Hiển thị các bài đăng có nhãn lựa chọn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lựa chọn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2023

SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA LỊCH SỬ

Con đường phát triển của dân tộc Việt Nam đến đầu thế kỷ XX đánh dấu một bước chuyển quan trọng, với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1930), đưa dân tộc phát triển theo một con đường phát triển mới - con đường cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng XHCN. Ngay trong Cương lĩnh thành lập Đảng đã xác định rõ: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(1). Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc thực hiện mục tiêu con đường đã lựa chọn, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đã xóa bỏ chế độ phong kiến, thuộc địa, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra thời đại vẻ vang của lịch sử dân tộc - thời đại quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên CNXH. Tiếp đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt chống thực dân, đế quốc và các thế lực xâm lược biên giới, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước. Hiện nay, sau gần 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn: chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được khẳng định. Đó là sự thật không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, thời gian qua trên một số diễn đàn, nhất là trên các trang mạng xã hội xuất hiện các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta. Họ cho rằng, sự lựa chọn con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên CNXH ở Việt Nam là sai lầm, đẻ non, không đi theo quy luật; nếu không đi theo con đường cách mạng vô sản thì vẫn giành được độc lập dân tộc mà không phải đổ máu, hy sinh hàng triệu con người trong chiến tranh; đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, kinh tế sẽ phát triển như một số nước trong khu vực đã trở thành những “con.ồng”, “con hổ” của châu Á; Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, từng là thành trì của CNXH cuối cùng cũng từ bỏ ngọn cờ để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Do đó, hiện nay Việt Nam nên chuyển hướng phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa mới phù hợp,v.v.. Những luận điệu trên đây không có cơ sở khoa học và thực tiễn, là âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, nhằm xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Hiện thực lịch sử ở Việt Nam đầu thế kỷ XX cho thấy, trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, nhân dân chịu cảnh áp bức, bóc lột của cả chủ nghĩa thực dân và địa chủ phong kiến, đã có rất nhiều phong trào yêu nước như: phong trào Cần Vương, phong trào khởi nghĩa Yên Thế, phong trào Dân chủ tư sản,v.v.. song tất cả đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại. Ðó là sự bế tắc và thất bại về đường lối cứu nước và giải phóng dân tộc, “tình hình đen tối như không có đường ra”(2).

Trong bối cảnh lịch sử như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước theo tiếng gọi “Tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng tư sản, với mong muốn sang các nước tư bản phát triển học hỏi những yếu tố tiến bộ để về giúp đồng bào thực hiện công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Vì vậy, Người đã đến những nước tư bản phát triển như Pháp, Anh, Mỹ và nhiều nước thuộc địa. Qua quan sát và tìm hiểu chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, tìm hiểu cuộc sống của người dân ở chính quốc và các nước thuộc địa. Từ đó, Người đi đến kết luận: cách mạng giải phóng dân tộc Mỹ, cách mạng tư sản Pháp đều là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng chưa đến nơi, vì cách mạng thành công chỉ đem lại lợi ích cho thiểu số giai cấp, còn đông đảo quần chúng lao động vẫn chịu cảnh áp bức, bóc lột. Cho nên, nếu lựa chọn con đường cách mạng tư sản này cùng lắm chỉ giải phóng được dân tộc, nhưng nhân dân vẫn bị áp bức, vẫn phải chịu kiếp ngựa trâu, thì độc lập dân tộc sẽ chẳng có nghĩa lý gì.

Ở đây cần nhấn mạnh rằng, ngay từ khi ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911), Nguyễn Ái Quốc đã hướng đến các nước tư bản, xem đó như là mục tiêu để cứu nước và giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, thực tế lại không cho đáp án như vậy. Trong bối cảnh đó, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công (1917), mở ra thời đại phát triển mới đối với lịch sử nhân loại - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH. Đánh giá về sự kiện này, Người viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Từ tiếng vang của Cách mạng Tháng Mười, Người mới tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, lần đầu tiên Người đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cuơng về vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin vào tháng 7-1920, từ đó Người kết luận đây mới là con đường cứu nước và giải phóng dân tộc - con đường cách mạng vô sản. Như vậy, phải mất gần mười năm trời, Nguyễn Ái Quốc mới tìm ra được con đường cứu nước giải phóng dân tộc, chứ không phải ngay từ đầu Người đã tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Từ đó, Người nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười, tìm cách truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước và đào tạo đội ngũ cán bộ cách mạng. Trong bối cảnh đất nước như vậy, dân tộc Việt Nam đã chọn con đường cách mạng vô sản là tất yếu lịch sử.

Về lý luận, trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật lịch sử của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội về quy luật ra đời, phát triển và thay thế của các chế độ kinh tế, chính trị - xã hội, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân tích những khả năng ra đời của CNXH, trong đó có khả năng ra đời CNXH từ những nước tiền tư bản. Khi nghiên cứu những nước phương Đông lạc hậu, các nhà kinh điển đã chỉ ra những điểm khác biệt về điều kiện cách mạng giữa phương Đông và phương Tây. Trong đó, phương Đông không tồn tại chế độ tư hữu ruộng đất theo kiểu phương Tây, mà tồn tại chế độ công hữu tập quyền, từ đó nó quy định phương Đông tồn tại một cơ cấu xã hội “hết sức đặc biệt” - chế độ công xã nông thôn, có đặc điểm lối sống tập thể, quan hệ cộng đồng cố kết. Vì vậy, đến năm 1882, vấn đề đặt ra đối với C.Mác là: “Bây giờ, thử hỏi công xã Nga, cái hình thức thật ra đã bị phá hoại ghê gớm của chế độ công hữu ruộng đất nguyên thủy, có thể chuyển thẳng lên hình thức cao, hình thức cộng sản chủ nghĩa được không?. Hay là, trái lại, trước hết nó cũng phải trải qua cái quá trình tan rã giống quá trình mà tiến trình phát triển lịch sử của phương Tây phải trải qua?.

