Hiển thị các bài đăng có nhãn đặc trưng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đặc trưng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những đặc trưng cơ bản: Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhân dân là nguồn gốc, là chủ thể quyền lực của Nhà nước, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; hai là, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp. Hiến pháp và pháp luật có vị trí, hiệu lực cao nhất không chỉ đối với xã hội, mà ngay cả trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, là cơ sở của quyền lực nhà nước; ba là, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối cao của pháp luật trong đời sống xã hội; bốn là, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do của công dân, tôn trọng các cam kết quốc tế với tư cách là một thành viên. Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tôn trọng các cam kết quốc tế với tư cách là một thành viên. Nâng cao trách nhiệm pháp lý trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân; năm là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; sáu là, quyền lợi đi liền với nghĩa vụ; dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương; bảy là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng NNPQ XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở nước ta. Các đặc trưng cơ bản đó của Đảng về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được cụ thể hoá và từng bước được làm rõ hơn, sâu sắc hơn trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở nước ta.

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

KẾ THỪA SÁNG TẠO, CÓ CHỌN LỌC, PHÁT TRIỂN

Sau khi cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra mắt, tôi đã tìm đọc và thực sự thấm thía bởi nội dung cuốn sách đã góp phần làm sáng tỏ, sâu sắc nhiều vấn đề thực tiễn quá trình xây dựng CHXH ở nước ta.

Trong nội dung các bài viết, bài phát biểu, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh sự kế thừa có chọn lọc để bổ sung, hoàn thiện, phát triển những đặc trưng cốt lõi của CNXH ở Việt Nam; chỉ rõ sự sáng tạo, khác biệt về chất giữa CNXH mà nước ta đang xây dựng so với chủ nghĩa tư bản. Những vấn đề này vô cùng bổ ích, giúp mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hiểu rõ hơn, nhận thức đầy đủ hơn và tin tưởng hơn vào con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Điển hình như, trong bài viết nhân kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 / 19-5-2021), bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, ngày 15-5-2021, Tổng Bí thư khẳng định: “Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”.

Tinh thần đó cũng được đề cập trong các nghị quyết của Đảng về phát triển con người, coi trọng giáo dục-đào tạo, xây dựng văn hóa, hội nhập quốc tế, đường lối ngoại giao, hợp tác quốc phòng... Quá độ lên CNXH ở Việt Nam là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp; cho nên sự kế thừa tinh hoa nhân loại một cách sáng tạo, có chọn lọc, phù hợp với hoàn cảnh, đặc thù Việt Nam là tất yếu khách quan, không thể nóng vội. Sự khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trên cơ sở phân tích, lập luận, đưa ra những dẫn chứng đầy thuyết phục từ thực tiễn nước ta đã góp phần củng cố vững chắc niềm tin cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp xây dựng CNXH.

Đây cũng là bài học sâu sắc, khích lệ, khuyến khích mỗi cán bộ, đảng viên và mọi cá nhân trong công tác, thực hiện nhiệm vụ phải luôn tìm tòi, sáng tạo, đổi mới phù hợp với thực tiễn; biết “gạn đục khơi trong”, học tập, tiếp thu những ưu điểm từ đồng chí, đồng nghiệp; kế thừa có chọn lọc và phát huy những giá trị tốt đẹp trong tập thể để không ngừng tiến bộ, xây dựng cơ quan, đơn vị ngày càng phát triển vững mạnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.


Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện được mục tiêu đó trong phát triển nền kinh tế thị trường, phải tạo điều kiện để giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất và không ngừng phát triển lực lượng sản xuất; phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối; phát triển kinh tế thị trường để từng bước xây dựng hạ tầng kinh tế cho chủ nghĩa xã hội; cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời chống lại những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch chống phá quan điểm của Đảng hiện nay.

Mục tiêu kinh tế - xã hội - văn hóa mà nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không có gì khác là:

Làm cho dân giàu: Nội dung căn bản của dân giàu là mức bình quân GDP đầu người tăng nhanh trong một thời gian ngắn và khoảng cách giàu, nghèo trong xã hội ngày càng được thu hẹp, phấn đấu đến năm 2030

Làm cho nước mạnh: Thể hiện ở mức đóng góp to lớn của nền kinh tế thị trường cho ngân sách quốc gia; ở sự gia tăng ngành kinh tế mũi nhọn; ở sự sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên quốc gia; ở sự bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các bí mật quốc gia về tiềm lực kinh tế, khoa học, công nghệ và an ninh, quốc phòng.

