Hiển thị các bài đăng có nhãn tư bản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tư bản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM LUÔN BÁM SÁT ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Việc phát triển nền KTTT tại Việt Nam phải mang định hướng XHCN để xây dựng CNXH, chứ đây không phải là một nền KTTT theo kiểu tư bản, để xây dựng chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong nền KTTT mà chúng ta đang xây dựng, thì “định hướng xã hội chủ nghĩa” của nền kinh tế được nhất quán xác lập và tăng cường thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, lấy con người làm trung tâm, vì mọi người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, nền kinh tế của Việt Nam đã khắc phục được rất nhiều hạn chế của KTTT tự do. Kết quả phòng, chống dịch Covid-19 đã cho thấy rõ hiệu quả định hướng, điều hành của Nhà nước ta trong nền kinh tế-xã hội so với nhiều quốc gia khác.

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2018

PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA TƯ BẢN DO ĐIỀU CHỈNH THÍCH NGHI NÊN ƯU VIỆT HƠN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Đúng là không ai có thể phủ nhận một thực tế hiện nay là các nước tư bản chủ nghĩa phát triển do điều chỉnh thích nghi nên đã có được những thành tựu phát triển về kinh tế, khoa học công nghệ kéo theo những cải thiện nhất định về điều kiện sống của người dân. Nhưng đó mới chỉ là cách nhìn thực tại, phiến diện, không thấy đằng sau và phía trước của sự phát triển ấy là gỉ?
          Trước hết, cần nhìn nhận cho rõ những thành tựu đó do đâu mà có? Chủ nghĩa tư bản đã có nhiều trăm năm phát triển. Trên con đường phát triển của nó, bánh xe vận hành của chủ nghĩa tư bản đã lần đi trong ngập ngụa máu và nước mắt của nhân loại cần lao, thống khổ trên khắp các lục địa“Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”, đó là lời tự thú có tính chất phản tỉnh của một học giả tư sản là Terry Eagleton. Chỉ cần giở lại các trang lịch sử của nước Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ý… sẽ thấy ngay những gì mà chế độ tư bản đã hành xử với đồng loại của mình. Những kẻ thực dân từ cựu lục địa châu Âu đã phá vỡ cuộc sống bình yên hàng nghìn năm của các bộ tộc người da đỏ, chiếm đoạt đất đai của họ bằng gươm, súng và cả sự tra tấn dã man, rùng rợn ngoài trí tưởng tượng, bằng cách lột da đầu.Như vậy của cải mà chủ nghĩa tư bản ở các nước tư bản phát triển có được chính là do cướp bóc mà có chứ không phải do bản thân nó tự làm ra.
          Từ những của cải cướp bóc được đó chủ nghĩa tư bản đã tạo ra cho mình những điều kiện thuận lợi hơn để tiếp tục phát triển như điều kiện về vốn, về khoa học công nghệ, về trình độ quản lý, vì vậy hiện nay thoạt nhìn thì có thể thấy chủ nghĩa tư bản ở các nước phát triển có cao hơn nhiều so với phần còn lại của thế giới. Tuy nhiên nhìn một cách tổng thể và đi sâu phân tích kỹ lưỡng xã hội các nước tư bản này thì chúng ta lại thấy sự phát triển đó luôn là sự phát triển không cân đối. Chủ nghĩa tư bản chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế mà quên đi các vấn đề xã hội, phát triển kinh tế không gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, điều này đúng với bản chất của nó. Chủ nghĩa tư bản càng áp dụng khoa học, công nghệ thì mức độ bóc lột người lao động càng cao, chủ nghĩa tư bản cho người lao động tham gia cổ phần của mình, tuy nhiên đó chỉ là chiêu bài mỵ dân để điều hòa mâu thuẫn. Nhìn nhận xã hội tư bản ở các nước phát triển hiện nay chúng ta thấy luôn luôn có sự bất ổn, tình trạng bạo lực, khủng bố thường xuyên xảy ra. Điều này ai cũng hiểu chính là do những mâu thuẫn vốn có của nó không được giải quyết mà ngày càng trở nên gay gắt.
          Một điểm nữa cũng cho ta thấy không phải tất cả chủ nghĩa tư bản thì đều phát triển mà ngoài các nước tư bản phát triển ra thì phần còn lại của thế giới tư bản cũng đều là các nước đang và chậm phát triển, thậm chí còn có những nước rất, rất kém phát triển. Vậy chủ nghĩa tư bản có ưu việt hơn chủ nghĩa xã hội không?
          Với các nước xã hội chủ nghĩa như chúng ta đã thấy, đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp, nhiều nước phải chịu sự áp bức bóc lột của chế độ thực dân, đế quốc trong một thời gian rất dài, đồng thời lại phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt, vì vậy khó khăn lại chồng chất khó khăn. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường không có sẵn mà phải mò mẫm, bên cạnh đó lại phải luôn đối phó với sự chống phá rất quyết liệt của các thế lự đế quốc phản động. Nhưng mặc dù phải đương đầu với muôn vàn khó khăn đó thành tựu mà chủ nghĩa xã hội đạt được là rất to lớn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Thử hỏi nếu không có chủ nghĩa xã hội thì nhân loại sẽ đi đến đâu dưới gót giày tàn bạo của chủ nghĩa phát xít, nếu không có chủ nghĩa xã hội thì thế giới này có được môi trường hòa bình phát triển không? Cho dù hiện nay chủ nghĩa xã hội không còn là hệ thống như trước đây, nhưng nhìn vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại không ai có thể phủ nhận được sự ổn định phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội, ở các nước này luôn quan tâm phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội. Cũng ở các nước này quyền làm chủ của nhân dân mới được tôn trọng và phát huy đầy đủ. Chỉ như vậy thôi cũng đã thấy xã hội nào là ưu việt và ngược lại./.

