Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ tịch Hồ Chí Minh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2023

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và của dân tộc ta. Bàn về những thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Về phần chúng tôi, chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn như đồng chí đã biết… chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác - Lênin”[1].

Ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX, Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội xét lại Trotsky và những phần tử Trotskyist phá hoại phong trào cách mạng vô sản thế giới nói chung và phong trào cách mạng Việt Nam nói riêng. Khi thế giới xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, xét lại chống lại chủ nghĩa Mác cũng như phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hội nghị lần thứ chín của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) tháng 12/1963 đã thảo luận và thông qua nghị quyết về “tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng”. Nghị quyết phân tích đặc điểm tình hình thế giới, nội dung và tính chất của thời đại, về chiến lược và sách lược, phương pháp đấu tranh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và nêu rõ trách nhiệm của Đảng phải bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa biệt phái trong phong trào cộng sản quốc tế. Đảng cũng đồng thời chỉ rõ một số cán bộ, đảng viên đã nhận thức và hành động trái với quan điểm của Đảng, có người được cử đi học và tìm cách ở lại nước ngoài và rời bỏ Đảng. Số đó tuy rất ít nhưng đã ảnh hưởng nghiêm trong đến uy tín của Đảng. Do đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định, đánh giá những biểu hiện tiêu cực trong nội bộ Đảng kể từ khi chúng còn manh nha để kịp thời nhắc nhở, cảnh tỉnh và điều chỉnh đội ngũ cán bộ, đảng viên; trên tinh thần đó, khẳng định sự trung thành và kiên định trong việc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đến cuối thập niên 80, đầu thập niên 90, chế độ chủ nghĩa xã hội tại Liên Xô - thành trì của chủ nghĩa xã hội hiện thực rơi vào khủng hoảng và sụp đổ kéo theo sự tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Nhận thấy những diễn biến tiêu cực của các Đảng Cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đảng khẳng định, tính chất của công cuộc đổi mới ở Việt Nam không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội cùng những bước đi và biện pháp thích hợp và “Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”[2]. Điều này cho thấy bản lĩnh và quyết tâm rất lớn của Đảng trong việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, bất chấp mọi sự chống phá của các thế lực thù địch.

Từ chỗ Đảng ta khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là “cái cốt của Đảng”, “cái gốc của Đảng” trở thành “nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng” và đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991), Đảng bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh vào nền tảng tư tưởng của Đảng trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, kể từ đây, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính thức giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn ráo riết thực hiện âm mưu và thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” hòng xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, thủ tiêu chế độ XHCN ở Việt Nam. Vì thế, trong mỗi tiến trình lãnh đạo đất nước, Đảng tiếp tục ban hành những chỉ đạo cụ thể nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch như: Nghị quyết số 01-NQ/TW ngày 28/3/1992 “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”; Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18/2/1995 “Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay”. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII diễn ra tháng 01/1994, Đảng nhận định “Diễn biến hòa bình” là một trong bốn nguy cơ lớn đối với con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Đến Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Đảng vạch rõ những âm mưu thâm độc của các lực lượng thù địch khi thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, nhất là trên mặt trận văn hóa - tư tưởng, nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tại Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta chỉ rõ đã có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”[3]. Lỗ hổng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đại hội XII của Đảng (01/2016), Đảng ta tiếp tục khẳng định: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ trọng yếu, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân và chế độ XHCN. Đặc biệt, sự ra đời của Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” đưa việc lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lên một tầm nhiệm vụ trọng yếu. Nghị quyết xác định rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Và đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng, vấn đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được đặt lên hàng đầu trong quan điểm chỉ đạo của Đảng: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[4].

Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã giành được độc lập, thống nhất đất nước và tiến hành công cuộc đổi mới thu được những thành tựu làm thay đổi căn bản đời sống xã hội, được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Song, chính những thắng lợi vẻ vang đó trong suốt hành trình hơn 93 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng cũng đồng thời là cái gai trong mắt các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, thôi thúc chúng càng điên cuồng chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng không ngừng ráo riết thực hiện các âm mưu diễn biến hòa bình nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chuyển hóa chế độ chính trị và xóa bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, HN, 2011, t.15, tr.589-590

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 49, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.591

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội., tr 28

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.109

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

NÊU GƯƠNG THEO BÁC ĐỂ NÂNG CAO BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ, NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT VÀ UY TÍN VỚI NHÂN DÂN

Học tập và làm theo Bác để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phẩm chất, uy tín của mình. Do đó, cần bồi dưỡng, giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Thường xuyên bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng đạo đức, lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho từng cán bộ, đảng viênvà người dân, nhất là thế hệ trẻ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận, năng lực tổng kết và chỉ đạo thực tiễn để giải quyết hiệu quả những vấn đề đang đặt ra của mỗi cán bộ, đảng viên; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả trong công tác tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

BÁC HỒ - CẢ MỘT ĐỜI VÌ NƯỚC, VÌ NON

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói:

Người không có gia đình riêng. Gia đình của Người là Tổ quốc và Nhân dân! Cho nên, Hồ Chí Minh mãi mãi là tấm gương về nhân cách một con người thời đại cho mọi thế hệ tiếp sau.

Giáp tết âm lịch 1951, Bác đến thăm Văn phòng phủ Thủ tướng đang ở bản Vèn (Bắc Cạn). Trong lúc mọi người đang quây quần nói chuyện, bỗng một đồng chí đứng dậy xin phép phát biểu: "Thưa Bác, tại sao Bác không lập gia đình?", Bác trả lời: "Bác cũng là người như các chú, Bác cũng muốn có đời sống gia đình đầm ấm. Nhưng các chú xem hoàn cảnh của Bác không cho phép Bác lập được gia đình, đó là điều thiệt thòi cho Bác mà Bác đâu có muốn thế!", rồi Bác cười: "Bây giờ thì muộn rồi. Bây giờ gia đình Bác là tất cả các cô, các chú, là tất cả bà con đồng bào. Không có gia đình riêng thì Bác lấy gia đình chung làm cái vui của Bác..."

