã hội tiên tiến của thế giới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã chủ động nắm bắt xu thế quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội với các nước, các tổ chức quốc tế, đem lại thời cơ thuận lợi để Việt Nam xây dựng cơ sở kinh tế - xã hội của CNXH, có điều kiện phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Vì vậy, chúng ta cần nắm bắt thời cơ, tranh thủ các cơ hội quốc tế thuận lợi để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở độc lập, tự chủ, nhằm phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tăng cường vị thế và tiềm lực đất nước. Có như vậy, nước ta mới có thể rút ngắn thời gian phát triển trong chặng đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN HỢP QUY LUẬT PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ

Theo Các Mác - Ph.Ăngghen: Lịch sử chẳng qua là sự hoạt động của con người theo đuổi những mục đích của chính mình, nhưng không phải tùy tiện mà tuân theo những qui luật khách quan (Duy vật lịch sử). Động lực chính của sự phát triển lịch sử là do: lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học và đấu tranh cách mạng. Yếu tố xét đến cùng của sự phát triển xã hội là sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, trong đó con người giữ vai trò quyết định. Quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn diễn ra như một quá trình lịch sử tự nhiên. Lịch sử xã hội loài người đã và đang trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội: Cộng sản nguyên thủy; chiếm hữu nô lệ; chế độ phong kiến; tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Đó là quy luật chung, còn từng quốc gia có thể bỏ qua một vài hình thái kinh tế - xã hội tùy điều kiện lịch sử cụ thể.

Sự ra đời của chủ nghĩa hội hiện thực là tất yếu khách quan và hợp qui luật tiến hóa của lịch sử, được C.Mác và Ph.Ăngghen luận giải khoa học dưới góc độ triết học, góc độ kinh tế và góc độ chính trị xã hội giai cấp, đấu tranh giai cấp, không ai có thể bác bỏ được.

Đến giai đoạn V.I.Lênin: CNTB đã chuyển thành CNĐQ với 5 đặc điểm của nó: Hình thành các tổ chức độc quyền; Tư bản tài chính lũng loạn Nhà nước; Xuất khẩu tư bản; Xuất hiện qui luật phát triển không đều; Đấu tranh chia lại thị trường thế giới, tạo ra tiền đề vật chất và tình thế, thời cơ cho cách mạng XHCN. Chỉ có kẻ nào cố tình nhắm mắt, bịt tai mới không nhìn thấy, nghe thấy khi CNTB chuyển thành CNĐQ thì đã thai nghén 1 xã hội mới trong lòng nó rồi. Từ đó, V.Lênin khẳng định: “Không có một lực lượng nào ngăn trở được mặt trời mọc, không có một lực lượng nào ngăn trở được xã hội loài người tiến lên, cũng không có lực lượng nào ngăn trở được CNXH hiện thực ra đời, phát triển. Sớm hay muộn các dân tộc khác nhau trên hành tinh này chắc chắn sẽ đi lên CNXH” “Mặc cho khó khăn, thách thức, thậm chí có bước thụt lùi, song lịch sử cứ tiến về phía trước, không có kẻ nào có thể bẻ quay bánh xe của lịch sử”. Từ đó, V.I.Lênin đã cùng Đảng Bôn sê vich Nga và nhân dân Nga quyết tâm tổ chức và lãnh đạo thành công cách mạng tháng Mười năm1917, biến chủ nghĩa xã hội từ lý luận thành hiện thực, mở ra chương mới cho lịch sử nước Nga và thời đại mới cho xã hội loài người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một sự thật lịch sử vĩ đại không thể chối cãi.

Kế thừa tư tưởng C.Mác - Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Lịch sử xã hội loài người là một quá trình tự nhiên của sự thay thế lần lượt các phương thức sản xuất, phương thức sản xuất là cách làm ra của cải vật chất, tinh thần trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Qui luật phổ quát tiến hóa chung này là một tất yếu thép, được qui định bởi sự vận động không ngừng của lực lượng sản xuất xã hội. Quy luật đó được Hồ Chí Minh diễn giải một cách rễ hiểu như sau: “Cách sản xuất và sức sản xuất phát triển và biến đổi mãi, do đó mà tư tưởng con người, chế độ xã hội…. cũng phát triển và biến đổi. Chúng ta đều biết từ xưa tới nay cách sản xuất từ chỗ dùng cành cây, búa đá phát triển dần đến máy móc, sức điện, sức nguyên tử. Chế độ xã hội cũng phát triển từ Cộng sản nguyên thủy đến chiếm hữu Nô lệ, chế độ Phong kiến đến chế độ Tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên CNXH, và CNCS. Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”.

