Hiển thị các bài đăng có nhãn toàn cầu hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn toàn cầu hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2021

FREEDOM HOUSE VU CÁO VIỆT NAM "KHÔNG CÓ TỰ DO INTERNET"

Ngày 21/9 vừa qua, Freedom House (FH) tiếp tục vu cáo Việt Nam bằng cách xếp Việt Nam vào nhóm “không có tự do Internet”. Và như thường lệ, đây cũng là lúc các tổ chức phản động, cơ hội chính trị được dịp “đục nước béo cò”. Trên các trang mạng Facebook, Blog, YouTube của tổ chức phản động Việt Tân, các đài VOA, RFA đua nhau khai thác, chia sẻ, bình luận, cổ súy. Nguy hại hơn khi họ vừa hả hê với kết luận của FH, vừa lợi dụng vào đó để tiếp tục vu khống Việt Nam.

Đánh giá, xếp hạng của FH rất không chính xác, thông tin mà FH tiếp cận, thu thập không phải từ các nguồn chính thống, khách quan. Với Việt Nam, FH chủ yếu khai thác từ các trang mạng, các địa chỉ truyền thông vốn có thái độ thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam; các thông tin sai lệch này chủ yếu xuất phát từ một số cá nhân, hội nhóm đội lốt “dân chủ, nhân quyền”, thực chất là các thế lực chống phá Việt Nam ở nước ngoài, một số phần tử vi phạm pháp luật ở trong nước.

Tổ chức này không hề có bất cứ hoạt động khảo sát trải nghiệm thực tế nào ở nước ta, khi không có nguồn thông tin chính thống và không có các hoạt động kiểm chứng thông tin, mọi đánh giá, xếp hạng, kết luận vì thế đều phiến diện. Không những thế, trong đánh giá của FH đã vô cớ công kích, bóp méo pháp luật Việt Nam, nhất là pháp luật trong lĩnh vực không gian mạng. Đây là những biểu hiện cực đoan của FH đối với vấn đề tự do Internet ở nước ta.

Thực tế, không một quốc gia nào trên thế giới lại cho phép các thế lực thù địch, phản động, chống phá tự tung tự tác, đặt lợi ích của cá nhân, tổ chức mình lên trên tất cả, đặt điều vu khống, thậm chí là giẫm đạp lên lợi ích quốc gia, dân tộc hay bôi xấu chế độ, phỉ báng chính quyền. Cũng không một quốc gia nào nhân danh tự do để số đối tượng xấu vi phạm pháp luật, ngăn cản, chống phá sự phát triển đất nước cũng như những quyền và lợi ích hợp pháp của dân tộc, của người dân, đi ngược lại sự phát triển của thế giới. Quyền tự do Internet không thể nằm ngoài, đứng trên pháp luật.

Đối với Việt Nam, để phù hợp sự biến đổi mau lẹ của thực tiễn, trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nước ta đã điều chỉnh, bổ sung, không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đề cao, tôn trọng các quyền cơ bản, chính đáng của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do Internet. Tại Điều 25, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để bảo đảm các quyền trên, Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016), Luật An ninh mạng (năm 2018)… ra đời, phát huy hiệu quả trên thực tế, một mặt làm cho tính tích cực tự do Internet góp phần thúc đẩy sự phát triển, mặt khác ngăn ngừa tiêu cực gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Đi sâu vào mặt tích cực, mặt tiêu cực của tự do Internet, suy đến cùng là do con người sử dụng nó vào mục đích tốt hay xấu. Tự do Internet không phải là thích viết gì thì viết, thích làm gì thì làm như cách mà FH cổ súy, tán dương. Dù cho những giọng điệu này có xuất hiện nhiều hơn trong thời gian tới thì tự do Internet ở Việt Nam theo đúng tên gọi của nó, vẫn là một thực tế không thể phủ nhận.

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2021

"VÌ MỘT VIỆT NAM CHIẾN THẮNG DỊCH BỆNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊNH VƯỢNG"

Nhân Ngày Kỹ năng lao động Việt Nam 4/10, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc có Thư kêu gọi đồng hành nâng tầm kỹ năng lao động "Vì một Việt Nam chiến thắng dịch bệnh và phát triển thịnh vượng".

