Hiển thị các bài đăng có nhãn hiện đại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hiện đại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

TRUNG THÀNH VỚI NỀN TẢNG CỦA ĐẢNG TA LÀ CƠ SỞ ĐỂ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI QUÂN ĐỘI CÁCH MẠNG, CHÍNH QUY, TINH NHỆ, TỪNG BƯỚC HIỆN ĐẠI


Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện. Là quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân, Quân đội ta đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, được xây dựng theo các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành, chiến thắng của quân đội. Trung thành với nền tảng tư tưởng của Đảng là đòi hỏi khách quan bảo đảm cho quân đội được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao. Thực tiễn quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đã khẳng định, trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, quân đội xã hội chủ nghĩa vào điều kiện cụ thể của nước ta, Đảng ta đã thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng và tăng cường bản chất cách mạng của quân đội, nhất là chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đảng ra luôn nhất quán chủ trương xây dựng bản chất cách mạng của quân đội, nhất là chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, coi đó là một quan điểm cơ bản, là vấn đề sống còn của quân đội cách mạng. Quan điểm cơ bản, chủ trương nhất quán đó xuất phát từ những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới - quân đội xã hội chủ nghĩa, từ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam, quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng bản chất cách mạng của quân đội, nhất là xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, cần khẳng định rõ vị trí, vai trò của việc xây dựng bản chất cách mạng của quân đội, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở xây dựng các mục tiêu: chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại nhằm nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Xây dựng bản chất cách mạng của quân đội, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của quân đội; xây dựng quân đội theo những nguyên tắc tổ chức xây dựng của Đảng, của giai cấp công nhân. Quá trình xây dựng bản chất cách mạng của quân đội, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là quá trình nhận thức và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ cơ bản quyết định sự hình thành, củng cố, tăng cường và phát triển bản chất cách mạng của quân đội, đảm bảo cho quân đội được xây dựng vững mạnh về chính trị như: quan hệ giữa quân đội với Đảng, quân đội với Nhà nước, với nhân dân, đó còn là việc nhận thức và giải quyết các mối quan hệ trong nội bộ quân đội, quan hệ giữa Quân đội ta với quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, quân đội các nước đang đấu tranh cho mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, cũng như thái độ của Quân đội ta đối với kẻ thù của cách mạng Việt Nam.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội. Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Do đó, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nguồn gốc trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ra trong mọi thời kỳ cách mạng, là nguyên tắc xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong thời kỳ mới./.

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

NHẬN DIỆN VÀ PHÊ PHÁN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DÂN CHỦ HIỆN ĐẠI