Nữ sử gia người Mỹ J. Stension đã tự bỏ tiền túi ra đi vòng quanh thế giới, theo dấu chân Nguyễn Ái Quốc và tìm được khá nhiều tư liệu gốc về những năm tháng Người bôn ba ở nước ngoài. Đặc biệt bà cũng rất chú ý thu thập thông tin về người yêu của anh Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh? Và cuối cùng bà kết luận: "Người ta thấy Bác Hồ là một người cũng như mọi người: Cũng có khát vọng tình yêu, cũng mong muốn có mái ấm gia đình. Nếu ai đó cho rằng những điều nhỏ bé này làm Bác Hồ kém vĩ đại đi là không đúng, vì chính những cái đó làm cho Bác càng thêm vĩ đại, nhất là trong thời buổi hiện nay, một số đông người đã tha hoá do chạy theo cuộc sống hưởng thụ vật chất, bất chấp cả nhân phẩm đạo đức, coi sự hưởng thụ là mục đích của cuộc sống... Cho nên, Hồ Chí Minh mãi mãi là tấm gương về nhân cách một con người thời đại cho mọi thế hệ tiếp sau”.

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2022

NHÂN DÂN ĐÓNG VAI TRÒ CHỦ THỂ, VỊ TRÍ TRUNG TÂM TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết toàn dân tộc. Trong hệ thống tư tưởng của Người, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, vận dụng thành công trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng của Người về đại đoàn kết toàn dân tộc thể hiện rõ quan điểm, lập trường, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, được cụ thể hóa thành những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, quy tụ và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, tổ chức lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế nhằm phát huy cao nhất sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người chỉ rõ, sức mạnh lớn nhất là ở Nhân dân, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, đoàn kết được Nhân dân sẽ tạo ra sức mạnh to lớn nhất. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Người căn dặn: Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”.

Kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, kiên trì và nhất quán quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra chế độ xã hội mới, là chủ nhân của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Ngay sau đại thắng Mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan điểm đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng, đưa lên nhiệm vụ hàng đầu. Cùng với việc thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, ngày 24/5/1976, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định thống nhất các đoàn thể nhân dân và các tổ chức Mặt trận dân tộc trong cả nước (Các tổ chức Mặt trận là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam). Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận cả nước được tổ chức trọng thể tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 31/1 đến ngày 4/2/1977, quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đánh dấu bước phát triển lớn mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trên phạm vi cả nước, mở ra một thời kỳ hoạt động mới của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, góp phần tích cực vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của dân tộc.

Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Muốn đưa vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, xây dựng chế độ làm chủ tập thể là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động, có tổ chức mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Quan điểm này đã được Đại hội V của Đảng khẳng định: Thành công rực rỡ của Đảng và nhân dân ta đã nhanh chóng thống nhất đất nước về mặt nhà nước, triển khai thực hiện nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt, tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là Nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình chủ yếu bằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo cuả Đảng. Tăng cường Nhà nước là vấn đề cấp bách để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

Tại Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, có nhiều quan điểm, chủ trương đổi mới đề cập trực tiếp đến vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc như: “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Đại hội VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước, trong đó nhấn mạnh hai bài học kinh nghiệm về đoàn kết dân tộc: (1) Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…; (2) Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đến Đại hội VIII, Văn kiện Đại hội một lần nữa khẳng định: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”. Đại hội IX nhấn mạnh: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội. Đại hội X chỉ rõ, nhiệm vụ phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đưa vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một trong bốn thành tố của chủ đề Đại hội; coi đó là “nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Tiếp tục khẳng định quan điểm của các nhiệm kỳ đại hội trước, Đại hội XI chỉ rõ: Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân...”3. Đại hội XII nhấn mạnh yêu cầu trong giai đoạn cách mạng hiện nay là phải “tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung một số nội dung, phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”. Khẳng định “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm” của Nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc; sự lãnh đạo của Đảng là ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

THẤM NHUẦN LỜI DẶN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT

Đoàn kết trong Đảng là sức mạnh, làm nên sức mạnh của Đảng, song như Hồ Chí Minh đã nói, muốn quy tụ được cả dân tộc, Đảng cách mạng phải trong sạch, vững mạnh, đoàn kết thống nhất, “vừa là đạo đức, vừa là văn minh”, phải “tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại”. Tiên phong về trí tuệ, vững vàng về bản lĩnh chính trị, mẫu mực về đạo đức cách mạng; đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và hành động của Đảng là yêu cầu khách quan, là nguyên tắc sống còn và đó là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng càng được củng cố thì sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc càng được tăng cường. Đảng đoàn kết, dân tộc đại đoàn kết sẽ nhân nguồn sức mạnh nội lực để đưa sự nghiệp cách mạng Việt Nam đến thắng lợi hoàn toàn và nội dung này đã được khẳng định trong Văn kiện các kỳ đại hội của Đảng.

Thực hiện lời dặn của Người, nhất là trong hơn 30 năm tiến hành đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng đã luôn coi việc giữ gìn đoàn kết nhất trí trên cơ sở đường lối chính trị và các nguyên tắc xây dựng Đảng là sinh mệnh của Đảng; đã kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, gây mất đoàn kết trong Đảng. Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng đều nhấn mạnh vai trò của đoàn kết, coi đoàn kết thống nhất trong Đảng, trước hết là ở cơ quan lãnh đạo có ý nghĩa quyết định sự thành công của cách mạng.

Theo đó, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền phải có phẩm chất đạo đức, có vai trò tiên phong, gương mẫu và năng lực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; phải thực sự công bằng, công tâm trong xử lý công việc, thực sự là trung tâm quy tụ, đoàn kết của tổ chức Đảng, của tập thể cơ quan, đơn vị sẽ góp phần vào việc xây dựng và củng cố khối đoàn kết thống nhất trong nội bộ. Đồng thời, phải chú trọng và kịp thời phát hiện, tập trung xử lý dứt điểm tình trạng mất đoàn kết từ khi những biểu hiện này mới manh nha; chủ động, cảnh giác và đấu tranh không khoan nhượng với việc lợi dụng những mâu thuẫn trong nội bộ để kích động, chống phá, phá hoại khối đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và hoạt động theo quy định; mỗi tổ chức Đảng phải giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong tập thể lãnh đạo, trong nội bộ trên tình đồng chí thương yêu lẫn nhau…

Đối với những cấp ủy, tổ chức Đảng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, không thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, kiểm tra, giám sát; cán bộ lãnh đạo thiếu rèn luyện đạo đức cách mạng, sa vào cá nhân chủ nghĩa: độc đoán, chuyên quyền, kéo bè, kéo cánh, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ thì phải kịp thời tiến hành kiểm điểm làm rõ đúng sai, xử lý nghiêm những người có khuyết điểm, để củng cố sự đoàn kết thống nhất; phải kịp thời báo cáo lãnh đạo cấp trên…

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” gắn với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XI, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và các Quy định, Điều lệ Đảng,v.v.. cho thấy, vẫn còn một số tổ chức Đảng có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở, không thống nhất giữa nói và làm. Trong khi đó, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ xuất hiện ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty...