Bởi ngay từ khi ra đời Chủ nghĩa tư bản đã đầy máu và bùn nhơ ở mỗi lỗ chân lông của nó, cùng với sự phát triển nó đã cắt đứt mọi mối quan hệ của con người với đấng thần linh, dìm lòng mê đạo và máu hiệp sĩ xuống dòng nước lạnh tanh, đặng chỉ để lại mối quan hệ lạnh lùng trả tiền ngay không tình nghĩa. Nên cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản diễn ra ngay từ đầu, từ thấp đến cao, từ tự phát đến tự giác bằng Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế.

Chủ nghĩa tư bản đã phá sập ngay dưới chân nó cái nền tảng mà chúng dựng nên, chúng đã tạo ra những nhân tố, những tiền đề để cách mạng vô sản nổ ra và giành thắng lợi, “Chúng không những rèn ra vũ khí giết mình mà còn đào luyện ra người sử dụng vũ khí là giai cấp vô sản. Vì vậy, sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đều tất yếu như nhau”.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh những tư tưởng thiên tài của Các Mác - Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn. CNXH từ lý luận thành hiện thực trên 1/6 trái đất tử cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, rồi thành hệ thống thế giới sau năm 1945. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ điểm xuất phát thấp, hậu quả chiến tranh nặng nề, bị chủ nghĩa đế quốc bao vây cấm vận. Song, với tính ưu việt của chế độ XHCN và sức mạnh tổng hợp, CNXH hiện thực đã: Giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực; Tạo ra bước ngoặt trong lịch sử loài người quá độ từ CNTB lên CNXH.  Chứng minh loài người hoàn toàn có đủ khả năng đi lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng cách mạng của giai cấp công nhân; đánh tan chủ nghĩa phát xít cứu nhân loại khỏi thảm họa diệt chủng; là chỗ dựa vững chắc cho phong trào cách mạng thế giới. Đập tan những luận điệu xuyên tạc của học giả tư sản và cơ hội xét lại, củng cố niềm tin tất thắng vào CNXH và CNCS. Hiện nay, sau khủng hoảng, sụp đổ, CNXH hiện thực vẫn là thực thể xã hội ưu việt, năng động, phát triển và xu thế tất yếu của xã hội loài người.

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ ĐÚNG ĐẮN VỚI QUY LUẬT

Trong nhận thức lý luận ở Việt Nam hiện nay, phạm trù con đường đi lên CNXH phản ánh những chiến lược, sách lược của Đảng cộng sản Việt Nam để xây dựng CNXH ở Việt Nam. Những biện pháp xây dựng CNXH, đầu tiên được Cương lĩnh 1991 cụ thể hóa thành những nhiệm vụ và phương hướng của cách mạng Việt Nam: “Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cần xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng cộng sản lãnh đạo… phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại… nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội…, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội IX đã chỉ ra cụ thể tính chất phát triển rút ngắn của Việt Nam, vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và những điểm cần kế thừa, tiếp thu văn minh nhân loại để xây dựng CNXH: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng, tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.  Từ nhận thức lý luận và những thành tựu thực tiễn, Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam (Bổ sung, phát triển 2011) đã nêu lên những nét chủ yếu về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam thông qua tám phương hướng xây dựng CNXH:

Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường.

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất.

Bảy là, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”.

Hiện nay, con đường ấy đã được làm rõ trên những nét cơ bản, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”.

Song để thật sự sáng tỏ lý luận về con đường đi lên CNXH và trở thành công cụ đắc lực để xây dựng CNXH ở Việt Nam vẫn còn là một quá trình. Những nội dung, biện pháp cơ bản để xây dựng CNXH mà Đảng ta khẳng định: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN KHÔNG BAO GIỜ LỖI THỜI

Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa Mác là sự kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, trong đó có các nhà tư tưởng về kinh tế, chính trị, triết học trước đó – đây là một cơ sở hiện thực có căn cứ để cho ra đời một học thuyết mới được nảy sinh từ cái cũ.

Chủ nghĩa Mác lần đầu tiên phát hiện ra tính quy luật trong sự vận động của xã hội loài người, trong đó nhân tố quyết định là mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Đây là cơ sở để C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo tất yếu loài người sẽ tiến tới chủ nghĩa cộng sản qua một giai đoạn quá độ là chủ nghĩa xã hội.

V.I.Lênin là nước tiếp tục phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong điều kiện mới khi chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. V.I.Lênin đã có nhiều đóng góp về triết học, kinh tế - chính trị của C.Mác và Ph.Ăngghen tư tưởng về khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở nước tư bản riêng biệt, xây dựng học thuyết về chính đảng mácxít kiểu mới, tổ chức cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi và vận dụng học thuyết của C.Mác để phân tích, giải quyết hàng loạt vấn đề trong quá trình xây dụng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga và Liên bang Xôviết.