Trong thư, Chủ tịch nước nêu rõ: Lực lượng lao động có chất lượng, kỹ năng và hiệu quả cao là nguồn tài nguyên vô giá, là nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia.

Ngay từ những ngày đầu độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu tâm nhắc nhở chúng ta rằng “người Việt Nam phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”, còn “cán bộ chǎm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp”.

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế mạnh mẽ, và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra yêu cầu cấp thiết cho nâng cao kỹ năng lao động. Vì lẽ đó, Tổ chức Kỹ năng nghề thế giới đã khuyến nghị các quốc gia chú trọng phát triển kỹ năng cho người lao động thông qua nhiều hình thức, thể hiện qua thông điệp “Kỹ năng của chúng ta, tương lai của chúng ta” và “Kỹ năng lao động mang đến giá trị đích thực”.

Chủ tịch nước khẳng định: Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chủ động ban hành nhiều chủ trương, chí́nh sách để phát triển kỹ năng lao động. Và trên thực tiễn, lực lượng lao động có kỹ năng, nhất là những người có tay nghề cao, đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhiệt liệt biểu dương và tri ân những đóng góp lớn lao của người lao động, các cơ quan, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp đối với phát triển của đất nước.

Nhân Ngày Kỹ năng lao động Việt Nam 4/10 năm nay, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc kêu gọi toàn thể người lao động trong cả nước không ngừng học tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, liên tục sáng tạo để cải thiện năng suất và nâng cao hiệu quả lao động trong công việc.

“Lúc này chúng ta còn cần nỗ lực hơn nữa để cùng chung tay vượt qua đại dịch COVID-19. Tôi cũng đề nghị Quốc hội, Chính phủ, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội cùng các các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan ưu tiên nguồn lực, cơ chế chính sách và hành động quyết liệt để đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, tay nghề cao, phổ cập nghề cho thanh niên.

Tôi cũng mong rằng cộng đồng doanh nghiệp và người sử dụng lao động tiếp tục tham gia tích cực vào sự nghiệp hỗ trợ đào tạo nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động, đặc biệt là đối với người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, để vững bước tiến vào tương lai.

Tôi có một niềm tin chắc chắn rằng người lao động Việt Nam luôn phát huy tối đa phẩm chất và năng lực của mình để vươn lên trong học tập, lao động và sản xuất, góp phần đưa nước ta sớm chiến thắng dịch bệnh và thúc đẩy phát triển bền vững, thịnh vượng trong giai đoạn tới”.

Chủ tịch nước trân trọng gửi tới toàn thể người lao động và các cơ quan, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp trong cả nước lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc tốt đẹp nhất.

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2020

TOÀN CẦU HÓA TÁC ĐỘNG ĐẾN NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Từ thập niên 80 thế kỷ XX đến nay, tiến trình toàn cầu hóa, trước hết là toàn cầu hóa kinh tế đã và đang diễn ra mạnh mẽ. Toàn cầu hóa vừa tạo ra thời cơ, vừa đặt ra không ít thách thức cho mỗi quốc gia, dân tộc trong phát triển. Toàn cầu hóa kinh tế không chỉ là sự hợp tác giữa các quốc gia, mà còn là quá trình cạnh tranh giữa các quốc gia. Để giành ưu thế trong cạnh tranh, đòi hỏi mỗi quốc gia cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Toàn cầu hóa thúc đẩy sự giao lưu, chia sẻ thông tin, làm cho đời sống xã hội thể hiện xu thế nhất thể hóa, đa dạng hóa và phụ thuộc lẫn nhau. Toàn cầu hóa không chỉ tác động mạnh mẽ đến chính trị và hệ thống xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc, mà còn tác động sâu sắc đến hệ thống giá trị và ý thức hệ vốn có của mỗi quốc gia, dân tộc. Toàn cầu hóa rất dễ dẫn đến nguy cơ các công ty xuyên quốc gia chi phối hệ thống chính sách quốc gia dân tộc.

