Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

VỀ CÁI GỌI LÀ “CHỦ NGHĨA CHIA RẼ VÀ CỰC ĐOAN THỂ HIỆN DƯỚI HÌNH THỨC CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN”

Quan điểm này đem quy chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, đối lập với tư tưởng “đoàn kết và thống nhất của Hồ Chí Minh”. Đây là sự quy chụp, áp đặt cho chủ nghĩa Mác - Lênin một cách vô căn cứ, vu khống, bịa đặt. Bởi vì chia rẽ, cực đoan không phải là bản chất của  chủ nghĩa Mác - Lênin mà đó là tư tưởng và hành động sai lầm của những người theo chủ nghĩa chia rẽ, bè phái, tả khuynh hoặc hữu khuynh... Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học phản ánh những quy luật khách quan của thế giới, dựa trên phương pháp biện chứng duy vật với các quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể và thực tiễn chứ không phải dựa trên chia rẽ và cực đoan, phiến diện, không thể đồng nhất, lẫn lộn những sai lầm đó với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Trên thực tế, như chúng ta biết, Mác, Ăngghen, Lênin luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất trong phong trào cách mạng. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăngghen đã đưa ra khẩu hiệu “vô sản tất cả các nước đoàn kết lại!”. Về sau này Lênin bổ sung thêm: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng các chính đảng cách mạng, Mác, Ăngghen, Lênin đều yêu cầu phải đoàn kết, thống nhất để tạo thành sức mạnh của tổ chức cách mạng.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn Đảng. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy khi nào đoàn kết thì thắng lợi, chia rẽ là thất bại. Tổng kết 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh năm 2011 của Đảng đã đúc rút bài học quan trọng: “Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”. Đảng cũng khẳng định, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2022

KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

 

Để đấu tranh chống các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch hiệu quả, trước hết phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là đòi hỏi khách quan, yêu cầu có tính nguyên tắc và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa; kiên định đường lối đổi mới. Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp những luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước.

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2022

CÁI GIÁ PHẢI TRẢ QUÁ ĐẮT KHI PHẢN BỘI CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

Chúng ta đều biết, với sự ra đời của chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đã trở thành khoa học. Lần đầu tiên, giai cấp vô sản có một lý luận khoa học, cách mạng soi sáng, dẫn đường; chủ nghĩa Mác từ “một bóng ma ám ảnh châu Âu” đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, có uy tín, vị thế và chiếm vị trí thống trị phong trào công nhân từ những năm 40 của thế kỷ XIX. Đảng Cộng sản – Bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp vô sản, theo đó cũng đã ra đời, là sản phẩm của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận khoa học và phong trào công nhân quốc tế.

Điểm vượt trội của chủ nghĩa Mác so với các học thuyết của các bậc tiền bối và đương thời là ở chỗ: nghĩa Mác là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, con đường, lực lượng, nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công, thực hiện giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người và giải phóng nhân loại; đem lại hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại (năm 1917) do V. I. Lênin và Đảng Cộng sản Bônsêvích (b) lãnh đạo, lần đầu tiên chủ nghĩa xã hội với tư cách là một chế độ xã hội mới tốt đẹp đã được thiết lập trên 1/6 diện tích trái đất. Sau Thế chiến thứ 2, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã ra đời. Sự thật này ai cũng biết, sử sách còn ghi chép. Thế nhưng, do sai lầm của những người lãnh đạo của một số Đảng Cộng sản, chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô Viết ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ. Đó là một tổn thất nặng nề cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Các thế lực thù địch và cơ hội chính trị triệt để lợi dụng cơ hội này, đã bám lấy sự kiến ấy để quy kết, buộc tội, cố tình “chứng minh sự sai lầm” của chủ nghĩa Mác – Lênin, coi đó là sự cáo chung của chủ nghĩa xã hội để khẳng tính phổ quát và thời mới của chủ nghĩa tư bản đang đến. Có phải như vậy không? Phải chăng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô viết ở Liên Xô và Đông Âu đã “cáo chung cho một lý luận khoa học, cách mạng là chủ nghĩa Mác – Lênin?

Sự thật đã bác bỏ những giả định sai lầm ấy. Không bao giờ có chuyện sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô viết ở Liên Xô, Đông Âu lại là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học và cách mạng. Từ sự kiện này, nó nhắc nhở ai đó “đừng vơ đũa cả nắm”, đừng “nhìn cây mà không thấy rừng”; phải xem xét sự việc một cách khách quan, toàn diện, cụ thể, lịch sử, thực tiễn và theo quan điểm phát triển để tránh bị rơi vào chủ quan duy ý chí, giáo điều, kinh viện, bị mắc sai lầm bởi phương pháp tư duy siêu hình, lầm lẫn với quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, chủ nghĩa hoài nghi, bi quan. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô viết ở Liên Xô, Đông Âu là sự thật; song cũng chính từ đây, nó nhắc nhở chúng ta rằng, bất cứ Đảng Cộng sản nào nếu xa rời lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin hoặc vi phạm những nguyên tắc mácxít – lêninnít thì tất yếu đều dẫn đến sai lầm nghiêm trọng, rơi vào chủ nghĩa cơ hội, xét lại và giáo điều, vô cùng nguy hại, Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo, chế độ xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng, sụp đổ.

Rõ ràng, chỉ có Đảng Cộng sản nào trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, được vũ trang bằng một lý luận tiên phong thì mới hoàn thành vai trò chiến sĩ tiên phong; mới xứng đáng là bộ tham mưu chiến đấu có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân; mới làm tròn sứ mệnh lịch sử toàn thế giới: lãnh đạo giai cấp công nhân đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản, xây dựng chế độ xã hội mới – chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội.

Qua các biến cố thăng trầm của lịch sử và từ sự thật: chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô Viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ; thêm một lần nữa, nó đã và đang chứng minh đầy thuyết phục tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin. Nó nói rõ rằng, trong thời đại ngày nay, bất cứ một Đảng Cộng sản nào, cá nhân lãnh tụ của Đảng Cộng sản nào, nếu vi phạm những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, trà đạp lên giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, thì Đảng Cộng sản ấy, cá nhân lãnh tụ của Đảng Cộng sản ấy phải trả giá đắt bởi những sai lầm nghiêm trọng của mình. Điều đó chứng minh rằng, chủ nghĩa Mác – Lênin với tính cách là một khoa học, cách mạng có sức sống mãnh liệt; nó luôn là “công cụ nhận thức vĩ đại”, “vũ khí sắc bén” để giai cấp công nhân và loài người tiến bộ nhận thức và cải tạo thế giới vì lợi ích chính đáng của mình. Những phát minh của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã chứng minh “C. Mác đúng”; loài người không thể có tương lại, nhân loại không thể phát triển nếu không có chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng, dẫn đường.