Đến giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là người vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để giải quyết những nhiệm vụ to lớn của cách mạng Việt Nam, đánh đổ những đế quốc to lớn, những kẻ thù hung bạo để giành độc lập, tự do cho dân tộc, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Điều hiển nhiên và không thể chối cãi là, dù được hiểu theo nghĩa nào thì chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; quy luật về sự phát triển của sản xuất xã hội, về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chống lại áp bức, bóc lột, mưu cầu tự do, hạnh phúc; quy luật về cách mạng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Namn, phát triển đi tới chủ nghĩa cộng sản. Vào thời điểm ra đời của học thuyết này, những tác giả của chủ nghĩa Mác – Lênin đã phê phán chủ nghĩa tư bản, chỉ ra bản chất bóc lột, tính quy luật trong sự tồn tại và phát triển của nó. Sự phê phán đó là sâu sắc và phản ánh đúng bản chất của thực tiễn xã hội đương thời. Đó là điều đã được thực tế kiểm nghiệm, được hầu hết các nhà nghiên cứu xã hội thừa nhận cho dù họ theo xu hướng chính trị nào. Từ sự phê phán chủ nghĩa tư bản đương thời, sự phát hiện tính quy luật của lịch sử xã hội loài người và cả từ thái độ nhân văn trước hiện thực tăm tối về sự thống khổ của người lao động dưới ách áp bức, bóc lột về một xã hội tương lai như một tất yếu lịch sử sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản.

Trên thực tế chủ nghĩa tư bản hiện tại vẫn chưa vượt qua ngoài tính quy luật mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra, càng chứng minh tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản hiện nay được che đậy dưới lớp vỏ hào nhoáng, mỹ miều hơn, nó đi vào các quốc gia nghèo khổ bằng cửa chính và bóc lột người lao động bằng những luật lệ văn minh, sạch sẽ hơn.

Như vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin không thể lỗi thời mà chính những người cố tình phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin mới là những người nhầm lẫn, sai lầm, cố tình không nhìn thấy bản chất khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, hoặc là họ cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin vì một lý do chính trị, vì muốn xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin để bảo vệ cho chủ nghĩa tư bản và quyền  lợi của một nhóm người tư bản, hoặc được hưởng nguồn lợi không chính đáng từ guồng máy của chủ nghĩa tư bản. Nếu có lỗi thời, chính là lỗi thời ở cách mà chúng ta chưa nghiên cứu đủ sâu sắc, chưa vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin một cách đúng đắn vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội./.

ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Lịch sử dân tộc ta nửa cuối thế kỷ 19 và ngót nửa đầu thế kỷ 20, đất nước không được độc lập, nhân dân không được tự do. Các phong trào từ “Cần Vương”, “Khởi nghĩa nông dân”, đến phong trào “Đông Du”, phong trào “Giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản dân tộc”…đều thất bại, cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Trong điều kiện đó, Nguyễn Ái Quốc đã đưa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, cách mạng vô sản về Việt Nam. Từ khi có Đảng, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng đất nước theo con đường CNXH, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nói như thế để thấy, con đường cách mạng vô sản tiến bộ là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, CNXH là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân. Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, chủ thể quyết định vận mệnh của dân tộc và non sông đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam một lòng phụng sự Nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Ngoài lợi ích của dân tộc, Nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Nhân dân một lòng theo Đảng. Lý tưởng cộng sản là sự lựa chọn của Nhân dân.

Kiên định con đường đi lên CNXH là sự kiên định con đường thực tiễn mà nhân dân ta đang đi, kiên định mục tiêu thực hiện mà chúng ta đang hướng tới, là tiếp nối thành quả cách mạng của nhân dân ta và nâng lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta tiếp tục lựa chọn con đường Bác Hồ, Nhân dân đã lựa chọn, kiên định CNXH mà tính đúng đắn, khoa học, cách mạng đã được thực tiễn chứng minh để xây dựng đất nước ta thực sự giàu mạnh, dân chủ, văn minh, nhân dân ta thực sự có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong bài viết của mình: “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú, kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”.