(Tiếp)
Thực chất CNXHDC là sự điều chỉnh thích nghi của CNTB hiện đại. CNXH dân chủ đã đồng lõa với chủ nghĩa chống cộng, chống phá quyết liệt chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXHKH, các Đảng Cộng sản và Nhà nước XHCN. CNXHDC là đồng minh với CNTB để chống phá CNXH hiện thực, PTCS và CNQT. CNXHDC là một kẻ thù tư tưởng của CNXHKH.
Từ giữa thập niên 90 đến nay, lợi dụng sự sụp đổ, tan rã CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, trào lưu XHDC tích cực tuyên truyền về CNXHDC nhằm thu hút và tập hợp  lực lượng. Các Đảng DCXH phát triển mạnh mẽ  ở các khu vực cả Châu Á, Phi, Mỹ La Tinh và cả ở các nước XHCN. Đến giữa thập niên 90, Các đảng DCXH ở hầu hết các nước Tây Âu (13/15 nước thuộc EU, trước tiên là Anh, sau đó là Pháp, Thụy Điển, Italia, CHLB Đức...) lại lần lượt thắng cử, trở lại cầm quyền với những quan điểm lý luận và đường lối, chính sách mới. Các chính trị gia và các nhà nghiên cứu khoa học chính trị phương Tây gọi lý luận đó là “con đường thứ Ba” - một bước phát triển lý luận mới của CNXHDC hiện đại. “Con đường thứ Ba” là một cải biến của CNXHDC, được dùng để chỉ mô hình xã hội do các Đảng DCXH cầm quyền. Đó là một xã hội không phải TBCN, cũng không phải là XHCN. Mô hình này có ba điểm chính: Hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa, do Đảng DCXH cầm quyền; Hệ thống kinh tế thị trường TBCN có sự điều tiết lớn của Nhà nước; Hệ thống an ninh xã hội được bảo đảm bởi một hệ thống chính sách bảo trợ xã hội rộng lớn. Mô hình này còn được gọi chung là nhà nước phúc lợi (The welfare state). Những năm gần đây, “Con đường thứ Ba” được các nhà dân chủ xã hội sử dụng với nội dung phát triển hơn, đó là một mô hình xã hội được điều chỉnh ở giữa mô hình của CNXHDC (mô hình nhà nước phúc lợi) với mô hình thị trường tự do (The free market). “Con đường thứ Ba” này, còn được gọi là mô hình Nhà nước đầu tư cho xã hội và phúc lợi xã hội (Social investment state and welfare society).
Hiện nay, CNXHDC có ảnh hưởng mạnh mẽ và các đảng DCXH có một vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị ở châu Âu, đặc biệt là các nước Tây Âu. Trong số các đảng DCXH cầm quyền hoặc liên minh cầm quyền, có Công đảng Anh và Đảng Dân chủ xã hội Đức (SPD) là hai đảng đạt được những thành công nhất định. Hai đảng này trong thực tiễn cầm quyền đã áp dụng tư tưởng của “con đường thứ Ba” vào việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước và thu được những thành tựu khá nổi bật. Tuy nhiên trước những biến động lớn của tình hình thế giới và những khó khăn trong nội bộ các nước Tây Âu, nhiều vấn đề mới đã xuất hiện và tác động vào “con đường thứ Ba” tạo ra những cản trở đối với sự phát triển của nó. Mặt khác, trong phạm vi của các nhà nước do các đảng XHDC cầm quyền đã diễn ra những vấn đề nan giải. Trước hết, đó là tình trạng thất nghiệp hàng loạt do sự biến đổi của “tháp dân cư” - tuổi thọ trung bình tăng nhanh, tỷ lệ người hưởng trợ cấp tuổi già do đó cũng tăng nhanh. Trong khi đó, lực lượng trẻ bổ sung vào lực lượng lao động xã hội có xu hướng giảm. Thứ hai, gắn liền với tình hình trên là “sự bùng nổ” chi phí cho hệ thống y tế do sử dụng ngày càng tăng các thiết bị hiện đại và thuốc men đắt tiền. Đó còn là sự gia tăng của tệ nạn xã hội, phần lớn do thất nghiệp, do “bị gạt ra ngoài lề xã hội”. Thứ ba, đó là tình trạng trốn lậu thuế dưới nhiều hình thức ngày càng tăng. Tình hình trên đã dẫn đến khủng hoảng thâm hụt tài chính nghiêm trọng của các nhà nước xã hội do các đảng XHDC cầm quyền. Không những thế, chính những mặt tích cực trong chính sách bảo trợ xã hội đã trở thành tiêu cực. Chính sách phúc lợi và bảo hiểm XHDC truyền thống, “từ cái nôi đến phần mộ”, nhất là bao cấp cho những lớp người “xếp hàng chót” trong thị trường lao động, khiến cho họ ỷ lại, mong được hưởng lâu dài chế độ này và tất nhiên gười ta không tích cực tìm cách để quay lại thị trường lao động. Vai trò của nhà nước, ở các nước tư bản phát triển đang đứng trước một mâu thuẫn mới, một bên là sự cần thiết của vai trò quản lý quốc gia tập trung với một bên là hoạt động ngày càng mạnh mẽ của các tổ chức phi chính phủ (Non Government Organization - NGO). Những tổ chức này hoạt động không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên phạm vi quốc tế. Chính sách xã hội dân chủ làm sao thích ứng được với bối cảnh đó, làm sao tạo điều kiện cho công dân làm quen và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội rộng lớn, đó là một câu hỏi lớn và là biểu hiện của sự thất bại, phá sản của CNXHDC.
          Đối với những người cộng sản, chúng ta không phủ nhận những tìm tòi, thành tâm của một số người với sự mong muốn tháo gỡ khó khăn trên con đường phát triển xã hội của một số đảng XHDC tiến bộ. Nhưng chúng ta kiên quyết không chấp nhận quan điểm tư tưởng, lý luận và biện pháp cải lương của CNXHDC, đồng thời chúng ta cũng không tuyên chiến với các Đảng XHDC mà chống ảnh hưởng tư tưởng của nó với Đảng Cộng sản và quần chúng nhân dân lao động. Tranh thủ sự giúp đỡ, hợp tác với các Đảng XHDC đang cầm quyền có xu hướng tiến bộ như: Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Pháp, Nhật Bản... Tiếp thu chọn lọc những hạt nhân hợp lý của CNXHDC như chính sách XH, bảo vệ môi trường, sinh thái, bảo hiểm XH. Kiên quyết đấu tranh chống áp đặt hoặc lợi dụng quan hệ thân thiện để can thiệp vào công việc nội bộ hoặc phá hoại sự nghiệp đổi mới của Đảng và nhân dân ta, lái con đường phát triển xã hội theo CNXHDC

