Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình đẳng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình đẳng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

Âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch hiện nay là đa dạng, với tính chất rất nguy hiểm. Chúng đã kết hợp các hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng với tổ chức lực lượng và trực diện đấu tranh chống chính quyền, đòi quốc tế hóa vấn đề dân tộc... đi đến mục tiêu cao hơn là loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, chia Việt Nam thành nhiều “quốc gia” trong sự khống chế của chúng. Những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch nhằm làm cho cuộc sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, các thủ đoạn chống phá điên cuồng của chúng có đạt được hay không phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn sự chủ động tiến công của ta và quan trọng là phụ thuộc vào sự nhận thức đúng đắn các quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay.

Kế thừa truyền thống đoàn kết cùng nhau dựng nước và giữ nước, trung thành, kiên định với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta khẳng định vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Đảng ta luôn nhất quán thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên, bằng con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Xuất phát từ tình hình, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam hiện nay, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Đại hội lần thứ XIII của Đảng còn chỉ rõ “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tây duyên hải miền Trung... Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”

Những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc hiện nay có thể khái quát trên những nội dung cơ bản sau đây:

Một là, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

Hai là, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Ba là, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh – quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miên núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thông các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

Bốn là, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự tương trợ, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.

Năm là, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.

Nhận thức đúng những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc ở trên, chính là nhiệm vụ thiết thực, hiệu quả trong tham gia phòng, chống lợi dụng dân tộc, góp phần đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

MỘT ĐẤT NƯỚC BÌNH ĐẲNG

SEA game 31 kết thúc với bộ môn thể thao vua bóng đá với những khoảnh khắc tuyệt vời mà các vận động viên để lại. Hình ảnh đất nước Việt Nam chúng ta có lẽ sẽ rất ấn tượng trong mắt bạn bè quốc tế với những nỗ lực tổ chức kỳ Đại hội thể thao Đông Nam Á sau đại dịch Covid-19 kéo dài đằng đẵn kèm theo những khó khăn khó tả.

Hình ảnh các đồng chí lãnh đạo của đất nước từ Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội đến Chủ tịch nước đều đến dự kháng, cổ vũ trên khán đài của trận chung kết bóng đá giữa Việt Nam và Thái Lan cho thấy sự gần gũi, tình cảm của các đồng chí cán bộ sẵn sàng đồng hành cũng nhân dân trong mọi lúc mọi nơi. Hiếm có một nước nào mà người dân đều nhìn thấy cùng một lúc gần như tất cả những trụ cột của đất nước gần người dân đến thế.

Giữa người hâm mộ và các đồng chí lãnh đạo dường như không có khoảng cách, chứng minh cho một đất nước Việt Nam bình đẳng, dân chủ. Những cán bộ lãnh đạo cấp cao ấy là những đày tớ trung thành của nhân dân, luôn trăn trở để xây dựng đất nước Việt Nam phát triển thịnh vượng. Chúng ta người dân Việt hạnh phúc vì đất nước của mình, hạnh phúc vì có những vị lãnh đạo xứng tầm và luôn thân thiện.

Sự đoàn kết nắm tay nhau của các đồng chí là “cú đấm thép” cho những tên phản động, hải ngoại như RFA, Việt Tân luôn tìm cách xuyên tạc, bóp méo nội bộ nước ta bị chia rẽ, có những bàn cờ đằng sau mà người dân không nhìn thấy. Nhưng xin thưa tất cả những luận điệu của kẻ địch chỉ là nguỵ biện; người dân Việt luôn tin tưởng với các vị lãnh đạo của mình, luôn hướng tới một đất nước “dân chủ, văn minh, công bằng” đó là một sự thật không thể chối cãi. Mọi người dân Việt đều nhìn thấy sự bình đẳng giữa các tầng lớp trong xã hội, không có khoảng cách giữa họ với nhau từ lãnh đạo cấp cao đối với người nông dân; cả đất nước đều chung nhịp đập của trái tim!