Làm cho xã hội công bằng, văn minh: Thể hiện ở việc xử lý các quan hệ lợi ích ngay trong nội bộ nền kinh tế thị trường, ở đó việc góp phần to lớn vào giải quyết các vấn đề xã hội, ở việc cung ứng các hàng hóa và dịch vụ có giá trị không chỉ về kinh tế mà còn có giá trị cao về văn hóa, xã hội.

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2021

MỘT TRONG NHỮNG ĐIỂM NHẤN QUAN TRỌNG TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19.5.1890-19.5.2021), đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Một trong những điểm nhấn của bài viết là những lý giải về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trên quan điểm duy vật biện chứng, bài viết đã làm rõ đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội gắn với yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, được phân biệt với đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở dạng hoàn chỉnh.

Thời kỳ quá độ là thời kỳ mà “nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực” và sự đan xen, cạnh tranh ngày càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.

Đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh rằng, trong thời kỳ quá độ, do xuất phát điểm thấp, chúng ta “bỏ qua” chủ nghĩa tư bản nhưng phải xác định “bỏ qua” cái gì, cái gì phải kế thừa, phát triển. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Phải kế thừa những thành tựu này có chọn lọc, có phê phán, trên quan điểm khoa học và phát triển.

Bài viết lưu ý rằng, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng, hoàn thiện không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và cũng chưa phải là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đầy đủ, hoàn chỉnh.

Định hướng xã hội chủ nghĩa là làm cho mục tiêu xã hội chủ nghĩa luôn được quản trị, giữ vững trong quá trình đổi mới đất nước; làm cho nhân tố xã hội chủ nghĩa, những cái tốt đẹp luôn giữ vai trò chủ đạo, lớn dần lên trong quá trình cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa.

Cùng với vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa là định hình chủ nghĩa xã hội, tức phải làm cho bản chất tốt đẹp, giá trị của chủ nghĩa xã hội được hiện thực hóa trong đời sống hằng ngày mà người dân được thụ hưởng gắn với điều kiện, lộ trình cụ thể. Đó chính là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tăng trưởng kinh tế phải gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước đi và từng chính sách phát triển.

Để tránh rơi vào chủ quan duy ý chí, bài viết lưu ý rằng, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội.

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2020

MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI Ở ĐỨC

Nền kinh tế thị trường xã hội Đức được xác định bởi các quy tắc cạnh tranh và một hệ thống an sinh xã hội phát triển, phát huy tối đa tự do sáng tạo, tạo nên năng lực kinh tế mạnh gắn liền với tiến bộ xã hội.

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2019

NÊU GƯƠNG – KHÁI NIỆM VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ ĐẶC TRƯNG