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Có phải chủ nghĩa tư bản ngày nay đã thay đổi bản chất?

Trước sự điều chỉnh, thích nghi của chủ nghĩa tư bản, trong bối cảnh các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau vì lợi ích quốc gia, dân tộc, một số phần tử lớn tiếng rêu rao rằng: chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất; phương thức sản xuất tư bản ngày nay không còn hiện tượng người bóc lột người, xã hội tư bản là xã hội tiến bộ nhất trong lịch sử nhân loại mà loài người cần hướng đến. Phải chăng chủ nghĩa tư bản ngày nay đã thay đổi bản chất? Có thể khẳng định rằng, nhận định trên hoàn toàn sai lầm, nhầm lẫn cả về lý luận và thực tiễn.
Nhận định về chủ nghĩa tư bản hiện nay, Đảng ta chỉ rõ: “Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.”
 Mặc dù có điều chỉnh như thế nào đi nữa, thì bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn không hề thay đổi, vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Sự áp bức, bất công đó thông qua sự thống trị của chủ nghĩa tư bản độc quyền, của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Sự thống trị đó không chỉ đóng khung trong từng quốc gia, dân tộc mà được quốc tế hóa hơn bao giờ hết. Sự áp bức, bóc lột được che đậy dưới nhiều hình thức khác nhau và ngày càng mang tính chất tinh vi hơn trước; hình thức bóc lột cũng luôn có sự thay đổi dựa trên việc áp dụng những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Sự bóc lột vượt khỏi biên giới quốc gia và được triển khai trên phạm vi quốc tế thông qua nhiều hình thức.
Cho dù có điều chỉnh thích nghi, nhưng những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Mâu thuẫn đó được biểu biện cụ thể ra là mâu thuẫn giữa sản xuất có khả năng vô hạn và tiêu dùng có khả năng thanh toán bị hạn chế, giữa tư bản và người lao động làm thuê, giữa tư bản và tư bản, trong một nước và trên phạm vi quốc tế, giữa các nước tư bản với nhau, giữa các nước tư bản với các nước đang phát triển. Bên cạnh đó, các mâu thuẫn mới cũng ngày càng thể hiện rõ nét đó là mâu thuẫn giữa sức sản xuất có khả năng phát triển vô hạn với sự giới hạn của các nguồn tài nguyên và môi trường, giữa nhu cầu nhất thể hóa và toàn cầu hóa với lợi ích của từng quốc gia và của toàn bộ cộng đồng các nước, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu khi chuyển đổi cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế.
Như vậy, những giọng điệu tuyên truyền chủ nghĩa tư bản hiện nay thay đổi bản chất không có gì mới và xa lạ đối với chúng ta. Về bản chất chúng vẫn theo những lối mòn cũ muốn phủ định giá trị vĩnh hằng của chủ nghĩa Mác - Lênin, và tạo cảm giác mơ hồ cho những người cộng sản trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng hiện nay.




Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

Giai cấp công nhân ở các nước tư bản phát triển có còn tinh thần cách mạng không?

Có quan điểm cho rằng trong các nước tư bản phát triển, GCCN đã được “trung lưu hóa” và có cổ phân trong trong xí nghiệp; đời sống của một bộ phận không nhỏ trong GCCN đã được cải thiện và có thu nhập cao cho nên họ không còn có tinh thần cách mạng như trước đây.

Quan điểm trên là hoàn toàn phản động phản khoa học. Mặc dù ở các nước tư bản phát triển có một bộ phận không nhỏ trong GCCN có thu nhập cao đời sống của họ được cải thiện có khá giả hơn, nhưng thực ra, điều đó không có nghĩa là GCCN ở các nước ấy không còn bị bóc lột cũng như không có nghĩa là mâu thuẫn giữa GCTS và GCCN đã được điều hòa.. Về cơ bản, GCCN vẫn là người không có TLSX bởi vì phần lớn, nếu không nói là toàn bộ TLSX TBCN vẫn còn nằm trong tay GCTS, họ vẫn phải bán sức lao động (cả trí óc lẫn chân tay) cho nhà tư bản để kiếm sống. Do ứng dụng được những thành tựu KH-KT Công nghệ cùng với sự gia tăng cường độ lao động, GCCN ngày càng tạo nên nhiều “M” hơn so với trước đây và vì vậy càng bị GCTS bóc lột nhiều hơn trước. Giai cấp tư sản chỉ bớt môt phần rất nhỏ trong lợi nhuận thu được của mình để cải thiện đời sống công nhân. Sự bất công, bất bình đẳng và khoảng cách thu nhập ngày càng cách xa giữa GCCN và GCTS cho thấy mâu thuẫn giữa GCTS và GCCN không hề bị xóa đi mà ngày càng sâu sắc, tính cách mạng triệt để của GCCN cũng ngày càng được khẳng định.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

CÓ THỂ TIỆM TIẾN TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ĐƯỢC KHÔNG?


Hiện nay trên nhiều văn đàn, diễn đàn và các trang mạng xã hội có một số quan điểm, thậm chí có cả quan điểm của một số người là đảng viên, trí thức ở các trung tâm khoa học lớn, họ cho rằng: “Trên cơ sở sự phát triển của cách mạng khoa học, công nghệ, sự điều chỉnh thích nghi của chủ nghĩa tư bản và sự tham gia của một bộ phận công nhân vào quản lý sản xuất, kinh doanh thì chủ nghĩa tư bản sẽ dần tiệm tiến lên chủ nghĩa xã hội mà không cần phải tiến hành đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội. Như vậy thế giới sẽ giữ được môi trường hòa bình để phát triển, sẽ không xảy ra đổ máu vô ích...”. Vậy một câu hỏi đặt ra là liệu điều đó có thể xảy ra không?
Là những người cộng sản hơn ai hết chúng ta đều có thể khẳng định rằng, điều đó sẽ không thể xảy ra. Khi đi vào nghiên cứu mổ sẻ và phân tích giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin đã vạch trần bản chất của giai cấp tư sản, chế độ tư bản chủ nghĩa. Đây là chế độ mà lợi ích của chúng luôn gắn liền với sự áp bức, bóc lộ giai cấp công nhân, nhân dân lao động thông qua giá trị thặng dư. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã chỉ ra rằng với bản chất của giai cấp tư sản vì lợi nhuận của nó nó có thể làm tất cả bất chấp mọi thủ đoạn. Thực tế cũng đã chứng minh trong suốt quá trình hình thành và tồn tại, phát triển của giai cấp tư sản, chế độ tư bản thì luôn gắn liền với việc áp bức, bóc lột giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Chủ nghĩa đế quốc vì lợi ích của mình chúng đã tiến hành những cuộc chiến tranh thế giới để mục đích phân chia thị trường gây ra bao đau khổ cho nhân dân lao động.
Mặc dù hiện nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, chủ nghĩa tư bản có điều chỉnh thích nghi, một bộ phận công nhân ở một số nước tư bản có cổ phần được tham gia quản lý sản xuất, tuy nhiên khoa học càng phát triển thì mức độ bóc lột càng cao. Sự điều chỉnh thích nghi cho công nhân tham gia cổ phần và quản lý sản xuất chỉ là vỏ bọc để điều hòa mâu thuẫn giai cấp mà thôi. Tìm hiểu kỹ cho ta thấy tỷ lệ công nhân được tham gia cổ phần trong các doanh nghiệp của các nhà tư sản chỉ chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn so với khối tài sản kếch sù của các nhà tư sản. Do vậy mức độ được phân chia lợi nhuận mà người công nhân được hưởng cũng chỉ được một phần rất ít ỏi mà thôi. Theo nhiều số liệu nghiên cứu thì hiện nay ở các nước tư bản phát triển tỷ lệ người giàu chỉ chiếm 10% dân số nhưng đã chiếm đến 90% lượng tài sản. Ngược lại số đông 90% dân số kia chỉ sở hữu 10% lượng tài sản còn lại. Ở góc độ khác ở các nước tư bản phát triển lực lượng giữ vai trò lãnh đạo xã hội thì vẫn là giai cấp tư sản chứ không phải là các giai cấp khác.