Với những khuyết tật của một mô hình chủ nghĩa xã hội đã định sẵn và những sai lầm do chủ quan, duy ý chí của một bộ phận lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở Đông Âu, chủ nghĩa xã hội hiện thực được xây dựng từ công sức, mồ hôi, xương máu của hàng triệu anh hùng, liệt sĩ và nhân dân đã bị sụp đổ, làm cho chủ nghĩa xã hội và phong trào cách mạng thế giới lâm vào tình cảnh thoái trào. Đó là điều vô cùng đáng tiếc!

Chính điều đó khẳng định rõ rằng, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, những người cộng sản chúng ta phải biết trân trọng, nâng niu và kiên quyết, kiên trì bảo vệ những thành quả cách mạng mà chính chúng ta và nhân dân đã giành được; phải thấm nhuần sâu sắc giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, vận dụng sáng sáng tạo học thuyết ấy vào điều kiện cụ thể của mỗi nước, đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục tiến lên; không được coi thường, vi phạm những nguyên tắc mácxít – lêninnít, làm trái quy luật khách quan, mắc “bệnh” chủ quan, duy ý chí trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Ai đó, tổ chức đảng nào đó, nếu bị mắc phải sai lầm nghiêm trọng ấy thì tất yếu, sớm hay muộn, tổ chức đảng ấy sẽ mất vai trò lãnh đạo, chủ nghĩa xã hội ở nơi có sai lầm ấy sẽ bị sụp đổ, nhân dân ở nơi ấy sẽ mất quyền sống làm người, thành quả cách mạng sẽ bị tước đoạt, cảnh “nồi da nấu thịt” sẽ xảy ra.

Lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới chỉ ra rằng, những người cộng sản chân chính trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, phải luôn luôn tỉnh táo và sáng suốt để tìm kiếm con đường, biện pháp mới nhằm quy tụ, tập hợp và tổ chức lực lượng cách mạng tiếp tục giải quyết các mâu thuẫn mới nảy sinh trong xã hội cũng như tự đổi mới cho phù hợp với thời cuộc; phải thực hiện đúng lời dạy của V. I. Lênin: một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự bảo vệ.

Chúng ta cần thấm nhuần sâu sắc lời dạy của V.I. Lênin: xây dựng chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp vĩ đại, nó chưa có tiền lệ trong lịch sử, nên các Đảng Cộng sản phải hết sức cẩn trọng. Vì vậy, trên bước đường đi tới hạnh phúc, chắc chắn nó sẽ gặp đầy dẫy những khó khăn, thử thách, nhất là sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch. Đó là điều không thể tránh khỏi. Người chỉ rõ: Mọi kẻ thù đều đáng sợ nhưng sợ nhất là trong một điều kiện nào đó, hoàn cảnh nào đó, nội bộ Đảng Cộng sản bị phân liệt, mất đoàn kết, những người cộng sản tự hủy hoại mình. Đó là nguy cơ tồi tệ nhất có thể dẫn đến sự đổ vỡ của một cuộc cách mạng, và lúc ấy, thành quả cách mạng mà nhân dân xây đắp nên bằng xương máu của mình “sẽ bị đánh cắp”. Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Liên Xô và Đông Âu cuối thế kỷ XX thật là đau sót; song nó đã phản ánh rõ những sai lầm của những người cộng sản nắm quyền lãnh đạo tối cao trong Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, cái điều mà V.I. Lênin đã cảnh báo trước đây về sai lầm của những người cộng sản là hoàn toàn đúng đắn. Chúng ta cần suy ngẫm và thấm thía sâu sắc lời cảnh báo của V.I. Lênin về nguy cơ suy thoái, tha hóa, biến chất của một Đảng Cộng sản.

Cho đến ngày nay và mai sau, mãi mãi vẫn sẽ là như vậy, không có học thuyết nào, chủ nghĩa nào có thể vượt qua chủ nghĩa Mác – Lênin bởi giá trị, ý nghĩa khoa học, cách mạng và nhân đạo của nó. Kẻ thù “lớn và nhỏ” của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt và tàn ác đã và đang thực hiện nhiều chiêu trò “ma quỷ” từ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, đến thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa”, “dân chủ hóa” lực lượng vũ trang nhằm mục đích cuối cùng là hạ bệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội ta. Làm việc sai trái đó, chính các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã thừa nhận sự yếu thế, hoang mang và hoảng loạn tinh thần của chúng và trên thực tế là thừa nhận sự nguy hiểm, sự đe dọa của một học thuyết khoa học, cách mạng và sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trên con đường đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ nền hòa bình thế giới, C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin luôn ở bên chúng ta, cổ vũ, động viên về mặt tư tưởng và dẫn dắt chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các Đảng và cách mạng Việt Nam cũng như của các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Nghiên cứu lịch sử ra đời, phát triển và sự truyền bá lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin vào phong trào công nhân quốc tế; sự ra đời của chủ nghĩa xã hội hiện thực và nguyên nhân của sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô viết ở Liên Xô, Đông Âu gần 30 năm trước (1991 - 2021) là cơ sở khoa học để chúng ta bác bỏ mọi sự xuyên tạc, bôi nhọ và phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Đồng thời, là cơ sở khoa học vững chắc giúp mỗi người chúng ta hiểu rõ điều kiện, hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin, giá trị khoa học và cách mạng của từng luận điểm để vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho phù hợp. Đây cũng là điều kiện tốt để mỗi người giải thích và hiểu đúng đắn lý do vì sao Đảng ta lại quyết định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam./.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

LUẬN ĐIỆU CỦA NHỮNG KẺ “TRỞ CỜ”

Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở đầu một thời đại mới-thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Mặc dù cuộc cách mạng có tầm ảnh hưởng rất lớn, có ý nghĩa vạch thời đại nhưng ngay khi đó, các học giả tư sản phương Tây đã lên tiếng xuyên tạc, phủ nhận giá trị của nó. Họ cho rằng Cách mạng Tháng Mười chỉ là “vụ cướp chính quyền”, “cuộc cách mạng mạo danh”, là “sự chệch hướng lịch sử”... Có kẻ còn cáo buộc sự ra đời của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sau Cách mạng Tháng Mười là “quái thai của lịch sử”...

Nguy hại hơn, không chỉ có những kẻ đứng trên lập trường tư sản mà ngay trong hàng ngũ những người cộng sản Liên Xô cũng lên tiếng phủ nhận, xuyên tạc giá trị của Cách mạng Tháng Mười. Điển hình là A.Yakovlev - Trưởng ban Tuyên huấn Đảng Cộng sản Liên Xô, người có vai trò là một trong những “kiến trúc sư” trong công cuộc cải tổ ở Liên Xô. Trong những năm cải tổ, A.Yakovlev lộ rõ bản chất của một kẻ chống cộng với tuyên bố Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử”.