Không chỉ dừng ở đó, Nghị quyết còn đồng thời nhấn mạnh và chỉ ra 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay trong tổng số 27 biểu hiện suy thoái. Cụ thể, một trong những biểu hiện đó là việc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành… Thực trạng này có biểu hiện kéo dài, chậm được khắc phục, thậm chí còn có xu hướng gia tăng không chỉ ở địa bàn cơ sở. Không ít tổ chức Đảng chưa tôn trọng và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát. Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật, Điều lệ Đảng và quy định về những điều đảng viên không được làm, quy định về việc nêu gương ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực còn chưa nghiêm. Những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gia tăng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ cấp cao; những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, “lợi ích nhóm”, cục bộ địa phương, tha hóa quyền lực… chưa được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, dẫn đến sự đoàn kết thống nhất trong tư tưởng và hành động của một số cấp ủy còn yếu.

Trong khi đó, tác động của bối cảnh toàn cầu hóa với những thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn đan xen; với nhiều diễn biến nhanh chóng, khó lường và phức tạp càng đòi hỏi Đảng phải có quyết tâm chính trị cao, sự đoàn kết thống nhất chặt chẽ để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ. Hơn lúc nào hết, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng càng phải được thể hiện rõ, phải được khẳng định trong thực tiễn để làm cơ sở cho khối đại đoàn kết dân tộc, góp phần phòng và chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phòng và chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Bằng phương pháp tiếp cận khoa học, sáng tạo, sát thực tiễn đất nước, Hồ Chí Minh, luôn trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo các nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người đã bổ sung nhiều luận điểm góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, xây dựng được một hệ thống lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ giá trị thực tiễn của việc nghiên cứu, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh.

Trước hết, về mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở các nước tư bản và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Từ luận điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin: Cách mạng vô sản sẽ nổ ra và giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển; cách mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một số nước, thậm chí là một nước riêng lẻ của chủ nghĩa đế quốc và cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở chính quốc cần phải liên minh với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở các thuộc địa. Người đã phát triển thêm một bước nhận thức lý luận khi cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có quan hệ chặt chẽ với cách mạng chính quốc, nhưng không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng chính quốc. Nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có thể giành thắng lợi trước cách mạng chính quốc và qua đó, thúc đẩy cách mạng chính quốc.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp tại Việt Nam. Từ thực tiễn Việt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, Người xác định con đường cách mạng vô sản tại Việt Nam phải là cách mạng giải phóng dân tộc rồi mới đến cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong Chính cương vắn tắt của Đảng năm 1930, Người khởi thảo: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Nhận thức lý luận đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam và nguyện vọng của quảng đại quần chúng nhân dân.

Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển một cách sáng tạo lý luận Mác - Lênin về đảng cộng sản vào việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam. Người xác định, Đảng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Đảng mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Người đã dày công xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; quan tâm giáo dục, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, mỗi cán bộ, đảng viên “phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển lý luận Mác - Lênin về tập hợp, xây dựng lực lượng cách mạng. Người khẳng định, động lực cơ bản của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta là đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ đó để quy tụ, tập hợp sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của các lực lượng yêu nước với thế trận chiến tranh nhân dân để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do và đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vào việc xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dựa trên nguyên tắc pháp quyền. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sau khi cách mạng vô sản thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ thiết lập nên nền chuyên chính vô sản. Trên nền tảng đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển một hệ thống các quan điểm sáng tạo về nhà nước kiểu mới: Tất cả mọi quyền lực đều là của nhân dân, một nhà nước của nhân dân, chính quyền từ xã đến chính phủ Trung ương do nhân dân cử ra; đoàn thể từ Trung ương đến xã do nhân dân tổ chức nên, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật, thể hiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.

Thứ sáu, Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy quan điểm Mác - Lênin làm nền tảng để phát triển tư duy, lý luận về văn hóa, đạo đức và quan hệ quốc tế trong tiến trình cách mạng Việt Nam: Về văn hóa, xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa có tính dân tộc đó là củng cố, phát huy và khắc phục những thiếu hụt những giá trị văn hóa truyền thống, sáng tạo những giá trị văn hóa mới; về đạo đức cách mạng: Trung với nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng; về đoàn kết quốc tế: kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để hoàn thành sự nghiệp cách mạng nước nhà, đóng góp cho phong trào cách mạng thế giới.

Những luận điểm sáng tạo về tư duy lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nỗ lực tìm tòi, khám phá không ngừng, bằng trí tuệ mẫn tiệp, kết hợp hài hòa giữa kinh nghiệm thực tiễn với nghiên cứu, lý luận. Thực tiễn biến đổi không ngừng, vì vậy, lý luận phải không ngừng vận động và phát triển để phù hợp với thực tiễn./.

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

“VŨ KHÍ TỐT MÀ TINH THẦN HÈN, THÌ CŨNG VÔ DỤNG”

Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Máy bay “phản lực” phản Mỹ”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 2135, ngày 04 tháng 8 năm 1952.

Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt; với sự giúp sức của các đồng minh, thực dân Pháp tập trung huy động và đưa vào chiến trường Đông Dương các loại vũ khí trang bị hiện đại nhằm cứu vãn tình thế bất lợi đối với quân đội Pháp đang diễn ra trên chiến trường. Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra đối với Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xây dựng và phát huy tốt nhân tố chính trị, tinh thần cho quân và dân ta, quyết tâm đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.

Lênin đã chỉ rõ: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”[2]. Tuy nhiên, nhân tố chính trị, tinh thần không phải tự nhiên mà có, nó là sản phẩm của truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, của tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, hình thành từ nhận thức sâu sắc về tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố chính trị, tinh thần đã góp phần làm chuyển hóa lực lượng, tạo thế và lực, kết nối tất cả các nguồn lực, các nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân và dân ta, là sức mạnh của cả dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm xưa vẫn vẹn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đặc biệt, thực hiện phương hướng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, cùng với việc huấn luyện làm chủ các loại vũ khí, trang bị hiện đại, cần phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chăm lo xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần; giáo dục, rèn luyện cho bộ đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và quan điểm “vũ khí luận”, tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, coi nhẹ sức mạnh nhân tố chính trị tinh thần.