Kiên định con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật lịch sử chứ không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chủ nghĩa xã hội hiện thực sau cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 không chỉ có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng mà còn làm thay đổi tiến trình lịch sử thế giới trong suốt thế kỷ XX và cho đến tận ngày nay. Chủ nghĩa xã hội từ lý luận khoa học đã trở thành hiện thực sinh động; từ một nước XHCN trở thành hệ thống các nước XHCN trên thế giới, trở thành lực lượng cách mạng thúc đẩy nhân loại phát triển và phẩm giá con người trong lòng xã hội được thực thi… Liên Xô sụp đổ là sự kiện địa chính trị lớn nhất của thế kỷ XX làm đau đớn nhân loại tiến bộ, song nó phản ánh sự sai lầm về một mô hình khi đã xa rời những vấn đề mang tính nguyên tắc của CNXH. Điều đó cho thấy, những bước thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu nhưng tất thắng của CNXH với tư cách là một học thuyết khoa học và cách mạng, một hình thái kinh tế - xã hội và với tư cách một chế độ xã hội mới đầy ưu việt mà nó vốn có, là sự kết tinh tất cả những thành tựu tinh hoa mà các hình thái kinh tế - xã hội trước đã tạo ra, trên con đường đấu tranh khẳng định sự tồn tại phù hợp quy luật của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người./.

Thứ Sáu, 14 tháng 5, 2021

NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN LÀ KẾT QUẢ VẬN ĐỘNG HỢP QUY LUẬT CỦA XÃ HỘI

Từ vận dụng phép biện chứng duy vật vào nghiên cứu lịch sử, C. Mác xem xã hội là một bộ phận của tự nhiên và đã tìm ra quy luật về sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất; quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; giai cấp và đấu tranh giai cấp; nhà nước và cách mạng xã hội… Ông khẳng định: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử, tự nhiên”. Theo đó, khi mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đạt đến đỉnh điểm sẽ diễn ra cách mạng xã hội mở đường cho lực lượng sản xuất thoát khỏi “xiềng xích” của quan hệ sản xuất đã lạc hậu, đưa đến sự ra đời hình thái kinh tế - xã hội với đại diện là một giai cấp mới, thiết lập nhà nước và chế độ xã hội trên cơ sở kinh tế - xã hội mới, tiến bộ hơn; cứ như vậy làm cho xã hội luôn vận động, phát triển từ thấp đến cao. Đến nay, nhân loại đã và đang trải qua các kiểu nhà nước tương ứng với các giai cấp đại diện là: chiếm hữu nô lệ do giai cấp chủ nô đại diện; phong kiến với đại diện là giai cấp phong kiến, địa chủ; tư bản - đại diện là giai cấp tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa do giai cấp vô sản, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản làm đại diện. Theo lý luận, nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của giai cấp công nhân – giai cấp có sứ mệnh: xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội Cộng sản chủ nghĩa văn minh, “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”. Để hoàn thành sứ mệnh đó, giai cấp công nhân phải thông qua đội tiền phong của mình là Đảng Cộng sản để lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng vô sản thủ tiêu giai cấp tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đến giai đoạn mà lao động trở thành nhu cầu cống hiến cao nhất, mọi cá nhân đều bình đẳng, được phát triển toàn diện “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, nhà nước hết vai trò, sẽ tự tiêu vong. Như vậy, mục tiêu và lợi ích căn bản của giai cấp công nhân phù hợp với nguyện vọng, lợi ích của nhân dân lao động. Vì thế, ở giai đoạn xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là phù hợp với quy luật và lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin. Thực tiễn cho thấy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Liên xô và một loạt các nước (bao gồm Việt Nam) đã thiết lập nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và đã trở thành hệ thống lớn mạnh, đe dọa sự diệt vong chế độ tư bản trên toàn thế giới. Đáng tiếc là, những năm cuối thế kỷ XX, do nhiều nguyên nhân khác nhau, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và các nước Đông Âu “chệch hướng” dẫn đến sụp đổ. Cùng thời điểm đó, Việt Nam và một số nước đã vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp thực tiễn, tiến hành đổi mới toàn diện đất nước và đã thu được nhiều thành tựu to lớn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) ghi rõ: “Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM LÀ NỀN KINH TẾ TIẾP THU TẤT CẢ CÁC THÀNH TỰU CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Ý kiến cho rằng nền KTTT của Việt Nam không tôn trọng và không áp dụng các tính chất, quy luật khách quan của KTTT là ý kiến hoàn toàn sai lầm. Bởi tại Nghị quyết số 11-NQ/TW, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã khẳng định: “Hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN là quá trình phát triển liên tục; kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển KTTT của nhân loại và kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn đổi mới ở nước ta. Nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của KTTT, thông lệ quốc tế, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước trong từng giai đoạn”.

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2020

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN Ở VIỆT NAM LÀ VẬN ĐỘNG ĐÚNG QUY LUẬT

Nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị xã hội quý báu được tích lũy và phát triển trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền phát triển không ngừng, là thành quả của nhân loại, nó hình thành và phát triển cùng với sự tiến bộ xã hội và cho đến nay đã được thế giới thừa nhận về mặt lý luận như một học thuyết về nhà nước pháp quyền. Hiện nay các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa đang nổ lực xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc xác định mục đích, nội dung, phương hướng và biện pháp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ được đông đảo người dân ở các nước này, mà còn cả những người dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới đồng tình, ủng hộ.

