Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2024

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY MANG TÍNH CÁC MẠNG, KHOA HỌC

Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay mang tính các mạng, khoa học bởi xuất phát từ cơ sở lý luận, thực tiễn cách mạng, khoa học.

Một là, xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để Đảng và Nhà nước ta xây dựng chính sách dân tộc. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ rõ: Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược, tạo lực lượng cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giải quyết vấn đề dân tộc phụ thuộc và phục vụ cho vấn đề giai cấp của giai cấp công nhân, phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và của dân tộc, vừa là mục đích trước mắt vừa là nhiệm vụ lâu dài; vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc trong chủ nghĩa xã hộilà: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết và liên hiệp công nhân các dân tộc lại; phát huy được khả năng vươn lên của các dân tộc, phù hợp đặc thù từng dân tộc, từng vùng miền; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ các tộc người thiểu số…  

Hai là, xuất phát từ đặc điểm cơ bản của các dân tộc và vị trí chiến lược của địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta trong giai đoạn hiện nay. Các dân tộc ở n­ước ta là một cộng đồng thống nhất trong đa dạng, cư­ trú xen kẽ, phân tán, trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều. Khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại và bảo vệ môi trường sinh thái. Đặc điểm này đòi hỏi chính sách dân tộc phải vừa mang tính toàn diện, vừa mang tính đặc thù, vừa mang tính trước mắt, vừa mang tính lâu dài…Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng của chính sách nhằm bảo đảm tính phù hợp, hiệu quả của hệ thống chính sách dân tộc.   

 Ba là, xuất phát từ bài học kinh nghiệm giải quyết vấn đề dân tộc của các quốc gia trên thế giới và của Việt Nam. Đó là những bài học lớn: Lợi ích quốc gia, dân tộc là cao nhất; nhà nước giải quyết tốt, hài hòa lợi ích của các dân tộc thiểu số; cần thể chế hóa và bảo đảm thực thi một cách nghiêm túc, hiệu quả các vấn đề liên quan đến dân tộc; vấn đề căn bản nhất trong xử lý quan hệ giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số; phải lấy phát triển kinh tế các dân tộc thiểu số làm khâu đột phá, làm cơ sở để giải quyết các vấn đề khác trong phát triển, như: chính trị, văn hóa trong bối cảnh quốc gia đa dân tộc cùng sinh sông.

Bốn là, xuất phát từ thực tiễn thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam thời gian qua và yêu cầu phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong những năm tới. Những năm qua, việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta  có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu toàn diện. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách dân tộc còn không ít khuyết điểm, hạn chế. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ phát triển toàn diện, bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã và đang đặt ra những yêu cầu mới. Bởi thế, đây là cơ sở quan trọng để xây dựng, thực hiện hệ thống chính sách dân tộc đồng bộ, hiệu quả nhằm phát triển nhanh và bền vững kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

LUẬN THUYẾT MÁC – LÊNIN VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN MANG TÍNH KHOA HỌC, CÁCH MẠNG

Sự ra đời, phát triển của giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó là kết quả tất yếu, khách quan của quá trình phát triển xã hội loài người; các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin là những người phát hiện ra, truyền bá, giác ngộ giai cấp công nhân để họ đấu tranh, hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử đó.

Thực tế, giai cấp công nhân là “con đẻ” của đại công nghiệp, phát triển cùng đại công nghiệp. “Trong tất cả các giai cấp đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.  

Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân đấu tranh xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh. “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

Sứ mệnh lịch sử đó do địa vị kinh tế - xã hội khách quan của giai cấp công nhân quy định. Giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, nên nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội mới với kiểu quan hệ sản xuất mới. Giai cấp công nhân được rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh. Họ là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét về bản chất họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột đó. Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về mình. Đúng như C.Mác, Ph.Ăng-ghen đã chỉ rõ: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những người công nhân hiện đại”. “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.

Trung thành chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin khẳng định, bổ sung: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ; vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”.

 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là tất yếu khách quan, song, để hiện thực hóa sứ mệnh đó, phải thông qua những nhân tố chủ quan - bản thân giai cấp công nhân và chính đảng của nó.

Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, số lượng, tỷ trọng công nhân ngày càng tăng nhanh ở tất cả các nước, đa dạng hơn về cơ cấu; chất lượng, trình độ học vấn, khoa học công nghệ và tay nghề ngày càng được nâng cao. Trong quá trình phát triển, với sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân tất yếu hình thành chính đảng của giai cấp công nhân - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân sẽ nâng phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác. Việc thành lập ra đảng cộng sản trung thành với sự nghiệp, lợi ích của giai cấp công nhân là yếu tố quyết định nhất, đảm bảo cho giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

Lịch sử thế giới đã chứng minh tính đúng đắn về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác - Lênin. Năm 1871, Công xã Pari  nổ ra, giành thắng lợi - nhà nước vô sản đầu tiên được thành lập, tuy chỉ là mô hình nhà nước vô sản sơ khai, chỉ tồn tại trong 72 ngày nhưng bước đầu đã chứng minh khả năng cách mạng của giai cấp công nhân và bản chất tốt đẹp của mô hình xã hội XHCN. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), đã sáng lập nên một chế độ xã hội mới - xã hội XHCN. Lần đầu tiên trong lịch sử, khát vọng thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại cần lao đã trở thành hiện thực sinh động trên một đất nước rộng lớn bằng một phần sáu trái đất và đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. “Cách mạng Tháng Mười đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”.

Nước Nga Xô viết, tiếp sau là Liên Xô đã sáng tạo nên những giá trị Xô viết vĩ đại, ưu việt hơn hẳn các chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Trong hơn 70 năm (1917 - 1991) xây dựng và phát triển, từ một nước Nga lạc hậu, Liên Xô đã trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ). Chính trị, văn hóa, khoa học giáo dục đều có sự phát triển vượt bậc, ảnh hưởng lớn đến các nước trên thế giới. Liên-Xô đã giải phóng hàng trăm dân tộc thiểu số ra khỏi nước Nga Sa hoàng - nhà tù của các dân tộc, đem đến cho họ cuộc sống mới. Đời sống mọi mặt của các dân tộc được nâng cao. Quần chúng công nông được hưởng đầy đủ các quyền chính trị kinh tế văn hóa xã hội bảo vệ sức khoẻ, chữa bệnh và nhiều giá trị khác nữa như  quyền nhà ở, quyền được học hành, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo…Đó chính là những giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt do Liên Xô tạo nên, buộc chủ nghĩa tư bản phải tự điều chỉnh, tự tô vẽ lại bộ mặt của mình theo hướng nhân văn hơn, tiến bộ hơn.

Năm 1972, tổng sản lượng công nghiệp Liên Xô đã tăng 321 lần so với năm 1922, thu nhập quốc dân tăng 112 lần. Năm 1975, tổng sản lượng kinh tế của Liên Xô đã đạt 943,5 tỷ USD (đứng thứ 2 thế giới và bằng 62% so với Hoa Kỳ) và chỉ cần 2 ngày rưỡi, Liên Xô đã sản xuất ra lượng sản phẩm bằng cả năm 1913 (năm cao nhất của Đế quốc Nga cũ). 

Liên Xô đã tích cực, chủ động giúp đỡ phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc hiệu quả, thiết thực. Liên Xô đã góp phần chủ yếu cứu loài người khỏi thảm hoạ phát xít, thực sự là thành trì của hoà bình, an ninh quốc tế. Với sự ủng hộ nhiệt tình, to lớn của Liên Xô, phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc phát triển như vũ bão; phong trào cộng sản- công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới lớn mạnh không ngừng. Nhờ đó, trong những năm 1960, có khoảng 100 quốc gia giành được độc lập dân tộc ở các mức độ khác nhau, một số nước trong đó lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội từ một nước phát triển thành một hệ thống thế giới, tạo thế cân bằng với chủ nghĩa tư bản, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt hành tinh. Đó là sự hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà C. Mác, Ph. Ăng ghen đã tiên đoán từ năm 1848.

Thế nhưng, sau 70 năm tồn tại,  phát triển, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã sụp đổ. Nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ đó do sự vận dụng giáo điều chủ nghĩa Mác - Lênin, duy trì quá lâu mô hình kinh tế - xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp; nguyên nhân trực tiếp là do sai lầm của những người lãnh đạo đứng đầu của đảng cộng sản; thêm vào đó, là sự phản bội của một số kẻ cơ hội bên trong kết hợp với sự chống phá của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Sự sụp đổ hệ thống XHCN hoàn toàn không phải là sự sụp đổ của lý tưởng cộng sản, càng không phải là sự phá sản học thuyết Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, không phải là sự diệt vong tất yếu của CNXH hiện thực mà là sự đổ vỡ của một mô hình CNXH còn nhiều khuyết tật, không tôn trọng quy luật khách quan, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin…