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

XUYÊN TẠC CUỘC ĐỜI CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG

Hiện nay, bọn phản động đưa ra những tin tức, sự mô phỏng, thậm chí cả những điều bọn chúng khẳng định như là chắc chắn. Chúng đưa ra những sự kiện, tư liệu, thậm chí cả phim ảnh. Mà đây là những sự thiết kế rất là giả tạo, lắp ghép sự kiện, đánh lẫn lộn với bản chất, lẫn lộn giữa cái thật với cái giả để cố tình xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chúng ta biết một điều rất rõ ràng rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đời mình với dân với nước. Khi ra đi, ta để ý trên ngực áo của Người trống không, không một tấm huân chương. Người nói: "Hoãn việc trao huân chương cho Bác lại, đợi đến khi miền Nam giải phóng. Đồng bào miền Nam được Quốc Hội cho phép, thay mặt cả nước gắn huân chương cho Bác cũng chưa muộn". Cho nên những sự xuyên tạc, bôi bác, bỉ ổi đó, không đánh lừa được thiên hạ.

Nhưng mà điều này cũng cảnh báo chúng ta, phải rất chú trọng giáo dục cho lớp trẻ. Vì các em, các cháu nó sinh sau, nó không biết được quá khứ, cho nên chúng ta không được để đứt đoạn trong quá trình phát triển của chúng ta bởi vì trong thời buổi nhiễu loạn thông tin thế này. Con người ta chìm ngập chết đuối trong thông tin. Mà vẫn luôn đói khát về trí tuệ. Tức là những thông tin chân chính đích thực. Mà nếu nói một cách tổng quát, người ta coi Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, lại là nhà văn hóa kiệt xuất ở tầm danh nhân văn hóa. Và chỉ riêng điều đó thôi đã thấy Người đã để lại cho dân tộc, và cho cả thế giới nhân loại này những đóng góp vĩ đại như thế nào.

Sự xuyên tạc của kẻ thù rất thâm độc ở chỗ, chúng muốn tách rời Chủ tịch Hồ Chí Minh khỏi Đảng, muốn đối lập Bác Hồ với Đảng ta. Và chúng đưa ra một điều là Đảng cũng suy yếu. Nhất là chúng muốn xóa bỏ giá trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh để sâu xa ra là muốn đánh đổ chế độ này. Và làm cho Nhân dân ta trở lại cuộc sống bị đọa đầy áp bức. Mà thành quả cách mạng này là tốn bao nhiêu xương máu giành được.

Không bao giờ chúng ta được mơ hồ mất cảnh giác về điều đó./.

Thứ Ba, 23 tháng 3, 2021

“NẾU KHÔNG HẾT LÒNG HẾT SỨC PHỤNG SỰ NHÂN DÂN, TỰ KIÊU, TỰ ĐẠI, TỰ TƯ TỰ LỢI, NHƯ THẾ LÀ TRÁI VỚI CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN”

Lời nói trên của Bác được trích trong buổi nói chuyện tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc vào ngày 23 tháng 3 năm 1956, trong thời điểm miền Bắc nước ta vừa bước vào hòa bình, thống nhất, xây dựng nước nhà công tác giáo dục hết sức khó khăn. Trong bối cảnh đó, có tư tưởng lo ngại rằng chủ nghĩa Mác - Lênin bó buộc tư tưởng, bó buộc giáo dục. Bác đã giải thích, làm rõ những tư tưởng lo ngại không đúng về chủ nghĩa Mác - Lênin,“Nếu không hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi, như thế là trái với chủ nghĩa Mác - Lênin”. Chủ nghĩa Mác - Lênin soi phương hướng, đường lối cho chúng ta đi. Có phương hướng đúng thì làm việc mới đúng. Hết lòng hết sức phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc, bất kỳ việc to việc nhỏ cũng nhằm mục đích ấy; đó là chủ nghĩa Mác - Lênin không có gì cao xa. Muốn phát triển giáo dục phải có kế hoạch lâu dài, phải cố gắng, phải quyết tâm thì chiến thắng được mọi khó khăn.

Thực hiện lời nói của Bác trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng để hoạch địch chủ trương, đường lối lãnh đạo đất nước, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, hết sức phụng sự nhân dân là điều cao quý nhất. Người đã nhiều lần nói, được phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng và cách mạng là cao quý hơn cả…trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Việc xác định rõ vai trò của nhân dân chính là định hướng cho sự phát triển bền vững của Đảng, Nhà nước. Tất cả mọi việc đều hướng tới lợi ích của dân, cho dân và vì dân. Chỉ khi tầng lớp nhân dân có được đời sống thực sự ấm no, hạnh phúc thì đất nước mới có được sức mạnh hùng cường, mới có thể bước tới đài vinh quang. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên công chức phòng chống biểu hiện tự kiêu, tự đại, tự tư tự lợi đều phải quyết tâm hết lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Nếu chúng ta nhận thức đúng sẽ mở đường cho hành động đúng và nếu nhận thức sai sẽ dẫn đến hành động sai.

Thứ Hai, 22 tháng 3, 2021

“QUỐC HỘI TA DO TOÀN DÂN TỰ DO BẦU CỬ, LÀ ĐẠI BIỂU CHÂN CHÍNH CỦA NHÂN DÂN CẢ NƯỚC TỪ BẮC ĐẾN NAM”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Bác nói vào ngày 22 tháng 3 năm 1955, khi Ngô Đình Diệm được sự hậu thuẫn của Mỹ đang ra sức phá hoại việc thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ và lập nên “Quốc hội lâm thời”, gồm 247 người chủ yếu không thông qua bầu cử ở miền Nam Việt Nam. Từ đó, Bác đã làm rõ về Quốc hội ta, được thành lập trong những năm chiến tranh chống xâm lược, do toàn dân tự do bầu cử, là đại biểu chân chính của nhân dân cả nước từ Bắc đến Nam. Quốc hội ta đã sát cánh cùng với Chính phủ và nhân dân chịu đựng gian khổ, vượt mọi khó khăn, dũng cảm hy sinh, đưa kháng chiến đến hoàn toàn thắng lợi. Nay trong hoàn cảnh hòa bình, trước tình hình mới và nhiệm vụ mới, Quốc hội ta lại cùng nhân dân và Chính phủ khắc phục những khó khăn, phát triển những thuận lợi mới, để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

Là đại biểu chân chính của Nhân dân, Quốc hội thực hiện quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện quyền lực của Nhân dân. Chỉ có Quốc hội mới có quyền thể chế ý chí, nguyện vọng của Nhân dân thành luật, thành các quy định chung mang tính bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi tầng lớp dân cư trong xã hội. Hiến pháp giao cho Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong những dịp toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đều hăng hái tích cực tham gia bầu cử, chọn lựa những người xứng đáng vào cơ quan quyền lực Nhà nước và ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng Nhân dân thật sự là ngày hội của toàn dân.

