Hiển thị các bài đăng có nhãn văn kiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn văn kiện. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

NỘI DUNG VỀ DÂN TỘC, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI VI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Với tinh thần đổi mới, Đại hội VI đã xác định quan điểm mới về dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc, cụ thể là:

Về vị trí của vấn đề dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc. Chính sách dân tộc luôn luôn là một bộ phận trọng yếu trong chính sách xã hội; sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc. Tình cảm dân tộc, tâm lý dân tộc sẽ còn tồn tại lâu dài và là một lĩnh vực nhạy cảm. Trong khi xử lý các mối quan hệ dân tộc, phải có thái độ thận trọng đối với những gì liên quan đến lợi ích của mỗi dân tộc, tình cảm dân tộc của mỗi người. Chống những thái độ, hành động biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi.

 Trong phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số phải thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ tốt đẹp, gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp nhau, cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ. Thực hành những hình thức, biện pháp thích hợp thu hút đồng bào các dân tộc tại chỗ tham gia quá trình phát triển kinh tế với tư cách là người làm chủ thật sự bình đẳng.

Về chủ trương, định hướng, nhiệm vụ của công tác dân tộc và miền núi, tập trung hực hiện đẩy mạnh ba cuộc cách mạng ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Bổ sung, cụ thể hoá và thực hiện tốt hơn chính sách dân tộc, tránh những sai lầm, rập khuôn hoặc chủ quan áp đặt những hình thức tổ chức không phù hợp trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở các vùng dân tộc. Đẩy mạnh công tác định canh, định cư, ổn định sản xuất và đời sống của đồng bào trước hết ở các vùng cao, biên giới, các vùng căn cứ cũ của cách mạng và kháng chiến.

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2022

KIÊN QUYẾT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH BẢO VỆ VỮNG CHẮC ĐỘC LẬP DÂN TỘC

Độc lập là lợi ích tối cao, bất khả xâm phạm của một dân tộc, một quốc gia. Khi bị mất nước, mất độc lập dân tộc thì phải đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo đảm cho quốc gia không bị thống trị hoặc lệ thuộc bởi một quốc gia khác. Khi đã có độc lập dân tộc thì phải kiên quyết giữ vững quyền thiêng liêng đó bằng mọi cách. Đó cũng là lẽ tự nhiên và trở thành quy luật đối với các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Vì vậy, Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc không phải là một ngoại lệ.

Việt Nam có vị trí địa chiến lược trong khu vực, nên trong lịch sử thường xuyên bị các thế lực ngoại bang nhòm ngó, thôn tính xâm lược với các mục đích khác nhau. Vì thế, lịch sử Việt Nam là lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước và nó đã trở thành quy luật tồn tại, phát triển của dân tộc ta. Những chiến công oanh liệt của cha ông ta trong lịch sử cũng như cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong thời đại Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời về sự kết hợp của ý chí kiên quyết với kiên trì đấu tranh đến cùng để giành và giữ vững độc lập cho dân tộc. Kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với ý chí “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Kiên quyết với ý chí sắt đá “thần tốc”, “táo bạo” nhưng cũng kiên trì, kiên nhẫn, trường kỳ kháng chiến, không nóng vội.

Trong quá khứ cũng như hiện tại và tương lai, dân tộc ta đã, đang, sẽ thường phải đương đầu với kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự hơn hẳn ta nên khó có thể giành thắng lợi nếu thiếu đi sự kiên quyết, kiên trì. Thực tiễn lịch sử cho thấy, có những cuộc chiến tranh giành độc lập diễn ra trong thời gian ngắn hoặc tương đối ngắn, nhưng cũng có cuộc chiến tranh kéo dài hoặc tương đối dài. Vì thế, phải luôn nêu cao tinh thần kiên quyết đấu tranh, đó là điều kiện tiên quyết, điều kiện cần nhưng chưa đủ, mà còn phải kiên trì đấu tranh mới bảo vệ vững chắc được độc lập dân tộc.

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

ÂM MƯU CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC HIỆN NAY

Ngay khi Chính phủ quyết định tăng cường các lực lượng tham gia phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và một số địa phương phía Nam, trên mạng xã hội lập tức xuất hiện những bài viết xuyên tạc, trắng trợn vu cáo Đảng, Nhà nước sử dụng quân đội để trấn áp nhân dân miền Nam. Thâm độc hơn, một số tổ chức phản động đã cắt ghép nhiều hình ảnh hoạt động của bộ đội và lu loa rằng “Hà Nội huy động lực lượng quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói khổ làm loạn…”.

Thực tế cho thấy, hiện nay các thế lực thù địch, phản động ngày càng quyết liệt hơn với các âm mưu thâm độc và tinh vi hơn trong phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi chúng nhận thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, muốn phá hoại cách mạng Việt Nam thì phải làm tan rã sức mạnh to lớn đó. Theo đó, âm mưu, thủ đoạn gây chia rẽ hiện nay của các thế lực thù địch, phản động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, bôi đen thành tựu thực hiện đường lối, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta. Chúng “té nước theo mưa”, thổi phồng hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý của các cấp chính quyền để gây hoài nghi, phân tán nhân tâm, mất lòng tin của nhân dân vào sự nghiệp cách mạng đất nước.

Chúng triệt để lợi dụng những vấn đề xã hội bức xúc, những khó khăn trong đời sống nhân dân để kích động chống đối, hình thành những điểm nóng gây chia rẽ từ bên trong. Chúng lợi dụng hội nhập quốc tế để xâm lăng và làm “biến dạng” các giá trị văn hóa truyền thống; tạo dựng “ngọn cờ”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, các vấn đề lịch sử… để kích động, chia rẽ đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân; giữa các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; thúc đẩy hình thành các “khu tự trị”, “nhà nước tự trị”…

Đáng chú ý, chúng tập trung vào phá hoại mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; nhân dân với các cấp chính quyền và lực lượng vũ trang; mối quan hệ giữa quân đội và công an… Cùng với chống phá trên các địa bàn chiến lược như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ hiện nay, chúng đẩy mạnh chống phá gây chia rẽ, mất đoàn kết ở các khu công nghiệp, trung tâm kinh tế, chính trị các địa phương. Internet, mạng xã hội đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng với những thủ đoạn mới rất tinh vi, xảo quyệt để chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nhìn lại 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đất nước đã đạt được là nền tảng vững chắc củng cố niềm tin, đồng thuận xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, những thách thức đặt ra hiện nay cũng rất lớn, Đảng ta chỉ rõ: “Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm phát huy đầy đủ”.