Để ngăn chặn, đẩy lùi và loại trừ ảnh hưởng tác hại của CNXHDC ở  nước ta hiện nay, cần nắm vững một số yêu cầu có tính nguyên tắc sau: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành đồng của Đảng, Nhà nước và nhân dân.Trung thành với lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và cả dân tộc, giải quyết hài hoà lợi ích giai cấp - dân tộc - nhân loại. Xây dựng Đảng Cộng sản, hệ thống chính trị XHCN thật sự trong sạch vững mạnh. Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, tầm trí tuệ và sức chiến đấu của Đảng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Kiên quyết chống đa nguyên chính trị, đi đôi với phát huy dân chủ XHCN, bảo vệ đường lối chính trị, quan điểm của Đảng. Nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính chủ động trong cuộc đấu tranh lý luận - tư tưởng, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức, công tác cán bộ, chủ động phòng chống diễn biến hoà bình, chống tự diễn biến, sự suy thoái về chính trị, về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững sự ổn định và tăng cường phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tốt các chính sách xã hội, công  bằng xã hội; bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc.Tăng cường hợp tác với các Đảng cộng sản và công nhân trong PTCS và CNQT các nước XHCN, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự đoàn kết trong PTCS và CNQT, các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới./.

NHẬN DIỆN VÀ PHÊ PHÁN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DÂN CHỦ HIỆN ĐẠI