Thứ Ba, 16 tháng 3, 2021

“DÂN TA YÊU TỰ DO, ĐỘC LẬP, TRỌNG HÒA BÌNH, TÍN NGHĨA”

Ngày 16 tháng 3 năm 1946, tại Hà Nội, trước sự chứng kiến của đại diện các nước Trung Hoa dân quốc, Mỹ và Anh, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân ký bản Hiệp định sơ bộ với Chính phủ Cộng hòa Pháp. Theo đó, Chính phủ Cộng hòa Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính của riêng mình và là một phần tử trong Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp; Việt Nam chấp nhận cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc, thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội phát xít Nhật Bản, sau đó sẽ phải rút hết trong 5 năm. Sự chấp nhận và nhân nhượng có nguyên tắc của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở một tình thế cụ thể đã làm cho cục diện quan hệ Trung Hoa dân quốc - Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Cộng hòa Pháp thay đổi. Nhân dân Việt Nam có thêm thời gian hòa bình để chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến mà theo nhận định của Đảng và Nhà nước thì tất yếu sẽ xảy ra.

Mặc dù bản Hiệp định sơ bộ tạo cơ sở pháp lý quốc tế cho cuộc đấu tranh ngoại giao của Việt Nam, nhưng dư luận các đảng phái quốc gia và thân nước ngoài như Việt Cách, Việt Quốc vẫn lên tiếng phản đối, một bộ phận nhân dân còn băn khoăn. Trước tình hình đó, ngày 16 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Lời kêu gọi nhân dân thi hành đúng Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp với lòng mong muốn: “Quốc dân giữ lòng kiên quyết nhưng bình tĩnh, các báo thì bình luận một cách chính đáng, những lời lẽ nên cân nhắc... Chúng ta phải tỏ cho họ biết rằng “dân ta yêu tự do, độc lập, trọng hòa bình, tín nghĩa”. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày vắn tắt lập trường, đường lối chính trị của Đảng, Chính phủ trước đồng bào cả nước, và động viên đồng bào cần phải biết chịu đựng hy sinh để mưu tính sự nghiệp lớn.

Trong thời điểm ngặt nghèo của dân tộc, việc ký Hiệp định sơ bộ là một quyết định sáng suốt, một mẫu mực sách lược trong đấu tranh ngoại giao, tận dụng thời cơ, nhân nhượng có nguyên tắc của Đảng và Nhà nước ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.

Ngày nay, đất nước Việt Nam đã hoàn toàn độc lập, thống nhất và vững bước trên con đường đổi mới và hội nhập, mở rộng và phát triển đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Lịch sử quan hệ Việt - Pháp sau những thăng trầm, quanh co của lịch sử đã được khép lại, và mở ra một chương mới với tình hữu nghị, hợp tác và phát triển. Những bài học thực tiễn trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước là cơ sở vững chắc để một dân tộc luôn yêu tự do, hòa bình và công lý, cùng nhau kiên trì, đồng tâm bảo vệ nền độc lập, thống nhất quốc gia, cũng như trong công cuộc xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2021

LỜI DẶN CỦA BÁC VÀ BẢN SẮC MANG TÊN PHỤ NỮ VIỆT NAM

Trong thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ, Hồ Chủ tịch viết: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Nếu có một đề từ ngợi ca phụ nữ Việt Nam mang tính khái quát cao nhất, sinh động nhất, đẹp đẽ nhất thì đó chính là lời Hồ Chủ tịch đã viết trong thư gửi phụ nữ Việt Nam nhân dịp kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Quốc tế Phụ nữ: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cùng già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”.

Trong suốt hành trình của 79 năm tận hiến, trong cái “ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” thì giải phóng cho phụ nữ thật sự là một cuộc cách mạng. “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ mới một nửa” (bài nói chuyện của Hồ Chủ tịch tại hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959). Người khẳng định nam nữ bình quyền - “đó là một cuộc cách mạng khá to và khó”.

Bởi tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu thành tập quán, từ đó dẫn tới những hệ lụy xã hội nặng nề khác mà chính người phụ nữ, dù muốn, cũng không dễ thoát khỏi cái bóng định kiến bao phủ.

Ở con người-Ái-Quốc vĩ đại ấy, bậc văn nhân tầm vóc ấy, không phải chỉ đợi đến sau bao năm bôn ba nước ngoài, hấp thụ những tinh hoa văn minh, tiến bộ thì Người mới dành một sự tôn trọng bình quyền nam nữ mà trong mạch ngầm văn hóa dân tộc, Bác đã thấu cảm đức hy sinh, sức mạnh vô bờ của người phụ nữ Việt Nam. Đi qua những cuộc kháng chiến trường kỳ, sức mạnh ấy, lòng hy sinh không bờ bến ấy càng bền bỉ, thủy chung. Chính vì vậy, với Người, tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc cũng là thực hiện cuộc cách mạng giải phóng người phụ nữ khỏi những tự ti, định kiến, áp bức tăm tối, đưa họ đến vùng ánh sáng của tự do, tiến bộ, tự chủ.

Một điểm đặc biệt văn minh trong tư tưởng của Hồ Chủ tịch về thực hiện bình quyền, đó chính là Người luôn đặt ra yêu cầu về sức mạnh tự thân của người phụ nữ. Muốn được giải phóng, trước hết chính chị em phải là người có nhận thức, có nhu cầu và khát khao tự do ấy. Từ đó, họ hành động trong sự tự chủ về lao động, về học tập, về chăm lo hạnh phúc cho mình và gia đình, xã hội. Người căn dặn: "Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh” (năm 1959). Hay “bản thân chị em phụ nữ phải có chí tự cường tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình” (năm 1960), “phụ nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật” (năm 1961).

Tháng 5/1968, trong Di chúc, Người cũng để lại những dòng di huấn cho chị em phụ nữ, Người ân cần căn dặn "Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ".

Kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Người, biết ơn một cuộc đời đã hy sinh trọn vẹn cho non sông đất nước cũng là để nhìn lại hành trình “tự cường, tự lập, nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ thuật” đã và đang ở những cột mốc nào. Kết nối, liên hiệp sức mạnh xã hội để cùng nhau hoàn thành sự nghiệp bình đẳng giới; tự tin, mạnh mẽ mà vẫn dịu dàng, nhân hậu nuôi dưỡng và truyền trao "tự cường, tự lập" trong mỗi bản thể và cho toàn thể - kết tinh thành bản sắc giới mang tên Phụ nữ Việt Nam. 

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2021

NHỚ LỜI BÁC DẠY!