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

BAN HÀNH BỘ TIÊU CHÍ ỨNG XỬ TRONG GIA ĐÌNH

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa có quyết định ban hành bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình. Trong đó, các tiêu chí ứng xử chung trong gia đình Việt Nam là tôn trọng, bình đẳng, yêu thương và chia sẻ.

Theo đó, bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình xác định và từng bước đưa vào cuộc sống các chuẩn mực giá trị đạo đức, văn hóa con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; củng cố ý thức pháp luật, đề cao đạo đức, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân, gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước; ngăn chặn sự xuống cấp về đạo đức trong gia đình và xã hội; nâng cao nhận thức về xây dựng, giữ gìn hạnh phúc bền vững của mỗi gia đình, khơi gợi tình yêu thương, chia sẻ trách nhiệm giữa các thành viên gia đình trong xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh, làm nền tảng xây dựng cộng đồng hạnh phúc, quốc gia phồn thịnh, hạnh phúc.

Bộ tiêu chí này được phổ biến và áp dụng với mọi gia đình và các thành viên gia đình Việt Nam. Cụ thể, tiêu chí ứng xử chung trong gia đình là tôn trọng, bình đẳng, yêu thương và chia sẻ. Trong đó, thực hiện nguyên tắc “Tôn trọng”, các thành viên trong gia đình cần đánh giá đúng mực, coi trọng danh dự, phẩm giá, quan điểm, sự lựa chọn và lợi ích của nhau; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau. Thực hiện nguyên tắc “Bình đẳng”, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó. Thực hiện các nguyên tắc “Yêu thương” và “Chia sẻ”, các thành viên trong gia đình cần có tình cảm gắn bó, quan tâm chăm sóc nhau, cùng nhau vun đắp tình cảm, chia sẻ vui buồn, giúp đỡ nhau lúc khó khăn, hoạn nạn.

Các thành viên thuộc nhóm vợ chồng; ông bà, cha mẹ và con, cháu; anh, chị, em trong gia đình ngoài thực hiện tiêu chí ứng xử chung, có trách nhiệm thực hiện các tiêu chí cụ thể được quy định tại bộ tiêu chí này.

Tiêu chí ứng xử của vợ, chồng là chung thủy, nghĩa tình.

Tiêu chí ứng xử của cha mẹ với con, ông bà với cháu là gương mẫu, yêu thương.

Tiêu chí ứng xử của con với cha mẹ, cháu với ông bà là hiếu thảo, lễ phép.

Tiêu chí ứng xử của anh, chị, em trong gia đình là hòa thuận, chia sẻ.

Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2022

TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết nên các luận điểm hết sức sâu sắc về đoàn kết dân tộc. Trước hết, Người khẳng định: Nước ta có nhiều dân tộc, đấy là điểm tốt. Theo Người, đoàn kết dân tộc tạo nên sức mạnh vô địch, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bởi vì: Cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai người; muốn cách mạng thành công “thì đứng lên đoàn kết nhau mà làm cách mạng”. Hồ Chí Minh đúc kết chân lý: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công. Người coi đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam và chỉ rõ: Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc. Người căn dặn: Nhờ đoàn kết tranh đấu của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh em ruột thịt một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa. Song, đoàn kết dân tộc phải tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân các dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông, trong Mặt trận dân tộc Thống nhất do Đảng lãnh đạo; đảm bảo thống nhất và hài hòa giữa lợi ích quốc gia dân tộc, lợi ích chung của cách mạng và lợi ích của đồng bào các dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết dân tộc phải trên cơ sở đảm bảo bình đẳng, tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người viết: Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia rai hay Ê đê, Xê đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Tất cả các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn Tổ quốc và để ủng hộ Đảng, Nhà nước. Người nêu rõ: Đồng bào tất cả các dân tộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà, để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc, ấm no. Người cũng luôn nhấn mạnh, đoàn kết dân tộc phải đi đôi với đấu tranh chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, các hành vi và hoạt động gây tổn hại đến đoàn kết dân tộc.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

TỰ DO NGÔN LUẬN, BÁO CHÍ VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam luôn coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, đảm bảo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo. Pháp luật Việt Nam đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân. 