Bên cạnh đó, là những vấn đề nảy sinh tất yếu trong quá trình phát triển cần phải tiếp tục nhận thức và giải quyết, như: Phân hóa giàu-nghèo; chênh lệch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế giữa các vùng miền; sự xuống cấp về một số mặt của văn hóa, đạo đức, lối sống, gây bức xúc xã hội; thụ hưởng của người dân từ thành tựu phát triển của đất nước chưa hài hòa và những vấn đề lịch sử để lại… Đại hội XIII đánh giá, trong Đảng và hệ thống chính trị, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”; bệnh lãng phí, vô cảm, quan liêu, mất dân chủ… gây bức xúc xã hội và làm suy giảm vai trò hạt nhân đoàn kết của Đảng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Âm mưu chia rẽ từ bên ngoài và những thách thức bên trong có quan hệ chặt chẽ, làm suy giảm sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc của cách mạng nước ta.

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2022

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG TA VỀ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Sự phát triển tư duy của Đảng về con người, nguồn lực con người không ngừng được bổ sung và hoàn thiện qua từng giai đoạn của cách mạng, nhất là từ thời kỳ đổi mới đến nay. Kế thừa, phát triển các quan điểm của Đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIII cụ thể hơn về xây dựng nguồn nhân lực trong thời đại mới, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đảng xác định một trong ba đột phá chiến lược đó là: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục và đào tạo…; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinh thần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Việc xác định đột phá như vậy là hoàn toàn chuẩn xác “nguồn lực con người là quan trọng nhất” trong sự nghiệp đổi mới của đất nước; “coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”.

          Vấn đề xây dựng nguồn nhân lực phải phát triển toàn diện Đảng ta chỉ rõ: “Mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân”; “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc”; với phương châm: “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)”. Đảng ta còn nhấn mạnh vai trò của hết sức quan trọng của khoa học công nghệ phát triển nguồn lực con người: “Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị góp phần tích cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách; bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người Việt Nam và bảo vệ Tổ quốc”Qua đó, cho thấy quan điểm của Đảng luôn khảng định chiến lược con người phải nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; mọi chủ trương, chính sách nhằm phát huy nguồn lực con người; từ đó chất lượng nguồn nhân lực không ngừng được nâng lên, đáp ứng kịp thời những yêu cầu thực tiễn của đất nước.

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2021

NHỮNG KẾ THỪA VÀ BỔ SUNG PHÁT TRIỂN TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG VỀ QUỐC PHÒNG AN NINH

Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cách mạng Việt Nam. Đó là quan điểm nhất quán, được Đảng ta khẳng định sâu sắc và rõ nét trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Kế thừa và phát triển những nội dung qua các kỳ đại hội của Đảng, Đại hội XIII tiếp tục khẳng định và phát triển trên các nội dung sau:

Trước hết, về vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta, tạo cơ sở quan trọng cho Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị, toàn dân và toàn quân quán triệt và thực hiện. Đồng thời, Đại hội XIII của Đảng cũng xác định: “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần, bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”. Phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục là nhiệm vụ trung tâm, được ưu tiên, nhưng không coi nhẹ nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, bởi vì củng cố quốc phòng, an ninh là cơ sở trực tiếp tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; ngược lại, kinh tế - xã hội phát triển, tiềm lực đất nước ngày càng vững mạnh sẽ là “phương thức hữu hiệu” để tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Về mục tiêu tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta chỉ rõ: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Mục tiêu khẳng định hai vấn đề lớn: Một là, tiếp tục khẳng định nội dung bảo vệ Tổ quốc mang tính toàn diện cả phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội, văn hóa, môi trường sống, môi trường hòa bình... trong một chỉnh thể thống nhất; hai là, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, cần phải: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế”(7) để bảo vệ Tổ quốc. Sự phát triển tư duy về lực lượng, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta không chỉ là sự kế thừa, phát triển truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam là càng trong khó khăn, thử thách thì ý chí, khát vọng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc càng được phát huy cao độ, tạo nên sức mạnh vô địch để bảo vệ Tổ quốc; mà còn hoàn toàn phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện, tình hình thế giới, khu vực dự báo sẽ tiếp tục diễn biến hết sức nhanh, phức tạp, khó lường; đồng thời, là sự cụ thể hóa chủ đề của Đại hội XIII của Đảng là: “... khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại...” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, cần kết hợp chặt chẽ sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo được sức mạnh tổng hợp lớn nhất bảo vệ Tổ quốc. Đây là định hướng chính trị rất quan trọng, đồng thời đặt ra yêu cầu cao, đòi hỏi Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương, các địa phương phải tích cực, chủ động hơn nữa trong triển khai đường lối, chính sách, chiến lược đối ngoại nhằm khai thác cao nhất sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên để nhân dân trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ, hiểu đúng và đủ về đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Việt Nam, từ đó nhận được sự đồng tình, ủng hộ, chia sẻ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Về phương châm chỉ đạo sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, cần phải: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”. Củng cố quốc phòng và an ninh ngay trong thời bình, bảo đảm đủ sức mạnh đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn, đầy lùi từ sớm, từ xa những nhân tố bất ổn có thể dẫn đến các tình huống quốc phòng, an ninh và các thế lực thù địch lợi dụng gây hấn, tạo cớ gây xung đột, chiến tranh. Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung và nhấn mạnh đến vấn đề “Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân. Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh”.

Về tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, Đảng ta chủ trương tiếp tục “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”. Dựa vào nhân dân, tổ chức vận động, khai thác, huy động cao nhất trách nhiệm và mọi nguồn lực của nhân dân kết hợp với nguồn lực của Nhà nước tạo thành sức mạnh tổng hợp để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta trong mọi giai đoạn cách mạng, đặt ra yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân phải toàn diện cả về lực lượng, tiềm lực và thế trận trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cả ở trong và ngoài nước. Trong xây dựng lực lượng cần coi trọng xây dựng cả lực lượng chính trị (lực lượng của các ngành, ở các cấp và nhân dân trong các cộng đồng dân cư...) và lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó quan tâm đặc biệt đến xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh làm nòng cốt. Cùng với xây dựng lực lượng, cần tập trung xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh toàn diện, trong đó chú trọng các tiềm lực cơ bản, như chính trị tinh thần, văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đồng thời, với xây dựng lực lượng, tiềm lực cần xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân cả về “thế trận lòng dân” và thế trận quân sự, an ninh.

Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ Tổ quốc; trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong từng địa phương, vùng, địa bàn chiến lược và trong từng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch cụ thể”.

Về phương hướng, mục tiêu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống”. Đồng thời, “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự, an toàn xã hội cơ sở đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở”. Đây là sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng ta về sức mạnh tổng hợp và lực lượng toàn diện trong bảo vệ Tổ quốc; phản ánh sâu sắc tính chất toàn dân, toàn diện của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong thời kỳ mới.

Những nội dung kế thừa và phát triển về quốc phòng an ninh trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng thể hiện tư duy nhất quán của Đảng về quốc phòng an ninh đồng thời bổ sung, phát triển trong điều kiện cụ thể của đất nước. Đây là nội dung quan trọng mà cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ, đảng viên trong quân đội nói riêng cần học tập, nghiên cứu để quán triệt và vận dụng trong thực hiện nhiệm vụ, góp phần đưa nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống./.

Thứ Ba, 14 tháng 9, 2021

“TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” KHÔNG PHẢI LÀ SỰ “SAO CHÉP”, “KHUÔN THEO”

Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 bản Tuyên ngôn dựng nước của dân tộc Việt Nam thời hiện đại.  Đây là văn kiện lịch sử, văn kiện chính trị quan trọng của dân tộc, vừa là văn kiện lập quốc vĩ đại, vừa chứa đựng những tư tưởng triết học, chính trị, pháp luật đặc sắc. Thế nhưng, vẫn có luận điệu xuyên tạc, cố tình bóp méo rằng, bản Tuyên ngôn Độc lập là sự “sao chép”, “khuôn theo” Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791. Đây là những luận điệu sai trái, sai sự thật lịch sử.

Ngay khi mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Hỡi đồng bào cả nước” và “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng”. Bác nhấn mạnh, đối tượng của Tuyên ngôn Độc lập là toàn thể đồng bào cả nước và Nhân dân khắp thế giới. Nếu chỉ viết cho đồng bào ta và Nhân dân thế giới một cách khái quát, Người không cần phải sử dụng nhiều lý lẽ và cũng không cần phải trích dẫn những nội dung chính của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.

Không phải trùng hợp vào mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện tầm tư duy sâu sắc, vượt gộp khi trích dẫn trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của người Mỹ và người Pháp bằng những lý lẽ bất hủ rằng, “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đây là trên cơ sở Bác đã tiếp thu và phát triển tinh thần bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ được viết ra từ 169 năm trước, khi đề cập đến quyền con người như một sự tất yếu của tạo hóa. Trong khi đó, Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ viết: “Tất cả mọi người đàn ông đều sinh ra bình đẳng...”. Qua đó, Người không chỉ đơn thuần là sự thay đổi câu chữ, mà là sự tiến bộ vượt bậc trong nhận thức về quyền con người, quyền bình đẳng nam - nữ, thể hiện tính nhân văn của nhân loại tiến bộ. Đồng thời, từ tuyên bố bất hủ nêu trên, Người đã “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Ở đây, điểm nhấn đặc biệt có ý nghĩa của cụm từ: “Tất cả mọi người…” được nâng tầm thành “Tất cả các dân tộc…”. Sự phát triển này là chính xác, từ quyền của mọi người trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến nhấn mạnh quyền của mỗi dân tộc là hoàn toàn đúng đắn cả trong nhận thức và hiện thực lịch sử. Đây chính là tư tưởng nhân văn triệt để cách mạng của Người. Theo Bác, quyền dân tộc là cái cơ bản có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền con người. Một dân tộc còn bị áp bức, bị nước khác thống trị, Nhân dân còn phải sống trong nô lệ và bị bóc lột thì không thể nói đến quyền con người. Nước mất độc lập thì tất yếu người dân mất tự do, hạnh phúc; chừng nào nước vẫn còn giặc ngoại xâm chiếm đóng thì chừng đó không có gì bảo đảm cho nhân quyền. Dân tộc độc lập là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thực hiện quyền con người và ngược lại thực hiện tốt quyền con người chính là phát huy những giá trị cao cả và ý nghĩa thật sự của độc lập dân tộc. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để phá hoại độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đi ngược lại lợi ích của dân tộc chính là đối tượng chúng ta phải đấu tranh để bảo vệ giá trị của Tuyên ngôn Độc lập 1945, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Cùng với việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn trích dẫn bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791, “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn bình đẳng về quyền lợi”. Người viết: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Cách lập luận này vừa khéo léo lại vừa cương quyết, bởi Bác cho người đọc thấy rõ sự tôn trọng của mình đối với bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Nếu như những điều mà nước Mỹ và nước Pháp nêu ra trong Tuyên ngôn đã đề cao và khẳng định quyền con người, thì trong Tuyên ngôn Độc lập 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng trí tuệ mẫn tiệp và thực tiễn cách mạng Việt Nam đã phát triển sáng tạo, mở rộng và phát triển quyền của con người thành quyền tự do, độc lập của dân tộc. Mỗi người dân Việt Nam và dân tộc Việt Nam đều có những quyền chính đáng ấy; không ai có thể tước đoạt được; và nếu bị tước đoạt, cả dân tộc sẽ kiên cường, đoàn kết, kiên trì chiến đấu để giành lại và quyết tâm bảo vệ. Do vậy, không thể xuyên tạc Tuyên ngôn Độc lập năm1945 là sự “sao chép”, “khuôn theo”!  Văn kiện này vẫn luôn soi rọi, tỏa sáng, thể hiện ở đỉnh cao tinh hoa trí tuệ và mang giá trị bền vững. Mọi luận điệu lạc lõng, mưu đồ xuyên tạc giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập chắc chắn đều bị thất bại. 

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2021

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là mối quan hệ biện chứng, tất yếu, khách quan, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy và hỗ trợ lẫn nhau. Trong cương lĩnh và văn kiện của Đảng ta, mối quan hệ biện chứng giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế được thể hiện rất rõ. Một trong các bài học được rút ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ mối quan hệ này, cụ thể là: "Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, trong bất cứ hoàn cảnh nào cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực". Văn kiện đại hội Đại hội XI của Đảng cũng nêu rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nội dung cần thực hiện: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế… Đặc biệt, chú trọng xử lý và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển… giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Các văn kiện Đại hội XII, XIII đều tiếp tục khẳng định những nội dung nêu trên, cụ thể hoá mối quan hệ độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế cho từng thời kỳ phát triển của đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đồng thời, văn kiện cũng nhấn mạnh bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng và sự quản lý tập trung của nhà nước với các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh đối ngoại song phương với nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể. Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và gia tăng độ tin cậy. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia.