Theo ông ta, vì Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử” nên cần phải xóa bỏ mọi sản phẩm ra đời từ “sai lầm” đó, bao gồm tư tưởng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nhà nước Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xô, hệ thống xã hội chủ nghĩa và toàn bộ lịch sử Liên Xô kể từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, trong đó có cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Đây thực chất là luận điệu “lật sử”, “trở cờ” của A.Yakovlev. Ông ta đã phản bội lại lịch sử của dân tộc, phản bội lại cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại mà chính ông ta đã từng tham gia.

Hơn 100 năm đã trôi qua nhưng chủ đề về Cách mạng Tháng Mười Nga chưa bao giờ “hạ nhiệt”. Có không ít kẻ cơ hội chính trị vẫn luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười. Nhất là khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, họ lại được dịp hả hê, coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để tiếp tục xuyên tạc, phủ nhận giá trị của cuộc cách mạng này. Họ cho rằng việc Cách mạng Tháng Mười Nga thành công hướng lái nước Nga theo con đường xã hội chủ nghĩa là trái với quá trình “lịch sử-tự nhiên” mà Karl Marx đã chỉ ra.

Gần đây, trên các diễn đàn mạng xã hội xuất hiện những phần tử phản động, cơ hội chính trị, trong đó có Trần Quốc Quân-kẻ đã viết bài đăng trên BBC lên tiếng coi “Cách mạng Tháng 10 Nga thực chất là một cuộc bẻ ghi đường tàu, khiến một phần nhân loại rẽ sang “đường vòng”. “Đường vòng” mà chúng nhắc đến là chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nhiều nước đang hướng đến. Từ việc coi Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử”, các đối tượng này còn lên tiếng phủ nhận những giá trị nhân văn, tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng nhất sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu với chủ nghĩa xã hội nói chung; rêu rao rằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga là “đẻ non”, “chín ép” và đã đến “hồi kết thúc”...

Bản chất của sự xuyên tạc ấy không chỉ nhắm vào một sự kiện lịch sử cụ thể mà sâu xa hơn nữa là phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa, hướng lái các quốc gia, dân tộc đi theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Thực tiễn cách mạng thế giới, nhất là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã cho thấy sự nguy hại lớn của những luận điệu xuyên tạc này vì nó gây ra sự xáo trộn về tư tưởng chính trị, hoài nghi về mục tiêu và phản bội lại lý tưởng cách mạng. Do đó, chúng ta không thể coi thường, xem nhẹ âm mưu, thủ đoạn tinh vi của những kẻ “lật sử”, “trở cờ”!

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021

QUYẾT TÂM ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI CÁC BIỂU HIỆN CÁ NHÂN CHỦ NGHĨA

Con ngư­ời cá nhân và xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau. Con ng­ười với t­ư cách là chủ thể của xã hội mà hành động theo quy luật sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội và ngư­ợc lại. Con người phát triển toàn diện và hài hòa trong chế độ XHCN là con người biết kết hợp hài hòa giữa 3 lợi ích là cá nhân-tập thể-xã hội. Đảng ta đã xác định lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp cho sự phát triển. Tuy nhiên, việc tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân hay coi lợi ích cá nhân là động lực duy nhất thì đó là tư tưởng cực đoan, dễ sa ngã vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ.

Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh nhiều tàn dư lạc hậu của chế độ xã hội cũ chưa bị xóa bỏ hoàn toàn, trong khi những cái mới, cái tiến bộ, văn minh của chế độ xã hội mới chưa thực sự trở thành yếu tố bao trùm, chi phối đời sống tinh thần của quốc gia-dân tộc. Mặt khác, theo các nhà nghiên cứu văn hóa, trong tâm lý nhân cách của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại, đan xen nhiều đặc điểm tâm lý phức tạp. Đó là tâm lý tiểu nông manh mún, vụn vặt của con người thời phong kiến; tâm lý quan liêu, bảo thủ của con người thời bao cấp; tâm lý cơ hội, thực dụng, ích kỷ của con người thời kinh tế thị trường. Các đặc trưng tâm lý đó chính là những bất cập, hạn chế trong nhân cách, từ đó dẫn đến những thái độ, hành vi, việc làm mang nặng tính cá nhân chủ nghĩa-một điều rất xa lạ với chuẩn mực nhân cách của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Trong khi đó, trước những tác động tiêu cực từ quá trình hội nhập thế giới và nền kinh tế thị trường, nhiều giá trị văn hóa, đạo đức bị đảo lộn; thái độ tôn sùng vật chất, coi trọng tiền bạc, danh vọng cũng khiến nhiều người sa vào vũng lầy của chủ nghĩa cá nhân. Suy cho cùng, những biểu hiện như cơ hội, thực dụng, "mũ ni che tai", đề cao “cái tôi” cá nhân thái quá, vừa là nguyên nhân sâu xa vừa là hệ quả tất yếu của bệnh cá nhân chủ nghĩa nảy sinh, làm vẩn đục môi trường văn hóa xã hội, làm mọt ruỗng văn hóa công quyền và đạo đức công vụ.

Trước thực trạng đó, việc cần làm hiện nay là phải có các biện pháp đồng bộ, quyết liệt để phòng, chống, đẩy lùi bệnh cá nhân chủ nghĩa. Trước hết, cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục mọi cán bộ, đảng viên nhận thức rõ những biểu hiện mới và tác hại nghiêm trọng của bệnh cá nhân chủ nghĩa trong tình hình hiện nay. Quan tâm chú trọng giáo dục cán bộ, đảng viên đề cao lòng tự trọng, văn hóa liêm sỉ, đây là vấn đề được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhắc nhở: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập, ra sức tu dưỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao nhận thức, trình độ, trở thành những con người có văn hóa, có liêm sỉ”. Những người giàu lòng tự trọng, thấm nhuần các giá trị văn hóa tốt đẹp của ông cha và những phẩm chất đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” sẽ tự phòng ngừa được bệnh cá nhân chủ nghĩa.

Nêu gương không chỉ là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng, mà còn là một trong những phương pháp rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Vì vậy, để góp phần đẩy lùi bệnh cá nhân chủ nghĩa, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp cần thấm nhuần sâu sắc và thực hiện nghiêm túc Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Những điều đảng viên không được làm”; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư khóa XI  về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016 về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng”.

Một biện pháp cần phải làm thường xuyên, bền bỉ là thực hiện nghiêm túc, thực chất, hiệu quả nguyên tắc, chế độ tự phê bình và phê bình gắn với làm tốt công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên mắc trọng bệnh cá nhân chủ nghĩa, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của tổ chức, cơ quan, đơn vị và lợi ích quốc gia-dân tộc.