Ở Việt Nam, không có việc cưỡng ép từ bỏ niềm tin, theo dõi, đe dọa, xúc phạm, giam giữ, tra tấn, hạn chế quyền tiếp cận tôn giáo. Việt Nam nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để kích động hận thù, chia rẽ, gây mâu thuẫn và xung đột, làm tổn hại đến an ninh, ổn định của đất nước và cuộc sống yên bình của người dân. Các tôn giáo ở Việt Nam chung sống hòa hợp trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hiện có 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo, thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo in ấn, phát hành kinh sách và đồ dùng việc đạo; đảm bảo tự do tôn giáo tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số.

Về quyền tự do ngôn luận, báo chí, tự do hội họp, thực tiễn cuộc sống là bằng chứng rất rõ nét về việc thụ hưởng quyền này ở Việt Nam. Có thể thấy, báo chí ở Việt Nam đã phát triển không ngừng, trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ bảo vệ quyền của người dân, lợi ích của xã hội, hỗ trợ công tác kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật, chính sách. 

Tính đến tháng 6-2018, cả nước đã có tới có 857 cơ quan báo chí với 1.119 ấn phẩm, số lượng trang thông tin điện tử tổng hợp được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép đến hết tháng 6-2018 là 1.510. Hơn 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam. Internet phát triển vô cùng nhanh chóng đang tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa. Tỷ lệ hộ gia đình có truy cập internet là 28,35%, số người dùng Internet ở Việt Nam là khoảng 50 triệu người, chiếm 54% dân số (so với 30,8 triệu người năm 2013). Việt Nam có 58 triệu tài khoản sử dụng Facebook.

Quyền lập hội đã được quy định trong Hiến pháp 2013, Bộ luật hình sự 2015 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Đến năm 2017, Việt Nam có 68.125 hội, trong đó có các tổ chức, hiệp hội của thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, người khuyết tật, các hội từ thiện, các tổ chức khoa học, nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ. 5 tổ chức chính trị-xã hội lớn có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội là: Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Luật về Hội. Dự thảo Luật về Hội đã được tham vấn nhiều lần ý kiến của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, các chuyên gia và người dân để trình Quốc hội cho ý kiến.

Quyền bình đẳng trước tòa án và quyền được xét xử công bằng đã được quy định trong Hiến pháp, các đạo luật liên quan và đã đi vào thực tế. Năm 2017, Tòa án gia đình và người chưa thành niên đã được thành lập nhằm bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em dưới 18 tuổi. Các cơ chế tố tụng được bảo đảm theo hướng công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người; thủ tục phiên tòa được đổi mới. Việc tiếp cận công lý của người dân luôn được khẳng định … Năm 2018, các Trung tâm trợ giúp pháp lý (TGPL) đã tiếp nhận, thực hiện 58.887 vụ việc TGPL cho 51.608 lượt người, trong đó có 18.358 vụ việc tham gia tố tụng (tăng 12,7% so với năm 2017). Đặc biệt, 100% các vụ án hình sự mà yêu cầu phải chỉ định luật sư bào chữa thì đều có sự tham gia của luật sư, trợ giúp viên pháp lý.

Lĩnh vực hành chính và tư pháp - lĩnh vực gắn chặt với người dân, doanh nghiệp - đã được chú trọng nâng cao chất lượng. Một khối lượng lớn nhu cầu liên quan đến vấn đề hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đã được giải quyết, trong đó các cơ quan có chức năng của Việt Nam thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, từng bước hiện đại hóa, tạo thuận lợi cho người dân cũng như đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý nhà nước. 

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2020

“GIẤC MƠ MỸ” LIỆU CÓ LÀ SỰ THẬT?