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC LÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC TRỰC TIẾP CHO GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TIẾN HÀNH CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học, cách mạng và nhân văn, tính lôgic, biện chứng của chủ nghĩa xã hội khoa học ở chỗ, nếu như ở mỗi nội dung của triết học là hạt nhân thế giới quan, phương pháp luận; kinh tế chính trị học luận bàn mối quan hệ của con người trong sản xuất và phân phối…thì chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận trực tiếp cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến hành tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Khẳng định vấn đề này, C.Mác khẳng định “…lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”. Thật vậy, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong lịch sử diễn ra với nhiều hình thức từ đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng và cao nhất là đấu tranh chính trị. Để đấu tranh có kết quả, giành thắng lợi thì cần có lý luận soi đường, dẫn lối, xác định mục tiêu, phương hướng, phương pháp cách mạng để làm chuyển biến cách mạng từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa lên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội chủ nghĩa được chia ra các giai đoạn của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Vì thế, chủ nghĩa xã hội khoa học thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa lý luận với phong trào, giữa lý tưởng với hiện thực. Lịch sử thế giới tự so sánh, Công xã Paris chỉ tồn tại 72 ngày (18/3 đến 28/5/1871) và thất bại khi phong trào chưa được truyền bá lý luận cách mạng sâu rộng trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vượt lên, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là sự hội tụ kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân nhằm giải quyết những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, hội tụ ở nước Nga, một nước tư bản trẻ. Ở đó, V.I.Lênin - người học trò xuất sắc của C.Mác, Ph.Ăngghen đã bảo vệ, bổ sung, phát triển, hoàn thiện, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn cách mạng. Cách mạng Tháng Mười đã làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực, mở ra thời đại mới quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đánh giá về sự vĩ đại, tầm vóc của cuộc cách mạng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.

Đối với các nước chưa tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội khoa học đã trực tiếp chỉ ra đối tượng cách mạng, giai cấp công nhân được trang bị lý luận khoa học, cách mạng sẽ hoàn toàn có thể nhận diện được những mâu thuẫn vốn có trong lòng các nước tư bản chủ nghĩa mà tập trung là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản dù chúng có điều chỉnh, thích nghi, “ứng xử” với lao động làm thuê thế nào thì “về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công”, để thấy hết khả năng, tiềm năng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự thay thế lẫn nhau về hình thái kinh tế - xã hội ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa là một tất yếu, sự tự thân từ động lực tự nó trong xã hội để giai cấp công nhân nhận thấy rõ vai trò lịch sử của mình rằng, “giải phóng giai cấp công nhân là sự nghiệp của bản thân công nhân” mà V.I.Lênin đã nhấn mạnh trong đề cương bài viết đăng trên tạp chí Giáo dục, số 3, tháng Ba 1913: “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác”. Đối với các nước đã tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội vừa kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, vừa cần tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học, làm cho lý luận, thực tiễn thống nhất với nhau, gắn bó mật thiết, lý luận chỉ đạo thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa và đến lượt nó, cách mạng xã hội chủ nghĩa là minh chứng sinh động, là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm lý luận. Và cũng là cương lĩnh đanh thép đối với các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị xuyên tạc chống phá phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, vừa có sự thống nhất vừa có sự khác biệt với triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị học Mác - Lênin, tính thống nhất đó thể hiện ở sự “chụm lại” của một học thuyết cách mạng và khoa học là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới. Nhưng, chủ nghĩa xã hội khoa học với đối tượng nghiên cứu của mình là cơ sở lý luận khoa học trực tiếp nhất về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội để giai cấp công nhân, đội tiền phong là các đảng cộng sản vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn để thực hiện cuộc cách mạng xã hội đi đến thành công.

Ở Việt Nam, từ khi ra đời, Đảng ta kiên định, trung thành “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”, đúng như Hồ Chí Minh khẳng định “Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Trong đó, lý luận trực tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã soi sáng con đường, mô hình, đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

LỊCH SỬ THẾ GIỚI ĐÃ CHỨNG MINH TÍNH ĐÚNG ĐẮN VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã ra đời, tồn tại, ưu việt hơn hẳn các chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Năm 1871, Công xã Pari  nổ ra, giành thắng lợi – nhà nước vô sản đầu tiên được thành lập, tuy chỉ là mô hình nhà nước vô sản sơ khai, chỉ tồn tại trong 72 ngày nhưng bước đầu đã chứng minh khả năng cách mạng của giai cấp công nhân và bản chất tốt đẹp của mô hình xã hội XHCN. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), đã sáng lập nên một chế độ xã hội mới – xã hội XHCN. Lần đầu tiên trong lịch sử, khát vọng thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại cần lao đã trở thành hiện thực sinh động trên một đất nước rộng lớn bằng một phần sáu trái đất và đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. “Cách mạng Tháng Mười đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”.