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2019

TỘI ÁC CỦA BỌN THEO ĐUÔI CHỐNG CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

Theo đuôi các thế lực thù địch ở ngoài nước, các phần tử bất mãn, cơ hội về chính trị ở nước ta đang lớn tiếng đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “tự nguyện lột xác”, phải từ bỏ nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Một số kẻ ác ý, bạo mồm còn ví von rằng, phải từ bỏ “con thuyền Mác – Lênin” bởi trong quá trình đưa dân tộc Việt Nam đến bến bờ độc lập, đưa nhân dân ta đến bến bờ hạnh phúc, nó đã bị “mắc cạn”, “chết yểu”. Chúng đòi hỏi Đảng ta phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập… Các phần tử chống đối, bất mãn đưa ra những luận điểm hết sức sai trái, phản động, cho rằng nguyên nhân của mọi cái “khốn khổ”, “lạc hậu”, “trì trệ”…ở Việt Nam là do sự “nô lệ về ý thức hệ” chủ nghĩa Mác – Lênin và đòi Đảng ta phải từ bỏ cái “lý thuyết ngoại lai” ấy…Đó là lý thuyết mà họ cho rằng đã bị phá sản trong thực tiễn và đã bị từ bỏ ngay tại chính quê hương của nó ở Đức và Nga.

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019

XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA TÔN GIÁO

Lợi dụng quá trình toàn cầu hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội, các tôn giáo như Kitô giáo, Phật giáo, Hồi giáo, và cả “hiện tượng tôn giáo mới”, đều mở rộng ảnh hưởng, mong muốn trở thành tôn giáo toàn cầu. Sự đua tranh đó đã dẫn đến sự cạnh tranh, sự rèm pha, thậm chí tiêu diệt nhau giữa các tôn giáo. Bộc lộ rõ nhất cho xu thế này là một số phần tử cực đoan của Kitô giáo và Hồi giáo đang tìm mọi cách để “mở rộng nước Chúa”, gây thanh thế nhằm đưa tôn giáo mình áp đặt cho cả nhân loại. Điều đó làm tiềm ẩn nhân tố xung đột tôn giáo.

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2018

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CHO RẰNG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN KHÔNG CÒN THÍCH HỢP TRONG THỜI ĐẠI TOÀN CẦU HÓA

            Rõ ràng hiện nay chủ nghĩa tư bản chiếm địa vị chủ đạo trong quá trình toàn cầu hóa, song chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là công cụ lý luận để chúng ta nhận thức những biến động mới của chủ nghĩa tư bản. Sau khủng hoảng kinh tế bùng nổ ở phương Tây, nhiều học giả trên thế giới đã phải tìm đọc lại bộ Tư bản. Mặc dù không có những dự báo cụ thể về những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, song C.Mác đã bàn đến vấn đề cốt lõi, đó chính là mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản: Mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa lực lượng sản xuất ngày càng cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.
          Sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin đã tạo ra sự phát triển mang tính bước ngoặt trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Các phương diện triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học trong chủ nghĩa Mác – Lênin có những đóng góp vô cùng to lớn, thể hiện tập trung nhất ở tính khoa học của thế giới quan chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, của học thuyết về quy luật vận hành và mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản. Dù đã 170 năm ra đời, song đến nay vẫn chưa có một hệ thống học thuyết nào có thể so sánh với chủ nghĩa Mác – Lênin.
          Những thay đổi tích cực trong nhiều thập kỷ qua của các nước tư bản không thể không nhắc đến nguyên nhân từ sự phê phán của chủ nghĩa Mác - Lênin. Chính vì vậy, học giả người Anh Terry Eagleton trong cuốn sách tại sao C. Mác đúng đã nói chủ nghĩa Mác giống như bác sĩ, khi mà cơ thể khỏe thì sẽ không để ý, song một khi chủ nghĩa tư bản gặp vấn đề nghiêm trọng thì chủ nghĩa Mác lại phát huy tác dụng phê phán vốn có của mình. Terry Eagleton nhấn mạnh chủ nghĩa tư bản càng ổn định thì càng chứng minh những giá trị của chủ nghĩa Mác. Giá trị đó thể hiện ở bản chất sáng tạo, mỗi khi đối diện với thực tiễn mới, vấn đề mới thì lại có năng lực sáng tạo mới. Như vậy chính câu trả lời của học giả Terry Eagleton đã cho thấy quan điểm trên là hoàn toàn sai lầm./.

Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2018

Đặc điểm cơ bản của toàn cầu hóa kinh tế hiện nay

Toàn cầu hóa là một xu hướng bao gồm nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Trong các mặt đó thì toàn cầu hóa kinh tế đang là xu thế nổi trội nhất, nó vừa là trung tâm vừa là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hóa nói chung. Giống như khái niệm toàn cầu hóa thì cũng có nhiều quan điểm khác nhau về toàn cầu hóa kinh tế.Sau đây là khái niệm phổ biến nhất: “Toàn cầu hóa kinh tế chính là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia,khu vực,tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất. Sự gia tăng của xu thế này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô mậu dịch thế giới,sự lưu chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu.”
Một là, Diễn ra ngày càng sâu rộng, mạnh mẽ, nhiều tầng, đan xen thuận, nghịch, thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức, là quá trình không đơn giản, trơn tru bằng phẳng, nhất là với các nước đang phát triển
Hai là, Các cường quốc kinh tế tư bản chủ nghĩa là lực lượng chủ đạo, là lực lượng chi phối quá trình toàn cầu hóa, là động cơ thúc đẩy và là người hưởng lợi chủ yếu
Ba là, Diễn ra trong sự bất công, bất bình đẳng do tính chất tư bản chủ nghĩa của nó. Phân hóa giàu nghèo gia tăng
Bốn là, Diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Năm là, Xu hướng tự do hóa kinh tế song song với xu hướng bảo hộ mậu dịch, toàn cầu hóa đi đối với khu vực hóa; toàn cầu hóa đi với phản toàn cầu hóa, phát triển gắn liền với yếu tố phản phát triển.

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2018

Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay


Trong bối cảnh thế giới đang có những chuyển biến phức tạp, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết.
Về mặt lý luận, độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là hai mặt của mối quan hệ biện chứng tồn tại trong suốt thời kỳ quá độ ở nước ta. Độc lập, tự chủ là nền tảng bởi vì trong một thế giới còn chịu sự chi phối của kinh tế thị trường và nguyên tắc tư bản chủ nghĩa thì các quốc gia dân tộc vẫn là các chủ thể chính trong bảo vệ quyền và lợi ích của dân tộc trên trường quốc tế. Không có độc lập, tự chủ, quốc gia sẽ trở thành công cụ trong tay các quốc gia khác, hậu quả là dân tộc bị chèn ép, bóc lột, thua thiệt.
Trong mối quan hệ biện chứng này hội nhập quốc tế và độc lập, tự chủ có mặt thống nhất, đồng thời cũng có mặt mâu thuẫn lẫn nhau. Hội nhập quốc tế thống nhất với độc lập, tự chủ kinh tế trên góc độ “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Hội nhập quốc tế tạo nguồn lực và môi trường để tăng tiềm lực cho nền kinh tế độc lập tự chủ. Hơn nữa, hội nhập quốc tế là cách thức thực hiện độc lập tự chủ tốt nhất trong điều kiện toàn cầu hóa. Bởi vì trong một thế giới mà các nền kinh tế quốc gia phụ thuộc một cách khách quan và nhau, thì hội nhập tích cực và chủ động không những tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế quốc gia mà còn tạo cơ hội ảnh hưởng đến luật lệ ràng buộc giữa các nước.

Khi thế giới còn hội nhập với nhau bằng ngôn ngữ thị trường thì tiềm lực kinh tế quốc gia càng lớn, khả năng độc lập và tự chủ đưa ra được các quyết định hợp tình, hợp lý càng cao, càng giúp quốc gia đó có điều kiện hội nhập hiệu quả và có lợi hơn. Song hội nhập sẽ làm thay đổi nội hàm của độc lập và tự chủ theo hướng: trong hội nhập, các Nhà nước quốc gia dân tộc phải chuyển giao bớt quyền tự quyết của họ cho các định chế quản trị toàn cầu như WTO, IMF, WB... Nhiều quyết định của các Nhà nước quốc gia phải tuân thủ luật pháp và chuẩn mực quốc tế. Đó còn chưa kể các quốc gia siêu cường lợi dụng tiềm lực mọi mặt của họ để áp chế các nước yếu hơn. Muốn làm cho quyền tự chủ không bị suy giảm, quốc gia đó phải vươn lên thực hiện quyền tự chủ trong các quyết định quốc tế. Đó là tầm cao và vị thế mới của nền kinh tế độc lập, tự chủ trong tương lai của nước ta.