Ngày nay, lời giải đáp duy nhất có thể có được cho câu hỏi ấy là thế này: nếu cách mạng Nga là tín hiệu của cuộc cách mạng vô sản ở phương Tây và nếu cả hai cuộc cách mạng ấy bổ sung cho nhau thì chế độ sở hữu công xã về ruộng đất ở Nga hiện nay có thể là điểm xuất phát của một sự tiến triển cộng sản chủ nghĩa”(3).

Sau này, trong điều kiện phát triển mới của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, V.I.Lênin có điều kiện và cơ sở để phát triển quan điểm đó của C.Mác. V.I.Lênin cho rằng: “với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ Xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(4).

Các nhà kinh điển cũng lưu ý, chỉ bỏ qua hình thái kinh tế - xã hội này để phát triển lên hình thái kinh tế - xã hội cao hơn khi có các điều kiện: đã xuất hiện mô hình xã hội mới tỏ ra ưu việt, tiến bộ hơn; chế độ xã hội hiện tồn đã thối nát và lạc hậu; đã xuất hiện giai cấp đủ khả năng để lãnh đạo phong trào cách mạng. Đồng thời các ông cũng đưa ra cảnh báo đối với những nước lạc hậu việc lựa chọn con đường quá độ đi lên CNXH thì dễ, nhưng để đạt được nó - xây dựng thành công CNXH, sẽ khó khăn hơn, lâu dài hơn, phức tạp hơn và phải trải qua rất nhiều lần thử nghiệm, trong quá trình đó đôi lúc phải trả những cho những sai lầm.

Như vậy, việc lựa chọn con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên CNXH ở Việt Nam là hoàn toàn có cơ sở khoa học và thực tiễn. Đây là sự lựa chọn của chính lịch sử dân tộc, phù hợp với quy luật phát triển tất yếu, khách quan của thời đại.

 


Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRONG CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, khi nói về bản chất của chủ nghĩa xã hội và lí do tại sao Việt Nam lại lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã so sánh với chủ nghĩa tư bản. Qua đó, cuốn sách của Tổng Bí thư đã đánh giá rất toàn diện, sâu sắc về chủ nghĩa tư bản.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa tư bản. Tổng Bí thư cho rằng, chế độ tư bản chủ nghĩa là một bước tiến lớn trong lịch sử nhân loại, đồng thời khẳng định: “Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học-công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước”.

Trong cuốn sách của mình, Tổng Bí thư không chỉ khẳng định vai trò rất quan trọng của chủ nghĩa tư bản trong việc phát triển nhanh lực lượng sản xuất mà trong một chừng mực nhất định chủ nghĩa tư bản đã góp phần giải phóng con người với chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn nhiều so với tất cả các chế độ xã hội trước đó. Tuy nhiên, Tổng Bí thư cũng khẳng định những phúc lợi xã hội đối với người lao động mà chủ nghĩa tư bản đang thực hiện không phải là mục đích tự thân của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà trên cơ sở trình độ lực lượng sản xuất phát triển cao và là kết quả đấu tranh kiên trì, bền bỉ qua rất nhiều năm của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước tư bản phát triển.

Bên cạnh việc thừa nhận những giá trị của chủ nghĩa tư bản, nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư khẳng định do đặc trưng nội tại vốn có của chính phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nên đây là một mô hình phát triển không bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái: “Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó”. Bởi lẽ, “Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa”.

Mục đích của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là tạo ra nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản nên nhà tư bản có xu hướng hạn chế tiền công của người công nhân, trả tiền công cho người công nhân thấp hơn so với số hàng hóa mà họ tạo ra. Để thực hiện được lợi nhuận thì nhà tư bản phải bán được nhiều sản phẩm song chính việc hạn chế tiền công của công nhân đã hạn chế khả năng tiêu thụ hàng hóa của tư bản, đó chính là mâu thuẫn trong xã hội tư bản dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Thực tế lịch sử của chủ nghĩa tư bản đã chứng minh những cuộc khủng hoảng kinh tế luôn gắn liền với phương thức sản xuất này. “Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008-2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới”.

Mô hình phát triển của chủ nghĩa tư bản không những không bền vững về kinh tế mà còn không bền vững về xã hội. Do đặc trưng của phương thức sản xuất này là chạy theo lợi nhuận của một số cá nhân nên người lao động vẫn là đối tượng bị bóc lột của quá trình sản xuất: “Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc”. Mô hình phát triển của chủ nghĩa tư bản còn không bền vững về môi trường sinh thái: “Cùng với khủng hoảng kinh tế – tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,… đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại”. Để thu lợi nhuận nhiều thì phải kích thích xã hội tiêu dùng, hưởng thụ, phải tiêu dùng nhiều và phải sản xuất nhiều hơn so với khả năng thực tế của người nghèo so với nhu cầu của người giàu. Càng sản xuất nhiều càng khai thác, bóc lột thiên nhiên, tài nguyên nhiều đã dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường trầm trọng mà loài người đang phải trả giá.

Tống Bí thư cũng đã khẳng định hệ thống chính trị của các nước tư bản chỉ phục vụ cho lợi ích của một thiểu số người đang nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội chứ không phải bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân lao động như họ luôn rêu rao: “Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản”.

Chính trong khủng hoảng kinh tế, nhân dân lao động càng nhận thấy rõ hơn những bất công xã hội trong chủ nghĩa tư bản. Trong cuộc khủng hoảng 2008, những tập đoàn tư bản và những ngân hàng thương mại, những người trực tiếp gây ra tình trạng tồi tệ của nền kinh tế và gián tiếp bần cùng hóa người lao động thì không phải trả giá cho những việc họ đã làm. Chỉ có người lao động đang trực tiếp nếm trải những khó khăn của nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng này làm cho hàng triệu người mất nhà cửa khi họ không còn đủ khả năng trả các khoản nợ cho ngân hàng. Cuộc khủng hoảng này làm cho đời sống nhân dân vô vùng khó khăn, đáng lẽ ra Chính phủ phải có những chính sách hỗ trợ người lao động thì Chính phủ các nước tư bản lại rót tiền vào cứu trợ cho các ngân hàng, những thủ phạm gây ra cuộc khủng hoảng này. Chính phủ Mỹ đã chi khoảng tiền 1500 tỉ USD, Chính phủ Anh tung ra gói cứu trợ 790 tỉ USD, Đức thông qua gói cứu trợ 667 tỉ uSD, Pháp 500 tỉ USD. Khi rót một số tiền lớn làm cho tỷ lệ nợ công ở các nước này tăng lên, tỷ lệ nợ công trên GDP ở các nước phát triển đã tăng từ 44% năm 2007 lên 71% năm 2009[9], vì vậy họ phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng”, cắt giảm chi tiêu mà hậu quả đè lên vai người dân. Và quyết định cắt giảm đầu tiên bao giờ cũng đánh vào những người về hưu như ở Anh và Pháp, vào những người làm công ăn lương nhà nước, cắt giảm các chính sách an sinh xã hội của người lao động. Thực tế này một lần nữa khẳng định hệ thống chính trị ở các nước tư bản không phải là quyền lực của nhân dân thực sự mà do các tập đoàn tư bản chi phối nên hoạt động của nó là để phục vụ cho các tập đoàn này, thực tế đã phơi bày đầy đủ bản chất của nền dân chủ tư sản: “Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”.