Chủ nghĩa xã hội dân chủ (CNXHDC) là một trào lưu tư tưởng cải lương trong phong trào cộng sản (PTCS) và công nhân quốc tế (CNQT), xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XIX. Cho đến nay, CNXHDC vẫn tồn tại và một số đảng dân chủ (DCXH) đang nắm chính quyền ở một số nước tư bản chủ nghĩa (TBCN). Sau sự kiện khủng hoảng sụp đổ của CNXH hiện thực ở Đông Âu - Liên Xô, một số người cộng sản, một bộ phận công nhân, nhân dân lao động có những biểu hiện dao động về con đường chủ nghĩa xã hội (CNXH) Mác xít, muốn ngả sang CNXHDC, họ lớn tiếng đòi hỏi Đảng ta phải nhanh chóng hoàn lương, từ bỏ lý luận CNXHKH đi theo con đường CNXHDC. Vì vậy vạch rõ bản chất và tính phản động của CNXHDC là vấn đề cấp thiết trên mặt trận đấu tranh lý luận hiện nay.
CNXHDC là hệ thống các quan điểm tư tưởng của trào lưu xã hội dân chủ quốc tế mang tính cải lương về CNTB, về mô hình và con đường, biện pháp xây dựng CNXH và giải quyết các vấn đề xã hội khác.
CNXHDC không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên. Trái lại, nó là sản phẩm nảy sinh từ cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của CNTB và cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản. Từ những năm 70 của thế kỷ 19 những tư tưởng CNXHDC đã được hình thành với tư cách là một học thuyết, một lý luận trong phong trào công nhân quốc tế. Tổ chức tiền thân của trào lưu dân chủ xã hội đó là Đảng xã hội - dân chủ Đức được thành lập vào năm 1875 trên cơ sở sáp nhập hai tổ chức là Đảng Aidơnach thành lập 1863 (do BêBen lãnh đạo) - theo quan điểm Mác xít, và “Tổng công hội Đức” (do F.LátXan thành lập 1869) theo lập  trường cải lương. Tháng 5-1923, Quốc tế công nhân XHCN ra đời tại Hăm Buốc (Đức) trên cơ sở hợp nhất Quốc tế Luân Đôn và Quốc tế Hai Rưỡi. Cương lĩnh GôTa của Quốc tế công nhân XHCN đã bước đầu hình thành quan điểm, hệ thống lý luận của CNXHDC. Đến năm 1950, những người đứng đầu trào lưu dân chủ xã hội đã tổ chức Hội nghị Hội nghị XHCN quốc tế (Committe of the International Socialist Confrence - COMISCO) ở Đan Mạch. Tại Hội nghị này, lần đầu tiên đại diện của các đảng XHDC đã chính thức bàn đến khái niệm “Chủ nghĩa xã hội dân chủ” cùng với những nguyên tắc cơ bản của nó và việc xây dựng lại một tổ chức quốc tế của phong trào dân chủ xã hội. Tháng 7/1951, tại thành phố Frankfurt (CHLB Đức) đã diễn ra Đại hội thành lập tổ chức quốc tế mới của các đảng DCXH, lấy tên là Quốc tế XHCN (Socialist International - SI). Tuyên ngôn Frankfurt đã trình bày một cách khá đầy đủ và hệ thống các nguyên tắc của CNXH dân chủ, đánh dấu một giai đoạn hoàn toàn mới của CNXH dân chủ, một trào lưu tư tưởng chính trị hiện đại với tham vọng đứng trên và thay thế cả hệ thống TBCN và hệ thống XHCN, đối lập với cả chủ nghĩa tự do - bảo thủ và CNCS.
Nguồn gốc tư tưởng của CNXHDC chính là ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng tiểu tư sản trong phong trào công nhân được biểu hiện dưới nhiều màu sắc: CNXH không tưởng tư sản và tiểu tư sản, chủ nghĩa công liên, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cơ hội hữu và tả, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa chống cộng và sự đan xen phức tạp của các khuynh hướng tư tưởng đó. CNXHDC - học thuyết của trào lưu xã hội dân chủ trở thành một học thuyết chiết trung, hỗn tạp và mang tính cải lương, thực dụng, thoả hiệp giai cấp.
Nguồn gốc xã hội của CNXHDC là tầng lớp giai cấp công nhân quí tộc và tầng lớp trí thức có lợi ích gắn liền với giai cấp tư sản, sự hình thành và tồn tại của các tổ chức công đoàn vàng trong phong trào công nhân và các nghiệp đoàn tự do trong xã hội tư bản, đặc biệt là các đảng xã hội dân chủ và các tổ chức chính trị xã hội của nó. Ngoài ra còn kể đến sự hình thành và phát triển của tầng lớp trung lưu rộng lớn trong xã hội tư bản hiện đại và bộ phận công nhân chậm tiến.
CNXHDC là tên gọi thống nhất của hệ thống tư tưởng và mô hình mục tiêu của đảng DCXH. Bản chất của nó là trào lưu tư tưởng cải lương nằm trong PTCS và CNQT, lý luận mang tính chung chung, cải lương, cơ hội để nguỵ biện cho những thay đổi về thực tiễn chính trị khi cần thiết, thực chất là bảo vệ và duy trì chế độ TBCN. Tính cải lương là muốn cải tiến, cải cách chủ nghĩa Mác - Lênin trong khuôn khổ của chế độ TBCN để giai cấp tư sản và nhà tư bản chấp nhận được. Thoả hiệp với tư sản, họ tuyên truyền về “hợp tác giai cấp”, “hoà bình xã hội”. Các nhà dân chủ xã hội tuyên bố nguyên tắc chủ yếu trong những nguyên tắc đó là “nền dân chủ đa nguyên”, chủ trương xây dựng CNXH bằng biện pháp cải cách, sử dụng chế độ nghị viện tư sản, nhằm giành chính quyền chỉ thông qua bầu cử, khước từ những cuộc cải tạo XHCN, những thay đổi cơ bản về cơ cấu chính trị và kinh tế của CNTB hiện đại. Tính phản động là phản bội chủ nghĩa Mác- Lê nin, phản bội lợi ích của giai cấp công nhân, phủ nhận quy luật tiến hóa của lịch sử, bác bỏ những luận điểm quan trọng nhất của học thuyết Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về cách mạng xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản. Tính phản khoa học là lý luận mang tính chung chung, nguỵ biện, không tưởng, lúc tả, lúc hữu. Không nhất quán về lập trường tư tưởng “Gió chiều nào, che chiều ấy”, từ bỏ đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, chuyên chính vô sản, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Muốn tìm con đường thứ ba trong phát triển xã hội loài người.