Thứ Ba, 26 tháng 12, 2017

SỰ TÁC ĐỘNG, ẢNH HƯỞNG CỦA XU THẾ TOÀN CẦU HÓA VÀ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐẾN GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay đã và đang làm cho thế giới có những biến đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội quốc tế. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nó tác động đến mọi đối tượng trong xã hội tuy mức độ khác nhau song xét về tổng thể thì giai cấp công chịu sự tác động mạnh mẽ nhất. Sự tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đến giai cấp công nhân nói chung thể hiện: làm cho khoa học và công nghệ phát triển nhanh và được áp dụng ngay vào trong sản xuất; sản phẩm làm ra mang hàm lượng trí tuệ cao; nền sản xuất hàng hóa mang tính toàn cầu. Đây là điểm mấu chốt làm cho giai cấp công nhân tăng cả về số lượng, chất lượng cũng như sự phân hóa cơ cấu trong chính ngay giai cấp công nhân. Tuy nhiên sự tác động đó không làm mất đi những đặc trưng, bản chất và vai trò sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân mà nó càng được tăng lên nếu như họ được giáo dục giác ngộ.
Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của công nhân thế giới, do vậy  nó cũng có đầy đủ những đặc trưng và phẩm chất của giai cấp công nhân quốc tế và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công công nhân nói chung. Tuy nhiên cùng với quá trình hội nhập khu vực và quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá đã tác động rất lớn đế giai cấp công nhân Việt Nam cả tích cực và tiêu cực.
Về mặt tích cực;
          Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong hội nhập khu vực quốc tế và xu thế toàn cầu hoá, làm cho giai cấp công nhân Việt Nam tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức.
Ý thức chính trị của giai cấp công nhân được nâng lên: có sự hiểu biết về vị trí, vai trò lịch sử đối với tiến trình phát triển xã hội; hiểu biết về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng cao; nhận thức đúng về các tổ chức trong hệ thống chính trị; về chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước; có ý thức pháp luật. Đồng thời đội ngũ công nhân hiện nay đã có thái độ đúng đắn với sự nghiệp CNH,HĐH đất nước; nhận thức về nhu cầu và lợi ích chính trị của mình. Các tổ chức của giai cấp công nhân hoạt động ngày càng đi vào nề nếp và đạt hiệu quả khá tốt.
Mặt hạn chế:
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa, giai cấp công nhân Việt Nam chịu ảnh hưởng và đang trong quá trình phát triển cho nên tính ổn định không cao. Tốc độ công nhân hóa lực lượng lao động xã hội, trí thức hóa đội ngũ công nhân rất chậm. Tỷ lệ công nhân lao động trong công nghiệp và xây dựng tăng chậm. Trong khi đó: lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp giảm thấp; tốc độ trí thức hóa công nhân chậm, trình độ học vấn, chuyên môn không đáp ứng yêu cầu sản xuất trong đây chuyền sản xuất kỹ thuật cao; công tác đào tạo công nhân có tay ngề vững còn nhiều bất cập, không đáp ứng yêu cầu công việc, thường phải đào tạo lại tại; một bộ phận không nhỏ công nhân không nhận thức rõ vai trò của giai cấp mình, thiếu tính tiền phong gương mẫu, nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình một cách chung chung, hiểu biết chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh hạn chế, ý thức tổ chức kỷ luật không cao.

Như vậy, sự tác động của quá trình hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hóa vừa tác động tích cực vừa ảnh hưởng tiêu cực đến mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội nói chung và đến giai cấp công nhân Việt Nam nói riêng.  Tuy nhiên để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế xã hội đất nước giai cấp công nhân Việt Nam vẫn là giai cấp lãnh đạo, giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội  là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp dưới sự  lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