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ là sự khẳng định đanh thép cho sự lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam mà còn giúp chúng ta nhìn một cách sâu sắc, thấu đáo về bản chất của chủ nghĩa tư bản ngày nay, đập tan những luận điệu tô hồng, ca ngợi một chiều chế độ này để cổ xúy đi theo con đường tư bản chủ nghĩa./.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Lịch sử dân tộc ta nửa cuối thế kỷ 19 và ngót nửa đầu thế kỷ 20, đất nước không được độc lập, nhân dân không được tự do. Các phong trào từ “Cần Vương”, “Khởi nghĩa nông dân”, đến phong trào “Đông Du”, phong trào “Giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản dân tộc”…đều thất bại, cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Trong điều kiện đó, Nguyễn Ái Quốc đã đưa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, cách mạng vô sản về Việt Nam. Từ khi có Đảng, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng đất nước theo con đường CNXH, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nói như thế để thấy, con đường cách mạng vô sản tiến bộ là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, CNXH là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân. Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, chủ thể quyết định vận mệnh của dân tộc và non sông đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam một lòng phụng sự Nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Ngoài lợi ích của dân tộc, Nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Nhân dân một lòng theo Đảng. Lý tưởng cộng sản là sự lựa chọn của Nhân dân.

Kiên định con đường đi lên CNXH là sự kiên định con đường thực tiễn mà nhân dân ta đang đi, kiên định mục tiêu thực hiện mà chúng ta đang hướng tới, là tiếp nối thành quả cách mạng của nhân dân ta và nâng lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta tiếp tục lựa chọn con đường Bác Hồ, Nhân dân đã lựa chọn, kiên định CNXH mà tính đúng đắn, khoa học, cách mạng đã được thực tiễn chứng minh để xây dựng đất nước ta thực sự giàu mạnh, dân chủ, văn minh, nhân dân ta thực sự có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong bài viết của mình: “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú, kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”.

Kiên định con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật lịch sử chứ không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chủ nghĩa xã hội hiện thực sau cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 không chỉ có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng mà còn làm thay đổi tiến trình lịch sử thế giới trong suốt thế kỷ XX và cho đến tận ngày nay. Chủ nghĩa xã hội từ lý luận khoa học đã trở thành hiện thực sinh động; từ một nước XHCN trở thành hệ thống các nước XHCN trên thế giới, trở thành lực lượng cách mạng thúc đẩy nhân loại phát triển và phẩm giá con người trong lòng xã hội được thực thi… Liên Xô sụp đổ là sự kiện địa chính trị lớn nhất của thế kỷ XX làm đau đớn nhân loại tiến bộ, song nó phản ánh sự sai lầm về một mô hình khi đã xa rời những vấn đề mang tính nguyên tắc của CNXH. Điều đó cho thấy, những bước thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu nhưng tất thắng của CNXH với tư cách là một học thuyết khoa học và cách mạng, một hình thái kinh tế - xã hội và với tư cách một chế độ xã hội mới đầy ưu việt mà nó vốn có, là sự kết tinh tất cả những thành tựu tinh hoa mà các hình thái kinh tế - xã hội trước đã tạo ra, trên con đường đấu tranh khẳng định sự tồn tại phù hợp quy luật của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người./.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

TÍNH TẤT YẾU LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

Cách đây 104 năm, ngày 07/11/1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Đây là cuộc cách mạng có giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại sâu sắc, phản ánh quy luật vận động, phát triển tất yếu khách quan của lịch sử xã hội loài người; là thắng lợi to lớn của chủ nghĩa Mác -Lênin. Mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và cách mạng vô sản trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đã đi vào lịch sử nhân loại như một sự kiện vĩ đại, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu sắc đối với việc xây dựng xã hội mới tốt đẹp - xã hội xã hội chủ nghĩa.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là kết quả hiện thực hóa lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đã biến những mơ ước, khát vọng sống hòa bình, độc lập, tự do thành hiện thực sinh động ở nước Nga và phát triển thành hệ thống xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945). Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên thế giới đoàn kết lại, đứng lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công, vì sự tiến bộ xã hội.

Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng trầm trọng và sụp đổ năm 1991, gây ra những tổn thất to lớn cho lực lượng cách mạng thế giới. Tuy nhiên sự kiện này không phải dấu chấm hết cho lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, càng không thể là sự “kết thúc lịch sử” của Chủ nghĩa Mác - Lênin, như một số người đã tuyên bố. Cách mạng Tháng Mười Nga không phải là “một sai lầm của lịch sử” mà trái lại đó là sự lựa chọn đúng đắn của chính lịch sử và là một tất yếu lịch sử.

104 năm đã trôi qua, kể từ ngày Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, khoảng thời gian không dài so với lịch sử nhân loại, nhưng đủ để chúng ta nhìn nhận, đúng đắn tầm vóc, giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như những khó khăn thử thách trên con đường hiện thực hóa lý tưởng cao cả đó; giữ vững quyết tâm đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, phản động, bảo vệ những giá trị trường tồn mà Cách mạng Tháng Mười Nga mang lại. Đó là nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng của những người cộng sản và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới.