Thực chất là phản bội lợi ích giai cấp công nhân, chỉ vì lợi ích của một nhóm người, duy trì vĩnh viễn chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bảo vệ chế độ TBCN. CNXHDC là sự hỗn tạp về tư tưởng, biểu hiện rất đa dạng. Các đảng, các phái theo CNXHDC đều có quan niệm riêng của họ về CNXH, về các vấn đề cải tổ xã hội theo những cái gọi là nguyên tắc của CNXHDC. CNXHDC đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa Mác - Lênin, CNXHKH. CNXHDC không dựa trên một cơ sở lý luận nhất quán mà mang tính chiết trung, hỗn tạp của nhiều khuynh hướng tư tưởng. CNXHDC đánh giá mơ hồ về bản chất của giai cấp tư sản, về xã hội tư bản, ảo tưởng rằng có thể xây dựng CNXH trong lòng xã hội tư bản, không cần lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản; có thể thông qua những cải cách xã hội để xây dựng CNXH trong khi vẫn duy trì cơ sở kinh tế, chính trị, pháp luật của CNTB. CNXHDC phủ nhận đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, phủ nhận và xuyên tạc những lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin như nguyên lý về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, lý luận hình thái kinh tế- xã hội, lý luận về chuyên chính vô sản... CNXHDC đưa ra những quan điểm tự do, bình đẳng, dân chủ phi giai cấp, phi lịch sử và trừu tượng. Quan niệm về CNXH, CNXHDC coi CNXH là một phạm trù đạo đức chứ không phải là một chế độ xã hội - giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội CSCN và ra đời thông qua cuộc cách mạng xã hội lật đổ giai cấp tư sản; về mô hình xã hội XHCN, CNXHDC chủ trương xây dựng nền kinh tế dựa trên chế độ tư hữu TBCN, thừa nhận và bảo lưu sự bóc lột của giai cấp tư sản đối với người lao động; về chính trị, thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, duy trì nền dân chủ tư sản, pháp quyền tư sản; về lợi ích, điều hoà lợi ích giữa giai cấp tư sản và các giai cấp, tầng lớp lao động khác.
(Còn nữa)

Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

XÂY DỰNG HẢI QUÂN NHÂN DÂN VIỆT NAM CÁCH MẠNG, HIỆN ĐẠI, BẢO VỆ VỮNG CHẮC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC

Thời gian gần đây, sau khi Hải quân Việt Nam được đầu tư mua sắm các loại vũ khí hiện đại như tàu hộ vệ tên lửa Gerpat, tàu ngầm Lopkilo, các thế lực phản động rêu rao rằng chúng ta đang hiện đại hóa Hải quân, mua sắm tàu ngầm… là để chạy đua vũ trang, răn đe nước khác….

Đây là quan điểm hoàn toàn sai lầm, cần phải khẳng định chắc chắn rằng Chúng ta hiện đại hóa Hải quân, phát triển lực lượng tàu ngầm hiện đại, không phải là chạy đua vũ trang, không phải để răn đe các nước trong khu vực, mà để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa trong mọi tình huống. đúng như lời dạy của Bác Hồ: "Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó"

Thực tiễn cho thấy, từ xưa đến nay, đất nước ta luôn có 2 nhiệm vụ: xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Chúng ta thực thi đường lối đối ngoại hòa bình, hữu nghị, nhưng cũng cần có đủ sức mạnh để tự bảo vệ. Nhân tố con người là quyết định nhưng vũ khí rất quan trọng. Khi có điều kiện kinh tế thì chúng ta hiện đại hóa quân đội, đây là việc làm bình thường, tất cả quốc gia cũng làm như vậy.

Hiện nay, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố khó lường, tạo ra cả thời cơ và thách thức đan xen. Các nước lớn có sự điều chỉnh chiến lược, vừa cạnh tranh, vừa kiềm chế lẫn nhau, tranh giành ảnh hưởng. Đặc biệt, tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, xuất hiện nhiều động thái mới, hành động mới của nước ngoài, như: cải tạo, mở rộng, quân sự, dân sự hóa các đảo nhân tạo,... uy hiếp trực tiếp đến chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Việt Nam. Tình hình đó cho thấy nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có những tính chất mới, ngày càng nặng nề, khó khăn, phức tạp, quyết liệt và lâu dài; đặt ra cho Quân chủng Hải quân những trọng trách lớn lao, đòi hỏi phải đẩy mạnh xây dựng Quân chủng “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, đủ sức làm nòng cốt để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó để xây dựng Quân chủng Hải quân hiện đại phải đồng bộ cả về con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật quân sự và phương thức tác chiến, v.v