Đường lối, chính sách đối ngoại xuyên suốt của Đảng ta đều được khẳng định trong các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, là mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Mối quan hệ này được cụ thể hoá qua từng giai đoạn phát triển của đất nước, phù hợp điều kiện, bối cảnh phát triển cụ thể trên cơ sở của nguyên tắc lấy lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết, bảo đảm hội nhập quốc tế luôn dựa trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập vì lợi ích đất nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh. Quá trình này cũng thể hiện sự phát triển của cả nhận thực và thực tiễn từ chú trọng hội nhập kinh tế đến hội nhập toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác là điều kiện và hỗ trợ cho hội nhập kinh tế. Từ hội nhập đơn tuyến sang đa tuyến trên tất cả các cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu. Đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2021

QUÂN ĐỘI “TINH, GỌN, MẠNH” VÌ HÒA BÌNH

 “Lo giữ nước từ khi chưa nguy” là bài học vô cùng quý báu của dân tộc ta được đúc kết qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, đến nay vẫn còn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Tuân thủ các quy luật khách quan, kế thừa và phát triển những bài học ông cha ta để lại; trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên lý căn bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã xác định: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đây là một chủ trương nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, được bổ sung, phát triển qua các kỳ đại hội và được thể chế hóa ngày càng hoàn thiện trong hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đặc biệt, trong lĩnh vực quốc phòng, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, đến năm 2030 một số quân chủng, binh chủng, lực lượng được ưu tiên lên hiện đại sẽ hoàn thành hiện đại; từ năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là bước phát triển mới về tư duy, nhận thức, tầm nhìn chiến lược của Đảng ta đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quân đội nhân dân Việt Nam được xây dựng tinh, gọn, mạnh không chỉ góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mà còn trực tiếp hiện thực hóa các mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, phương thức, nhiệm vụ, giải pháp trong Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Chiến lược Quân sự Việt Nam và các chủ trương về nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, chủ động tạo môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi để xây dựng, phát triển đất nước, đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Với truyền thống và bản sắc văn hóa của một dân tộc nhân nghĩa, hòa hiếu, không gây hấn, nhưng bất khuất, kiên cường, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược để tự vệ và bảo vệ hòa bình. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn với cộng đồng quốc tế về tính chất cơ bản của nền quốc phòng Việt Nam và chủ trương duy trì chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ của Đảng, Nhà nước Việt Nam, với mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân; tích cực, chủ động tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Quốc phòng Việt Nam xác định “Lấy đối ngoại quốc phòng làm công cụ quan trọng trong giải quyết tranh chấp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc; tạo lợi thế chính trị trong mọi biến động của tình hình, đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực...”.

Với chủ trương xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh và việc minh bạch trong chính sách quốc phòng là yếu tố rất quan trọng góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội đủ sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và đóng góp tích cực hơn, thực chất hơn cho hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới, tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Trải quan hơn 76 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh tổ chức, biên chế để phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam mỗi thời kỳ. Ngay sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và chiến tranh bảo vệ biên giới, nhiều đơn vị cấp chiến dịch, chiến thuật, đã được điều chỉnh sau khi hoàn thành nhiệm vụ.

Đặc biệt, từ năm 2016 đến nay, toàn quân đã chủ động điều chỉnh tổ chức; giảm biên chế quân số cơ quan cấp chiến dịch, chiến lược, giảm đầu mối trung gian và đơn vị phục vụ, bảo đảm; ưu tiên quân số cho các đơn vị sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đầu tư thích đáng cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.

Tuy nhiên, việc điều chỉnh tổ chức, lực lượng Quân đội là nhiệm vụ hết sức quan trọng, phải được tiến hành thận trọng, đúng lộ trình, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng, bảo đảm giữ vững sự ổn định, không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Tuyệt đối không nóng vội, phải kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách trong tổ chức thực hiện.

Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh không ngoài mục đích thực hiện tốt chủ trương xây dựng nền quốc phòng Việt Nam hòa bình và tự vệ; tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các nước; không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; tăng cường tình đoàn kết, tin cậy giữa các nước, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là quan điểm nhất quán được xác định trong cương lĩnh, nghị quyết, các chiến lược của Đảng và được công khai với cộng đồng quốc tế.

Những năm qua, quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 806-NQ/QUTW ngày 31-12-2013 về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Qua đó đã xác định rõ những định hướng cơ bản, tạo cơ sở nền tảng đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng lên tầm cao mới, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã kiên định nguyên tắc, lãnh đạo triển khai công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng tích cực, chủ động, linh hoạt với nhiều đổi mới, sáng tạo, đạt được kết quả toàn diện trên cả bình diện song phương và đa phương, trở thành một trong những trụ cột đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Đẩy mạnh hợp tác quốc phòng song phương với các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống; chủ động tham gia các diễn đàn quân sự, quốc phòng đa phương, tạo sự tin cậy với các đối tác, cân bằng quan hệ với các nước.

Tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại các phái bộ ở châu Phi. Cử lực lượng, phương tiện tham gia Hội thao Quân sự quốc tế (Army Games) tại Liên bang Nga và giao lưu hữu nghị Quốc phòng biên giới với các nước. Hoạt động đối ngoại quốc phòng đã góp phần quan trọng vào việc giữ môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực, được bạn bè quốc tế ghi nhận, vị thế, uy tín quốc tế của Quân đội và đất nước ngày càng được nâng cao, đúng như phát biểu của ngài Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres: “Việt Nam đã cho thấy những cam kết mạnh mẽ của một quốc gia luôn tích cực nỗ lực xây dựng lòng tin và đối thoại, làm cầu nối tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột trên thế giới thông qua Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế và sự hợp tác ngày càng chặt chẽ giữa Liên hợp quốc và các tổ chức cũng như các cơ chế đa phương”.

Thông qua hoạt động đối ngoại quốc phòng, Quân đội có điều kiện để cập nhật, thích ứng và chuẩn hóa các tiêu chuẩn quốc tế về con người, về tổ chức biên chế, về vũ khí trang bị, đặc biệt là công tác chỉ huy, hiệp đồng, tác chiến trong môi trường hoạt động khắc nghiệt; đồng thời, tích luỹ thêm những kinh nghiệm thực tiễn phong phú và tranh thủ được sự ủng hộ, giúp đỡ từ bên ngoài, nhất là về đào tạo cán bộ, trang bị vũ khí, khí tài để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.