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO LÀ SỰ LỰA CHỌN KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ

Hiện nay, những chiêu bài về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hay “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”… mà các thế lực thù địch vẫn không ngừng “lớn tiếng” lâu nay cũng chỉ nhằm hướng tới một mục tiêu: phủ nhận những vấn đề căn cốt - nền tảng tư tưởng chính trị của chúng ta.

Cần khẳng định lại rằng, những “lý lẽ” mà các đối tượng, thế lực chống phá luôn rêu rao, đòi hỏi đối với Đảng và chế độ ta là những điều hoàn toàn không có gì mới, nhất là vấn đề “đa nguyên đa đảng”. 

Như chúng ta đã biết, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam khai sinh, ở nước ta đã từng có mô hình “đa nguyên đa đảng”. Ngay cả khi Đảng ta ra đời thì “đa đảng” vẫn tồn tại. Nhưng từ chính những đòi hỏi khách quan của lịch sử mà cách mạng đã lựa chọn từ “đa đảng” đến một đảng. Đó là xu hướng chính trị gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể Việt Nam. Để khắc phục tình trạng “độc quyền mất dân chủ”, trong suốt tiến trình cách mạng, mọi đường lối, phương thức lãnh đạo của Đảng đều được bàn thảo, xây dựng trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Vì thế, chúng ta khẳng định, ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan phải thực hiện cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, nếu “thỏa hiệp” để thực hiện đa đảng đối lập cũng đồng nghĩa với việc đánh mất sự ổn định chính trị, rối loạn xã hội; tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các tư tưởng chính trị xa lạ - đi ngược lại lợi ích của quảng đại quần chúng và mục tiêu xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh: “tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”. 

Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. 

Để đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thường xuyên củng cố nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường tuyên truyền “phổ cập” tới mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Qua đó tạo lập một mặt bằng chung trong toàn xã hội về ý thức tư tưởng chính trị; nâng cao khả năng “tự miễn dịch” trước những âm mưu xâm nhập, lây lan của những tư tưởng đi ngược lợi ích nhân dân, trái với lý tưởng và mục tiêu XHCN. 

Nghiêm túc quán triệt và thực hiện việc “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính giáo dục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập Nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng. 

Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung, chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng chỉ phát huy hiệu quả thực chất khi việc chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng thực sự có chất lượng. Theo đó, sự gương mẫu “nói đúng làm đúng” từ mỗi cán bộ đảng viên là cách tốt nhất để lan tỏa những quan điểm, chủ trương của Đảng tới mọi “ngõ ngách cuộc sống”, để mọi tầng lớp nhân dân luôn “tâm phục khẩu phục”, một lòng theo Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./. 

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO LÀ SỰ LỰA CHỌN KHÁCH QUAN CỦA LỊCH SỬ

Hiện nay, những chiêu bài về “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hay “phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”… mà các thế lực thù địch vẫn không ngừng “lớn tiếng” lâu nay cũng chỉ nhằm hướng tới một mục tiêu: phủ nhận những vấn đề căn cốt - nền tảng tư tưởng chính trị của chúng ta.

Cần khẳng định lại rằng, những “lý lẽ” mà các đối tượng, thế lực chống phá luôn rêu rao, đòi hỏi đối với Đảng và chế độ ta là những điều hoàn toàn không có gì mới, nhất là vấn đề “đa nguyên đa đảng”. 

Như chúng ta đã biết, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam khai sinh, ở nước ta đã từng có mô hình “đa nguyên đa đảng”. Ngay cả khi Đảng ta ra đời thì “đa đảng” vẫn tồn tại. Nhưng từ chính những đòi hỏi khách quan của lịch sử mà cách mạng đã lựa chọn từ “đa đảng” đến một đảng. Đó là xu hướng chính trị gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể Việt Nam. Để khắc phục tình trạng “độc quyền mất dân chủ”, trong suốt tiến trình cách mạng, mọi đường lối, phương thức lãnh đạo của Đảng đều được bàn thảo, xây dựng trên cơ sở ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

Vì thế, chúng ta khẳng định, ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan phải thực hiện cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Hơn lúc nào hết, trong tình hình hiện nay, nếu “thỏa hiệp” để thực hiện đa đảng đối lập cũng đồng nghĩa với việc đánh mất sự ổn định chính trị, rối loạn xã hội; tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các tư tưởng chính trị xa lạ - đi ngược lại lợi ích của quảng đại quần chúng và mục tiêu xây dựng xã hội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Điều mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nhấn mạnh: “tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản”. 

Đại hội XIII của Đảng cũng đã xác định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. 

Để đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu thù địch nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng chính trị của Đảng một cách đúng đắn, khách quan và khoa học, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững và thường xuyên củng cố nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tăng cường tuyên truyền “phổ cập” tới mọi tầng lớp nhân dân về mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Qua đó tạo lập một mặt bằng chung trong toàn xã hội về ý thức tư tưởng chính trị; nâng cao khả năng “tự miễn dịch” trước những âm mưu xâm nhập, lây lan của những tư tưởng đi ngược lợi ích nhân dân, trái với lý tưởng và mục tiêu XHCN. 

Nghiêm túc quán triệt và thực hiện việc “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính giáo dục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác giáo dục lý luận chính trị, học tập Nghị quyết của Đảng. Thực hiện nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt là cấp chiến lược; tiếp tục đổi mới hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng nâng cao chất lượng, chú trọng tính hiệu quả và phù hợp với từng đối tượng. 

Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” nói chung, chống các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng chỉ phát huy hiệu quả thực chất khi việc chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ Đảng thực sự có chất lượng. Theo đó, sự gương mẫu “nói đúng làm đúng” từ mỗi cán bộ đảng viên là cách tốt nhất để lan tỏa những quan điểm, chủ trương của Đảng tới mọi “ngõ ngách cuộc sống”, để mọi tầng lớp nhân dân luôn “tâm phục khẩu phục”, một lòng theo Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./. 