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2018

TÁC DỤNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Quy luật giá trị là một quy luật kinh tế quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nền kinh tế của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Nó có tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa, đồng thời kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh và thực hiện sự lựa chọn tự nhiên, phân hóa người sản xuất hàng hóa thành kẻ giàu người nghèo. Thực tiễn chứng tỏ rằng quy luật giá trị với những biểu hiện của nó như giá cả, tiền tệ, giá trị hàng hóa…là vấn đề tác động rất lớn đến đời sống kinh tế xã hội.
Đối với nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã  hội vẫn còn mang nặng tính nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật còn phụ thuộc các nước khác, tuy nhiên Đảng và Nhà nước đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng trong việc đổi mới xã hội cũng như hiểu rõ vai trò và tác dụng của quy luật giá trị mà từ đó đã thực hiện nhiều cuộc cải cách  kinh tế… tuân theo nhưng nội dung của quy luật giá trị nhằm hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa xã hội chủ nghĩa đa dạng và đã đạt được những hiệu quả thành tựu đáng kể. Mặc dù vậy sự vận dụng đó còn chưa toàn diện và sâu sắc, có lúc vẫn còn dập khuôn máy móc, nên cần phải có những biện pháp khắc phục nhanh chóng những yếu kém đưa nền kinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững.
Đất nước Việt Nam ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn về mọi mặt nhất là trong phát triển kinh tế, do đó chúng ta cần phải áp dụng những biện pháp phát triển kinh tế thật thận trọng, khẩn trương và làm sao để có hiệu quả nhất. Việc vận dụng quy luật giá trị vào việc phát triển kinh tế là rất quan trọng. Chúng ta cần phải thật linh hoạt trong từng vấn đề, từng lĩnh vực của nền kinh tế./.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀO XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Hiện nay, nước ta vẫn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế nước ta vẫn còn mang nặng tính nông nghiệp lạc hậu, nên để vận dụng tốt hơn quy luật giá trị vào nền kinh tế thị trường thì Đảng và Nhà nước cần phải thực hiện tốt  một số giải pháp sau:
- Đẩy mạnh phân công lao động xã hội nhằm tăng lực lượng sản xuất phát triển giúp cho sản xuất càng phát triển hơn.
- Phải phát triển đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và cán bộ khoa học công nghệ cũng như công nhân có trình độ cao.
- Nâng cao năng lực quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế thị trường.
- Phải tăng cường liên kết các quan hệ hàng hóa tiền tệ với các quan hệ xã hội.
- Đề ra các biện pháp  nhằm thực hiện tốt  các chính sách  như: chính sách ruộng đất, chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách giá cả và sản lượng … Nhằm tạo điều  kiện phát huy cao tác dụng của quy luật giá trị trong kinh tế xã hội.
- Phát triển đồng bộ các loại thị trường như thị trường tiêu dùng, dịch vụ…

- Phải tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế, chỉ thực hiện độc quyền một số ngành, một số lĩnh vực vì lợi ích của đất nước, hạn chế độc quyền, đặc lợi lũng đoạn thị trường, khắc phục tình trạng kinh doanh trái phép trốn thuế, cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các vi phạm làm lành mạnh thị trường.

QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Những năm trước 1986, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, quy luật giá trị được áp dụng theo nhiều cách khác nhau phù hợp đặc điểm của từng thời kì.  Nhà nước điều khiển nền kinh tế bằng hệ thống pháp lệnh về số lượng, về thu nhập, về nộp ngân sách , về vốn và lãi suất tín dụng … Giá cả do Nhà nước quyết định. Thực chất cũng là một chỉ tiêu pháp lệnh mà giá cả lại là biểu hiện của quy luật giá trị. Chính vì vậy có thể nói trong thời kỳ này quy luật giá trị được áp dụng một cách cứng nhắc, áp đặt vào nền kinh tế thông qua việc định giá theo những chỉ tiêu có sẵn mà không để ý đến thực trạng của nền kinh tế Việt Nam.
      Từ năm 1986 đến nay, nước ta đã có hàng loạt những cuộc cải cách nhằm đưa nền kinh tế phát triển theo một hướng mới. Đảng ta đã thẳng thắn nhận biết và phê phán những sai lầm trong những chính sách kinh tế thời kì trước đây. Việc đổi mới này đã bắt đầu tạo lập nền móng cho sự chuyển biến từ tư duy giá cả phi thị trường đến tư duy giá cả thị trường. Nó đã tiến hành điều chỉnh giá để kích thích sản xuất, tiến tới cải cách toàn bộ hệ thống giá của Nhà nước theo hướng làm cho giá cả phản ánh đầy đủ chi phí hợp lý về sản xuất và lưu thông, đảm bảo cho người sản xuất thu được lợi nhuận thỏa đáng. Tiếp tục xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần và đổi mới quản lý kinh tế, nỗ lực phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh vừa hợp tác bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân. Để thực hiện được điều đó Đảng ta quyết định khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, phát triển có hiệu quả và nắm những lĩnh vực, ngành then chốt để phát huy hiệu quả trong nền kinh tế. Tiếp tục đổi mới và kiện toàn kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, phát huy và kết hợp hài hòa sức mạnh của tập thể và xã viên.
Bên cạnh đó kinh tế tư nhân vẫn tiếp tục phát triển trong các lĩnh vực sản xuất theo sự quản lý của Nhà nước. Hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức. Từng bước hình thành, mở rộng đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, dịch vụ…tiếp tục đổi mới và hoàn thiện công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu của Nhà nước. Xây dựng các chính sách tài chính quốc gia và thực hiện cải cách cơ bản tài chính Nhà nước theo hướng thúc đẩy khai thác tiềm năng tự nhiên của các tầng lớp nhân dân, vừa tích tụ vốn ở đơn vị kinh tế vừa đảm bảo nguồn vốn tập trung của Nhà nước.


VAI TRÒ CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Điều tiết sản xuất, người sản xuất, sản xuất ra cái gì, sản xuất bằng công nghệ gì, sản xuất cho ai, mục đích của họ là thu nhiều lãi. Dựa vào sự biến động của giá cả thị trường do tác động của cung cầu người ta biết hàng nào đang thiếu đang thừa từ đó người sản xuất sẽ mở rộng sản xuất thu nhiều lãi thậm chí đóng cửa những mặt hàng ế thừa giá thấp. Kết quả: Các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, sức lao động, tiền vốn được chuyển từ ngành này sang ngành khác làm cho quy mô ngành này mở rộng ngành kia thu hẹp.
Quy luật giá trị điều tiết quy luật lưu thông, hàng hóa bao giờ cũng vận động từ nơi giá thấp đến nơi giá cao, quy luật giá trị có tác dụng điều tiết sự vận động đó để phân phối nguồn hàng hóa hợp lý hơn giữa các vùng, giữa cung và cầu. Như vậy sự biến động của giá cả trên thị trường không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế, mà còn tác động điều tiết nền kinh tế hàng hóa.
Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh. Trong nền sản xuất hàng hóa, mỗi người sản xuất hàng hóa là một chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định sản xuất kinh doanh của mình. Người sản xuất nào cũng muốn mình thu lợi nhuận,           muốn vậy người sản xuất phải tìm mọi cách cải tiến kỹ thuật sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề, sử dụng thành tựu mới khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Việc cải tiến công tác tổ chức quản lý sản xuất và thực hành tiết kiệm để làm giá trị cá biệt thấp nhất so với giá trị của hàng. Ngoài ra họ còn phải thường xuyên  cải tiến chất lượng mẫu mã hàng hóa cho phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng; còn phải cải tiến lưu thông bán hàng để tiết kiệm phí lưu thông và tiêu thụ sản phẩm nhanh, sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội. Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ.
        Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành kẻ giàu người nghèo. Trong sản xuất hàng hóa, những người có sẵn điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ cao, có vốn nhiều tức là có lượng lao động hao phí cá biệt kết tinh trong hàng hóa thấp hơn so với lượng lao động cần thiết của xã hội, thì họ sẽ giàu, ngược lại những người không có điều kiện trên hoặc gặp rủi ro dẫn đến phá sản, tác động này đào thải cái yếu kém kích thích nhân tố tích cực, phân hóa sản xuất thành những người giàu và nghèo tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển nền sản xuất lớn hiện đại. 

YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Hiện nay, chúng ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó để vận dụng  vào quản lý nền kinh tế hiện nay của đất nước, chúng ta cần nắm vững những yêu cầu cơ bản của quy luật giá trị: sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết, cụ thể:
      - Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất tự quyết định  hao phí lao động cá biệt của mình nhưng giá trị của hàng hóa không phải được quyết định bởi hao phí lao động của từng người sản xuất hàng ho á, mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết .Vì vậy, muốn bán được hàng hóa, bù đắp được chi phí và có lãi, người sản xuất phải điều chỉnh làm cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí xã hội chấp nhận  được .
      - Trao đổi hàng hóa cũng phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết có nghĩa là trao đổi theo nguyên tắc ngang giá .
Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa. Vì giá trị là cơ sở của giá cả nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị. Hàng hóa nào nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại..Sự vận động giá cả thị trường xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị. Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng.
      Biểu hiện tác động của quy luật giá trị trong điều kiện tự do cạnh tranh và trong điều kiện độc quyền:
      Tự do cạnh tranh là tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, tức là tự phát phân phối tư bản (C và v) vào các ngành sản xuất khác nhau  nên hình thành tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Trong cạnh tranh có sự ganh đua đấu tranh về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau, giữa những người sản xuất với những người tiêu dùng hàng hóa dịch vụ nhằm dành được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, có sự khác nhau về điều kiện sản xuất nên chi phí lao động cá biệt của sản xuất hàng hóa có sự khác nhau, để dành được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phải cạnh tranh nhau nhưng các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm luôn biến động nên cạnh tranh diễn ra liên tục. Do đó trong tự do cạnh tranh quy luật giá trị được biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất.
      Độc quyền là biểu hiện mới, mang những quan hệ mới nhưng nó không vượt ra khỏi quy luật giá trị của chủ nghĩa tư bản, mà chỉ là sự tiếp tục mở rộng, phát triển những xu hướng sâu sắc nhất của chủ nghĩa tư bản và của nền sản xuất hàng hóa nói chung, làm cho các quy luật của nền sản xuất hàng hóa và của chủ nghĩa tư bản có những biểu hiện mới. Do chiếm được vị trí độc quyền nên các tổ chức độc quyền  đã áp đặt giá cả độc quyền; giá cả độc quyền thấp khi mua, giá cả độc quyền cao khi bán .Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa quy luật giá trị không còn hoạt động .Về thực chất, giá cả độc quyền vẫn không thoát ly và phủ định cơ sở của nó là giá trị. Các tổ chức độc quyền thi hành chính sách giá cả độc quyền chẳng qua là chiếm đoạt một phần giá trị của  những người khác. Nếu xem xét trong toàn bộ hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thì tổng số giá cả vẫn bằng tổng số giá trị. Như vậy trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền. Giá cả độc quyền bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận độc quyền. Giá cả độc quyền thường cao hơn giá trị của hàng hóa. Do nắm được vai trò độc quyền trong một ngành sản xuất nhất định nên tập đoàn có thể tự ý quyết định giá bán trên thị trường, nhờ đó mà thu được lợi nhuận độc quyền. Lợi nhuận độc quyền bằng lợi nhuận bình quân cộng với một số lợi nhuận khác do địa vị thống trị của các tập đoàn độc quyền. Cơ chế thị trường tự do cạnh tranh và cơ chế độc quyền tư nhân đều có những mặt tích cực và tiêu cực. Khi trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất đã vượt khỏi giới hạn điều tiết của cơ chế thị trường và độc quyền tư nhân thì tất yếu đòi hỏi phải được bổ sung bằng sự điều tiết của Nhà nước. Cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền Nhà nước là sử dụng hợp cả ba cơ chế: thị trường, độc quyền tư nhân và điều tiết của Nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong cơ chế.

QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY

Nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó việc nghiên cứu và khai thác những vấn đề có tính quy luật của học thuyết kinh tế chính trị Mác đưa ra là rất cần thiết cho việc vận dụng  vào quản lý nền kinh tế hiện nay.
Lý luận giá trị là một vấn đề căn bản của học thuyết kinh tế chính trị Mác nói chung và là quy luật có vai trò quyết định của nền sản xuất và trao đổi hàng hoá nói riêng. Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và tác động trực tiếp của quy luật giá trị. Nắm vững và vận dụng quy luật giá trị vào trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay có ý nghĩa hết sức to lớn, giúp thực hiện tốt các chính sách kinh tế, điều tiết và lưu thông hàng hóa, kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất, giải quyết và hạn chế phân hóa giàu nghèo, đưa nền kinh tế phát triển bền vững.
 Theo Adam Smith về lý luận giá trị: Ông phân biệt được giá trị sử dụng, giá trị trao đổi của giá trị hàng hóa là do hao phí lao động để sản xuất ra nó quyết định, xong ông lại không nhất quán .Có lúc lại đưa ra định nghĩa sai lầm về giá trị, bỏ mất bộ phận tư bản bất biến (C), chỉ còn (v+m ) nên bị bế tắc khi phân tích tái sản xuất.
 Theo Thomas Robert Malthus: Ông đã sử dụng nghĩa thứ hai của A.Smith về giá trị và bổ sung định nghĩa này. Điều đó làm cho quan điểm về giá trị của Thomas Robert Malthus xa rời quan điểm giá trị – lao động. Nguồn gốc của giá trị theo Thomas Rober Malthus là các chi phí về lao động  sống, lao động vật hóa và lợi nhuận tư bản ứng trước. Ở đây ông coi lợi nhuận là khoản dôi ra từ lao động sống. Điều đó thể hiện ông xa rời lý thuyết giá trị lao động...
Quan điểm của Mác về giá trị: Lần đầu tiên giá trị được xem xét nh­ư là quan hệ sản xuất xã hội của những người sản xuất hàng hóa, còn hàng hóa là nhân tố tế bào của xã hội tư sản.
C.Mác phân tích tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa là lao động cụ thể và lao động trừu tượng, lao động t­ư nhân và lao động xã hội . Chỉ rõ lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa. C. Mác định nghĩa lượng giá trị hàng hóa được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết, phê phán các quan điểm đi trước. Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa . Trên cơ sở phát hiện này, Mác đã thực hiện một cuộc cách mạng trong khoa học kinh tế chính trị . Ông viết “Tôi là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa và khoa học kinh tế chính trị xoay quanh điểm này”. Từ đó, ông vạch ra trong quá trình sản xuất, lao động cụ thể bảo tồn và di chuyển giá trị cũ (c) vào trong sản phẩm mới, lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới (v+m). Và toàn bộ giá trị hàng hóa bao gồm c+v+m. Điều này D.Ricardo không vượt được. Trên cơ sở lý thuyết giá trị - lao động, C.Mác giải quyết hệ thống các phạm trù và quy luật kinh tế khác.