Nước Nga Xô viết, tiếp sau là Liên Xô đã sáng tạo nên những giá trị Xô viết vĩ đại để nhân loại tiến bộ noi theo. Trong hơn 70 năm (1917 - 1991) xây dựng và phát triển, Liên-Xô đã vươn lên trở thành một cường quốc có vị thế lớn trên trường quốc tế. Từ một nước Nga lạc hậu, Liên Xô đã trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ). Chính trị, văn hóa, khoa học giáo dục đều có sự phát triển vượt bậc, ảnh hưởng lớn đến các nước trên thế giới…. Liên-Xô đã giải phóng hàng trăm dân tộc thiểu số ra khỏi nước Nga Sa hoàng - nhà tù của các dân tộc, đem đến cho họ cuộc sống mới. Đời sống mọi mặt của các dân tộc được nâng cao. Quần chúng công nông được hưởng đầy đủ các quyền chính trị kinh tế văn hóa xã hội bảo vệ sức khoẻ, chữa bệnh và nhiều giá trị khác nữa như  quyền nhà ở, quyền được học hành, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo…Đó chính là những giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt do Liên Xô tạo nên, đã buộc chủ nghĩa tư bản phải tự điều chỉnh, tự tô vẽ lại bộ mặt của mình theo hướng nhân văn hơn, tiến bộ hơn.

Năm 1972, tổng sản lượng công nghiệp Liên Xô đã tăng 321 lần so với năm 1922, thu nhập quốc dân tăng 112 lần. Năm 1975, tổng sản lượng kinh tế của Liên Xô đã đạt 943,5 tỷ USD (đứng thứ 2 thế giới và bằng 62% so với Hoa Kỳ) và chỉ cần 2 ngày rưỡi, Liên Xô đã sản xuất ra lượng sản phẩm bằng cả năm 1913 (năm cao nhất của Đế quốc Nga cũ). 

Liên Xô đã tích cực, chủ động giúp đỡ phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc hiệu quả, thiết thực. Liên Xô đã thực sự là thành trì của hoà bình, an ninh quốc tế, góp phần chủ yếu cứu loài người khỏi thảm hoạ phát xít. Với sự ủng hộ nhiệt tình, to lớn của Liên Xô, phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc phát triển như vũ bão; phong trào cộng sản- công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới lớn mạnh không ngừng. Nhờ đó, trong những năm 1960, có khoảng 100 quốc gia giành được độc lập dân tộc ở các mức độ khác nhau, một số nước trong đó lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội từ một nước phát triển thành một hệ thống thế giới, tạo thế cân bằng với chủ nghĩa tư bản, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt hành tinh. Đó là sự hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà C. Mác, Ph. Ăng ghen đã tiên đoán từ năm 1848.

Thế nhưng, sau 70 năm tồn tại,  phát triển, chủ nghĩa xã hội hiện thực ơ Liên Xô  đã sụp đổ. Nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ đó là do sự vận dụng giáo điều chủ nghĩa Mác  - Lênin, duy trì quá lâu mô hình kinh tế - xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp; nguyên nhân trực tiếp là do sai lầm của những người lãnh đạo đứng đầu của đảng cộng sản; thêm vào đó, là sự phản bội của một số kẻ cơ hội bên trong kết hợp với sự chống phá của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Sự sụp đổ hệ thống XHCN hoàn toàn không phải là sự sụp đổ của lý tưởng cộng sản, càng không phải là sự phá sản của chủ nghĩa Mác, không phải là sự diệt vong tất yếu của CNXH hiện thực mà là sự đổ vỡ của một mô hình CNXH còn nhiều khuyết tật, không tôn trọng quy luật khách quan, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin…

LUẬN THUYẾT MÁC - LÊNIN VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN MANG TÍNH KHOA HỌC, CÁCH MẠNG

Sự ra đời, phát triển của giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó là kết quả tất yếu, khách quan của quá trình phát triển xã hội loài người; các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin là những người phát hiện ra, truyền bá, giác ngộ giai cấp công nhân để họ đấu tranh, hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử đó.

Thực tế, giai cấp công nhân là “con đẻ” của đại công nghiệp, phát triển cùng đại công nghiệp. “Trong tất cả các giai cấp đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”. 

Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân đấu tranh xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh.

Sứ mệnh lịch sử đó do địa vị kinh tế - xã hội khách quan  của giai cấp công nhân quy định. Giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, nên nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân là giai cấp đại biểu cho sự tiến bộ của lịch sử, là giai cấp duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa.

Giai cấp công nhân được rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh. Họ là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét về bản chất họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột đó. Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là tất yếu khách quan, song, để hiện thực hóa sứ mệnh đó, phải thông qua những nhân tố chủ quan – bản thân giai cấp công nhân và chính đảng của nó.

Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, số lượng, tỷ trọng công nhân ngày càng tăng nhanh ở tất cả các nước, đa dạng hơn về cơ cấu; chất lượng, trình độ học vấn, khoa học công nghệ và tay nghề ngày càng được nâng cao. Trong quá trình phát triển, với sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân tất yếu hình thành chính đảng của giai cấp công nhân -bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân sẽ nâng phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác. Việc thành lập ra đảng cộng sản trung thành với sự nghiệp, lợi ích của giai cấp công nhân là yếu tố quyết định nhất, đảm bảo cho giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN BẢN CHẤT KHOA HỌC, CÁCH MẠNG VÀ SỨC SỐNG TRƯỜNG TỒN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Từ sau khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đến nay, các thế lực thù địch điên cuồng tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Chú cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin sai lầm, là không phù hợp, từ đó lớn tiếng cho rằng, Việt Nam đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Thế nhưng, thực tiễn đã cho thấy, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản, đảng viên ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã tiếp thu giáo điều, nửa vời, xa rời những nguyên tắc căn bản của lý luận Mác-Lênin. Chính điều này đã dẫn đến sự sụp đổ đau đớn, làm băng hoại một chế độ tốt đẹp. Đó là sự sụp đổi của một mô hình nhà nước cụ thể không toàn vẹn do áp dụng không đúng lý luận mác-xít về nhà nước, về xây dựng chế độ, về đảng cầm quyền chứ không phải là sự sai lầm của một học thuyết khoa học, không phải sai lầm của lý luận mác-xít. Cũng chính sự kiện đó đã là lời cảnh tỉnh xương máu cho tất cả chúng ta.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi đất nước chìm trong bóng đêm nô lệ đến nay đã chứng minh tính đúng đắn, tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn và sự trường tồn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Dưới ách đô hộ của thực dân, đế quốc, dân tộc ta khi đó không thiếu những anh hùng, không thiếu những cuộc khởi nghĩa, phong trào cách mạng với mong muốn giải phóng dân tộc. Nhưng tất cả đều thất bại vì không có đường lối đúng, không có lý luận cách mạng dẫn đường. Chỉ đến khi Nguyễn Ái Quốc tiếp cận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam, từng bước đưa lý luận vào thực tiễn, soi sáng con đường giải phóng dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi to lớn này đến thắng lợi to lớn khác. Thực tiễn cách mạng thế giới cũng như cách mạng Việt Nam đã chỉ rõ, nếu coi thường, xa rời bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nếu vận dụng nó một cách máy móc, nếu không chịu tìm tòi, nghiên cứu, đúc rút, tổng kết và phát triển hệ lý luận ấy cho phù hợp với sự vận động không ngừng của thực tiễn thì rất dễ dẫn đến phải trả giá bằng sự thất bại. Trước những biến đổi to lớn của thời đại, cần nhận thức đúng đắn, sâu sắc và vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn; tuyệt đối không mơ hồ, mất cách giác trước các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng và sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2022

XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - ÂM MƯU NGOAN CỐ, THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp chính trị cao cả, một di sản tư tưởng lý luận đồ sộ, vô giá và trở thành một biểu tượng văn hóa của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, cùng với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và đã kiên trì vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Với dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động không từ thủ đoạn thâm độc nào, điên cuồng xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Dã tâm đó bắt đầu từ sớm, được thực hiện bởi chủ nghĩa thực dân câu kết với chủ nghĩa chống cộng, âm mưu thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng dập tắt phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng được gia tăng, gắn liền với những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ và xóa bỏ nền độc lập mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng mới giành được. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế lực thù địch, phản động tập trung xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, sau đó từ năm 1954 thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất nước nhà.

Khi cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng văn hóa, tinh thần của dân tộc, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng, nhất là khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, thì các thế lực thù địch, phản động càng điên cuồng tìm mọi cách chống phá với nhiều thủ đoạn thâm độc, phương thức tinh vi, xảo quyệt hơn. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào, từ bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ nhân cách và phẩm giá, đến đánh giá phiến diện, sai trái; thậm chí, nguy hiểm hơn, chúng còn ca tụng một cách cực đoan, hòng tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và với Đảng Cộng sản Việt Nam…

Tất cả những âm mưu và thủ đoạn thâm độc đó của các thế lực thù địch, phản động đều nhằm phủ nhận giá trị và cống hiến to lớn từ cuộc đời và sự nghiệp của Người đối với dân tộc, từ đó phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Bác Hồ; mưu đồ gây ra những bất ổn chính trị, tạo cớ cho sự can thiệp từ bên ngoài để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong chiến lược chống cộng, chiến lược “diễn biến hòa bình”, các nước đế quốc và các thế lực phản động rắp tâm tìm mọi cách “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh, bài bác, phủ nhận tư tưởng của Người, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, âm mưu “lật đổ” trên lĩnh vực tư tưởng, mở đường cho cuộc lật đổ về chính trị.