Thứ Ba, 14 tháng 9, 2021

ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN DUY NHẤT ĐÚNG ĐẮN MÀ ĐẢNG VÀ DÂN TỘC VIỆT NAM ĐÃ LỰA CHỌN

Nhân loại đã chứng kiến trong thế kỷ XIX - XX, chủ nghĩa tư bản đã tỏa vòi đi khắp các châu lục để vừa “hút máu” nhân dân lao động ở chính quốc, vừa hút máu nhân dân lao động ở các nước thuộc địa. Nhân dân Việt Nam đã trải qua những khổ đau, cơ cực dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc nên thấy hết bản chất của chủ nghĩa tư bản. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, các phong trào yêu nước đã dấy lên hết sức mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại. Chưa bao giờ như lúc bấy giờ, công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam ở trong tình hình đen tối, không có đường ra.

Nhưng rồi lịch sử đã có lời giải đáp. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã là người gieo hạt, gây mầm và tạo dựng cách mạng Việt Nam. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy ánh sáng soi đường trong Luận cương của V.I. Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên khắp thế giới khỏi ách nô lệ”. Với kỳ công của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam chuyển hóa thành một sự kiện trọng đại: ngày 03/02/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Vừa ra đời, Đảng ta tuyên bố: “Chủ trương tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Lời tuyên bố ấy đồng nghĩa với việc bác bỏ thẳng thừng chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa; chủ nghĩa xã hội không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã thực sự thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam chuyển mình, là con đường mà dân tộc Việt Nam đã và đang đi theo dòng thời đại.

Sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, xét về logíc là một tất yếu khách quan; xét về lịch sử, hoàn toàn phù hợp với sự vận động của cách mạng Việt Nam và xu thế của thời đại; xét về nhu cầu, hoàn toàn xuất phát từ điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nửa phong kiến và nguyện vọng cháy bỏng của nhân dân Việt Nam; xét về mặt xã hội, đó là một hệ giá trị cơ bản lớn nhất quyết định sự phát triển của đất nước hôm nay và mai sau. Vì thế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”; “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Thứ Ba, 10 tháng 8, 2021

ĐI THEO CON ĐƯỜNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA VIỆT NAM

Thời gian gần đây, trên các trang mạng xã hội xuất hiện bài viết của tên phản động Nguyễn Mạnh Hùng với tiêu đề:“Việt Nam là nước có lẽ là duy nhất trên thế giới vẫn còn các chữ “Xã hội chủ nghĩa” trong tên nước. Đây có phải là điều sai trái không?”. Thực chất, đây là luận điệu xuyên tạc, nhằm phủ nhận những giá trị tốt đẹp của Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tiến tới đòi xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bởi lẽ:

Thứ nhất, con đường và mục tiêu chủ nghĩa xã hội đã đem lại độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Như chúng ta đã biết, trước khi Đảng ra đời, rất nhiều nhà yêu nước ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân nhưng đều thất bại; các cuộc khởi nghĩa bị dìm trong biển máu, đất nước vẫn trong vòng nô lệ, dân tộc vẫn không có độc lập, nhân dân vẫn không có tự do. Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc – kỷ nguyên của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, Đảng cùng với nhân dân làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử  “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự thật đó đã được lịch sử ghi nhận, nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ, không ai có thể chối cãi được. Đặc biệt, trong những năm gần đây, Đảng và nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, như: Kinh tế ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng lên, quốc phòng - an ninh ngày càng được giữ vững, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định, điều đó đã chứng tỏ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn.

Thứ hai, chủ nghĩa xã hội là cơ sở nền tảng vững chắc đảm bảo cho thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Lý luận và thực tiễn đã khẳng định rằng, muốn dân giàu, nước mạnh thực sự, lâu dài và phổ biến trong toàn xã hội thì không thể đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, con đường đầy máu và nước mắt, với việc duy trì áp bức, bóc lột và bất công, mà phải kiên trì xây dựng chủ nghĩa xã hội, mặc dù đây là sự nghiệp lâu dài, khó khăn, gian khổ và không thể tránh khỏi những lúc vấp váp, sai lầm, khuyết điểm.

Hiện nay, nhân dân ta đang vững bước đi trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, ra sức đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với một vị thế mới của những người làm chủ và biết làm chủ vận mệnh của mình, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia – dân tộc. Với những định hướng, chủ trương và giải pháp lớn, nhiệm vụ trọng tâm mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, nhân dân Việt Nam vững tin hướng tới tương lai. Ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam giương cao đã và đang đem lại cho dân tộc ta, nhân dân ta sự tự tin và sức mạnh mới, không có thế lực nào có thể cản bước, ngăn đường chúng ta đi.

Cuộc đấu tranh cho thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở nước ta đòi hỏi chúng ta không những phải nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, mà còn là một quá trình đấu tranh phê phán, vạch trần những quan điểm sai trái, thù địch cố tình xuyên tạc, phủ nhận giá trị, bản chất cách mạng, khoa học của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, của nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; góp phần đắc lực vào cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi trên con đường chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đã chọn.

Thứ Năm, 24 tháng 6, 2021

KHÔNG CHỜ ĐỢI, LỰA CHỌN VACCINE

Về nhiệm vụ, giải pháp, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu tiếp tục thực hiện nghiêm phương châm “5K + vaccine” và tích cực nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong phòng, chống dịch.

Theo người đứng đầu Chính phủ, các đơn vị phải chủ động phòng ngừa, phát hiện phải sớm, khoanh vùng, cách ly nhanh, điều trị phải hiệu quả, xử lý dứt điểm tình hình dịch để ổn định tình hình, bảo đảm cuộc sống, sản xuất kinh doanh cho người dân.

Trong áp dụng biện pháp khoanh vùng, phong tỏa, giãn cách xã hội, Thủ tướng lưu ý cần xác định phạm vi phù hợp trên cơ sở, căn cứ dịch tễ, không máy móc áp dụng theo đơn vị hành chính. Tinh thần Thủ tướng quán triệt là kiểm soát chặt chẽ bên trong các khu vực phong tỏa, giãn cách, cách ly, tránh lây nhiễm chéo.

Ông yêu cầu Bộ Y tế tiếp tục hoàn thiện điều kiện, tiêu chuẩn và quy trình, thực hiện việc cách ly y tế tại nhà.