Việc hiện đại hóa quân đội nói chung và Hải quân nói riêng nhằm đáp ứng các nhu cầu phòng thủ theo lộ trình phù hợp với nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, thể hiện tinh thần hòa bình, tự vệ trong chính sách quốc phòng của nước ta. Chúng ta đã công khai, minh bạch chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ, trong đó khẳng định việc mua sắm vũ khí trang bị là một vấn đề hết sức bình thường, trên cơ sở khả năng kinh tế phát triển đến đâu, chúng ta mua sắm trang bị đến đó.
Mặt khác chúng ta cũng cần phải thấy rằng, đối với khu vực, chạy đua vũ trang thực sự là một nguy cơ cần đề phòng và ngăn chặn. Trong những năm gần đây, ngân sách quốc phòng của các nước trong khu vực đều tăng, có những nước tăng nhanh hơn bình thường. Việc mua sắm vũ khí, trang thiết bị quân sự phản ánh chiến lược quốc phòng-quân sự của các nước. Khi chúng ta trang bị các loại vũ khí, thiết bị quân sự có tính chất phòng thủ, tự vệ là chính, phù hợp với tiềm lực kinh tế của mình thì không thể gọi là chạy đua vũ trang. Ngược lại, khi một nước mua sắm vũ khí, trang bị quân sự một cách bất thường, có tính năng tấn công tầm xa, vươn ra ngoài phạm vi địa lý thuộc chủ quyền lãnh thổ của mình, chắc chắn sẽ gây lo ngại từ các nước khác và có thể dẫn đến chạy đua vũ trang. Ở đây, cũng cần nhấn mạnh là chỉ có một số ít các nước trên thế giới có khả năng và tham vọng để thực hiện những việc như vậy.

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

Đẩy mạnh xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân, Quân đội nhân dân được xây dựng theo phương hướng mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định đã đạt được kết quả quan trọng, tương đối toàn diện, vững chắc. Trước yêu cầu cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng, sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, đảm bảo cho Quân đội nhân dân hoàn thành tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất và các nhiệm vụ được giao, thực sự xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Xét về tổng thể là xây dựng Quân đội từng bước hiện đại, nhưng số lực lượng được ưu tiên hiện đại hóa sẽ tiếp tục được mở rộng so với nhiệm kỳ Đại hội XI. Còn mở rộng đến đâu, hiện đại hóa những lực lượng nào và mức độ ra sao là tùy thuộc vào tình hình thực tế và khả năng, nguồn lực của đất nước. Theo đó, trước hết tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Sự vững mạnh về chính trị của Quân đội được biểu hiện tập trung ở việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhất quán đường lối, quan điểm của Đảng, có lập trường tư tưởng vững vàng, bản lĩnh chính trị cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Cùng với đó, Quân đội thực hiện tốt Đề án tổ chức lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, có cơ cấu tổ chức phù hợp, thành phần quân chủng, binh chủng cân đối, hợp lý; tiếp tục điều chỉnh thế bố trí lực lượng trên các địa bàn chiến lược, đáp ứng yêu cầu phòng thủ đất nước trong tình hình mới.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

NHẬN DIỆN VÀ PHÊ PHÁN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DÂN CHỦ HIỆN ĐẠI