Nói về khái niệm, nêu gương, hay làm gương (exemple) là làm mẫu; là tạo ra một mẫu mực cho người khác học và làm theo. Làm gương và noi gương là một quá trình hình thành các tập quán, tập tính, hay nói cách khác, là cách mà con người xã hội hóa nhân cách cá nhân. Nói một cách nôm na, đơn giản, các hành động noi gương hay làm theo gương của người khác là “bắt chước”, học tập, thực hành...Vì vậy nêu gương và noi gương, trước hết là một phạm trù của giáo dục, của lãnh đạo.
Vấn đề nêu gương được chú ý như một phương thức quản trị xã hội được nói đến trong các lý thuyết triết học, chính trị từ thời cổ đại, ở cả phương Tây lẫn phương Đông. Con người và ngay cả thế giới động vật nói chung để sinh tồn, trước hết phải thông qua các hành vi bắt chước, làm theo, học tập từ các hành vi mẫu. Nhờ đó, hình thành các loại hành vi mang tính chuẩn mực của đời sống cộng đồng, xã hội, của loài.
Trong đời sống xã hội, nêu gương chủ yếu được nhấn mạnh ở việc thực hành các chuẩn mực xã hội (đạo đức, pháp luật...). Như vậy, nêu gương hay làm gương luôn phải đi kèm với noi gương, học tập và làm theo các tấm gương ấy. Nói gọn lại, nêu gương và noi gương là loại hành vi thuộc tính của xã hội loài người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực lãnh đạo, quản lý. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất hiểu và vận dụng khéo léo, hợp lý các nguyên lý, bản chất nêu gương của Đông - Tây. Suốt đời Người thực hành nêu gương, làm gương và noi gương; và chính Người đã trở thành tấm gương sáng trong lịch sử cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.
Làm người lãnh đạo (dẫn đường) phải có nhiều phẩm chất, nhưng một trong những phẩm chất quan trọng nhất là đi tiên phong, phải làm gương cho người theo sau. Người nói, đảng viên đi trước, làng nước theo sau và “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. 
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nêu gương luôn là một phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, dù phải chịu tra tấn, tù đày, án chém, bom đạn, đói khát... đảng viên của Đảng là những tấm gương hy sinh tất cả, vì thắng lợi của cách mạng. Trong hòa bình xây dựng đất nước, nhiều đảng viên của Đảng cũng phải lao tâm khổ trí, chịu nhiều thiệt thòi, quyết tìm tòi con đường đổi mới; gắn vận mệnh đổi mới với vận mệnh đất nước, gia đình, bản thân; sướng khổ, vui buồn cùng những thăng trầm của đất nước, của sự nghiệp đổi mới.

Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2018

BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA LỐI SỐNG THỰC DỤNG

Bản chất chung của lối sống thực dụng xét đến cùng là vì lợi ích trước mắt, là thỏa mãn, giữ gìn, phát triển các nhu cầu vật chất, nhu cầu về thế giới đồ vật, kích thích trực tiếp các nhu cầu cá nhân.
Lối sống thực dụng là kết quả của sự giằng xé giữa nhu cầu cá nhân và đạo lý cộng đồng. Khi mà các nhu cầu ích kỷ của cá nhân chiếm ưu thế thì mọi thứ tín ngưỡng, niềm tin, tình nghĩa phải quay trên cái trục: tiền, vàng, địa vị, danh lợi, lợi ích nhóm, cánh hẩu "hậu duệ, tiền tệ, quan hệ"…. Sức mạnh của nó có thể làm lệch của cán cân công lý, làm cho lối sống thực dụng xuất hiện và phát triển toàn diện các mặt của nó.
Lối sống thực dụng thuộc về bản chất của xã hội dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Tư tưởng của lối sống thực dụng chỉ nhằm vào những gì có thể mang lại lợi ích trước mắt cho mình không quan tâm đến những mặt khác.
Đặc trưng của lối sống thực dụng là ham muốn chạy theo những mối lợi vật chất dẫn tới những sai phạm về kinh tế như: tham ô, hối lộ, lợi dụng chức quyền để mưu lợi ích cá nhân. Những người sống thực dụng luôn có tham vọng vun vé cho lợi ích cá nhân, họ sẵn sàng làm bất kỳ việc gì vì động cơ vụ lợi. Họ sẵn sàng tìm mọi cách để kiếm chác, đục khoét của công để mưu cầu lợi ích cá nhân; luôn dùng mọi thủ đoạn đi sâu vào mọi ngõ ngách tâm lý, lợi dụng những điểm yếu, sơ hở, mất cảnh giác của mọi người để lường gạt. Trong mọi quan hệ đều mang tính chất mờ ám, họ biến các quan hệ tốt đẹp giữa người với người trong tập thể thành quan hệ theo kiểu “tiền trao, cháo múc”, cái gì cũng có giá, cái càng khó khăn thì giá càng cao, chà đạp lên lợi ích tập thể vì lợi ích cá nhân trước mắt.
Lối sống thực dụng là thường đặt giá trị vật chất ở vị trí cao trong thang giá trị nhân cách của mình. Thích phô trương khả năng vật chất của mình, đồng thời hay dùng phương thức mua chuộc bằng vật chất để đạt được mục đích vụ lợi.
Lối sống thực dụng là trong công việc hay chú ý đến lợi ích thực tế nhiều hơn so với ý nghĩa chính trị đạo đức của nó. Thậm chí nhiều người chỉ nghĩ đến mối lợi thực tế, tính toán thiệt - hơn, mất - được trong quá trình công tác…
Sự phát triển của tư duy thực dụng trong lối sống đã dẫn tới nảy sinh quan hệ cố kết lợi ích trong các cơ quan, đơn vị. Đặc trưng của hai quan hệ này là các cá nhân có lợi ích phụ thuộc vào nhau ngầm thực hiện việc phân chia lợi ích với nhau theo những nguyên tắc do họ đặt ra. Mối quan hệ này tạo nên những “dây”, “ê kíp” lợi ích nhất định. Đây là mối quan hệ không chính thức, tồn tại ngầm. Những thành viên tham gia vào mối quan hệ này thường liên kết với nhau, che chắn, bảo vệ nhau.
Những đặc trưng của lối sống thực dụng nêu trên xét đến cùng là biểu hiện của lối sống tư sản, hoàn toàn đối lập với lối sống xã hội chủ nghĩa. Những biểu hiện đó đã làm vẩn đục bầu không khí xã hội và có thể dẫn đến làm hư hỏng bộ máy của Đảng và Nhà nước. Việc nhận dạng lối sống thực dụng và đấu tranh ngăn chặn ảnh hưởng của nó là vấn đề rất quan trọng và cấp bách hiện nay.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ ĐẶC TRƯNG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Một đóng góp nổi bật của V.I.Lênin là làm rõ những đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Một là, quá độ về kinh tế, là sự tồn tại đan xen của các thành phần kinh tế và cùng phát triển trong suốt thời kỳ quá độ. V.I.Lênin xác định ở nước Nga khi đó (1918) có 5 thành phần kinh tế: kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên; sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì); chủ nghĩa tư bản tư nhân; chủ nghĩa tư bản nhà nước; chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin cho rằng, “Có lẽ, không một người nào khi nghiên cứu vấn đề kinh tế của nước Nga lại phủ nhận tính chất quá độ của nền kinh tế ấy. Có lẽ cũng không người cộng sản nào lại phủ nhận điểm sau đây: danh từ nước Cộng hòa Xôviết xã hội chủ nghĩa có nghĩa là Chính quyền Xô viết quyết tâm thực hiện bước chuyển lên chủ nghĩa xã hội, chứ hoàn toàn không có nghĩa là đã thừa nhận chế độ kinh tế mới là chế độ xã hội chủ nghĩa.
Vậy thì danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có”.
Hai là, quá độ về chính trị, đó là xây dựng và hoàn thiện nhà nước của dân, do dân, vì dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Hiện nay chính quyền đã giành được, đang được giữ vững và củng cố trong tay một đảng, đảng của giai cấp vô sản, thậm chí không còn có những người bạn đường không chắc chắn nữa. Hiện nay, khi không có và thậm chí không thể nói đến chuyện chia sẻ chính quyền”. Sau khi phải quản lý đất nước, Nhà nước Xô viết tập trung thực hiện những nhiệm vụ kinh tế của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng và phát triển nền kinh tế XHCN.
Ba là, cần thiết phải sử dụng chuyên gia tư sản để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để ể bảo đảm thắng lợi của CNXH, nhất thiết trong thời kỳ quá độ phải biết áp dụng những thành tựu kỹ thuật dựa trên những phát minh mới nhất của khoa học hiện đại và học tập cách quản lý của chủ nghĩa tư bản để tạo ra năng suất lao động cao. Đó là một đặc trưng quan trọng của thời kỳ quá độ.
“Chỉ có những người nào hiểu rằng không học tập những kẻ tổ chức ra tơ-rớt thì không thể tạo ra hoặc thực hiện chủ nghĩa xã hội, chỉ những người đó mới đáng gọi là người cộng sản. Bởi vì chủ nghĩa xã hội đâu phải là điều bịa ra, mà nó là kết quả của việc đội tiền phong của giai cấp vô sản, sau khi cướp được chính quyền, nắm lấy và vận dụng những cái mà các tơ-rớt đã tạo ra. Đảng vô sản chúng ta sẽ không lấy được ở đâu ra cái năng lực tổ chức nền sản xuất cực kỳ lớn theo kiểu tơ-rớt và như tơ-rớt, nếu không lấy năng lực đó ở các chuyên gia hạng nhất của chủ nghĩa tư bản”. Rõ ràng trong thời kỳ quá độ, cần thiết phải kế thừa, tiếp thu những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm tổ chức quản lý được tạo ra trong thời kỳ CNTB phát triển.
Bốn là, thời kỳ quá độ rất dài và phải trải qua những chặng đường, bước đi cụ thể. Một đặc trưng quan trọng khác của thời kỳ quá độ mà V.I.Lênin xác định là độ dài về thời gian, nghĩa là Trong tác phẩm Bàn về thuế lương thực viết năm 1921, V.I.Lênin cho rằng thời hạn của thời kỳ quá độ là dài hơn so với những giả định đề ra năm 1918. Năm 1920, V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “Trong trường hợp tốt nhất thì bước quá độ cũng chiếm mất nhiều năm. Suốt cả thời kỳ đó, trong chính sách của chúng ta, lại chia ra thành nhiều bước quá độ nhỏ hơn nữa. Và tất cả cái khó khăn của nhiệm vụ chúng ta phải làm, tất cả cái khó khăn của chính sách và tất cả sự khéo léo của chính sách là ở chỗ biết tính đến những nhiệm vụ đặc thù của từng bước quá độ đó”.

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

Đặc trưng văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam

Các dân tộc ở Việt Nam có một nền văn hóa phong phú, đa dạng, thống nhất. Người Kinh cùng 53 dân tộc thiểu số đều có những bản sắc văn hóa đa dạng và độc đáo trên các lĩnh vực văn hóa tộc người. Sự thống nhất của văn hóa các tộc người ở nước ta là do cùng sinh sống trong khu vực nhiệt đới gió mùa; có chung loại hình kinh tế - xã hội, có sự giao lưu tiếp biến văn hóa của nhau. Tuy nhiên, mỗi tộc người, do sống trong các tiểu vùng văn hóa khác nhau nên đều có bản sắc văn hóa riêng, song luôn gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành một cộng đồng văn hóa thống nhất.
Các tộc người ở Việt Nam đã sáng tạo nên các vùng văn hóa với những nét đặc trưng riêng. Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam như: Vùng đồng bằng Bắc Bộ với văn hóa của người Việt, vùng Tây Bắc, Đông Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng Nam Trung Bộ, vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, vùng đồng bằng Nam Bộ.
Văn hóa truyền thống của các tộc người là văn hóa của các cư dân nông nghiệp khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á. Văn hóa của cư dân đồng bằng và trung du là văn hóa lúa nước, của cư dân miền núi là văn hóa nương rẫy với công cụ và kỹ thuật canh tác phù hợp. Văn hóa ẩm thực của các tộc người Việt Nam chủ yếu là cơm, rau, cá, rất ít thịt; uống rượu gạo; tục ăn trầu. Trang phục có váy, yếm, khố, quần lá tọa, thoáng mát phù hợp khí hậu nóng ẩm. Văn hóa xã hội luôn đề cao tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, hướng tới sự hài hòa, coi trọng tình cảm hơn lý trí.
Văn hóa các tộc người có quá trình phát triển lâu đời trên nền tảng văn hóa bản địa. Các tài liệu nghiên cứu khảo cổ học đã chứng minh nền văn hóa các dân tộc Việt Nam có lịch sử phát triển liên tục từ sơ kỳ đồ đá cũ có niên đại khoảng 30 vạn năm ở núi Đọ, Thanh Hóa đến thời đại đồ sắt thời Hùng vương; nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng có niên đại khoảng 2.700 năm và được tiếp nối đến ngày nay, ngày càng phong phú, đa dạng trong thống nhất.
Văn hóa truyền thống các tộc người có sự giao lưu với văn hóa Ấn Độ, văn hóa Hán và văn hóa phương Tây. Trong tiến trình lịch sử, các tộc người Việt Nam đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa Hán, làm giàu bản sắc tộc người. Nhiều tộc người tiếp nhận từ văn hóa Hán kỹ thuật sản xuất, kiến thức đông y, trang phục; ngôn ngữ Hán; cách thức tổ chức xã hội, luật pháp; kinh dịch, bói toán, chịu ảnh hưởng Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo... Từ Nam Trung Bộ trở vào, một số tộc người chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, nhất là từ Phật giáo Ấn Độ truyền đến như các tộc người Chăm, Khơ-me... Thời cận hiện đại, các tộc người nước ta đã tiếp thu nhiều ảnh hưởng văn hóa phương Tây trong phát triển đô thị, công nghiệp, giao thông, Kitô giáo, chữ quốc ngữ, báo chí, văn học nghệ thuật, giáo dục, khoa học, tư tưởng. 