Phương thức hoạt động chủ yếu hiện nay của các thế lực phản động quốc tế là tiến hành chiêu dụ, cấp tiền, o bế các tổ chức phản động lưu vong, lập nhiều quỹ với danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ thiện” để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, hình thức tuyên truyền từ bên ngoài tác động vào bên trong, nhất là qua các trang thông tin quốc tế có xu hướng cực hữu chính trị, chống cộng, các phương tiện truyền thông xã hội, các đài phát thanh, kênh truyền hình… của một số đối tượng phản động, lưu vong, tổ chức phi chính phủ ở một số nước phương Tây.

Bên cạnh đó, ở trong nước, một số đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị được hậu thuẫn của tổ chức phản động nước ngoài, cũng ráo riết thực hiện hành vi tuyên truyền xuyên tạc thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng nhiều chiêu trò, nhất là sử dụng kỹ thuật, công nghệ chỉnh sửa, cắt ghép tư liệu lịch sử, tranh ảnh, phim tư liệu… để xuyên tạc, ngụy tạo những câu chuyện hoang đường, không có thật về Người. Thâm độc hơn, chúng cố tình “lập lờ đánh lận con đen”, đan cài thật – giả lẫn lộn, hòng làm vấy bẩn, bóp méo, xuyên tạc bản chất mác-xít, tính cách mạng, khoa học, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2022

KIÊN ĐỊNH, KIÊN QUYẾT BẢO VỆ NHỮNG GIÁ TRỊ KHOA HỌC, CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác cũng như lý tưởng và sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Mười Nga là những giá trị vĩnh hằng, có sức sống trường tồn cùng nhân loại bởi “cái ngày vĩ đại ấy càng cách xa chúng ta thì ý nghĩa của cuộc CMVS Nga càng trở nên rõ rệt, chúng ta cũng càng suy nghĩ sâu về toàn bộ kinh nghiệm thực tiễn của công tác của chúng ta”, thấy rõ hơn giá trị và ý nghĩa hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga; đặc biệt là những cống hiến vĩ đại của Lênin đối với việc khai mở con đường thực hiện tiến bộ xã hội, đưa các dân tộc thuộc địa thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, trở thành chủ nhân xây dựng cuộc sống mới, sống trong hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.

Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, phát triển không phải là một đường thẳng mà có lúc sẽ diễn ra quanh co, phức tạp. Sự  ra đời, tồn tại, phát triển và sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20 phần nào đã nói lên sự “dích dắc” đó. Song, không vì thế mà tiến trình lịch sử bị đảo lộn, bị “ngưng đọng”, “thụt lùi”.

Theo quy luật tiến hóa của loài người, lịch sử vẫn tiếp tục vận động và phát triển. Những tổn thất từ sự sụp đổ của một số nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô là đáng tiếc nhưng nó chỉ có thể làm chậm bước tiến của nhân loại trên con đường đi lên CNXH.

Song, nó cũng nói lên rằng, các thế lực thù địch không thể và không bao giờ xóa bỏ được lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Điều này đã được Đảng ta khẳng định: “Lịch sử đang trải qua những bước quanh co, phức tạp, song “loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH, vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”.

Vì vậy, khi nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đó là thắng lợi của lý tưởng cộng sản, của Cách mạng Tháng Mười Nga, thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra một chân lý không thể nào bác bỏ, đó là bất cứ một xã hội nào đã tỏ ra lỗi thời, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cản trở tiến bộ xã hội thì tất yếu sẽ bị thay thế bởi một chế độ xã hội khác cao hơn, tiến bộ hơn; đó là xã hội XHCN-giai đoạn đầu của CNCS.

Con đường xóa bỏ sự lạc hậu, lỗi thời, tệ nạn người áp bức, bót lột người là đi theo tấm gương Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu đem lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cần suy ngẫm, rút kinh nghiệm để chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay: Bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào, người cộng sản đều phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, con đường cách mạng vô sản, luôn độc lập, tự chủ, năng động, sáng tạo, thường xuyên đổi mới, tỉnh táo đi lên CNXH. 

Trong đó, đổi mới nhận thức, bổ sung, phát triển lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thời cuộc hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Học tập, tin theo Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần đổi mới nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Làm tốt điều này là thiết thực bảo vệ và góp phần tăng thêm sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin - nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.

Có thể nói rằng, lý luận về đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là một sáng tạo trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Không thể vì sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và Đông Âu mà ai đó đã vội quy kết, coi nó là “sự phá sản”, “sự sụp đổ” của chủ nghĩa Mác-Lênin, của lý luận về CNXH khoa học hay sự thất bại của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga.