Giải pháp căn cơ là chăm lo, bồi dưỡng, đãi ngộ tương xứng cả về lợi ích vật chất và tinh thần cho cán bộ, đảng viên phù hợp với từng cương vị công tác, công việc chuyên môn, tính chất ngành nghề; đồng thời xây dựng môi trường làm việc dân chủ, nhân văn, bầu không khí nội bộ trong các tổ chức, cơ quan, đơn vị thật sự lành mạnh. Vì suy cho cùng, bệnh cá nhân chủ nghĩa sẽ dần bị triệt tiêu khi chúng ta xây dựng được nền tảng vật chất, văn hóa xã hội hội tụ những giá trị tiến bộ, văn minh của thể chế chính trị ưu việt để góp phần bảo đảm lợi ích hài hòa giữa cá nhân, tập thể và xã hội.

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2021

KIÊN ĐỊNH CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH ĐỂ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả, một trong những vấn đề cơ bản là phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là đòi hỏi khách quan, yêu cầu có tính nguyên tắc và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp đổi mới cũng như việc hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới, thực hiện nghiêm nguyên tắc, tổ chức và hoạt động của Đảng. Tăng cường giáo dục truyền thống văn hóa, lịch sử và cách mạng vẻ vang của Đảng và dân tộc; không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên đấu tranh ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống những biểu hiện “tự diễn biễn”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM CÓ NHỮNG ĐỈNH CAO NỐI TIẾP ĐỈNH CAO

Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước thắng lợi theo đúng lời kêu gọi của Hồ Chí Minh: “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”; Điện Biên Phủ, năm 1954, chôn vùi chủ nghĩa thực dân kiểu cũ; Điện Biên Phủ trên không, 12 ngày đêm ở Hà Nội (12-1972), đánh bại B.52 của đế quốc Mỹ, làm cho “Hà Nội trở thành thủ đô của phẩm giá con người”; cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, hoàn thành xuất sắc mệnh lệnh của lãnh tụ vĩ đại “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, kết thúc cuộc kháng chiến kéo dài nhất trong lịch sử. Cuộc kháng chiến ấy đã đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam.

Cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam với những đỉnh cao đó trong thời đại Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong chống ách áp bức thống trị của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân; đã nêu tấm gương cổ vũ, thúc đẩy các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, các dân tộc bị áp bức chống lại mọi thế lực xâm lược phi nghĩa và phi nhân, giành lấy tự do và nhân phẩm làm người, giành lại quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc-những quyền cơ bản, thiêng liêng của con người, của các dân tộc trên thế giới.

Đó là những giá trị làm nên sức sống và ý nghĩa của cách mạng Việt Nam, là những cống hiến của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh vào lịch sử và văn hóa nhân loại thời hiện đại. Đó cũng là ngọn nguồn cảm hứng từ Việt Nam-Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp-Điện Biên Phủ làm nên sức lan tỏa của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2021

NHẬN DIỆN MỘT SỐ THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA

Lợi dụng những ưu thế từ sự điều chỉnh thích nghi của chủ nghĩa tư bản hiện đại và những biểu hiện tiêu cực trong quá trình đổi mới đất nước, thời gian qua một số người đã dao động, giảm lòng tin, thậm trí quay lưng phản bác chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Một số người nhân danh “cấp tiến” đề xuất giải pháp nhằm “thay máu cho hệ tư tưởng” và “sửa lại chủ nghĩa Mác - Lênin” cho hợp thời và sát với thực tế Việt Nam.

Thông qua những cuộc hội thảo quốc tế lấy danh nghĩa là xem xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin, họ đưa ra quan điểm cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ là của quá khứ, chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, XX, không còn phù hợp với thời đại ngày nay; hay chue nghĩa Mác – Lênin đã chết cùng với sự sụp đổ của chế độ xã hội chue nghĩa theo mô hình Xôviết ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Một số kẻ còn xuyên tạc: C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin là những nhà xã hội siêu hình và không tưởng; học thuyết Mác chỉ là sự sao chép sống sượng của chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, kinh tế chính trị học Anh, và triết học cổ điển Đức; là sản phẩm lai tạo, hỗn tạp mang tính chủ quan, áp đặt, “được nặn ra từ những cái đầu thiển cận” của C.Mác và Ph.Ăngghen.

Ở Việt Nam, lợi dụng các cuộc hội thảo khoa học một số kẻ đã đưa ra nhiều lý lẽ để phê phán, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận con đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn; xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Lợi dụng triệt để các trang mạng xã hội những quan điểm sai trái này đã được những kẻ phản động phát tán, lan truyền rất nhanh trong xã hội, từ đó gây hoang mang, hoài nghi cho một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, để lại hậu quả không nhỏ. Thông qua cách thức này những kẻ phản động thực hiện kế hoạch “chuyển lửa về Việt Nam”, tạo nên sự “diễn biến bên trong”, trước hết là diễn biến về nhận thức, tư tưởng, từ đó dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo quỹ đạo chiến lược “diễn biến hòa bình” của chúng.

Đứng trước những âm mưu, thủ đoạn trên của các thế lực thù địch, hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phản thường xuyên củng cố xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng. Kiên định mục tiêu, lý tưởng cộng sản, tuyên truyền giáo dục quần chúng nhân dân, nâng cao cảnh giác cách mạng đấu tranh nhận diện và vạch trần mọi âm mưu thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đồng thời tích cực nghiên cứu bổ sung phát triển lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay./.

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

GIÁ TRỊ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN CỦA PHƯƠNG TÂY - MA TÚY CHO NHÂN DÂN!