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ PHÙ HỢP VỚI QUY LUẬT LỊCH SỬ CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ “ĐI VÀO VẾT XE ĐỔ CỦA LIÊN XÔ”

Trong thời gian vừa qua lợi dụng sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cùng những khó khăn mà Đảng và nhân dân ta gặp phải trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, các học giả tư sản và những thế lực thù địch đã đưa ra cái gọi là: “những nhận định, đánh giá khách quan về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam”. Trong đó cho rằng Việt Nam kiên định đi lên chủ nghĩa xã hội là đã tự dẫn mình “đi theo vết xe đổ của Liên Xô”.
Cần khẳng định rõ rằng, sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Liên Xô và Đông Âu là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể của chủ nghĩa xã hội đã lạc hậu, không đồng nghĩa với sự sụp đổ của học thuyết khoa học, cách mạng là chủ nghĩa Mác – Lênin, cũng không phải là sự cáo chung của lý tưởng cộng sản mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại. Càng sai lầm nếu nghĩ đó là sự kết thúc của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội mà C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin xây dựng. Sự sụp đổ đó là một bài học đắt giá, đã khách quan tạo cho những người cộng sản có thêm những dữ liệu mới đối với việc nhận thức như thế nào cho đúng, bổ sung và hoàn thiện hơn lý luận về chủ nghĩa xã hội, trở về đúng với quan điểm, lập trường của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, để phát triển đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới.
Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là kiên định con đường vận động khách quan của lịch sử, là kiên định một lý tưởng tốt đẹp và hiện thực, nhân văn, nhân đạo. Đó là đi theo lý tưởng và những giá trị của cách mạng Tháng Mười Nga, những thành quả và giá trị nhân văn tốt đẹp mà hơn 70 năm nhân dân Liên Xô bằng xương máu của mình đã tạo dựng nên. Tuyệt nhiên đó không phải là dập khuôn máy móc, làm theo một mô hình đã lạc hậu, cùng những sai lầm mang tính hệ thống trong cải tổ, không phải là “đi theo vết xe đổ của Liên Xô” như sự công kích của các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị rêu rao.
Thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã chứng minh tính đúng đắn cho sự lựa chọn của Đảng và nhân dân ta. Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời rút ra được những bài học quý báu từ sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, vận dụng một cách linh hoạt vào điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế của thời đại nên cách mạng Việt Nam đã từng bước thoát ra khỏi khủng hoảng và ngày càng vững bước đi lên. Thành tựu đó được thể hiện: Kinh tế ngày càng phát triển, nhân dân có cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc; môi trường chính trị luôn giữ vững sự ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững; văn hóa – xã hội ngày càng phát triển; đối ngoại được mở rộng và đi vào chiều sâu, vị thế của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế. Việt Nam vẫn luôn là hình mẫu để nhiều nước đang và chậm phát triển noi theo.

Tất cả những thành tựu đạt được trên đã chứng tỏ rằng sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với quy lật của lịch sử. Những luận điệu tuyên truyền trên đều là những lời vu khống vô căn cứ khoa học, đều là những lời hằn học, thù địch sớm muộn chúng cũng sẽ nhận lấy những thất bại.