TOÀN CẦU HÓA TẠO RA NHỮNG TIỀN ĐỀ MỚI CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Toàn cầu hóa, một mặt, tăng cường quyền lực của tư bản, mặt khác, làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản và chuẩn bị những tiền đề của chủ nghĩa xã hội ngay trong lòng chủ nghĩa tư bản. Những tiền đề đó là:
Thứ nhất, xu hướng thị trường xã hội ngày càng chiếm ưu thế. Để khắc phục những hậu quả của thị trường tự do, từ giữa thế kỷ XX một số nước tư bản đã thực hiện xây dựng thị trường xã hội. Lịch sử phát triển đã xác nhận, thị trường giữ một vai trò to lớn trong sự phát triển của xã hội, nhưng để thị trường phát huy tốt vai trò của mình thì cần đặt nó trong một khuôn khổ điều tiết nhất định. Nhà nước kiểm soát nền kinh tế thị trường bằng nhiều giải pháp như: tạo lập khung cho nền kinh tế; bảo đảm quyền tham quyết của người lao động; bảo đảm các nghĩa vụ xã hội trong thị trường và người tiêu dùng tác động trực tiếp vào quan hệ thị trường. Nói cách khác, nhà nước thực hiện điều tiết kinh tế thị trường bằng sức mạnh kinh tế, tạo ra sự kiểm soát xã hội đối với thị trường, làm giảm thiểu các tác động của khủng hoảng. Công cuộc cải cách, đổi mới của Trung Quốc và Việt Nam theo hướng xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa hay nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời gian qua là một đóng góp to lớn vào lý luận xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chung trên thế giới.
Hiện nay, trong các nước tư bản vẫn tồn tại hai xu hướng: thị trường tự do và thị trường xã hội, nhưng thị trường xã hội ngày càng chiếm ưu thế. Thị trường được kiểm soát, điều tiết bởi nhà nước, bảo đảm phúc lợi xã hội, do vậy, mặt trái của thị trường phần nào được hạn chế, an ninh xã hội được bảo đảm và phẩm giá con người được tôn trọng hơn. Nói một cách khác, chủ nghĩa nhân đạo đã được thực hiện ở một mức độ nào đó trong hiện thực.
Thứ hai, xu hướng kinh tế tri thức tạo tiền đề khắc phục tha hóa lao động. Quá trình toàn cầu hóa làm nảy sinh kinh tế tri thức - nền kinh tế mà mọi việc từ sản xuất, lưu thông, phân phối, đến tiêu thụ sản phẩm đều dựa trên cơ sở sử dụng tri thức và thông tin. Đó là nền kinh tế mà trong đó sản xuất, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, việc làm trong tất cả các ngành kinh tế. Đó là nền kinh tế mà nguồn lực chủ yếu nhất đối với hoạt động và phát triển là tri thức con người. Tri thức trở thành tư liệu sản xuất chủ yếu, người lao động là nguồn lực của tri thức, trí tuệ của họ chính là tư liệu sản xuất chủ yếu, không tách rời họ, thuộc về họ. Như vậy là, kinh tế tri thức đã tạo cho con người vừa là người lao động, vừa là người sở hữu tư liệu sản xuất của mình mà không ai có thể tước đoạt được. Chính nội dung này nói lên rằng, trong quá trình toàn cầu hóa, kinh tế tri thức tạo điều kiện và cho phép khắc phục được sự tha hóa lao động, phát triển tự do và toàn diện con người như mục tiêu của chủ nghĩa xã hội khoa học đã xác định.
Thứ ba, văn minh chính trị tạo ra tiền đề khắc phục tha hóa quyền lực. Các nhà lịch sử tư tưởng triết học, chính trị học từ thời cổ đại đến nay đã dày công phân tích và chứng minh: Quyền lực công là của xã hội, của mọi người. Khi xã hội phân chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp thì quyền lực ấy được tổ chức thành nhà nước và do giai cấp thống trị nắm giữ, nó ngày càng đứng trên và xa lạ với xã hội, đồng thời trở thành công cụ đàn áp nhân dân. Giai cấp thống trị dùng quyền lực ấy mưu lợi cho mình, còn nhân dân thì đấu tranh đòi giai cấp thống trị dùng quyền lực ấy vì lợi ích chung của xã hội. Thực chất đó là cuộc đấu tranh đòi dân chủ của nhân dân và kết quả đưa đến sự tiến hóa của các nền dân chủ, đưa đến văn minh chính trị. Nền văn minh chính trị đạt được trong xã hội hiện đại của quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra những tiền đề để khắc phục sự tha hóa quyền lực.

Toàn cầu hóa càng phát triển càng tạo điều kiện cho dân chủ hóa chính trị và càng tạo ra đầy đủ hơn những tiền đề để thực hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đồng thời đây cũng chính là những tiền đề để phong trào cộng sản và công nhân quốc tế xem xét, lựa chọn tiến tới con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội khoa học - một xã hội nhân đạo hoàn bị.