Lịch sử đã dạy chúng ta: Thái bình nên gắng sức, Non nước vững ngàn thu. Với tinh thần đó, cán bộ, chiến sĩ toàn quân tiếp tục quán triệt sâu sắc và quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống; tích cực tham gia đóng góp cho hòa bình vì lợi ích đất nước, khu vực và thế giới.

Thực hiện tốt nhiệm vụ cũng là thiết thực góp phần hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI; tiếp tục phát huy truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước, Nhân dân, với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

ĐỘNG LỰC CHO SỰ PHÁT TRIỂN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Bối cảnh quốc tế và những xu hướng phát triển của thời đại đặt yêu cầu phải phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí, khát vọng của toàn dân tộc cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã dự báo tình hình thế giới sẽ “…tiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường”. Đáng chú ý, Văn kiện đã chỉ rõ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt… Trong hoàn cảnh thế giới phát triển phụ thuộc lẫn nhau, lợi ích quốc gia, dân tộc là nhân tố quyết định để mỗi quốc gia dân tộc tham gia vào các mối quan hệ quốc tế, hội nhập quốc tế thành công. Ngoài tiềm lực kinh tế, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển của toàn dân tộc là chỗ dựa và điều kiện để mở rộng quan hệ hợp tác, hội nhập quốc tế. Trong điều kiện cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra gay gắt, phức tạp, tác động mạnh mẽ đến Việt Nam hiện nay, việc giữ vững độc lập, tự chủ, khơi dậy và phát huy ý chí tự cường, khát vọng phát triển của toàn dân tộc góp phần giữ vững môi trường hòa bình, tận dụng cơ hội và hóa giải những thách thức đối với độc lập, hòa bình và phát triển của dân tộc.

Trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội và khoa học, công nghệ hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển rất mạnh mẽ, tạo nên đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Vai trò của nhân tố con người, đặc biệt là tri thức, trí tuệ, sáng tạo có ý nghĩa quyết định để có sự phát triển đột phá, làm thay đổi vị thế quốc gia trên bản đồ thế giới. Chúng ta có quyền tự hào về một dân tộc Việt Nam thông minh, sáng tạo, một đội ngũ người lao động có trình độ học vấn khá cao, một môi trường phát triển và hội nhập quốc tế có nhiều thuận lợi nhờ thắng lợi của công cuộc đổi mới và đường lối đối ngoại đúng đắn…, giúp nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Đúng như khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII: “Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Và: “… Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn lúc nào hết, cần phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí, khát vọng phát triển trong toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh làm động lực cho sự phát triển trong giai đoạn phát triển mới. 

Phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và mỗi người dân để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên xác định 5 quan điểm chỉ đạo công cuộc đổi mới hiện nay, trong đó, quan điểm về động lực phát triển nêu rõ: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”.  Để thực hiện quan điểm này, Nghị quyết yêu cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam. Bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.

Để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trong thời kỳ mới, cần tập trung thực hiện hiệu quả một số giải pháp sau:

Một là, khơi dậy, nhân lên, phát huy giá trị, sức mạnh nội sinh của ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ chính ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc khi được khơi dậy, nhân lên, phát huy phù hợp sẽ tạo ra sức mạnh muôn người như một. Trong giai đoạn hiện nay, làm cho ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trở thành ý chí, khát vọng phát triển của mỗi người con đất Việt là trách nhiệm của Đảng, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải thể hiện rõ ý chí, khát vọng của mình, gương mẫu, làm lan tỏa, nhân lên ý chí, khát vọng phát triển của toàn dân tộc.

Hai là, để ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trở thành nguồn nội lực phát triển của đất nước, cần tập trung tuyên truyền, khẳng định những thành tựu rất đáng tự hào, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đạt được. Những thành tựu đó cũng là kết quả của sự phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của toàn dân tộc trước đây cũng như trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, chúng ta thêm tin tưởng, tự hào, quyết tâm; thêm cơ sở khẳng định sự đúng đắn của con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

Ba là, tiếp tục tháo gỡ những nút thắt trong cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý văn hóa, quản lý con người... Xóa bỏ triệt để cơ chế bao cấp, xin - cho, tạo điều kiện để tất cả các thành phần kinh tế, mỗi gia đình, cá nhân, địa phương… đều có cơ hội phát triển, làm giàu cho mình cho đất nước. Ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc chỉ có thể được phát huy trên nền tảng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân. Điều này phải được coi là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc.

Bốn là, muốn phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trong bất kỳ thời đại nào cũng phải dựa vào dân; tin vào sức mạnh phi thường của quần chúng nhân dân. Sự đồng lòng của nhân dân là điều kiện tiên quyết để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc. Trong tình hình mới hiện nay, sự lãnh đạo đúng đắn, nhạy bén của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ; sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài là điều kiện để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam./.

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN VÀ TẦM NHÌN CỦA ĐẢNG TRONG CÁC VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII

Mục tiêu phát triển và tầm nhìn dài hạn là một điểm nhấn mới, nổi bật trong các Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, được xác định một cách có cơ sở khoa học và thực tiễn; được đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân quan tâm, đồng tình. Đó là điều không ai có thể xuyên tạc.

Nhằm phá hoại, làm giảm ý nghĩa thành công của các đại hội Đảng; gây mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu và định hướng phát triển đất nước mà Đảng ta xác định, các thế lực thù địch thường xuyên xuyên tạc nội dung các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc, mỗi khi Đảng ta tiến hành đại hội thường kỳ.

Đối với Đại hội XIII của Đảng, một điểm nhấn mới, nổi bật thể hiện trong các Văn kiện được Đảng ta xác định là, tiếp tục phấn đấu theo con đường xã hội chủ nghĩa; đồng thời, đặt ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2025, 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 gắn với các dấu mốc lịch sử 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước. Theo đó, Đại hội xác định đến năm 2025: phấn đấu đưa nước ta trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030: là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045: phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những mục tiêu đó thể hiện khát vọng hướng tới tương lai của cả dân tộc nhằm thực hiện thành công ý nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”; đồng thời, thể hiện ý chí phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong các nhiệm kỳ tới.