Thời gian gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hóa thì các khái niệm về dân chủ và nhân quyền được xã hội quan tâm và thảo luận rất nhiều. Việt Nam cũng đã có những bước tiến quan trọng trong việc mở rộng dân chủ và đảm bảo các quyền cơ bản của con người. Nhưng với mục đích chống phá đến cùng nhằm lật đổ chế độ ở Việt Nam nên các tổ chức nhân quyền trá hình và các nước phương Tây vẫn luôn “tố cáo, lên án” Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, từ đó kích động và hà hơi tiếp sức cho những kẻ phản động, cơ hội chính trị trong nước “đấu tranh” chống lại đất nước mình, lừa gạt lôi kéo những người ấu trĩ, kém nhận thức mà theo đóm ăn tàn ngày đêm than vãn hoặc ăn theo mà nói xấu đất nước quê hương. Vậy thực chất dân chủ nhân quyền phương Tây là gì? Là ma túy tổng hợp cực mạnh đầu độc, ru ngủ nhân dân họ và gây ảo giác, hoang tưởng ở nhân dân các nước mà họ nhắm đến (những nước vi phạm nhân quyền một cách khủng khiếp như Arab Saudi và Qatar nhưng là con bài của phương tây thì họ mặc kệ). Họ dùng những khái niệm, những “tiêu chuẩn” này khác để khuyến khích cái tôi cá nhân, cho dân mấy thứ quyền vớ vẩn để họ tưởng mình được tự làm chủ cuộc sống mà thực ra lại bị kiểm soát, chi phối nhiều hơn bằng luật pháp và các phương tiện theo dõi. Họ nhồi nhét thứ lý luận “nhân quyền cao hơn chủ quyền” khiến dân mụ mị lao vào những tranh cãi bất tận về quyền được mang súng, quyền hôn nhân đồng tính, phá thai, tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do biểu tình, quyền của các nhóm yếu thế, thậm chí cả quyền được… cởi truồng này khác mà quên đi những vấn đề lớn hơn của cuộc sống, đó là các vấn đề về mục tiêu phát triển của đất nước, độc lập chủ quyền quốc gia, bản chất của chế độ và cao hơn cả là vấn đề về chiến tranh và hòa bình, và chính những “đấu tranh cho quyền con người” ở các nước họ nhúng vào đã gây ra bao cuộc chiến tranh, xung đột cướp đi quyền cao nhất là quyền được sống trong hòa bình của nhân loại. Nhân dân cứ mải chạy theo những tranh cãi đó mà quên đi những âm mưu tội ác của những kẻ cầm quyền để rồi một ngày nào đó, vài kẻ biến thái nhân cách điên khùng chỉ cần bấm nút “bùm” một cái hoặc rải virut gây bệnh ào một nhát là cả thế giới sẽ tận thế. Lênin đã khẳng định “Dân chủ XHCN dân chủ gấp triệu lần hơn bất cứ chế độ dân chủ nào trong lịch sử” là điều không thể chối cãi.

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

TỔNG PHẢN CÔNG, CÙNG QUÂN DÂN CAMPUCHIA ĐÁNH ĐỔ CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG

Bị thiệt hại nặng nhưng do được hỗ trợ về vũ khí, trang bị và cố vấn quân sự từ bên ngoài, quân Pôn Pốt lại tiếp tục chuẩn bị lực lượng, tập trung quân về biên giới Việt Nam. Tháng 1-1978, Pôn Pốt đưa thêm 2 sư đoàn ra biên giới, tiếp tục gây xung đột, liên tục tiến công lấn chiếm, bắn pháo vào những nơi đông dân cư, gây nhiều tội ác với đồng bào ta.

Trước tình hình đó, Bộ Tổng tham mưu điều động Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tăng cường cho Quân khu 9, sẵn sàng chiến đấu; đồng thời ra lệnh cho các đơn vị ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nâng cao cảnh giác, thực hiện phòng ngự tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước ta thực hiện đấu tranh chính trị và ngoại giao.

Ngày 5-2-1978, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố ba điểm: (1) Chấm dứt mọi hoạt động quân sự, rút lực lượng vũ trang cách biên giới 5km; (2) Hội đàm tiến tới ký hiệp ước hữu nghị và không xâm lược, ký hiệp ước về biên giới; (3) Thoả thuận về một hình thức thích hợp bảo đảm thông lệ quốc tế và giám sát quốc tế.

Phớt lờ thiện chí của ta, quân Pôn Pốt tiếp tục huy động lực lượng áp sát biên giới và cho quân tiến công, xâm nhập nhiều điểm trên địa phận nước ta; lực lượng của ta đã kiên quyết đánh trả, giành lại các khu vực bị lấn chiếm.

Từ ngày 26-3-1978, các đơn vị Quân đội ta chuyển sang tiến công, đẩy quân Pôn Pốt lùi xa dần biên giới và dồn đối phương vào thế bị động, đối phó. Đòn phản công quyết liệt của Việt Nam trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao đã đẩy quân Pôn Pốt vào tình thế khó khăn và tác động lớn đến tình hình chính trị nội bộ Campuchia; đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho phong trào nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia phát triển, đỉnh cao là cuộc nổi dậy từ ngày 26-5-1978 ở Quân khu Đông, làm suy yếu một bộ phận lực lượng quân Pôn Pốt. Lực lượng cách mạng Campuchia đã lập được những khu căn cứ du kích có điều kiện thuận lợi về nhiều mặt, nhất là những khu căn cứ gần Việt Nam, từng bước hình thành sự chỉ đạo thống nhất.

Ngày 15-6-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp bàn về chống lại cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và tình hình căng thẳng ở biên giới phía Bắc, trong đó quyết định phát động chiến tranh nhân dân, kiên quyết phản công và tiến công địch một cách chủ động, liên tục bằng mọi lực lượng, với các quy mô nhỏ, vừa và lớn, đánh địch cả trong và ngoài biên giới, tiêu diệt, tiêu hao và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực địch.

Sau cuộc nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông ngày 26-5-1978, quân Pôn Pốt vừa ráo riết thanh trừng nội bộ, vừa phải đối phó với lực lượng cách mạng Campuchia vẫn đang tiếp tục hoạt động ở nhiều nơi. Để hỗ trợ cho lực lượng cách mạng Campuchia tồn tại và phát triển, tạo thế cho hoạt động của ta vào mùa khô 1979, từ ngày 14-6 đến 30-9-1978, ta sử dụng Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 7), 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 5) mở tiếp đợt tiến công lớn trên các hướng đường 1, đường 7, vùng giáp biên giới Tây Ninh và đường 19 kéo dài nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, tiến tới làm suy yếu một bước lực lượng quân Pôn Pốt.

Do bị bất ngờ hoàn toàn về thời gian, quy mô và phương thức hoạt động của ta, quân Pôn Pốt rơi vào thế bị động, ngay ngày đầu đã bị ta đánh thiệt hại và tê liệt một số sư đoàn. Cuộc tiến công của ta đã hỗ trợ kịp thời cho lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông, buộc quân Pôn Pốt bị động đối phó trên cả 2 mặt trận biên giới và nội địa. Ở nhiều khu vực quan trọng, lực lượng nổi dậy đã lập được căn cứ, dựa vào dân để phát triển lực lượng. Phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia trong đợt tiến công này, ta loại khỏi vòng chiến đấu 6 sư đoàn, làm suy yếu nghiêm trọng lực lượng chủ lực quân Pôn Pốt, đẩy lùi hầu hết quân Pôn Pốt ra khỏi đất Việt Nam.

Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11-1978, Việt Nam đã giúp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia phát triển được 15 tiểu đoàn, 5 khung tiểu đoàn, 24 đội công tác, xây dựng được các tổ chức đảng, chuẩn bị thành lập mặt trận và bộ máy lãnh đạo. Với sự giúp đỡ của Việt Nam, ngày 2-12-1978, tại vùng giải phóng thuộc xã Chơng Th’nu, huyện Snuol, tỉnh Kratié (Campuchia), Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia ra mắt nhân dân Campuchia, công bố cương lĩnh cách mạng 11 điểm, trong đó nêu rõ quyết tâm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng yêu nước nổi dậy đánh đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt, xóa bỏ chế độ diệt chủng tàn ác, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân; khẳng định tăng cường tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế giúp đỡ mọi mặt cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Campuchia.