Chủ nghĩa xã hội dân chủ là một trào lưu tư tưởng cải lương trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XIX. Cho đến nay, chủ nghĩa xã hội dân chủ vẫn tồn tại và một số đảng dân chủ (dân chủ xã hội) đang nắm chính quyền ở một số nước tư bản chủ nghĩa. Sau sự kiện khủng hoảng sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu, một số người cộng sản, một bộ phận công nhân, nhân dân lao động có những biểu hiện dao động về chủ nghĩa xã hội mácxít, muốn ngả sang chủ nghĩa xã hội dân chủ, họ lớn tiếng đòi hỏi Đảng ta phải nhanh chóng hoàn lương, từ bỏ lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học đi theo con đường chủ nghĩa xã hội dân chủ. Vì vậy, vạch rõ bản chất và tính phản động của chủ nghĩa xã hội dân chủ là vấn đề cấp thiết trên mặt trận đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay.
Chủ nghĩa xã hội dân chủ không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên. Trái lại, nó là sản phẩm nảy sinh từ cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của chủ nghĩa tư bản và cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản. Từ những năm 70 của thế kỷ XIX, những tư tưởng chủ nghĩa xã hội dân chủ đã được hình thành với tư cách là một học thuyết, một lý luận trong phong trào công nhân quốc tế. Tổ chức tiền thân của trào lưu dân chủ xã hội đó là Đảng xã hội - dân chủ Đức được thành lập vào năm 1875 trên cơ sở sáp nhập hai tổ chức là Đảng Aidơnach thành lập năm 1863 (do Bêben lãnh đạo) - theo quan điểm mácxít, và “Tổng công hội Đức” (do F.Látxan thành lập năm 1869) theo lập  trường cải lương. Tháng 5 năm 1923, Quốc tế Công nhân xã hội chủ nghĩa ra đời tại Hăm Buốc (Đức) trên cơ sở hợp nhất Quốc tế Luân Đôn và Quốc tế Hai Rưỡi. Cương lĩnh Gôta của Quốc tế công nhân xã hội chủ nghĩa đã bước đầu hình thành quan điểm, hệ thống lý luận của chủ nghĩa xã hội dân chủ. Đến năm 1950, những người đứng đầu trào lưu dân chủ xã hội đã tổ chức Hội nghị xã hội chủ nghĩa quốc tế ở Đan Mạch. Tại Hội nghị này, lần đầu tiên đại diện của các đảng xã hội dân chủ đã chính thức bàn đến khái niệm “chủ nghĩa xã hội dân chủ” cùng với những nguyên tắc cơ bản của nó và việc xây dựng lại một tổ chức quốc tế của phong trào dân chủ xã hội. Tháng 7 năm 1951, tại thành phố Frankfurt (Cộng hoà Liên bang Đức) đã diễn ra Đại hội thành lập tổ chức quốc tế mới của các đảng dân chủ xã hội, lấy tên là Quốc tế Xã hội chủ nghĩa. Tuyên ngôn Frankfurt đã trình bày một cách khá đầy đủ và hệ thống các nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội dân chủ, đánh dấu một giai đoạn hoàn toàn mới của chủ nghĩa xã hội dân chủ, một trào lưu tư tưởng chính trị hiện đại với tham vọng đứng trên và thay thế cả hệ thống tư bản chủ nghĩa và hệ thống xã hội chủ nghĩa, đối lập với cả chủ nghĩa tự do - bảo thủ và chủ nghĩa cộng sản.
Nguồn gốc tư tưởng của chủ nghĩa xã hội dân chủ chính là ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng tiểu tư sản trong phong trào công nhân được biểu hiện dưới nhiều màu sắc: chủ nghĩa xã hội không tưởng tư sản và tiểu tư sản, chủ nghĩa công liên, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cơ hội hữu và tả, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa chống cộng và sự đan xen phức tạp của các khuynh hướng tư tưởng đó. Chủ nghĩa xã hội dân chủ - học thuyết của trào lưu xã hội dân chủ trở thành một học thuyết chiết trung, hỗn tạp và mang tính cải lương, thực dụng, thoả hiệp giai cấp.
Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa xã hội dân chủ là tầng lớp giai cấp công nhân quý tộc và tầng lớp trí thức có lợi ích gắn liền với giai cấp tư sản, sự hình thành và tồn tại của các tổ chức công đoàn vàng trong phong trào công nhân và các nghiệp đoàn tự do trong xã hội tư bản, đặc biệt là các đảng xã hội dân chủ và các tổ chức chính trị xã hội của nó. Ngoài ra còn kể đến sự hình thành và phát triển của tầng lớp trung lưu rộng lớn trong xã hội tư bản hiện đại và bộ phận công nhân chậm tiến.
Chủ nghĩa xã hội dân chủ là tên gọi thống nhất của hệ thống tư tưởng và mô hình mục tiêu của đảng dân chủ xã hội. Bản chất của nó là trào lưu tư tưởng cải lương nằm trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lý luận mang tính chung chung, cải lương, cơ hội để nguỵ biện cho những thay đổi về thực tiễn chính trị khi cần thiết, thực chất là bảo vệ và duy trì chế độ tư bản chủ nghĩa.
Tính cải lương là muốn cải tiến, cải cách chủ nghĩa Mác - Lênin trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa để giai cấp tư sản và nhà tư bản chấp nhận được. Thoả hiệp với tư sản, họ tuyên truyền về “hợp tác giai cấp”, “hoà bình xã hội”. Các nhà dân chủ xã hội tuyên bố nguyên tắc chủ yếu trong những nguyên tắc đó là “nền dân chủ đa nguyên”, chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng biện pháp cải cách, sử dụng chế độ nghị viện tư sản, nhằm giành chính quyền chỉ thông qua bầu cử, khước từ những cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, những thay đổi cơ bản về cơ cấu chính trị và kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại. T