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Đặc trưng văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam

Văn hóa truyền thống các dân tộc Việt Nam có các đặc trưng sau:
Các dân tộc ở Việt Nam có một nền văn hóa phong phú, đa dạng, thống nhất. Người Kinh cùng 53 dân tộc thiểu số đều có những bản sắc văn hóa đa dạng và độc đáo trên các lĩnh vực văn hóa tộc người. Sự thống nhất của văn hóa các tộc người ở nước ta là do cùng sinh sống trong khu vực nhiệt đới gió mùa; có chung loại hình kinh tế - xã hội, có sự giao lưu tiếp biến văn hóa của nhau. Tuy nhiên, mỗi tộc người, do sống trong các tiểu vùng văn hóa khác nhau nên đều có bản sắc văn hóa riêng, song luôn gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành một cộng đồng văn hóa thống nhất.
Các tộc người ở Việt Nam đã sáng tạo nên các vùng văn hoá với những nét đặc trưng riêng. Sự khác biệt về cấu trúc địa hình, khí hậu và phân bố dân tộc, dân cư đã tạo ra những vùng văn hoá có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam như: Vùng đồng bằng Bắc Bộ với văn hóa của người Việt, vùng Tây Bắc, Đông Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng Nam Trung Bộ, vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, vùng đồng bằng Nam Bộ.
Văn hóa truyền thống của các tộc người là văn hóa của các cư dân nông nghiệp khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á. Văn hóa của cư dân đồng bằng và trung du là văn hóa lúa nước, của cư dân miền núi là văn hóa nương rẫy với công cụ và kỹ thuật canh tác phù hợp. Văn hóa ẩm thực của các tộc người Việt Nam chủ yếu là cơm, rau, cá, rất ít thịt; uống rượu gạo; tục ăn trầu. Trang phục có váy, yếm, khố, quần lá tọa, thoáng mát phù hợp khí hậu nóng ẩm. Văn hóa xã hội luôn đề cao tính cộng đồng, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, hướng tới sự hài hòa, coi trọng tình cảm hơn lý trí.
Văn hóa các tộc người có quá trình phát triển lâu đời trên nền tảng văn hóa bản địa. Các tài liệu nghiên cứu khảo cổ học đã chứng minh nền văn hóa các dân tộc Việt Nam có lịch sử phát triển liên tục từ sơ kỳ đồ đá cũ có niên đại khoảng 30 vạn năm ở núi Đọ, Thanh Hóa đến thời đại đồ sắt thời Hùng vương; nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng có niên đại khoảng 2.700 năm và được tiếp nối đến ngày nay, ngày càng phong phú, đa dạng trong thống nhất.

Văn hóa truyền thống các tộc người có sự giao lưu với văn hóa Ấn Độ, văn hóa Hán và văn hóa phương Tây. Trong tiến trình lịch sử, các tộc người Việt Nam đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa Hán, làm giàu bản sắc tộc người. Nhiều tộc người tiếp nhận từ văn hóa Hán kỹ thuật sản xuất, kiến thức đông y, trang phục; ngôn ngữ Hán; cách thức tổ chức xã hội, luật pháp; kinh dịch, bói toán, chịu ảnh hưởng Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo... Từ Nam Trung Bộ trở vào, một số tộc người chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, nhất là từ Phật giáo Ấn Độ truyền đến như các tộc người Chăm, Khơ-me... Thời cận hiện đại, các tộc người nước ta đã tiếp thu nhiều ảnh hưởng văn hóa phương Tây trong phát triển đô thị, công nghiệp, giao thông, Kitô giáo, chữ quốc ngữ, báo chí, văn học nghệ thuật, giáo dục, khoa học, tư tưởng.