Thời gian vừa qua, không phải Hồng Kong, mà là nước Mỹ - là tâm điểm sự quan tâm của dư luận thế giới. Vào ngày 25/5, video liên quan đến vụ việc chấn động đã lan truyền với tốc độ chóng mặt trên mạng xã hội, gây ra làn sóng phẫn nộ và nhiều cuộc biểu tình quy mô lớn trong thành phố. Cụ thể, video ghi lại hình ảnh một viên chức của Sở cảnh sát thành phố Minneapolis bắt giữ George Floyd, người da đen sinh sống ở vùng ngoại ô của Minneapolis. Viên cảnh sát dùng đầu gối đè lên cổ Floyd trong khi Floyd liên tục rên rỉ: “Tôi không thể thở được”. Và bức ảnh với tiêu đề "Please, I can't breathe" lan tràn trên mạng xã hội để phản đối tình trạng phân biệt chủng tộc ở nước Mỹ. Viên cảnh sát Derek Chauvin đã bị khởi tố với tội danh giết người cấp độ 3 và ngộ sát. Cùng lúc 3 cảnh sát khác làm cùng sở với Chauvin đã bị sa thải với cáo buộc liên quan đến cái chết của người đàn ông tên George Floyd, 46 tuổi.

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Gần đây, một số cơ quan truyền thông như đài VOA, trang tin điện t www.khmerkrom.org,www.champaka.info, ...) tung tin một số tổ chức thù địch, phản động người Việt Nam ở nước ngoài rêu rao về cái gọi là: “chính sách ngược đãi các dân tộc thiểu số đang diễn ra ở Việt Nam”. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái với thực tế những gì đang diễn ra trên đất nước ta.
Từ văn bản, luật pháp, chính sách đến thực tế hành động, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định đoàn kết các dân tộc, chăm lo oải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên và là bản chất tốt đẹp của chế độ ta.
Ngay sau khi giành chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến công tác dân tộc, chính sách dân tộc và tình cảm với đồng bào các dân tộc, thể hiện tư tưởng chỉ đạo về chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số Nam bộ năm 1946, Người viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em một thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân tộc, chính sách dân tộc được ghi trong Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc là: ...“đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam” và “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đnhau giữa các dân tộc,...chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc”.
Để thể chế hóa các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, Nhà nước ta đã ban hành hiến pháp, các bộ luật thể hiện nội dung về chính sách dân tộc. Trong Hiến pháp năm 1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thể hiện rõ chính sách đại đoàn kết, quyền bình đẳng của mọi công dân, không phân biệt đối xử vi bất kỳ dân tộc nào:
“Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có nhiều khó khăn, chậm phát triển, Nhà nước có chính sách giúp đỡ, để cùng nhau phát triển”; “Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung”.
Năm 2013, Nhà nước ta ban hành bản Hiến pháp mới, một lần nữa Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khẳng định rõ chính sách đoàn kết, không phân biệt và giúp nhau giữa các dân tộc. Bên cạnh đó, Quốc hội đã ban hành nhiều luật liên quan đến quyền lợi các dân tộc thiểu số như: Luật Giáo dục, Luật Bảo hiểm y tế, Luật chăm sóc sức khỏe nhân dân, Luật Khám, chữa bệnh, Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật, Luật Bình đẳng gii... Nhằm cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng, luật pháp của Nhà nước, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, thực hiện chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội cho đồng bào các dân tộc. Chỉ tính riêng trong 5 năm (2006-2012) Chính phủ đã ban hành 160 văn bản qui phạm pháp luật gồm: 14 Nghị định của Chính phủ, 40 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 27 văn bản phê duyệt đề án, 26 văn bản liên tịch giữa các bộ, ngành và 51 văn bản của các bộ, cơ quan ngang bộ. Mặc dù trong bối cảnh các nền kinh tế thế giới suy thoái, tình hình kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, nhưng trong giai đoạn 2006 - 2012, Chính phủ đã cố gắng dành ra 54.776 tỷ đồng từ ngân sách Nhà nước, để thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số, tốc độ tăng bình quân 20%/ năm.
Nhờ thực hiện chính sách đúng đắn của Nhà nước, thực tế các dân tộc thiểu số nước ta đã được bình đẳng về chính trị, đời sống được cải thiện, văn hóa truyền thống được bảo tồn, chữ viết, tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào được tôn trọng, các quyền của công dân ngày càng được bảo đảm./.