Tính phản động là phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin, phản bội lợi ích của giai cấp công nhân, phủ nhận quy luật tiến hóa của lịch sử, bác bỏ những luận điểm quan trọng nhất của học thuyết Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về cách mạng xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản.
Tính phản khoa học là lý luận mang tính chung chung, nguỵ biện, không tưởng, lúc tả, lúc hữu. Không nhất quán về lập trường tư tưởng “Gió chiều nào, che chiều ấy”, từ bỏ đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, chuyên chính vô sản, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Muốn tìm con đường thứ ba trong phát triển xã hội loài người.
Thực chất của chủ nghĩa xã hội dân chủ là phản bội lợi ích giai cấp công nhân, chỉ vì lợi ích của một nhóm người, duy trì vĩnh viễn chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bảo vệ chế độ tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội dân chủ là sự hỗn tạp về tư tưởng, biểu hiện rất đa dạng. Các đảng, các phái theo chủ nghĩa xã hội dân chủ đều có quan niệm riêng của họ về chủ nghĩa xã hội, về các vấn đề cải tổ xã hội theo những cái gọi là nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội dân chủ. Chủ nghĩa xã hội dân chủ đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa xã hội dân chủ không dựa trên một cơ sở lý luận nhất quán mà mang tính chiết trung, hỗn tạp của nhiều khuynh hướng tư tưởng. Chủ nghĩa xã hội dân chủ đánh giá mơ hồ về bản chất của giai cấp tư sản, về xã hội tư bản, ảo tưởng rằng có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội trong lòng xã hội tư bản, không cần lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản; có thể thông qua những cải cách xã hội để xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn duy trì cơ sở kinh tế, chính trị, pháp luật của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa xã hội dân chủ phủ nhận đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, phủ nhận và xuyên tạc những lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin như nguyên lý về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, lý luận hình thái kinh tế - xã hội, lý luận về chuyên chính vô sản... Chủ nghĩa xã hội dân chủ đưa ra những quan điểm tự do, bình đẳng, dân chủ phi giai cấp, phi lịch sử và trừu tượng. Quan niệm về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội dân chủ coi chủ nghĩa xã hội là một phạm trù đạo đức chứ không phải là một chế độ xã hội - giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa và ra đời thông qua cuộc cách mạng xã hội lật đổ giai cấp tư sản; về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội dân chủ chủ trương xây dựng nền kinh tế dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thừa nhận và bảo lưu sự bóc lột của giai cấp tư sản đối với người lao động; về chính trị, thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, duy trì nền dân chủ tư sản, pháp quyền tư sản; về lợi ích, điều hoà lợi ích giữa giai cấp tư sản và các giai cấp, tầng lớp lao động khác.
Thực chất chủ nghĩa xã hội dân chủ là sự điều chỉnh thích nghi của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Chủ nghĩa xã hội dân chủ đã đồng lõa với chủ nghĩa chống cộng, chống phá quyết liệt chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội dân chủ là đồng minh với chủ nghĩa tư bản để chống phá chủ nghĩa xã hội hiện thực, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Chủ nghĩa xã hội dân chủ là một kẻ thù tư tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học.

Để ngăn chặn, đẩy lùi và loại trừ ảnh hưởng tác hại của chủ nghĩa xã hội dân chủ ở nước ta hiện nay, cần nắm vững một số yêu cầu có tính nguyên tắc sau: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trung thành với lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và cả dân tộc, giải quyết hài hoà lợi ích giai cấp - dân tộc - nhân loại. Xây dựng Đảng, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thật sự trong sạch vững mạnh. Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Kiên quyết chống đa nguyên chính trị. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ đường lối chính trị, quan điểm của Đảng. Nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính chủ động trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động phòng, chống “diễn biến hoà bình”, “tự diễn biến”, sự suy thoái về chính trị, về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững sự ổn định và tăng cường phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tốt các chính sách xã hội, công  bằng xã hội; bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc. Tăng cường hợp tác với các đảng cộng sản và công nhân trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế các nước xã hội chủ nghĩa, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, bảo vệ của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự đoàn kết trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới./.