Theo ông, xét nghiệm nhanh, phát hiện sớm, cách ly, phong tỏa kịp thời là chìa khóa dập dịch thành công.

Với việc tiếp cận đa dạng các nguồn vaccine, Thủ tướng thúc đẩy tiến độ đàm phán để mua vaccine nhanh nhất, nhiều nhất có thể. Ông yêu cầu Bộ Y tế làm tốt vai trò đầu mối tiếp cận các nguồn vaccine, quản lý chất lượng vaccine bảo đảm công khai, minh bạch, không để cạnh tranh giữa Nhà nước và các tổ chức, doanh nghiệp trong việc đàm phán, mua vaccine.

Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh tuyệt đối không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong việc mua và cung cấp vaccine.

Đáng lưu ý, Thủ tướng nhắc nhở cần truyền thông khách quan về việc tiếp cận bình đẳng tiêm các loại vaccine khác nhau, tránh tình trạng, tâm lý chờ đợi, lựa chọn vaccine, có loại nào phải dùng ngay loại đó, tinh thần là kịp thời, an toàn, hiệu quả.

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

SỰ LỰA CHỌN CHÍNH XÁC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH

Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên khi đất nước đã đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nền độc lập của dân tộc bị xâm phạm, quyền được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc của mỗi người dân ở xứ An Nam thuộc địa đều bị chà đạp, tước bỏ. Không cam chịu làm nô lệ, các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam liên tiếp nổ ra: Từ phong trào Cần Vương, Văn Thân đến cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế; từ phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến phong trào chống thuế ở Trung Kỳ…, song cuối cùng đều bị dìm trong bể máu.

Cũng trong những năm tháng đó, không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với thời đại qua những sách Tân thư, Tân văn bằng tiếng Hán; được nghe các thầy giảng giải về nền dân chủ và văn minh phương Tây mà khi theo học lớp dự bị (préparatoire) ở Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh trước đó, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu "Tự do, Bình đẳng, Bác ái" nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789. Sau này, Người kể lại với nhà văn Liên Xô Ôxíp Manđenxtam rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cùng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”.

Truyền thống của quê hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt của thời cuộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành. Vì vậy mà, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc tiền nhân theo tư tưởng phong kiến hoặc dân chủ tư sản, nhưng khác họ, qua những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập, sinh sống ở Huế và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới - Đó chính là làm cách mạng và nó khác hẳn những con đường đấu tranh yêu nước đã từng diễn ra.

Vì thế mà, Nguyễn Tất Thành đã quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy vào những người “anh lớn” Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn giấu đằng sau những mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của cách mạng Pháp. Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình đang có, dân tộc mình đang có, để không chỉ làm giàu tri thức cho mình mà chính là hướng đến mục tiêu giải phóng dân tộc mình. Từ xuất phát điểm này, từ sự vượt lên chính mình này đã quyết định sự lựa chọn, con đường đi sau đó của Người - đó là rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một chặng đường dài xa Tổ quốc.

Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con đường đúng khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ (Amiran Latusơ Tơrêvin), rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”. Có thể nói, đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại.

Theo hành trình của tàu, Người đã đến Marseille, Le Havre, Dunkerque, Manche của Pháp… Ngày 15/9/1911, Người viết đơn gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc địa Pháp trình bày nguyện vọng muốn được xin vào học tại Trường Thuộc địa. Đơn của Người được gửi từ Marseille; trong đó có đoạn viết: “Tôi vinh hạnh, xin một đặc ân với lòng nhân từ cao cả của ông được thu nhận vào học Trường Thuộc địa như một học sinh nội trú. Hiện tại tôi là nhân viên của Hãng Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis) tàu Amiran Latusơ Tơrêvin”, với mong muốn "trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức". Tuy nhiên yêu cầu này đã bị từ chối vào tháng 10/1911 và theo hành trình của tàu, Người trở lại Sài Gòn.

Sau đó, Người quay lại Pháp và theo hành trình của hãng tàu Người bắt đầu hành trình lao động kiếm sống, tích luỹ tri thức, khảo nghiệm và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục… Vậy là, trải qua những tháng ngày lao động vất vả, bằng nghề làm phụ bếp trên tàu; thợ chụp ảnh, vẽ đồ giả cổ Trung Hoa ở thủ đô Paris của nước Pháp hoa lệ; làm người cào tuyết cho trường học, bồi bàn trong khách sạn ở nước Anh; học tập, nghiên cứu ở nước Nga; hoạt động ở  Trung Quốc, v.v.. Nguyễn Ái Quốc đã có một hành trình dài với biết bao điều lớn lao:

Thứ nhất, sống, học tập và hoạt động không mệt mỏi, thực sự hòa mình vào dòng chảy của các sự kiện trên thế giới và đi đến lựa chọn đúng, đó là đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin/Quốc tế Cộng sản - trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp vào tháng 12/1920 (tại Đại hội Tua) khi hiểu rõ rằng: "Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới". Vì thế, “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(và “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”…

Thứ hai, ham học hỏi, không sợ cường quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng để gom góp và đanh thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân - Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925. Đồng thời, được chứng kiến những diễn biến lớn của thời đại, Nguyễn Ái Quốc đã thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những “khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng 1791, để rồi đi tới khẳng định: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”. Vì thế, theo Người, vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của tất cả các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới.

Thứ ba, đi từ dân tộc đến nhân loại, Người đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin với thế giới quan khoa học và cách mạng, để phát hiện và nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển tất yếu của thời đại khi khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Với ý nghĩa đó, có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước, cứu dân phù hợp yêu cầu của đất nước và quy luật của thời đại mà còn trang bị cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho dân tộc Việt Nam khi nhấn mạnh rằng, ở đó “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước…Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc”. Đây là quá trình khảo nghiệm, thâu thái tinh hoa, tri thức các nền văn minh nhân loại theo cách "tiếp biến và vượt gộp" của Hồ Chí Minh, để vừa sáng tạo, vừa độc lập vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam khi quyết định trở về Quảng Châu, Trung Quốc (11/11/1924) chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau đó.