Từ những phân tích một cách cơ bản khái quát trên cho thấy sẽ không bao giờ có sự tiệm tiến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các quan điểm đã nêu ở trên là hoàn toàn ngộ nhận, sai lầm, dù vô tình hay cố ý các quan điểm trên cũng tiếp tay cho sự thống trị của giai cấp tư sản bảo vệ cho sự tồn tại của chế độ tư bản. Đồng thời với đó là xóa nhòa mâu thuẫn giai cấp, làm triệt tiêu động lực đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ trong giai đoạn hiện nay./

NHẬN DIỆN VÀ PHÊ PHÁN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DÂN CHỦ HIỆN ĐẠI


Chủ nghĩa xã hội dân chủ là một trào lưu tư tưởng cải lương trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XIX. Cho đến nay, chủ nghĩa xã hội dân chủ vẫn tồn tại và một số đảng dân chủ (dân chủ xã hội) đang nắm chính quyền ở một số nước tư bản chủ nghĩa. Sau sự kiện khủng hoảng sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu, một số người cộng sản, một bộ phận công nhân, nhân dân lao động có những biểu hiện dao động về chủ nghĩa xã hội mácxít, muốn ngả sang chủ nghĩa xã hội dân chủ, họ lớn tiếng đòi hỏi Đảng ta phải nhanh chóng hoàn lương, từ bỏ lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học đi theo con đường chủ nghĩa xã hội dân chủ. Vì vậy, vạch rõ bản chất và tính phản động của chủ nghĩa xã hội dân chủ là vấn đề cấp thiết trên mặt trận đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay.
Chủ nghĩa xã hội dân chủ không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên. Trái lại, nó là sản phẩm nảy sinh từ cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội của chủ nghĩa tư bản và cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội tư bản. Từ những năm 70 của thế kỷ XIX, những tư tưởng chủ nghĩa xã hội dân chủ đã được hình thành với tư cách là một học thuyết, một lý luận trong phong trào công nhân quốc tế. Tổ chức tiền thân của trào lưu dân chủ xã hội đó là Đảng xã hội - dân chủ Đức được thành lập vào năm 1875 trên cơ sở sáp nhập hai tổ chức là Đảng Aidơnach thành lập năm 1863 (do Bêben lãnh đạo) - theo quan điểm mácxít, và “Tổng công hội Đức” (do F.Látxan thành lập năm 1869) theo lập  trường cải lương. Tháng 5 năm 1923, Quốc tế Công nhân xã hội chủ nghĩa ra đời tại Hăm Buốc (Đức) trên cơ sở hợp nhất Quốc tế Luân Đôn và Quốc tế Hai Rưỡi. Cương lĩnh Gôta của Quốc tế công nhân xã hội chủ nghĩa đã bước đầu hình thành quan điểm, hệ thống lý luận của chủ nghĩa xã hội dân chủ. Đến năm 1950, những người đứng đầu trào lưu dân chủ xã hội đã tổ chức Hội nghị xã hội chủ nghĩa quốc tế ở Đan Mạch. Tại Hội nghị này, lần đầu tiên đại diện của các đảng xã hội dân chủ đã chính thức bàn đến khái niệm “chủ nghĩa xã hội dân chủ” cùng với những nguyên tắc cơ bản của nó và việc xây dựng lại một tổ chức quốc tế của phong trào dân chủ xã hội. Tháng 7 năm 1951, tại thành phố Frankfurt (Cộng hoà Liên bang Đức) đã diễn ra Đại hội thành lập tổ chức quốc tế mới của các đảng dân chủ xã hội, lấy tên là Quốc tế Xã hội chủ nghĩa. Tuyên ngôn Frankfurt đã trình bày một cách khá đầy đủ và hệ thống các nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội dân chủ, đánh dấu một giai đoạn hoàn toàn mới của chủ nghĩa xã hội dân chủ, một trào lưu tư tưởng chính trị hiện đại với tham vọng đứng trên và thay thế cả hệ thống tư bản chủ nghĩa và hệ thống xã hội chủ nghĩa, đối lập với cả chủ nghĩa tự do - bảo thủ và chủ nghĩa cộng sản.
