Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những đặc trưng cơ bản: Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhân dân là nguồn gốc, là chủ thể quyền lực của Nhà nước, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; hai là, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp. Hiến pháp và pháp luật có vị trí, hiệu lực cao nhất không chỉ đối với xã hội, mà ngay cả trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, là cơ sở của quyền lực nhà nước; ba là, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối cao của pháp luật trong đời sống xã hội; bốn là, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, tôn trọng các cam kết quốc tế với tư cách là một thành viên. Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tôn trọng các cam kết quốc tế với tư cách là một thành viên. Nâng cao trách nhiệm pháp lý trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân; năm là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; sáu là, quyền lợi đi liền với nghĩa vụ; dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương; bảy là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng NNPQ XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở nước ta. Các đặc trưng cơ bản đó của Đảng về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được cụ thể hoá và từng bước được làm rõ hơn, sâu sắc hơn trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở nước ta.
Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022
MỤC ĐÍCH CỦA CHIẾN LƯỢC XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2045
Đề án chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước có vai trò
rất quan trọng nhằm xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội
chủ nghĩa để phụng sự nhân dân tốt hơn, đóng góp nhiều hơn vào công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới với tầm nhìn dài hạn đến năm 2045
trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển của Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư.
Mục đích của Đề án chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 là: Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước; xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dựa trên cơ sở nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực. Yêu cầu tiếp theo là xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân và doanh nghiệp làm trọng tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.
Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021
THAM GIA BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN LÀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý CHÍ, NGUYỆN VỌNG, QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Trong quá trình lịch sử, các cuộc bầu cử
dân chủ luôn là hoạt động tiêu biểu, quan trọng nhất trong các hoạt động dân chủ
trực tiếp của người dân. Thông qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu
Hội đồng nhân dân, quyền công dân, quyền "làm chủ" của dân được thể
hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Mọi quyền lực
thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nói cách khác, tham gia bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chính là hình thức dân chủ
trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân
dân trong việc xây dựng nhà nước nói chung và cơ quan đại diện - cơ quan
quyền lực nhà nước từ Trung ương tới địa phương ở nước ta nói riêng. Tham gia bầu
cử chính là nơi để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc lựa
chọn, bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng cho ý chí, nguyện vọng là quyền
làm chủ của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng,
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Trong lịch sử đất nước ta, sau khi Chủ tịch
Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(02/9/1945), cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946 được tổ chức thành
công là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam trong điều kiện đất nước
vô cùng khó khăn của "thù trong, giặc ngoài", tình hình kinh tế,
chính trị, xã hội hết sức khó khăn. Do đó, cuộc Tổng tuyển cử này không chỉ là
một cuộc vận động chính trị thông thường mà thực chất là một cuộc đấu tranh
chính trị, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp vô cùng gay go, phức tạp. Tuy
nhiên, đại đa số người dân tham gia bầu cử luôn xúc động và tự hào vì "...
ngày mai mà một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ra bắt đầu hưởng
dụng quyền dân chủ của mình..."[1]. Trong quá trình vận động và phát triển,
tính dân chủ trong bầu cử và ứng cử ngày càng được mở rộng và quy trình bầu cử
cũng như lựa chọn nhân sự ngày càng chặt chẽ và khoa học. Mặc dù, vẫn còn một số
ít những tồn tại, hạn chế nhưng phải khẳng định một điều rằng chất lượng đại biểu
Quốc hội, Hội đồng nhân dân ngày càng được nâng cao. Điều này được minh chứng
trên diễn đàn của Quốc hội, của Hội đồng nhân dâncác cấp ngày càng xuất hiện
nhiều hơn những tiếng nói đại diện cho quyền lực nhân dân trong hoạt động kiểm
tra giám sát của các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, trong các phát biểu,
kiến nghị, góp ý và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, trong giải quyết
những vấn đề mà cử tri, nhân dân cả nước quan tâm. Để đạt được những thành tựu
trên, một trong những yếu tố quyết định và không thể không nói đến đó là tinh
thần, trách nhiệm của mỗi người dân ngày càng được nâng cao thông qua việc lựa
chọn những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt quyết định các vấn
đề trọng đại của đất nước, dân tộc.