Tuy nhiên, những kẻ cơ hội chính trị, phản động và thù địch lại coi đó là “ảo tưởng”, “hão huyền” (!). Họ cho rằng: chủ nghĩa xã hội trên thế giới đã sụp đổ mà chúng ta vẫn hướng tới mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội là “bảo thủ” (!); và rằng: việc đề ra mục tiêu đến 2030, 2045 là “ngẫu hứng” (!).

Cần thấy rằng: mục tiêu hướng tới một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh là mục tiêu chiến lược, đã được Đảng ta xác định ngay từ Cương lĩnh năm 1930. Mục tiêu đó được khẳng định và cụ thể hóa ở các cương lĩnh và đại hội Đảng tiếp theo trong suốt hơn 90 năm qua. Từ đó đến nay, phấn đấu thực hiện mục tiêu chiến lược đó, chúng ta đã giành được độc lập dân tộc và đang từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội với tiêu chí “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Mặc dù hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới không còn, nhưng không vì thế mà phủ định con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta, cũng như của cả nhân loại. Bởi lẽ, sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể - mô hình kiểu “Xô Viết”. Sự sụp đổ đó có nguyên nhân chủ quan, mang tính quyết định là những sai lầm từ sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền đã xa rời những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong xây dựng xã hội mới và sự phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa của những người lãnh đạo ở những nước này. Do đó, đây không phải là sự sụp đổ lý tưởng và khát vọng đi tới chủ nghĩa xã hội của nhân loại. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” và “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”1. Chính những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới đất nước 35 năm qua có nguyên nhân rất quan trọng là chúng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Do vậy, Đại hội XIII tiếp tục khẳng định mục tiêu chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn; phản ánh sự nhất quán trong đường lối cách mạng của Đảng ta, không phải là “ảo tưởng”, “bảo thủ”.

TẦM NHÌN XA

Đại hội XIII là lần đầu tiên trong lịch sử, Đảng ta đưa mục “Tầm nhìn và định hướng phát triển” vào văn kiện. Trước đây, văn kiện Đại hội Đảng thường chỉ đề cập đến mục tiêu cho nhiệm kỳ, giai đoạn. Lần này, Đảng ta đề cập đến vấn đề “tầm nhìn” và trong “tầm nhìn” thì có mục tiêu.

Tầm nhìn theo nghĩa đen là khả năng nhìn, là khoảng cách mà con người có thể nhìn thấy. Theo nghĩa bóng, đó là sự hình dung của một người hay một tổ chức về mục tiêu cần đạt được, về điểm cần đến trong một khoảng thời gian nào đó. Dân gian vẫn nói, “lãnh đạo hơn nhau bởi cái đầu”, thực chất là nói đến sự khác biệt bởi tầm nhìn. Jonathan Swift, nhà văn, nhà tư tưởng lớn (gốc Anh) cho rằng: “Tầm nhìn là nghệ thuật nhìn thấy được những gì mà người khác không nhìn thấy”. Bà Jody Williams, người nhận giải Nobel Hòa bình năm 1997, nhấn mạnh: “Sự khác biệt giữa một người bình thường và một người xuất chúng nằm ở cách nhìn đối với bản thân trong mối tương quan với cuộc đời. Có niềm tin vào chính mình, bạn có thể vượt qua bất cứ trở ngại nào trong cuộc sống. Tầm nhìn hạn chế luôn dẫn dắt con người đến câu trả lời “không thể”.

J.Maxwell, tác giả của nhiều cuốn sách gối đầu cho các CEO lừng danh trên thế giới, đã chia “tầm nhìn” thành 3 cấp độ: (1) Sự nhận thức, nhìn thấy những điều đang tồn tại nhưng bị che khuất bằng con mắt thực tế; (2) Sự nhìn thấy những điều có khả năng sẽ diễn ra bằng con mắt phán đoán; (3) Sự nhìn thấy những điều nhiều khả năng xảy ra bằng óc tư duy, phán đoán, dự báo.

“Phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN” là tầm nhìn về mục tiêu tổng quát, sau khi Đảng ta đã phân tích, dự báo tình hình thế giới, đất nước những năm sắp tới. Hầu hết các nhà khoa học chính trị quốc tế quan tâm đến Việt Nam đều cho rằng, tầm nhìn đó đã đạt tới “cấp độ 3”.

Tầm nhìn đến “giữa thế kỷ XXI” là tầm nhìn xa, nhưng chúng ta ai cũng thấy đó không phải là mục tiêu xa vời. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã trao chúng ta niềm tin, truyền cho chúng ta cảm hứng và sự khát khao mãnh liệt để hiện thực hóa mục tiêu đó trong tương lai không xa.

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG CÁC MỤC TIÊU CỤ THỂ QUA VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII

Đại hội XII chỉ đề ra các chỉ tiêu cụ thể về phát triển đất nước trong 5 năm 2016-2020 để phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng không chỉ có mục tiêu cụ thể cho 5 năm, tới năm 2025, mà còn có các mục tiêu cho 10 năm, tới năm 2030 và tầm nhìn cho đến năm 2045. Đây cũng là ba mốc lịch sử quan trọng của đất nước ta: năm 2025 là năm kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; năm 2030 là năm kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng và năm 2045 là năm kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam mới.

Khi xác định mục tiêu cho những năm tới, Đại hội XIII vừa kế thừa những quan điểm của Đảng trong Cương lĩnh, trong Nghị quyết các nhiệm kỳ đại hội trước, trong đó xác định mục tiêu phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và sau đó trở thành nước công nghiệp hiện đại; đồng thời, tiếp thu các cách đánh giá, phân loại các nước theo thông lệ quốc tế, được các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc (UN), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và hầu hết các nước trên thế giới sử dụng. Đó là việc đánh giá, phân loại các nước thành: Nước kém phát triển, nước đang phát triển và nước phát triển; Nước có thu nhập thấp, nước có thu nhập trung bình thấp, nước có thu nhập trung bình cao và nước có thu nhập cao.