Nguồn gốc tư tưởng của chủ nghĩa xã hội dân chủ chính là ảnh hưởng của hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng tiểu tư sản trong phong trào công nhân được biểu hiện dưới nhiều màu sắc: chủ nghĩa xã hội không tưởng tư sản và tiểu tư sản, chủ nghĩa công liên, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cơ hội hữu và tả, chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa chống cộng và sự đan xen phức tạp của các khuynh hướng tư tưởng đó. Chủ nghĩa xã hội dân chủ - học thuyết của trào lưu xã hội dân chủ trở thành một học thuyết chiết trung, hỗn tạp và mang tính cải lương, thực dụng, thoả hiệp giai cấp.
Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa xã hội dân chủ là tầng lớp giai cấp công nhân quý tộc và tầng lớp trí thức có lợi ích gắn liền với giai cấp tư sản, sự hình thành và tồn tại của các tổ chức công đoàn vàng trong phong trào công nhân và các nghiệp đoàn tự do trong xã hội tư bản, đặc biệt là các đảng xã hội dân chủ và các tổ chức chính trị xã hội của nó. Ngoài ra còn kể đến sự hình thành và phát triển của tầng lớp trung lưu rộng lớn trong xã hội tư bản hiện đại và bộ phận công nhân chậm tiến.
Chủ nghĩa xã hội dân chủ là tên gọi thống nhất của hệ thống tư tưởng và mô hình mục tiêu của đảng dân chủ xã hội. Bản chất của nó là trào lưu tư tưởng cải lương nằm trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lý luận mang tính chung chung, cải lương, cơ hội để nguỵ biện cho những thay đổi về thực tiễn chính trị khi cần thiết, thực chất là bảo vệ và duy trì chế độ tư bản chủ nghĩa.
Tính cải lương là muốn cải tiến, cải cách chủ nghĩa Mác - Lênin trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa để giai cấp tư sản và nhà tư bản chấp nhận được. Thoả hiệp với tư sản, họ tuyên truyền về “hợp tác giai cấp”, “hoà bình xã hội”. Các nhà dân chủ xã hội tuyên bố nguyên tắc chủ yếu trong những nguyên tắc đó là “nền dân chủ đa nguyên”, chủ trương xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng biện pháp cải cách, sử dụng chế độ nghị viện tư sản, nhằm giành chính quyền chỉ thông qua bầu cử, khước từ những cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, những thay đổi cơ bản về cơ cấu chính trị và kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại. T
Tính phản động là phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin, phản bội lợi ích của giai cấp công nhân, phủ nhận quy luật tiến hóa của lịch sử, bác bỏ những luận điểm quan trọng nhất của học thuyết Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về cách mạng xã hội chủ nghĩa và chuyên chính vô sản.
Tính phản khoa học là lý luận mang tính chung chung, nguỵ biện, không tưởng, lúc tả, lúc hữu. Không nhất quán về lập trường tư tưởng “Gió chiều nào, che chiều ấy”, từ bỏ đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, chuyên chính vô sản, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Muốn tìm con đường thứ ba trong phát triển xã hội loài người.
Thực chất của chủ nghĩa xã hội dân chủ là phản bội lợi ích giai cấp công nhân, chỉ vì lợi ích của một nhóm người, duy trì vĩnh viễn chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bảo vệ chế độ tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội dân chủ là sự hỗn tạp về tư tưởng, biểu hiện rất đa dạng. Các đảng, các phái theo chủ nghĩa xã hội dân chủ đều có quan niệm riêng của họ về chủ nghĩa xã hội, về các vấn đề cải tổ xã hội theo những cái gọi là nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội dân chủ. Chủ nghĩa xã hội dân chủ đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học. Chủ nghĩa xã hội dân chủ không dựa trên một cơ sở lý luận nhất quán mà mang tính chiết trung, hỗn tạp của nhiều khuynh hướng tư tưởng. Chủ nghĩa xã hội dân chủ đánh giá mơ hồ về bản chất của giai cấp tư sản, về xã hội tư bản, ảo tưởng rằng có thể xây dựng chủ nghĩa xã hội trong lòng xã hội tư bản, không cần lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản; có thể thông qua những cải cách xã hội để xây dựng chủ nghĩa xã hội trong khi vẫn duy trì cơ sở kinh tế, chính trị, pháp luật của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa xã hội dân chủ phủ nhận đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, phủ nhận và xuyên tạc những lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin như nguyên lý về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, lý luận hình thái kinh tế - xã hội, lý luận về chuyên chính vô sản... Chủ nghĩa xã hội dân chủ đưa ra những quan điểm tự do, bình đẳng, dân chủ phi giai cấp, phi lịch sử và trừu tượng. Quan niệm về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội dân chủ coi chủ nghĩa xã hội là một phạm trù đạo đức chứ không phải là một chế độ xã hội - giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa và ra đời thông qua cuộc cách mạng xã hội lật đổ giai cấp tư sản; về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội dân chủ chủ trương xây dựng nền kinh tế dựa trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thừa nhận và bảo lưu sự bóc lột của giai cấp tư sản đối với người lao động; về chính trị, thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, duy trì nền dân chủ tư sản, pháp quyền tư sản; về lợi ích, điều hoà lợi ích giữa giai cấp tư sản và các giai cấp, tầng lớp lao động khác.
Thực chất chủ nghĩa xã hội dân chủ là sự điều chỉnh thích nghi của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Chủ nghĩa xã hội dân chủ đã đồng lõa với chủ nghĩa chống cộng, chống phá quyết liệt chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học, các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội dân chủ là đồng minh với chủ nghĩa tư bản để chống phá chủ nghĩa xã hội hiện thực, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Chủ nghĩa xã hội dân chủ là một kẻ thù tư tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học.

Để ngăn chặn, đẩy lùi và loại trừ ảnh hưởng tác hại của chủ nghĩa xã hội dân chủ ở nước ta hiện nay, cần nắm vững một số yêu cầu có tính nguyên tắc sau: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trung thành với lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và cả dân tộc, giải quyết hài hoà lợi ích giai cấp - dân tộc - nhân loại. Xây dựng Đảng, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thật sự trong sạch vững mạnh. Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Kiên quyết chống đa nguyên chính trị. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ đường lối chính trị, quan điểm của Đảng. Nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính chủ động trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động phòng, chống “diễn biến hoà bình”, “tự diễn biến”, sự suy thoái về chính trị, về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững sự ổn định và tăng cường phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tốt các chính sách xã hội, công  bằng xã hội; bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc. Tăng cường hợp tác với các đảng cộng sản và công nhân trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế các nước xã hội chủ nghĩa, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, bảo vệ của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự đoàn kết trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới./.