Trải qua nhiều kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp, người dân đã ý thức được quyền và nghĩa vụ của
mình nên đã tích cực thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu,
tích cực tham gia vào cuộc bầu cử từ giai đoạn giới thiệu người ứng cử, tham
gia các Hội nghị cử tri để đóng góp ý kiến, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với
người ứng cử đến giai đoạn bỏ phiếu bầu để ngày bầu cử đã thực sự trở thành
ngày hội, một dịp sinh hoạt chính trị của đồng bào, nhân dân cả nước. Những vấn
đề chưa phù hợp trong quy chế, quy định bầu cử đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo
cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lực của người dân được thực hiện tốt hơn trên
thực tế.
Bên cạnh đó, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng
trong suốt quá trình bầu cử là một tất yếu nhằm lựa chọn được những người tiêu
biểu, xứng đáng nhất, có đủ các tiêu chuẩn theo quy định, không tham nhũng và
kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng; có năng lực, có điều kiện thực
thi nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Đồng thời bảo
đảm cơ cấu và chất lượng, không vì cơ cấu mà giảm chất lượng. Đó là là cơ sở
pháp lý giúp cho việc hình thành các cơ quan nhà nước trong nhiệm kỳ mới, bảo đảm
tính liên thông, thống nhất với kết quả đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại
biểu toàn quốc của Đảng.
Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu
cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị
đã xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu sai trái, khi cho rằng bầu
cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý,
nhân dân không có quyền thực sự. Những luận điệu xuyên tạc này của chúng nhằm
hướng lái dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc để hiện thực hóa mục
đích "cài cắm mầm mống dân chủ" vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp
với mưu đồ biến nghị trường thành diễn đàn để các đối tượng thực hiện hoạt động
chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"
trong nội bộ và thực hiện "chiến lược diễn biến hòa bình" làm nước ta
tự suy yếu từ bên trong.
Trong lịch sử, có thể thấy chiêu bài
"đòi ghế" trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp của các thế lực
thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị không phải là vấn
đề mới. Từ năm 1946, trong lần Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa, trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, tình hình thế giới có
nhiều diễn biến phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam
Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.
Mặc dù, một trong năm phương thức lãnh đạo
của Đảng là thông qua công tác cán bộ và vai trò tiên phong gương mẫu của người
đảng viên. Đối với những cơ quan dân cử, các cấp ủy đảng cần trực tiếp xem xét,
tập thể quyết định việc lựa chọn, đánh giá, giới thiệu những cán bộ giữ chức vụ
quan trọng trong bộ máy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội.
Trên thực tế, sau khi chỉ thị của Bộ Chính
trị được ban hành, hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử được tổ chức để
kịp thời quán triệt, xây dựng kế hoạch triển khai công tác bầu cử. Hội đồng Bầu
cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội... ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ
đạo và hướng dẫn công tác bầu cử từ Trung ương đến địa phương. Các cấp ủy đảng,
Mặt trận Tổ quốc, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở địa phương cũng tiến hành
khẩn trương, nghiêm túc các công việc chuẩn bị bầu cử và lãnh đạo, chỉ đạo công
tác bầu cử ở các cấp. Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập theo đúng quy
trình và triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ theo quy định. Việc chuẩn bị
nhân sự ứng cử đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, Đoàn Chủ tịch Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì và tổ chức các hội nghị hiệp
thương, hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với người ứng cử
đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp,
quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối
ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy nhà nước; Hội đồng nhân dân là
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền
làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Do đó, thực hiện thành công
cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm
tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân.
Những luận điệu của các thế lực thù địch,
phản động cho rằng: "Việc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là
nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ
ý, nhân dân không có quyền thực sự"... là hoàn toàn xuyên tạc, sai sự thật,
nhằm xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá chế độ, chống
phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân
dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026./.