Căn cứ chính để phân loại các nước trong cả hai cách phân loại này là thu nhập bình quân đầu người, số liệu này được Ngân hàng thế giới công bố hàng năm. Những nước kém phát triển cũng là nước có thu nhập thấp; những nước đang phát triển bao gồm những nước có thu nhập trung bình thấp và nước có thu nhập trung bình cao; những nước phát triển là nước có thu nhập cao (tuy nhiên, không phải mọi nước có thu nhập bình quân đầu người cao đều được xem là nước phát triển, như một số nước có thu nhập bình quân đầu người cao chỉ nhờ khai thác và xuất khẩu dầu mỏ). Tháng 7/2020, Ngân hàng thế giới công bố tiêu chí phân loại các nước theo thu nhập bình quân đầu người: Nước có thu nhập thấp là nước có thu nhập bình quân đầu người dưới 1.036 USD/năm (tiêu chí  công bố năm 2019 là 1.026 USD/năm). Nước có thu nhập trung bình thấp là nước có thu nhâp bình quân đầu người từ 1.036 đến dưới 4.045 USD/năm (tiêu chí công bố năm 2019 là từ 1.026-3.395 USD/năm). Nước có thu nhập trung bình cao là nước có thu nhập bình quân đầu người từ 4.045-12.535 USD/năm (tiêu chí công bố năm 2019 là 3.396-12.375 USD/năm). Nước có thu nhập cao là nước có thu nhập bình quân đầu người trên 12.535 USD/năm.

Cuối nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng, Việt Nam đã ra khỏi tình trạng nước nghèo (có thu nhập thấp), kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp (Khái niệm nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp đã được sử dụng trong nhiều văn kiện của Đảng, Nhà nước ta). Năm 2020, nước ta đã có thu nhập bình quân đầu người 2.750 USD, vẫn là nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp. Trên cơ sở vừa kế thừa mục tiêu được các Đại hội trước đề ra, vừa tiếp thu các tiêu chí theo thông lệ quốc tế, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra các mục tiêu cụ thể phát triển đất nước trong những năm tới. Theo đó, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Đây cũng là những nhận thức mới, quan điểm mới của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa ở nước ta.

NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC QUA VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII

Điểm mới trong mục tiêu tổng quát

Thứ nhất, mục tiêu tổng quát phát triển đất nước trong những năm tới trong Báo cáo chính trị Đại hội XIII là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. So với mục tiêu tổng quát của Đại hội XII, ngoài những điểm mới đã nêu trong chủ đề Đại hội, còn có những điểm mới sau:

Thứ hai, bổ sung “năng lực cầm quyền” vào nội dung “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng” để thành “nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng”.

Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu là những yêu cầu hàng đầu đối với Đảng để Đảng làm tốt được vai trò lãnh đạo của Đảng mọi mặt hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối nội, đối ngoại của đất nước. Những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực, thế giới; sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của đất nước đặt ra nhiều vấn đề mới đòi hỏi Đảng phải giải quyết, phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Vì vậy, nhiệm vụ “nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” đã được nhiều lần đề ra trong các văn kiện của Đảng. Tuy nhiên, khi là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo chủ yếu bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước. Đây là điều rất khác với sự lãnh đạo của Đảng khi chưa có chính quyền. Cầm quyền là lãnh đạo nhưng thông qua Nhà nước, phương thức cầm quyền có điểm chung, tcó điểm khác với phương thức lãnh đạo. Đây là vấn đề rất cần phải tiếp tục làm rõ. Trong thực tế, những năm vừa qua, vừa có tình trạng Đảng làm thay Nhà nước, vừa có tình trạng buông lỏng lãnh đạo Nhà nước. Vì vậy, việc bổ sung “năng lực cầm quyền” vào nội dung “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng” sẽ nhấn mạnh cần phải chú ý, cần phải quan tâm nghiên cứu, hoàn thiện thể chế để thực hiện tốt nhiệm vụ này.

Thứ ba, bổ sung “toàn diện”, “củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa” vào nội dung “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” để thành “xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Bổ sung “toàn diện” vào “xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” là nhấn mạnh yêu cầu xây dựng trong sạch, vững mạnh cả đối với Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và trong mỗi tổ chức này cần xây dựng toàn diện cả về tổ chức, cán bộ, phương thức hoạt động; với cán bộ phải xây dựng toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tác phong làm việc...

Bổ sung “củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa” bởi trong những năm vừa qua tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Một trong những yêu cầu, mục tiêu của xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện là phải củng cố được niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, đó là nền tảng chính trị của Nhà nước, của chế độ ta.

Thứ tư, bổ sung “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” vào câu “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới” để thành “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.

Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới là quan điểm, chủ trương lớn của Đảng được nêu trong mục tiêu tổng quát phát triển đất nước của Báo cáo chính trị các Đại hội X, XI, XII và trong nhiều văn kiện của Đảng. Ở các Đại hội này, trong mục tiêu tổng quát, sau câu “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới” là “phát triển đất nước nhanh, bền vững”, một mục tiêu tổng quát hết sức quan trọng, bao gồm nhiều lĩnh vực. Trong đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội được xác định là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong nhiều nhiệm kỳ đại hội Đảng, nhiệm vụ này được quan tâm đẩy mạnh, đạt một số thành tựu; nhưng kết quả còn nhiều hạn chế, mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt được; trình độ công nghệ, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh kinh tế thấp... Đây là hạn chế, điểm yếu quan trọng của nước ta. Trong những năm tới, trong bối cảnh toàn cầu hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, cạnh tranh quốc tế hết sức gay gắt, quyết liệt, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh kinh tế đặt ra cấp thiết, có ý nghĩa sống còn đối với đất nước ta. Vì vậy, bổ sung nội dung này vào mục tiêu tổng quát trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng là quan trọng, cần thiết để nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, được thực hiện mạnh mẽ, có hiệu quả cao hơn trong những năm tới.

NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG CHỦ ĐỀ ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Chủ đề Đại hội XIII của Đảng là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. So với chủ đề Đại hội XII, chủ đề Đại hội XIII có nhiều điểm mới, cụ thể là:

Thứ nhất, bổ sung “chỉnh đốn” và “hệ thống chính trị” vào nội dung “tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” để thành “Tăng cường xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”.

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam 90 năm qua, tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước ta trong 35 năm đổi mới vừa qua và cũng sẽ là yếu tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của đất nước ta, nhân ta ta trong những năm tới. Tới đây, trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta đứng trước nhiều thời cơ và khó khăn, thách thức to lớn, đặt ra nhiều vấn đề mới đòi hỏi Đảng phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Bởi vậy, trong tiêu đề Báo cáo chính trị Đại hội X và Đại hội XI của Đảng đều có nội dung “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”. Nhưng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng lại phụ thuộc vào chất lượng các tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng; trong đó, đặc biệt là phụ thuộc vào sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức Đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, trong những năm gần đây, có một bộ phận cán bộ, đảng viên bị suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dẫn đến quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân... làm ảnh hưởng xấu đến sự ổn định, phát triển đất nước, uy tín của Đảng, Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Do đó, công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh được Đảng hết sức quan tâm trong những năm gần đây, đặc biệt được đẩy mạnh trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng.