“Đồng bào các dân tộc và cán bộ, chiến sĩ Việt Bắc đã luôn luôn nêu cao truyền thống đoàn kết, trung dũng của khu căn cứ cách mạng”.

Đó là lời khen của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi quân và dân Quân khu Việt Bắc trong những ngày tháng đầu năm 1968: “… Thân ái gửi đồng bào và chiến sĩ Quân khu Việt Bắc, Đến ngày 14-1-1968, quân và dân Quân khu Việt Bắc đã bắn rơi 300 máy bay Mỹ, góp phần vào chiến công vẻ vang của quân và dân miền Bắc bắn rơi hơn 2.700 máy bay Mỹ. Đồng bào các dân tộc và cán bộ, chiến sĩ Việt Bắc đã luôn luôn nêu cao truyền thống đoàn kết, trung dũng của khu căn cứ cách mạng”, đăng trên Báo Nhân dân, ngày 22 tháng 1 ngăm 1968; trong bối cảnh cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ đã và đang bị quân và dân ta trên phạm cả nước đánh tan từng bước, đánh đổ từng bộ phận. Lực lượng kháng chiến của nhân dân ta phát triển nhanh chóng, miền Bắc xã hội chủ nghĩa đang tỏ rõ là hậu phương vững chắc của tuyền tuyến miền Nam.

Trong thư, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận công lao đóng góp to lớn của quân và dân Quân khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm suốt nhiều năm qua. Người kêu gọi Quân khu Việt Bắc hãy cố gắng hơn nữa, đoàn kết cùng quân và dân cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Lời của Người đầu năm 1968 đã được Quân khu Việt Bắc hào hứng đón nhận, nhanh chóng chuyển hóa vào hoạt động thực tiễn. Thực hiện lời của Người, Quân khu Việt Bắc đã đoàn kết thi đua, tiếp tục lập nên nhiều chiến công, thành tích vẻ vang, cùng quân và dân cả nước góp sức thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Hiện nay, các tỉnh thuộc Quân khu Việt Bắc năm xưa vẫn là địa bàn chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tiếp nối truyền thống cách mạng trong kháng chiến, trong những năm tháng của thời kỳ đổi mới, quân và dân các tỉnh thuộc Chiến khu Việt Bắc đã vững vàng vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ của đảng bộ tỉnh đặt ra; bộ mặt đô thị, nông thôn từng bước được khởi sắc; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày một cải thiệt và nâng cao.

Trong giai đoạn cách mạng mới, lực lượng vũ trang của các tỉnh tiếp tục được củng cố, xây dựng; triển khai thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc; chủ động ứng phó linh hoạt, xử lý kịp thời, hiệu quả với các tình huống thiên tai, bão lũ cháy rừng… luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương tin tưởng.

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2020

“GIA ĐÌNH LÀ HẠT NHÂN CỦA XÃ HỘI”

Đây là câu nói trích trong bài viết “Phải thật sự bảo đảm quyền lợi của phụ nữ” Hồ Chí Minh viết, đăng trên Báo Nhân dân, số 3199, ngày 28 tháng 12 năm 1962.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vai trò của gia đình, bởi theo Bác nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình. Vậy nên, quan tâm đến gia đình nhỏ trước tiên là phải thực hiện nam - nữ bình quyền. Với quan điểm đó, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, vấn đề gia đình đã được Hiến pháp đầu tiên của nước ta thông qua với nhiều điểm tiến bộ. Trong quan hệ gia đình, nam - nữ bình đẳng như nhau, chế độ hôn nhân được pháp luật quy định là một vợ một chồng...

Trải qua các thời kỳ lịch sử, quan hệ gia đình ngày càng được củng cố, hoàn thiện, góp phần thúc đẩy việc hình thành và từng bước hoàn thiện quyền dân chủ trong quan hệ gia đình ở Việt Nam, trở thành môi trường tốt để giáo dục nhân cách con người, là cơ sở để xây dựng đời sống mới của xã hội mới, trở thành hạt nhân của xã hội Việt Nam.

Nhận thức gia đình có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển của đất nước, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn quan tâm công tác chăm lo xây dựng gia đình bằng nhiều chủ trương, chính sách cụ thể: Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Chỉ thị 49-CT/TW, ngày 21 tháng 02 năm 2005 về “Xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước”; ngày 29 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 629/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” với mục tiêu hướng tới là xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, XII Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội. Như vậy, gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội, mà còn là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nên nhân cách con người. Gia đình giữ vai trò đặc biệt quan trọng tới số lượng, chất lượng dân số và cơ cấu dân cư của quốc gia. Gia đình không chỉ dừng lại ở việc duy trì nòi giống, mà quan trọng hơn, gia đình phải trở thành môi trường tốt, đầu tiên để giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách con người.

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2020

MỘT BIỂU HIỆN SUY THOÁI

Trong Di chúc trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Thật không thể chấp nhận những người đứng trong tổ chức, trước khuyết điểm, sai phạm của người khác chẳng những không phê bình chân thành và đấu tranh thẳng thắn, làm rõ vi phạm, khuyết điểm của đồng chí mình theo đúng kỷ luật, pháp luật, thông qua các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể mà lại “ném đá giấu tay”, tiếp tay cho “truyền thông đen”, thậm chí cho các thế lực thù địch.

Đây cũng chính là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng ta đã chỉ ra: “... Lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau, hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng”.

Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị về “Xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm” đã nêu cụ thể một số hành vi vi phạm kỷ luật liên quan đến mạng xã hội. Đó là: “Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng”.

Chúng ta từng chứng kiến những bài học đau xót khi những cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, “chơi dao đứt tay” và phải trả giá rất đắt vì tiếp tay cho “truyền thông đen”. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XII vào năm 2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) đã nhắc đến trường hợp Trịnh Xuân Thanh và cảnh báo: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.

Theo kết luận từ cơ quan chức năng, từ chỗ coi thường kỷ luật của Đảng, khi bị xử lý, Trịnh Xuân Thanh viết đơn xin ra khỏi Đảng, công khai tuyên bố không còn tin ở lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trốn đi nước ngoài và tiếp tay cho các đối tượng phản động để chúng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước. Đây là một trường hợp vi phạm điển hình, một bài học đắt giá mà mỗi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên cần suy ngẫm.

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA

- Là “nhà văn hóa lớn kiệt xuất trên thế giới”, qua nghiên cứu, tích lũy trong cuộc đời bôn ba khắp 4 phương trời, ngay từ năm 1943, trong những trang cuối của cuốn Nhật ký trong tù, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một định nghĩa đầy đủ về văn hóa. Người viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn".  Điều thú vị là định nghĩa văn hóa của UNESCO mãi sau này mới có, có nội dung cơ bản giống như định nghĩa văn hóa do Hồ Chí Minh nêu ra từ năm 1943.