Phát hiện quân Pôn Pốt có ý định tập trung 5 sư đoàn và 4 trung đoàn tiến công đánh chiếm Tây Ninh, sau đó sẽ mở rộng địa bàn đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam, ngày 6 và 7-12-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm tổng phản công- tiến công chiến lược tiêu diệt quân địch, hoàn thành cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc; đồng thời sẵn sàng hỗ trợ lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia nổi dậy đánh đổ tập đoàn Pôn Pốt diệt chủng, giành chính quyền về tay nhân dân.

Phát hiện sự chuẩn bị của ta, quân Pôn Pốt tập trung phần lớn lực lượng chủ lực bố trí dọc biên giới với Việt Nam, toàn bộ phía sau hầu như trống rỗng. Ngày 23-12-1978, quân Pôn Pốt huy động 10 trong số 19 sư đoàn đang bố trí ở biên giới mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta.

Trước hành động xâm lược của quân Pôn Pốt và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23-12-1978, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc tổng phản công- tiến công trên toàn tuyến biên giới. Ngày 26-12-1978, toàn bộ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của quân Pôn Pốt bị phá vỡ. Đến ngày 31-12-1978, quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi quân Pôn Pốt, thu hồi toàn bộ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị kẻ thù lấn chiếm. Ngày 2-1-1979, ba cụm quân chủ lực của Pôn Pốt, mỗi cụm 5 sư đoàn, án ngữ các trục đường tiến về Phnôm Pênh (đường 1, đường 7 và đường 2) cơ bản bị tiêu diệt và tan rã. Ngày 5 và 6-1-1979, trên tất cả các hướng, quân Pôn Pốt không cản được Quân tình nguyện Việt Nam truy kích và tiến sát Thủ đô Phnôm Pênh. Ngày 6-1-1979, Quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia bắt đầu tổng công kích vào Thủ đô Phnôm Pênh. Sau 2 ngày tổng công kích, ngày 7-1-1979, Thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn được giải phóng. Ngày 8-1-1979, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia được thành lập và ra tuyên bố: Xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Campuchia. Việt Nam cùng nhiều nước đã công nhận nước Cộng hòa nhân dân Campuchia. Ngày 17-1-1979, toàn bộ đất nước Campuchia được giải phóng; phần lớn lực lượng Pôn Pốt bị tiêu diệt và tan rã, số còn lại lẩn trốn vào rừng trên tuyến biên giới phía Tây, Tây Bắc Campuchia.

Từ ngày 23-12-1978 đến 17-1-1979, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã tiêu diệt và làm tan rã 18 sư đoàn quân Pôn Pốt, diệt 12 nghìn tên, bắt 8.800 tên, gọi hàng 3.200 tên và làm tan rã tại chỗ 44 nghìn tên; giải phóng trên 4 triệu dân Campuchia, thu hồi toàn bộ cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật quân sự của quân Pôn Pốt; đập tan bộ máy thống trị của tập đoàn phản động Pôn Pốt từ trung ương đến cơ sở.

Trong thời gian gần hai năm chiến tranh, quân Pôn Pốt giết hại và bắt hơn 30 nghìn dân thường tại các xã biên giới của Việt Nam, 400 nghìn người dân mất nhà cửa, trên 3 nghìn nhà bị bỏ hoang; nhiều nhà thờ, trường học, chùa chiền bị chúng đốt phá...

Thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc có ý nghĩa rất to lớn đối với Việt Nam: Một lần nữa khẳng định nhân dân Việt Nam với ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng, sẵn sàng đập tan bất kỳ âm mưu và hành động chống phá nào của các thế lực phản động, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, mối quan hệ truyền thống gắn bó thủy chung, lâu đời, sự giúp đỡ trong sáng, chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Campuchia.

Chiến thắng ngày 7-1-1979 có ý nghĩa lịch sử đặc biệt to lớn đối với vận mệnh đất nước Campuchia: Đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Campuchia; cứu nhân dân Campuchia ra khỏi thảm họa diệt chủng, giành lại quyền được sống, quyền làm người và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự, hồi sinh đất nước và dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, tươi đẹp.

Thắng lợi vĩ đại ngày 7-1-1979 cũng là thắng lợi chung của nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia, thể hiện sức mạnh của tinh thần đoàn kết quốc tế, sự thủy chung, trọn nghĩa vẹn tình giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia. Với thắng lợi ngày 7-1-1979, quan hệ hai nước Việt Nam- Campuchia chuyển sang thời kỳ mới- thời kỳ khôi phục, vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước dựa trên nguyên tắc hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau vì sự phát triển và phồn vinh của mỗi nước. Chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt đã góp phần giữ vững hoà bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; đấu tranh vạch trần bản chất của chế độ phân biệt chủng tộc, sắc tộc, chế độ độc tài và cảnh báo cho nhân loại cảnh giác trước nguy cơ của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phát xít mới.

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2020

NHỮNG GỢI MỞ TỪ CUỘC ĐẤU TRANH LẠI PHÁI DÂN TÚY CỦA LÊNIN VỚI VIỆC BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã khẳng định: “Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác -  Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, quyết định sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

V.I.LÊNIN ĐẤU TRANH KHÔNG KHOAN NHƯỢNG VỚI PHÁI DÂN TÚY ĐỂ BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC

Nhận thấy tính chất cải lương, không tưởng của phái dân túy, V.I.Lênin đã viết một số tác phẩm để phê phán tư tưởng của phái này, trong đó tiêu biểu nhất là tác phẩm “Những “người bạn dân” là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ xã hội ra sao” (năm 1894). Đây là một tác phẩm có tính chất luận chiến nhằm phê phán các nhà lý luận của phái dân túy tự do. Trên cơ sở đó, V.I.Lênin bảo vệ chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn đã có nhiều thay đổi ở nước Nga những năm cuối thế kỷ XIX.