Thứ Năm, 3 tháng 12, 2020
DỰ THẢO BÁO CÁO CHÍNH TRỊ ĐÃ THỂ HIỆN RÕ NHỮNG GIÁ TRỊ CHUNG CỦA NHÂN LOẠI
Một là, về kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là giá trị chung của nhân loại, được
phát triển trong chủ nghĩa tư bản. Từ Đại hội IX, Đảng ta đã khẳng định: Kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Kế thừa Đại hội XII, Dự thảo Báo cáo
chính trị nêu: Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận
hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm
định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều
thành phần kinh tế, trong đó: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập
thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một
động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được khuyến
khích phát triển.
Điểm mới của Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội
XIII nêu rõ vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế. Trong đó, kinh tế nhà
nước là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ vững ổn định
kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội,
khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Các nguồn lực kinh tế của Nhà
nước được sử dụng phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước
và cơ bản được phân bổ theo cơ chế thị trường. Doanh nghiệp nhà nước tập trung
vào lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh; hoạt động theo
cơ chế thị trường, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế; lấy hiệu quả kinh
tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế.
Kinh tế tập thể, các hợp tác xã, tổ hợp tác có vai trò
cung cấp dịch vụ cho các thành viên; liên kết, phối hợp sản xuất kinh doanh, bảo
vệ lợi ích và tạo điều kiện để các thành viên nâng cao năng suất, hiệu quả sản
xuất kinh doanh, phát triển bền vững. Tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã,
hình thành các hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã.
Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả
các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, nhất là trong lĩnh vực sản xuất
kinh doanh, dịch vụ, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế
tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác,
liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công
ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là người lao động.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan
trọng của kinh tế quốc dân, có vai trò lớn trong huy động nguồn vốn đầu tư,
công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu.
Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII xác định
mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội: Trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có quan hệ chặt chẽ.
Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh
doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường
thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị
trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết
phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm
quốc phòng, an ninh. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính
sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các tiêu chuẩn, định mức và lực lượng
kinh tế nhà nước phù hợp với các yêu cầu và quy luật của kinh tế thị trường. Thị
trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hoá, dịch vụ; tạo động
lực huy động, phân bổ các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông; điều tiết
hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Các tổ chức
xã hội có vai trò tạo sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề
phát sinh giữa các thành viên; đại diện và bảo vệ lợi ích của các thành viên
trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác; cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các
thành viên; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân với Nhà nước
và tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các
cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực thi pháp luật.
Hai là, về nhà nước
pháp quyền
Từ Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII, Đảng ta đã chính
thức sử dụng khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nhĩa và được tiếp tục được
phát triển qua các kỳ đại hội. So với Đại hội XII, Dự thảo Báo cáo chính trị
xác định rõ hơn nhiệm vụ, giải pháp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng
tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền
hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước
là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm
soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, hiện
đại, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của
người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu
phát triển nhanh, bền vững.
Ba là, về dân chủ
Dân chủ là giá trị chung của nhân loại. Từ khi ra đời
đến nay, Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn bản chất, vị trí,
vai trò của dân chủ và phát huy dân chủ. So với Đại hội XII, Dự thảo Báo cáo
chính trị xác định rõ hơn nhiệm vụ, giải pháp phát huy dân chủ:Tiếp tục cụ thể
hoá, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011)
và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực
hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ
ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả trên thực tế phương châm “Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và
các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Cấp uỷ, tổ chức
đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức,
viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội.
Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền
tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.
Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển
đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tính
tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham
gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán
bộ, công chức; động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; quản lý và tự quản
xã hội; xây dựng, quản lý, thụ hưởng văn hoá; xây dựng nền quốc phòng toàn dân,
an ninh nhân dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế
trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân. Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ
chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã
hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân.
Bốn là, về hạnh
phúc
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Quốc hiệu của nước ta là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao giá trị hạnh phúc. Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIII đề cao khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Thế giới hiện nay rất coi trọng chỉ số hạnh phúc của người dân để đánh giá về sự tiến bộ, ưu việt của các quốc gia. Đây cũng là một điểm nhấn trong Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII./.