Trong những bài viết trước cách mạng Tháng Tám, Người đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản nhất của nền văn hóa Việt Nam là “dân tộc, khoa học, đại chúng”, bao quát cả truyền thống và cách mạng của nền văn hóa mới.

 - Khi trở thành lãnh tụ, lãnh đạo đất nước, Người nhấn mạnh: Văn hóa là một trong 4 lĩnh vực luôn luôn phải quan tâm thực hiện: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”; Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; “Văn hóa soi đường quốc dân đi”. Yêu nước là nấc thang giá trị cao nhất của dân tộc Việt Nam và của nền văn hoá Việt Nam. Với các lĩnh vực hoạt động của văn hóa, Người coi "văn hoá, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị"; “văn hóa là một mặt trận và anh chị em văn nghệ sỹ là chiến sỹ trên mặt trận ấy”. 

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của phát triển kinh tế ngay sau Cách mạng Tháng Tám qua câu nói: “Độc lập mà dân vẫn đói khổ thì độc lập cũng chẳng để làm gì”. Đó là sự diễn đạt mới về mục đích, nhiệm vụ phát triển kinh tế là đảm bảo và không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Xuất phát từ đặc điểm của thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, khi mức sống của nhân dân còn rất thấp và con người là lực lượng sản xuất chủ yếu nhất, Người chủ trương: “Phát triển kinh tế đến đâu, cải thiện đời sống nhân dân đến đấy”.

- Trong bối cảnh cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung đang được đề cao và thực hiện phổ biến, đồng loạt ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác, Hồ Chí Minh đã khẳng định sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ. Người viết: “Nền kinh tế Việt Nam tồn tại bốn hình thức sở hữu chính: Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân; sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động; sở hữu của người lao động riêng lẻ; tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”. “Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công  nghiệp (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh). Nói về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, Người đã sớm nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế quá độ, khi viết: “Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mau hơn cả. Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản”.

- Điểm sáng tạo trong tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là sự nhấn mạnh về tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, tăng gia sản xuất phải đi đôi với thực hành tiết kiệm. Người coi “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”. Điểm nổi bật là tư tưởng của Người về chống tham ô, lãng phí, quan liêu trong nền kinh tế, coi đó là những “giặc nội xâm”, đồng minh với giặc ngoại xâm.

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ

- Sáng tạo nổi bật trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Phân tích sự cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương được thực hiện bằng bạo lực, đàn áp đẫm máu những người yêu nước, phản kháng lại sự cai trị đó, Hồ Chí Minh đi đến khẳng định: cần dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng dưới hình thức cuộc khởi nghĩa toàn dân giành chính quyền. Lực lượng thực hiện cuộc khởi nghĩa đó là lực lượng chính trị của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang được xây dựng trong các phong trào của quần chúng. Trong cao trào cách mạng giải phóng dân tộc 1941-1945, đầu tiên, Hồ Chí Minh lựa chọn những du kích tham gia khởi nghĩa Bắc Sơn lập ra đội tự vệ. Năm 1944 Người chỉ đạo thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, xác định nhiệm vụ chủ yếu là tuyên truyền, vận động quần chúng, làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh cùng với nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ cách mạng. Thực tiễn Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong 12 ngày với sức mạnh áp đảo của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang hỗ trợ, chúng ta đã giành được chính quyền trong cả nước và hầu như không phải sử dụng đến vũ khí, không đổ máu, chết người... 
- Sau Cách mạng Tháng Tám, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, tư tưởng quân sự trong xây dựng quân đội quốc gia Việt Nam của Hồ Chí Minh là kết hợp giữa chính trị và quân sự. Người khẳng định: "Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng, lại có hại". Người đặc biệt quan tâm đến xây dựng sức mạnh tinh thần, giác ngộ của quân đội với quan điểm “người trước, súng sau”. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ Đội Việt Nam tuyên truyền, giải phóng quân, kết hợp nhiệm vụ tuyên truyền và nhiệm vụ chiến đấu, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực sự là đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”…

- Sáng tạo trong tư tưởng quân sự nổi bật của Hồ Chí Minh thể hiện trong quan điểm xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương, chiến tranh nhân dân và xây nền quốc phòng toàn dân. Điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng căn cứ địa cách mạng là "trận địa lòng dân", "có dân là có tất cả", nơi ở "gần dân không gần đường". Trong quá trình đấu tranh giành chính quyền, từ bản Cốc Pó, căn cứ địa của cách mạng đã không ngừng được mở rộng, trở thành vùng rộng lớn Cao - Bắc - Lạng, Thái - Hà - Tuyên, cùng với các "an toàn khu" ngay sát các đô thị lớn, làm cơ sở cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Với tầm nhìn xa rộng, sau Cách mạng Tháng Tám, các cơ quan đảng, chính phủ, đoàn thể chuyển về Hà Nội, Người đã cử đồng chí Phạm Văn Đồng ở lại Tuyên Quang để xây dựng căn cứ địa "nhờ đồng bào một lần nữa" trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1946-1954. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đại hội III của Đảng, tháng 9 năm 1960 đã xác định xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất nước nhà.

- Sáng tạo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ trong tư tưởng chỉ đạo “dám đánh, quyết đánh, biết đánh”. Đứng trước sức mạnh quân sự hùng hậu của thực dân Pháp vào năm 1946 hay sự hung hăng, tàn bạo của đế quốc Mỹ năm 1966, Hồ Chí Minh không hề nao núng, khẳng định quyết tâm chiến thắng cuộc chiến tranh phi nghĩa, xâm lược của chúng với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”; “…Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ, Không có  gì quý hơn độc lập tự do”… Đó là tư tưởng sáng tạo của chiến tranh nhân dân “trường kỳ kháng chiến”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; "lấy yếu đánh mạnh", "lấy ít đánh nhiều", "lấy nhỏ đánh lớn"; “càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng”. Trong đánh địch, với truyền thống lấy đại nghĩa thắng hung tàn của dân tộc, Người không cho rằng trận thắng mà để chết nhiều người (cả ta và địch) là trận thắng hay; đề cao công tác địch vận, “đánh mà chiếm được đồn là giỏi, nhưng không đánh mà chiếm được đồn thì còn giỏi hơn…” 

- Sáng tạo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn thể hiện trong khởi đầu, kết thúc chiến tranh và con đương đi đến thắng lợi. Biểu hiện đầy đủ nhất của tư tưởng này là các câu thơ trong bài thơ chúc tết năm 1969: Vì độc lập, vì tự do, Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào. Tiến lên chiến sỹ đồng bào, Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn. Thực tế giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước dã diễn ra đúng như thế.