V.I.LÊNIN ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI PHÁI DÂN TÚY ĐỂ BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC

Năm 1895, khi Ph.Ăngghen - lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế qua đời, phong trào cách mạng ở một số nước Tây Âu có nhiều biến đổi, trước hết là sự hình thành các nhánh hữu khuynh, dung hòa với giai cấp tư sản, chủ trương cải cách, từ bỏ chuyên chính vô sản... Trong bối cảnh ấy, trên thế giới cũng như ở nước Nga đã xuất hiện một số khuynh hướng tư tưởng phi mácxít nhằm chống lại chủ nghĩa Mác thông qua việc “cắt xén và bóp méo một cách hết sức kỳ quái” những quan điểm của C.Mác. Chính những biến động về mặt chính trị, xã hội và tư tưởng đó đã thôi thúc V.I.Lênin đứng lên đấu tranh chống lại những tư tưởng phi mácxít đó, trong đó có tư tưởng của phái dân túy để bảo vệ chủ nghĩa Mác.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2020

VIỆT NAM CHỈ CẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - MỘT LUẬN ĐIỆU XẢO QUYỆT

Trong thời gian gần đây các thế lực thù địch tiếp tục điên cuồng chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng. Một trong các luận điệu mới chúng đưa ra là: Ở Việt Nam hiện nay chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh, không cần đến chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng lập luận rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đến nay đã hết thời, nó là sản phẩm của thế kỷ XIX, đặt nó trong bối cảnh thế kỷ XXI là không phù hợp. Bởi vì thế giới trong những năm qua đã thay đổi quá nhiều, thời đại này là thời đại mới, thời đại của khoa học và công nghệ… Bên cạnh đó chúng còn cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh rất toàn diện rồi, về khía cạnh nào đó có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh còn cao hơn chủ nghĩa Mác – Lênin.

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2020

VỀ CÁI GỌI LÀ “CHỦ NGHĨA CHIA RẼ CỰC ĐOAN THỂ HIỆN DƯỚI HÌNH THỨC CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN”

Quan điểm này đem quy chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, đối lập với tư tưởng “đoàn kết và thống nhất của Hồ Chí Minh”. Đây là sự quy chụp, áp đặt cho chủ nghĩa Mác - Lênin một cách vô căn cứ, vu khống, bịa đặt. Bởi vì chia rẽ, cực đoan không phải là bản chất của  chủ nghĩa Mác - Lênin mà đó là tư tưởng và hành động sai lầm của những người theo chủ nghĩa chia rẽ, bè phái, tả khuynh hoặc hữu khuynh... Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học phản ánh những quy luật khách quan của thế giới, dựa trên phương pháp biện chứng duy vật với các quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể và thực tiễn chứ không phải dựa trên chia rẽ và cực đoan, phiến diện, không thể đồng nhất, lẫn lộn những sai lầm đó với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2018

PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH KHÔNG CÒN LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM?

Có thể thấy rằng sau sự sụp đổ của Liên xô và Đông Âu, trong giai đoạn hiện nay các thế lực thù địch đang ráo riết, đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, tấn công trên mặt trận tư tưởng, văn hóa hòng làm suy giảm niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng. Một trong những vấn đề chúng tập trung chống phá là tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế đã và đang khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin từ khi ra đời đến nay đã thể hiện rõ bản chất khoa học và cách mạng, giá trị và sức sống bền vững của nó. Nhiều chính khách, nhà khoa học ở cả trong và ngoài nước có những bài nói, bài viết, công trình nghiên cứu khoa học khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tầm quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Một số học giả tư sản đã thừa nhận, tinh thần của C. Mác vẫn tỏa sáng và dù muốn hay không người ta vẫn phải dựa vào C.Mác mới có thể phân tích đúng chủ nghĩa tư bản đương đại.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt “hòn đá tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi việc. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng nằm trong những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên cơ sở nắm vững và quán triệt sâu sắc lập trường, quan điểm và phương pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu được những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây để hình thành tư tưởng của mình. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những cống hiến đó của Người có được trước hết do Người đã nắm được bản chất cốt lõi, “linh hồn sống” trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật.
Thắng lợi của cách mạng cũng như sự trưởng thành, lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 88 năm qua là kết quả tổng hợp của rất nhiều yếu tố. Nhưng có một thực tế không thể phủ nhận, đó là nhờ Đảng ta đã được vũ trang bằng lý luận cách mạng và khoa học nhất của thời đại - chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn tới, việc tiếp tục kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam vẫn là một tất yếu khách quan, là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ Luận cương chính trị tháng 10-1930 cho đến văn kiện Đại hội VI đều khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta có sự phát triển, bổ sung mới: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng”. Đây là biểu hiện về nhận thức đúng đắn, sâu sắc về mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội XI của Đảng (tháng 01-2011) đã tổng kết thực tiễn 25 năm đổi mới và rút ra một số bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học: “trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Như vậy, Đảng ta xác định rất rõ ràng: công cuộc đổi mới hiện nay phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh… Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Lịch sử đã chứng minh, nếu mơ hồ, dao động về hệ tư tưởng thì sẽ lúng túng trong hoạch định chủ trương, đường lối, rối loạn trong tổ chức và tất yếu dẫn đến thất bại trong hành động. Vì vậy, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc đối với Đảng ta, là nhiệm vụ quan trọng trong toàn bộ công tác tư tưởng, lý luận, nhất là trong bối cảnh mới của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Điều đó càng đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam tuyệt đối không được xa rời hoặc từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trái lại, cần kiên định, vận dụng, linh hoạt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên chính mảnh đất hiện thực Việt Nam hiện nay. Những “lý sự” cố tình tách rời, cô lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn trái với quan điểm, đường lối của Đảng ta. Chúng ta phải kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch đó để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2018

CHỦ NGHĨA ANH HÙNG CÁCH MẠNG CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ Quốc Việt Nam diễn ra từ ngày 17-2-1979 đến năm 1991 mới chấm dứt. Trong 12 năm ròng rã ấy đã diễn ra hàng nghìn trận đánh lớn nhỏ mà đỉnh điểm là mùa xuân năm 1979 và mùa hè năm 1984. Vào mùa xuân năm 1979, với binh lực thua kém đối phương nhiều lần nhưng Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đánh lui 600.000 quân Trung Quốc khỏi lãnh thổ Việt Nam, tiêu diệt và bắt sống 62.000 sĩ quan và binh lính Trung Quốc, phá hủy hàng nghìn xe tăng và xe bọc thép. Vào mùa hè năm 1984, tại mặt trận Vị Xuyên, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 11 tiểu đoàn, tiêu diệt 7.500 sĩ quan và binh lính Trung Quốc, ngoài ra còn có 5.500 sĩ quan và binh lính Trung Quốc bị thương. Tổn thất ấy lớn đến mức tướng Lưu Á Châu, Giám đốc Học viện quân sự cao cấp Trung Quốc đã phải thốt lên: “Lính chết la liệt nhưng không có ai chịu trách nhiệm cả!”. Trong khi đó thì tổn thất của Quân đội Nhân dân Việt Nam là hơn 2.000 người hy sinh và bị thương.
Thế nhưng những kẻ lật sử một lần nữa lại chia tách các trận đánh ở Vị Xuyên mà đặc biệt là ở các cao điểm 1509 Núi Đất (Trung Quốc gọi là Lão Sơn), 772, 233 1030 và 1200 (Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn) ra khỏi toàn bộ quá trình xung đột vũ trang trên biên giới Việt Trung từ năm 1979 đến năm 1991 để phủ nhận chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trong hàng loạt các bài báo lớn nhỏ hầu như không đề cập đến việc Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thành công trong việc giữ vững tuyến biên giới phía Bắc của Tổ Quốc mà nhằm vào hai việc:
- Một là, tô đậm tổn thất của ta để khơi dậy tâm lý thất bại, đồng thời lấy cớ đó vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam bắt tay với cái mà họ gọi là “giặc Tàu”.
- Hai là, từ những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật để kích động tâm lý bài Trung, thoát Hán; đương nhiên đến bước sau là “cắm biển chỉ đường” cho Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ và cuối cùng là xóa bỏ chế độ chính trị hiện hành ở Việt Nam.
Đó là những ý đồ cực kỳ xấu xa, mang màu sắc của động cơ lưu manh chính trị, là lợi dụng sự hy sinh xương máu của các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam cho những chiêu trò cơ hội chính trị bẩn thỉu.