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2017

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI ĐÃ XÓA BỎ CHẾ ĐỘ NGƯỜI BÓC LỘT NGƯỜI, GIÀNH QUYỀN BÌNH ĐẲNG CHO NHÂN DÂN LAO ĐỘNG


Lịch sử thế giới và lịch sử hầu hết các quốc gia dân tộc đều đã trải qua các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, trong đó một số nhỏ trong giai cấp chủ nô và địa chủ phong kiến đã áp bức, bóc lột đông đảo nhân dân lao động. Các cuộc cách mạng tư sản đã từng nêu lên khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, nhưng thực chất chỉ là sự thay đổi giai cấp bóc lột, nhân dân lao động vẫn chưa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột bất công. Ước vọng ngàn đời về xóa bỏ bóc lột bất công, giành quyền bình đẳng của các giai cấp nghèo khổ vẫn chưa thành hiện thực, các cuộc cách mạng đó vẫn “chưa phải là cách mạng đến nơi” như đánh giá của lãnh tụ Hồ Chí Minh từ năm 1927.
Cách mạng Tháng Mười lần đầu tiên đã lật đổ chế độ bóc lột của các giai cấp địa chủ quý tộc và tư sản, giành quyền làm chủ xã hội cho nhân dân lao động. Ngay sau cách mạng thành công, Chính quyền Xôviết đã ban hành Sắc luật xóa bỏ mọi sự phân biệt đẳng cấp, dân tộc và mọi tước vị để tất cả chỉ còn một tên chung là công dân của nước Cộng hòa Xôviết Nga. Đầu tháng 01 năm 1918, Đại hội Xôviết toàn Nga lần thứ III đã thông qua bản Tuyên ngôn về quyền lợi của nhân dân lao động và bị bóc lột. Tuyên ngôn khẳng định mục tiêu của nước Cộng hòa Xôviết Nga là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ giai cấp, đem lại quyền bình đẳng cho mọi tầng lớp nhân dân Nga. Chỉ sau Cách mạng một ngày, Đại hội Xôviết toàn Nga lần thứ II đã thông qua Sắc luật ruộng đất tuyên bố tịch thu tất cả ruộng đất của giai cấp địa chủ quý tộc, quốc hữu hóa và chia cho nông dân. Từ đây, ở nước Nga chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến nông nô đã được xóa bỏ, giai cấp nông dân được giải phóng hoàn toàn. Tiếp đó, Chính quyền Xôviết ra các sắc lệnh và thực hiện quốc hữu hóa các nhà máy, xí nghiệp, ngân hàng của giai cấp tư sản, căn bản xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở nước Nga. Chính quyền Xôviết còn tuyên bố và thực hiện bình đẳng nam nữ, quyền tự do tín ngưỡng và bình đẳng giữa các tôn giáo, giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo… Các tầng lớp nhân dân nước Nga được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột, được hưởng quyền bình đẳng.
Giá trị giải phóng giai cấp của Cách mạng Tháng Mười đã ảnh hưởng sâu sắc đến nền chính trị thế giới suốt thế kỷ XX. Đến nay, tuy ách áp bức, bóc lột giai cấp nhìn chung trên phạm vi toàn thế giới có được giảm bớt một phần, nhưng bất bình đẳng xã hội vẫn đang còn là một vấn đề quan trọng hàng đầu, diễn ra phổ biến đối với thế giới đương đại và là vấn đề cấp bách với nhiều dân tộc. Nạn bóc lột tàn bạo, sự phân hóa giàu nghèo, sự chênh lệch mức sống và thang giá trị con người ngày càng gia tăng ở nhiều quốc gia, kể cả các nước nghèo và các nước phát triển. Hiện trạng đó càng thôi thúc nhân loại tiến bộ hướng hoạt động của mình vào cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp mà Cách mạng Tháng Mười đã giương ngọn cờ đầu. Điều đó khẳng định giá trị giải phóng giai cấp của Cách mạng Tháng Mười vẫn trường tồn cùng nhân loại trước mắt là trong thế kỷ XXI này.