Đó chỉ là sự ngộ nhận và là quan điểm hoàn toàn sai trái, cần loại bỏ. Trái lại, những gì đã diễn ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu những năm 90 của thế kỷ 20 là minh chứng khẳng định rằng, trong tình hình hiện nay, bất cứ đảng cộng sản nào và bất cứ ai, nếu coi thường chủ nghĩa Mác-Lênin, đi ngược lại lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, thì tất yếu sẽ mắc phải sai lầm về chính trị, và mọi sai lầm đều phải trả giá đắt: Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo; chế độ XHCN sụp đổ, xã hội sẽ rơi vào rối loạn, nhân dân sẽ đau khổ, lầm than. Đó là kết cục đáng tiếc về sự sai lầm, khinh thường chủ nghĩa Mác-Lênin.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời cho đến nay, đặc biệt từ Đại hội VII (1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

Làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Do vậy, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề có tính nguyên tắc số một đối với Đảng ta, vì điều căn cốt này liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ ta.

Một trong những yêu cầu, giải pháp hàng đầu để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phấn đấu mà Đại hội XIII của Đảng vạch ra là bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, đặc biệt là nghiên cứu, khai thác những giá trị quý báu của chủ nghĩa Mác-Lênin, toàn bộ di sản mà Người để lại cho nhân loại, đặc biệt là lý luận về xây dựng đảng mác xít kiểu mới, về chính sách kinh tế mới (NEP), về chiến tranh và hòa bình...

Qua đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn chủ nghĩa Lênin-ngọn nguồn bí mật đã đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam và Người đã mở ra con đường mới cho cách mạng Việt Nam-con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2020

TẬP TRUNG NHÂN TÀI CHO KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Điều này cần được hiểu là tập trung những người tài giỏi nhất cho những dự án, mục tiêu tối quan trọng được lựa chọn theo thứ tự ưu tiên, có lựa chọn của quốc gia. Từ thực hiện những dự án tối quan trọng này mà đi đến những phát minh sáng chế vượt trội, xứng tầm nhân loại. Những phát minh sáng chế mở đường này tự nó sẽ đưa quốc gia vào lớp các cường quốc và tự nó sẽ xứng đáng với những giải thưởng khoa học cao nhất của nhân loại, trong đó có giải Nobel. 

Trong bối cảnh hiện nay, khi mà tiềm lực công nghệ là thế mạnh của mỗi quốc gia, thì định hướng chiến lược ưu tiên số hai là xây dựng cho được cơ chế, chính sách mở đường cho thu hút và trọng dụng nhân tài về khoa học - công nghệ đang là yêu cầu cấp bách.

Để lựa chọn được thì tiêu chí ưu tiên số một là tài năng chuyên môn, được đo đếm qua các phát minh, sáng chế, giải pháp khoa học - công nghệ làm thay đổi cục diện. Theo đó, việc phát hiện ra nhân tài căn cứ vào sản phẩm khoa học công nghệ của họ, được kiểm chứng bằng logic khoa học và triển vọng ứng dụng các phát minh, sáng chế, giải pháp khoa học, hoặc thực chứng ứng dụng làm thay đổi một mặt hay nhiều mặt của đời sống xã hội, tiết giảm quy trình quản lý, quy trình sản xuất hay các quy trình khác.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

CẢNH GIÁC TRƯỚC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ NGÀNH TUYÊN GIÁO

Nhân kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống ngành Tuyên giáo của Đảng (01/8/1930 - 01/8/2020), chiều 30-7, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã gặp mặt 203 đại biểu đại diện cho hơn 6,5 triệu trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ trong cả nước.

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

PHẢI CHĂNG HỌC THUYẾT CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN LÀ KHÔNG KHOA HỌC, LỖI THỜI?