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018

NHẬN DIỆN CHỦ NGHĨA DÂN TÚY HIỆN NAY

Chủ nghĩa dân túy ra đời ở Mỹ và Nga cuối thế kỷ 19, tuy nhiên hiện nay hiện tượng chủ nghĩa dân túy lại trỗi dậy mạnh ở một số nước châu Mỹ, châu Âu và châu Á.
Điều đáng nói là sự trỗi dậy này gây phương hại không nhỏ cho một số quốc gia và tổ chức quốc tế. Ở Việt Nam, đã xuất hiện một số biểu hiện của chủ nghĩa dân túy: Những người cơ hội chính trị ở Việt Nam đang thông qua các thủ đoạn chính trị mị dân để phê phán sự lãnh đạo của Đảng, kích động sự bất bình của nhân dân, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; giữa quân đội, công an và nhân dân. Họ tập hợp, lôi kéo một số quần chúng gây nên những hành động cực đoan, vô chính phủ, gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Đáng chú ý là thông qua một số hoạt động vận động bầu cử, họ đưa ra những phát ngôn dân túy, những kiến nghị vô trách nhiệm để đạt được những nấc thang quyền lực; thậm chí cả những tuyên bố, thỉnh nguyện trái với Hiến pháp và đường lối, quan điểm của Đảng nhưng họ lại núp dưới danh nghĩa “hợp lòng dân”, tạo ra sự đối lập, dù với Đảng ta, ý Đảng - lòng dân luôn là một. Đứng trước thực trạng này, việc cảnh báo của đồng chí Võ Văn Thưởng là rất kịp thời và cần thiết.
Hiện nay chúng ta đang tập trung đấu tranh, khắc phục 27 biểu hiện của sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến", "tự chuyển hóa”, đồng thời chúng ta cũng phải thật tỉnh táo để nhận diện các biểu hiện của chủ nghĩa dân túy thông qua các phát ngôn, hành động dân túy để kịp thời đấu tranh ngăn chặn. Cảnh báo của đồng chí Võ Văn Thưởng đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ trên mặt trận tư tưởng hơn lúc nào hết phải kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng ta, nòng cốt là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận...
Trong bối cảnh hiện nay, khi Đảng ta đang thực hiện đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội, tăng cường công khai dân chủ, minh bạch, đẩy mạnh đối thoại thì chúng ta càng phải tỉnh táo để phát hiện những biểu hiện lợi dụng dân chủ nhằm thực hiện các thủ đoạn chính trị mị dân.

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2018

ĐẤU TRANH NHẬN DIỆN CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN VỚI LỢI ÍCH CÁ NHÂN THEO QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH


Hiện nay chủ nghĩa các nhân đang là vấn đề nổi nên trong xã hội khá phức tạp, lợi dụng vấn đề lợi ích quốc gia dân tộc, vấn đề mục tiêu cách mạng hiện nay là dân giầu, nước mạnh. Các thế lực phản động, bất mãn chế độ đang thổi phồng lợi ích cá nhân chính đáng, sang thành chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi vô tổ chức. Bản chất chủ nghĩa các nhân là mưu cầu lợi ích cho bản thân bằng mọi cách, từ đó dẫn đến các việc làm sai trái vi phạm nguyên tắc, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống, cao hơn nữa là dẫn đến suy thóa về tư tưởng, chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đề nhận diện phân biệt chủ nghĩa các nhân với lợi ích các nhân, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vấn đề xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở những người cách mạng phải biết phân biệt chủ nghĩa cá nhân với lợi ích chính đáng của cá nhân. Người viết: “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”… Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu”. Bởi vì, mỗi người đều có tính cách, sở trường, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình, lợi ích của cá nhân luôn gắn liền với lợi ích tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể; chỉ có dưới chủ nghĩa xã hội thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy sở trường, năng lực của mình, chăm lo lợi ích chính đáng của cá nhân góp phần xây dựng cho lợi ích tập thể. Chỉ có điều khi lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể thì đòi hỏi người cách mạng phải biết đặt lợi ích của tập thể lên trên, lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích tập thể. Thật có lý khi Đảng ta khẳng định phải giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích: cá nhân - tập thể - xã hội; phải thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, trong đó coi trọng lợi ích chính đáng của người lao động, “khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp”. Thực chất đây là quan điểm của Đảng để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chống chủ nghĩa cá nhân và khuyến khích, quan tâm, chăm lo đến lợi ích chính đáng của cá nhân.

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

Ý NGHĨA, TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG TÁC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết hoàn bị, khoa học và cách mạng, làm cơ sở cho nhận thức thế giới và đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân và nhân dânlao động khỏi áp bức, bóc lột, bất công. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm cơ bản về cách mạng Việt Nam, kết quảcủa sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Nhờ có lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng nước ta phát triển từ tự phát thành tự giác; là nền tảng để Đảng ta có đường lối chính trị đúng đắn lãnh đạo quá trình cách mạng.
Không nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của lý luận chính trị là không hiểu quá trình vận động khách quan của cách mạng Việt Nam, vai trò của lý luận tiên phong và Đảng tiên phong trong quá trình ấy. Cán bộ, đảng viên có nhận thức sai lệch này dẫn đến sẽ “... lười học chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh...” hoặc học (kể cả ở những nơi đào tạo lý luận chính trị cao cấp) để hoàn chỉnh bằng cấp, đủ điều kiện để được quy hoạch, bổ nhiệm... Việc tách rời chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng ở Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, thực chất là chưa hiểu nguồn gốc hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, và do đó, cũng chính là, coi nhẹ, thậm chí, phủ nhận cả tư tưởng Hồ Chí Minh.
Những sai lệch trong nhận thức đó nếu không được khắc phục sẽ khiến cán bộ, đảng viên “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.