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC THẬT SỰ CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

- Quan điểm xây dựng Nhà nước cộng hòa dân chủ Việt Nam là một sáng tạo lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghiên cứu lịch sử xây dựng nhà nước độc lập dân tộc từ khi đức vua Ngô Quyền giành lại được nền độc lập, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và khẳng định đặc trưng độc lập, tự chủ của Nhà nước Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã trực tiếp, đến tận nơi nghiên cứu các kiểu nhà nước dân chủ tư sản ở Mỹ và Pháp, nhà nước Xô viết của Liên Xô và lựa chọn hình thức Nhà nước cộng hòa, dân chủ, nhân dân ở Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước thống nhất với mục tiêu của cách mạng do Đảng lãnh đạo. Năm 1945 là Nhà nước: "Dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc". Tại Đại hội II năm 1951, mục tiêu đấu tranh của Đảng là xây dựng một nước Việt Nam "độc lập, hòa bình, dân chủ, phú cường". Trong Di chúc, được Người viết từ năm 1965 đến năm 1969, mục tiêu đấu tranh được thể hiện trong "mong muốn cuối cùng" của Người là: xây dựng một nước Việt Nam "Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh". Mục tiêu cụ thể của ba thời điểm nêu trên có khác nhau do từng hoàn cảnh, nhưng các đặc trưng: độc lập, dân chủ, hạnh phúc (phú cường, giàu mạnh) đều được nhắc đến.

- Về bản chất của Nhà nước, sáng tạo của Hồ Chí Minh tập trung trong bản chất nhân dân của nhà nước. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nhà nước cách mạng ra đời, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.. . chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương đều do dân cử ra. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Bản chất nhân dân của Nhà nước không mâu thuẫn với bản chất giai cấp và tính dân tộc. Hồ Chí Minh khẳng định: “Tính chất nhà nước là vấn đề cơ bản của Hiến pháp. Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo". Giải thích về bản chất giai cấp công nhân và sự thống nhất, hài hoà giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân, tính dân tộc của Nhà nước, Người viết: (1). Giai cấp công nhân không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của dân tộc và chỉ có giải phóng dân tộc mới giải phóng được giai cấp công nhân một cách triệt để. (2). Nhà nước dân chủ mới của ta ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ với sự hy sinh gương mẫu của bao thế hệ cách mạng trong toàn dân tộc. (3). Nhà nước ta bảo vệ lợi ích của nhân dân, lấy lợi ích của dân tộc làm nền tảng. Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu luôn luôn là Chính phủ đại đoàn kết dân tộc. (4). Nhà nước ta vừa ra đời đã phải đảm nhiệm nhiệm vụ lịch sử là tổ chức cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của dân tộc để bảo vệ thành quả của cách mạng…

- Tư tưởng xây dựng một nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ của Hồ Chí Minh được thể hiện rất rõ, ngay từ năm 1919, trong Yêu sách tám điểm gửi Hội nghị Véc-xai (bản yêu sách này sau đó được Người dịch ra tiếng Việt theo thể thơ lục bát, chuyển về phổ biến rộng rãi với đồng bào trong nước dưới nhan đề “Việt Nam yêu cầu ca” trong đó có có hai câu thơ:“Bảy xin Hiến pháp ban hành/Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Sau cách mạng Tháng Tám, người chủ trương xây dựng một nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, trước hết phải là một nhà nước hợp hiến, Người chủ trương bầu cử Quốc hội theo hình thức phổ thông đầu phiếu “càng sớm càng tốt".

Trong quản lý xã hội, Nhà nước phải tiến hành quyền lực quản lý đất nước bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế. Dân chủ và pháp luật phải luôn luôn đi đôi với nhau. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, có hiệu lực, phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có trình độ văn hoá, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư “phụng công, thủ pháp”. Phải tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức; kiên quyết chống ba thứ  "giặc nội xâm" là tham ô, lãng phí, quan liêu.

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2020

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ SỨC MẠNH CỦA NHÂN DÂN, CỦA KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

- Thấm nhuần các giá trị truyền thống của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc các quan điểm tư tưởng trong lịch sử và hiện đại trên thế giới, Hồ Chí Minh có quan niệm đầy đủ và rõ ràng về sức mạnh của nhân dân. Người khẳng định: Nhân dân là nguồn gốc của mọi sức mạnh; có dân là có tất cả; "dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong". Người coi tập hợp được toàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là nguyên nhân chính của mọi thắng lợi của cách mạng. Sức mạnh của dân tộc được tập hợp trong mặt trận dân tộc thống  nhất và trong thời đại mới, sự đoàn kết toàn dân tộc gắn với mối quan hệ với đoàn kết  quốc tế.

- Từ quan điểm về sức mạnh của nhân dân, Hồ Chí Minh nhấn mạnh quan điểm đoàn kết toàn dân. Người nhấn mạnh: “Đoàn kết làm ra sức mạnh”; “Đoàn kết là là thắng lợi”; “Đoàn kết là then chốt của thành công”; "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công". Trong tổ chức thực hiện, Người dạy: “Đoàn kết” là điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”. Đại đoàn kết toàn dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành mục đích của Đảng.

- Tư tưởng về xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất để đại đoàn kết toàn dân tộc là một sự sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người chủ trương: Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và không ngừng mở rộng. Đoàn kết trong Mặt trận là "Đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ".  Phương châm đoàn kết các giai cấp, tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là “cầu đồng tồn dị”. Đảng là bộ phận của Mặt trận, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc. Và "muốn quy tụ được cả dân tộc, “Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại”; “Đảng phải thực sự đoàn kết nhất trí”; “được nhân dân thừa nhận”. “Công tác Mặt trận là một công tác rất quan trọng trong toàn bộ công tác cách mạng”.

- Sáng tạo của Hồ Chí Minh trong đại đoàn kết toàn dân được mở rộng trong sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, sự bóc lột và thống trị của chủ nghĩa đến quốc đã làm cho cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản trên thế giới gắn kết với nhau, để “chặt đứt cả hai cái vòi của chủ nghĩa đế quốc”… Vì vậy, giải quyết vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp phải kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Mỗi dân tộc đều phải giữ vững độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. Trong đoàn kết quốc tế, cần phân biệt chính quyền và nhân dân các nước đế quốc, để đoàn kết với nhân dân thế giới vì hòa bình, tiến bộ và mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ trên thế giới.