Tiêu đề Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng được mở đầu với nội dung “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”. Thực tiễn công tác xây dựng Đảng cho thấy trong bối cảnh có sự suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay, để xây dựng Đảng phải có chỉnh đốn, phải chỉnh đốn thì mới xây dựng được Đảng trong sạch, vững mạnh. Hội nghị Trung ương bốn khóa XII đã ra Nghị quyết chuyên đề “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Do đó, cần phải bổ sung “chỉnh đốn” vào nội dung “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” trong tiêu đề Báo cáo chính trị Đại hội XIII.

Đồng thời, trong bối cảnh Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, của cả hệ thống chính trị. Sự trong sạch, vững mạnh của Đảng gắn liền với sự trong sạch, vững mạnh của cả hệ thống chính trị. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng gắn liền với hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Bởi vậy, bổ sung “hệ thống chính trị” vào “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh” để thành “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh” là đúng đắn và cần thiết.

Thứ hai, bổ sung “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí”, và “kết hợp với sức mạnh của thời đại” vào nội dung “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc” để trở thành “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại...”.

Cùng với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trong mọi giai đoạn cách mạng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn luôn là nguồn sức mạnh to lớn để đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đạt được những thắng lợi vẻ vang. Bởi vậy, “phát huy sức mạnh toàn dân tộc” luôn là một nội dung quan trọng trong đường lối của Đảng, được nêu trong tiêu đề Báo cáo chính trị của nhiều Đại hội Đảng (trong tiêu đề Báo cáo chính trị Đại hội XI, XII đều có nội dung này). Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đưa nội dung “phát huy sức mạnh toàn dân tộc” vào tiêu đề của Báo cáo.

Việc kết hợp nội lực và ngoại lực, trong đó nội lực là quyết định, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại là một quan điểm lớn, nội dung lớn trong đường lối cách mạng, phát triển đất nước của Đảng. Từ lâu, nội dung này đã được nêu trong nhiều văn kiện của Đảng; tuy nhiên, còn chưa được nêu trong tiêu đề Báo cáo chính trị của các đại hội toàn quốc của Đảng. Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia; nước ta đã hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, toàn diện, ảnh hưởng và tác động quốc tế đối với nước ta ngày càng lớn, nhanh chóng và trực tiếp. Xu thế của thời đại, luật pháp, các quan hệ quốc tế, sự hợp tác, ủng hộ của các nước, cộng đồng quốc tế là nguồn sức mạnh to lớn để đất nước ta nắm bắt thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức giữ vững độc lập, chủ quyền, môi trường hòa bình ổn định, phát triển nhanh, bền vững. Do đó, việc đưa nội dung “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại” vào tiêu đề Báo cáo chính trị Đại hội XIII là cần thiết, đúng đắn, có ý nghĩa quan trọng.

Thực tiễn lịch sử thế giới, cũng như mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đất nước ta đã cho thấy tinh thần, ý chí, khát vọng của một dân tộc là một sức mạnh to lớn. Chính ý chí, khát vọng cháy bỏng phải giành, bảo vệ cho được độc lập, tự do, thống nhất đất nước đã tạo nên sức mạnh thần kỳ để nước ta, một nước nghèo, kinh tế kém phát triển đã đánh thắng những kẻ thù hùng mạnh của thời đại. Ngày nay, bên cạnh những khó khăn, thách thức, đất nước ta có những thuận lợi, cơ hội to lớn để phát triển, chúng ta rất cần phải phát huy mạnh mẽ ý chí, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân để tạo nên động lực mạnh mẽ, sức mạnh to lớn đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nắm bắt, tận dụng tốt mọi thuận lợi, thời cơ, phát triển đất nước nhanh, bền vững. Đây là yêu cầu, là lời hiệu triệu của Đảng, của đất nước đối với mỗi người Việt Nam yêu nước.

Thứ ba, xác định mục tiêu “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Thành tố cuối cùng trong tiêu đề Báo cáo chính trị tại các đại hội Đảng ở nhiều nhiệm kỳ đều là mục tiêu phát triển đất nước, như, trong tiêu đề Báo cáo chính trị của Đại hội XI của Đảng có mục tiêu “tạo nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, của Đại hội XII có mục tiêu “phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đề ra mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI “phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Theo truyền thống ấy, thành tố cuối trong tiêu đề Báo cáo chính trị Đại hội XIII là mục tiêu “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; trong đó nội dung “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đã được khẳng định trong nhiều văn kiện của Đảng; điểm mới là “nước ta trở thành nước phát triển”.

Trong nhiều năm qua, trong các văn kiện của Đảng đều xác định mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và trở thành nước công nghiệp hiện đại vào giữa thế kỷ XXI. Đây là quan điểm đúng đắn, có ý nghĩa quan trọng định hướng cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, cho đến nay, việc xây dựng các tiêu chí để xác định thế nào là nước công nghiệp, nước công nghiệp theo hướng hiện đại và nước công nghiệp hiện đại vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Trong khi đó, trên thế giới hiện nay, ngoài Tổ chức Công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) có phân chia các nước thành nước đã công nghiệp hóa, nước công nghiệp hóa, còn hầu hết các nước, các tổ chức quốc tế không sử dụng cách phân loại này. Các nước, các tổ chức quốc tế (như Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế...) đều đánh giá, phân loại các nước thành: (1) nước phát triển, nước đang phát triển, nước kém phát triển, hay (2) nước có thu nhập cao, nước có thu nhập trung bình cao, nước có thu nhập trung bình thấp và nước có thu nhập thấp. Hai cách phân loại này đều dựa vào tiêu chí chính là thu nhập kết quả đầu người. Tuy không phân loại các nước thành nước đã công nghiệp hóa hay chưa công nghiệp hóa, những nước phát triển, như các nước G7, G20, đồng thời, cũng được xác định là những nước đã công nghiệp hóa, nước công nghiệp mới nổi.

Nước ta đã hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, việc xác định mục tiêu phát triển đất nước đến giữa thế kỷ XXI sử dụng cách phân loại nước theo thông lệ quốc tế là cần thiết để thuận lợi cho việc phân tích, đánh giá và so sánh quốc tế. Trong nhiều văn kiện của Đảng, Nhà nước ta những năm vừa qua đã xác nhận nước ta là nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp theo như đánh giá của các tổ chức kinh tế quốc tế.