Thứ tư, trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ, bằng những việc làm cụ thể như mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về Cách mạng Tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927..., Nguyễn Ái Quốc đã ngày mỗi ngày góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, thúc đẩy sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, Người đã tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại Hương Cảng. Hội nghị đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, trong đó khẳng định: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"; "a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. b) Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập".

Thứ năm, dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng đắn, với sức mạnh đoàn kết muôn người như một của các tầng lớp nhân dân yêu nước, kiên cường, đồng lòng ủng hộ, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã giành thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á; đồng thời, đưa những thân dân/người dân nô lệ An Nam trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do.

Tiếp đó, kiên định con đường đã lựa chọn, nhân dân Việt Nam kiên trì tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và một đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, một đất nước Việt Nam đổi mới từng ngày đã khẳng định được vị thế của mình trong cộng đồng các quốc gia, đóng góp vào sự phát triển bền vững, phồn vinh của nhân loại; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của loài người tiến lên trong một thế giới đầy biến động.

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

SỰ LỰA CHỌN TẤT YẾU

Theo các tài liệu chính thức ở Việt Nam, ngày 5-6-1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành - đang làm phụ bếp với tên gọi là Văn Ba - đã theo tàu Amiral Latouche Tréville rời bến cảng Sài Gòn đi Marseille (Pháp) mở đầu cuộc hành trình tìm con đường cứu nước của một người thanh niên yêu nước sau này trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là một sự kiện lịch sử và cũng là một sự thật lịch sử không thể phủ nhận.                        

Song vẫn có quan điểm cho rằng, Nguyễn Tất Thành khi đó ra đi không phải để tìm đường cứu nước mà là để mưu sinh và họ đã đưa ra nhiều bằng chứng cho quan điểm này mà bằng chứng chủ yếu là bức thư ngày 15-9-1911 của Nguyễn Tất Thành gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Họ lập luận rằng Nguyễn Tất Thành xin vào học ở Trường này để sau này ra làm quan như một số học sinh của Trường này sau khi tốt nghiệp. Họ dựa vào một số đoạn trong bức thư  như đoạn sau đây (trong bản được  dịch ra tiếng Việt): “Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng hảo tâm của ông ban cho tôi đặc ân vào học nội trú Trường Thuộc địa… Tôi mong muốn trở nên hữu ích cho nước Pháp”. Một bức thư gửi Tổng thống Pháp với lời lẽ như trên thì việc suy luận rằng Nguyễn Tất Thành xin vào học Trường Thuộc địa để sau này làm việc cho chính quyền Pháp là điều dễ hiểu. Hơn nữa, Trường  Thuộc địa do Chính phủ Pháp thành lập năm 1885, ngoài số học sinh người Pháp, mỗi năm còn có 20 học sinh được Toàn quyền Đông Dương chọn cử đi học lấy từ học sinh của 3 nước trong Đông Dương khiến cho suy luận nói trên có tính hợp lý nhất định.          

Thế nhưng suy luận nói trên không phải là duy nhất. Từ bức thư nói trên người ta còn có suy luận khác với những bằng chứng được nhiều công trình nghiên cứu nêu ra để khẳng định Nguyễn Tất Thành ra đi từ Cảng Sài Gòn ngày 5-6-1911 là để tìm đường cứu nước.

1- Ngay từ khi là một học sinh, Nguyễn Tất Thành đã tận mắt chứng kiến cuộc sống cực khổ của người dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp cũng như những hành động tàn bạo của thực dân Pháp đối với những người yêu nước đấu tranh chống lại chúng. Tại quê hương mình, Nguyễn Tất Thành được biết nhiều sĩ phu yêu nước đã lập các đội quân khởi nghĩa chống Pháp như cụ Hoàng Xuân Hành lập căn cứ chng Pháp ở Thanh Chương bị giặc bắt và tra tấn đến chết, cụ Hoàng Phan Thái chiêu tập nghĩa binh chống Pháp ở Nghi Lộc bị giặc bắt và chém đầu… Còn ở Huế, tháng 4-1908 một cuộc biểu tình ôn hoà của nông dân mà Nguyễn Tất Thành có tham gia đòi giảm sưu, giảm thuế cũng bị đàn áp dã man - một số người bị chém đầu tại chỗ, nhiều người bị cầm tù và bị đày biệt xứ. Sau vụ này, Vua Thành Thái bị phế truất và bị đày ở đảo Reunion (Pháp). Tình cảnh đó đã thúc đẩy Nguyễn Tất Thành phải tìm con đường mới để cứu dân, cứu nước.                  

2-Nguyễn Tất Thành khi lớn lên đã được sự giáo dục của các thầy giáo có tinh thần yêu nước. Khi ở làng Kim Liên, Nguyễn Tất Thành học chữ Hán ở nhà thầy giáo Vương Thúc Quý - người đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan. Tại đây thầy Quý đã dạy Nguyễn Tất Thành tư tưởng yêu nước, thương dân và chí làm trai phải giúp ích cho đời… Khi học ở Trường Tiểu học Vinh, Nguyễn Tất Thành hằng ngày đều nhìn thấy các từ “Liberté  - Egalité - Fraternité” gắn trên các bảng đen của Trường khiến anh muốn “tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Khi học ở Trường Quốc học Huế - một trường đặc biệt lúc bấy giờ với quy định tuyển chọn học sinh nghiêm ngặt - Nguyễn Tất Thành đã được nhiều thầy giáo của trường giáo dục tinh thần yêu nước, không quên trách nhiệm đối với đất nước. Cũng tại Trường này, Nguyễn Tất Thành được làm quen với loại sách Tân thư chứa đựng tư tưởng cải cách của Khang Hữu Vy và Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cùng với một số sách báo tiến bộ của phương Tây do các thầy giáo yêu nước cung cấp. Nhờ đó, lòng yêu nước vốn có của Nguyễn Tất Thành đã được khơi dậy, nuôi dưỡng và thôi thúc chí hướng ra nước ngoài tìm đường cứu nước.      

3- Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước trong bối cảnh đất nước đang bị thực dân Pháp đô hộ với chính sách cai trị hết sức tàn bạo đã được  phản ánh trong cuốn sách của Nguyễn Ái Quốc “Lên án chủ nghĩa thực dân Pháp”. Cũng trong thời gian này các phong trào yêu nước tiếp tục lan rộng. Kế tiếp phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ 19 do Vua Hàm Nghi đứng đầu với gần 20 cuộc khởi nghĩa từ Tây Bắc đến Khánh Hoà, sang đầu thế kỷ 20, phong trào chống thực dân Pháp đã bước sang giai đoạn mới với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, được tập hợp trong nhiều tổ chức với những nhà lãnh đạo có uy tín như phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xưởng, phong trào “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” do Phan Chu Trinh đứng đầu, cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy… Mặc dù các phong trào, các cuộc khởi nghĩa đó đều thất bại nhưng đã tác động sâu sắc đến tình cảm, tư tưởng của Nguyễn Tất Thành và đã đặt ra câu hỏi lớn trước Nguyễn Tất Thành: Con đường nào để cứu nước?”. Sau này trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” có ghi lại: “Anh khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trình, Phan Bội Châu nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của mỗi người nào. Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi”.                                       

Có thể nói, với những điều tận mắt chứng kiến khi còn là một học sinh, với những kiến thức và tư tưởng được sớm tiếp nhận tại các trường đã học, lại sống  trong bối cảnh của đất nước đầu thế kỷ thứ 20 đã đưa Nguyễn Tất Thành đến một sự lựa chọn lịch sử là “muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Đó cũng là một sự lựa chọn tất yếu.

Lựa chọn đó đã đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch về việc Nguyễn Tất Thành khi đó ra đi không phải để tìm đường cứu nước mà là để mưu sinh./.

Thứ Hai, 24 tháng 5, 2021

SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Chúng ta không thể phủ nhận một hiện thực là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bước lùi lịch sử của phong trào cộng sản và công nhân toàn thế giới. Đó cũng là một tổn thất to lớn cho phong trào đấu tranh cho những mục tiêu cao cả và tốt đẹp của nhân loại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và hạnh phúc của con người. Ngay cả khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào thoái trào rồi khủng hoảng, sụp đổ vào những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng ta vẫn luôn vững vàng niềm tin về tương lai của lịch sử loài người là chủ nghĩa xã hội: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử”; “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định: “Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây”. Điều này chứng tỏ, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một hành trình trong cả nhận thức và bước đi, trong cả tư duy lý luận và thực tiễn vận động, phát triển. Bài viết đã cô đọng, khái quát lại những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng. Đó là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

Bài viết còn nhấn mạnh lại những vấn đề cơ bản về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó có việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Ở Đại hội IX, Đảng ta đã đưa ra nội hàm rất cụ thể, rõ ràng về việc “bỏ qua”: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo sự biến đổi về chất của xã hội trên các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”. Tuy nhiên, phần là do mơ hồ về nhận thức, song cũng phần lớn do có tư tưởng chống phá, nhiều đối tượng đã cố tình bóp méo, xuyên tạc về việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ cho rằng “việc Đảng Cộng sản Việt Nam nói về vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là chủ quan, duy ý chí, trái với quy luật khách quan”. Vì vậy trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định rõ ràng thêm: “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”. Luận điểm này không chỉ tiếp tục khẳng định, làm rõ hơn quan điểm của Đảng ở Đại hội IX mà đề ra nguyên tắc quan trọng trong việc kế thừa những thành tựu của chủ nghĩa tư bản trong xây dựng ở Việt Nam. Đó là phải dựa trên quan điểm khoa học và phát triển.

Bài viết cũng đã chỉ ra những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả những phương diện mà nước ta đã đạt được qua 35 năm tiến hành đổi mới, đặc biệt là những kết quả, thành tích đặc biệt mà Việt Nam đã đạt được trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu trong năm 2020. Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định lại nhận định của Đại hội XIII khi đánh giá những kết quả mà đất nước ta, nhân dân ta đã đạt được qua 35 năm đổi mới và 3o năm thực hiện Cương lĩnh 1991: Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá.

Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra những khuyết điểm, hạn chế và những thách thức mới phải đối mặt trong quá trình phát triển đất nước. Bài viết khẳng định những hạn chế, khuyết điểm đó là không thể tránh khỏi nên “cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả”. Qua bài viết, đồng chí Tổng Bí thư vẫn tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu khách quan, thành công hay thất bại phụ thuộc phần lớn vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”. Đây là một luận điểm quan trọng đã chỉ ra cách thức, nguyên tắc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa, để cho những nhân tố đó ngày càng chiếm ưu thế và đi đến chiến thắng trong các mặt của đời sống xã hội. Để làm được điểu đó cần phải có đường lối lãnh đạo đúng đắn, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đây là một trong những nguyên tắc phương pháp luận quan trọng đã được đồng chí Tổng Bí thư chỉ ra trong bài viết. Đó không chỉ là kết quả của quá trình phát triển lý luận mà còn cả tổng kết thực tiễn từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển của Việt Nam trong những năm gần đây.

Từ việc nhận định: “Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội”, bài viết đã chỉ ra những cách thức, giải pháp để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Theo đồng chí Tổng Bí thư, điều quan trọng nhất là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Ngoài ra, cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. Luận điểm này của đồng chí Tổng Bí thư đã nhấn mạnh thêm, làm sáng tỏ thêm quan điểm của Đại hội XIII về việc kiên định, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn mới: “Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam”.

Có thể khẳng định, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa rất quan trọng đối với đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt, đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc thống nhất nhận thức, tư tưởng về những nội dung của Nghị quyết Đại hội XIII, vừa trực diện đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời tiếp thêm niềm tin, sức mạnh, tỏa sáng những giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đúng như bài viết khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tuy còn rất lâu dài với nhiều khó khăn, thử thách; các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Mặt khác, các thế lực thù địch lại thường xuyên phủ nhận, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, với lập trường kiên định, bản lĩnh vững vàng, quyết tâm cao, nỗ lực lớn và sự đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ ngày càng rõ nét hơn, sự nghiệp đổi mới và phát triển ở Việt Nam sẽ ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn. Chủ nghĩa xã hội sẽ vẫn luôn là tương lai của lịch sử loài người./.