Một vấn đề bao trùm lên toàn bộ những quan điểm tư tưởng chính trị sai trái hiện nay là các thế lực thù địch tìm mọi cách phủ nhận tính các mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác, rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin là “một học thuyết không khoa học, hiện nay đã  lỗi thời”? Các thế lực thù địch với chủ nghĩa Mác-Lênin, với chủ nghĩa xã hội khoa học lớn tiếng rêu rao rằng các nhà kinh đển của chủ nghĩa xã hội khoa học không phải là những nhà khoa học, vì vậy “lý luận của các ông chỉ là “ý thức hệ hư ảo” chứa đầy tính chất “huyễn tưởng”. Đây rõ ràng là một luận điệu chống Mác, Ăng-ghen, Lênin một cách trắng trợn, mà từ trước đến nay chưa ai dám nói như vậy. Ngay cả đối với những kẻ chống Mác, Ăngghen, Lênin một cách điên cuồng nhất, từ chỗ chống Mác, Ăngghen, Lênin đến căm thù Mác, Ăngghen, Lênin bởi các ông dám tuyên chiến với chế độ tư hữu TBCN và bênh vực quyền lợi của những người lao động, nhưng tuyệt nhiên chưa ai có thể phủ nhận Mác, Ăngghen, Lênin là những nhà khoa học. Bởi lẽ trên thực tế Mác, Ăngghen, Lênin là những nhà khoa học thiên tài, là những “bộ óc kỳ diệu” của nhân loại. Toàn bộ lý luận của Mác, Ăngghen, Lênin là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, là một công trình khoa học đồ sộ giải đáp được nhiều vấn đề mà nhân loại đặt ra. Học thuyết của Mác, Ăngghen, Lênin là một học thuyết chặt chẽ, chính xác trong đó tính khoa học rất cao thống nhất với tinh thần cách mạng triệt để. Với sự thiên tài của mình Mác, Ăngghen, Lênin thực sự đã trở thành những nhà khoa học lỗi lạc nhất của nhân loại mà nhiều học giả, nhà tư tưởng thừa nhận.

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2020

HỌC TẬP TẤM GƯƠNG LÀM VIỆC TRÁCH NHIỆM, KHOA HỌC, ĐỔI MỚI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Một là, mỗi cán bộ, đảng viên cần nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm với công việc. Học và làm theo Bác không phải là bằng những điều cao siêu, to lớn, mà cần bắt đầu từ những lời nói, việc làm, bằng thái độ, cách ứng xử trong xử lý và giải quyết công việc hằng ngày. Đó là sự tự ý thức về trách nhiệm của mình trong công việc chung, là việc cố gắng, nỗ lực hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ ở cương vị công tác. Mỗi người cần thấm nhuần, khắc sâu lời Bác dạy: Cán bộ, đảng viên “là người đày tớ trung thành và tận tụy của nhân dân”; “phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý”; “làm công bộc cho dân là một việc làm cao thượng”.

Thứ Hai, 17 tháng 2, 2020

TẤM GƯƠNG LÀM VIỆC KHOA HỌC, ĐỔI MỚI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Cùng với việc nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân và đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn làm việc hết sức khoa học, luôn tìm tòi, đổi mới để đạt hiệu quả và chất lượng cao nhất. Điều này được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ Năm, 9 tháng 1, 2020

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHO RẰNG CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN LÀ “MỘT HỌC THUYẾT KHÔNG KHOA HỌC, HIỆN NAY ĐÃ LỖI THỜI”

Một vấn đề bao trùm lên toàn bộ những quan điểm tư tưởng chính trị sai trái hiện nay là các thế lực thù địch tìm mọi cách phủ nhận tính các mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác, rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin là “một học thuyết không khoa học, hiện nay đã  lỗi thời”? Các thế lực thù địch với chủ nghĩa Mác-Lênin, với chủ nghĩa xã hội khoa học lớn tiếng rêu rao rằng các nhà kinh điển của chủ nghĩa xã hội khoa học không phải là những nhà khoa học, vì vậy “lý luận của các ông chỉ là “ý thức hệ hư ảo” chứa đầy tính chất “huyễn tưởng”. Đây rõ ràng là một luận điệu chống Mác, Ăngghen, Lênin một cách trắng trợn, mà từ trước đến nay chưa ai dám nói như vậy. Ngay cả đối với những kẻ chống Mác, Ăngghen, Lê Nin một cách điên cuồng nhất, từ chỗ chống Mác, Ăngghen, Lênin đến căm thù Mác, Ăngghen, Lênin bởi các ông dám tuyên chiến với chế độ tư hữu TBCN và bênh vực quyền lợi của những người lao động, nhưng tuyệt nhiên chưa ai có thể phủ nhận Mác, Ăngghen, Lênin là những nhà khoa học. Bởi lẽ trên thực tế Mác, Ăngghen và Lênin là những nhà khoa học thiên tài, là những “bộ óc kỳ diệu” của nhân loại. Toàn bộ lý luận của Mác - Ăng ghen, Lênin là kết quả của một quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, là một công trình khoa học đồ sộ giải đáp được nhiều vấn đề mà nhân loại đặt ra. Học thuyết của Mác, Ăng ghen, Lê Nin là một học thuyết chặt chẽ, chính xác trong đó tính khoa học rất cao thống nhất với tinh thần cách mạng triệt để. Với sự thiên tài của mình Mác, Ăngghen, Lênin thực sự đã trở thành những nhà khoa học lỗi lạc nhất của nhân loại mà nhiều học giả, nhà tư tưởng thừa nhận.