Nguồn lực lao động trẻ nông thôn là tổng hòa các yếu tố về số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ này, đang và sẽ tạo ra sức mạnh cho sự tiến bộ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay; là nguồn lực lao động quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, đồng thời cung cấp nguồn lao động cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung (cho khu vực công nghiệp, đô thị, xuất khẩu lao động,...); họ vừa là nguồn lực nội tại, cơ bản, lâu dài, quyết định sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, vừa là đối tượng mà chính quá trình này phải hướng vào phục vụ, trực tiếp ở nông thôn là người nông dân, nòng cốt là thế hệ trẻ. Trong xây dựng nông thôn mới, họ là chủ thể quan trọng, tích cực, sáng tạo và chủ động tham gia trực tiếp xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội nông thôn; có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến vào phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; với tư cách là lực lượng tiêu dùng đông đảo ở nông thôn là mục đích, động lực to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội; là chủ thể đổi mới và hoàn thiện các quá trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn; góp phần tích cực, sáng tạo trong việc xây dựng, gìn giữ đời sống văn hóa, xã hội và môi trường lành mạnh, đồng thời bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa tốt đẹp của dân tộc; là nhân tố góp phần quan trọng vào việc xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh, bảo vệ vững chắc quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội nông thôn. Tuy nhiên, lực lượng này chưa được khai thác và sử dụng một cách hiệu quả, làm lãng phí nguồn nhân lực, lãng phí tư liệu sản xuất giàu có và phong phú ở nông thôn.
Thứ Năm, 3 tháng 3, 2022
Thứ Ba, 5 tháng 10, 2021
"VÌ MỘT VIỆT NAM CHIẾN THẮNG DỊCH BỆNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊNH VƯỢNG"
Nhân Ngày Kỹ năng lao động
Việt Nam 4/10, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc có Thư kêu gọi đồng hành nâng tầm
kỹ năng lao động "Vì một Việt Nam chiến thắng dịch bệnh và phát triển thịnh
vượng".
Trong thư, Chủ tịch nước
nêu rõ: Lực lượng lao động có chất lượng, kỹ năng và hiệu quả cao là nguồn tài
nguyên vô giá, là nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia.
Ngay từ những ngày đầu độc
lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu tâm nhắc nhở chúng ta rằng “người Việt Nam phải
có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”, còn “cán
bộ chǎm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp”.
Ngày nay, xu thế toàn cầu
hóa, hội nhập quốc tế mạnh mẽ, và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ tư đang đặt ra yêu cầu cấp thiết cho nâng cao kỹ năng lao động. Vì lẽ đó, Tổ
chức Kỹ năng nghề thế giới đã khuyến nghị các quốc gia chú trọng phát triển kỹ
năng cho người lao động thông qua nhiều hình thức, thể hiện qua thông điệp “Kỹ
năng của chúng ta, tương lai của chúng ta” và “Kỹ năng lao động mang đến giá trị
đích thực”.
Chủ tịch nước khẳng định:
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chủ động ban hành nhiều chủ trương, chí́nh
sách để phát triển kỹ năng lao động. Và trên thực tiễn, lực lượng lao động có
kỹ năng, nhất là những người có tay nghề cao, đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự
phát triển kinh tế - xã hội.
Thay mặt lãnh đạo Đảng,
Nhà nước, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhiệt liệt biểu dương và tri ân những
đóng góp lớn lao của người lao động, các cơ quan, tổ chức, cộng đồng doanh
nghiệp đối với phát triển của đất nước.
Nhân Ngày Kỹ năng lao động
Việt Nam 4/10 năm nay, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc kêu gọi toàn thể người
lao động trong cả nước không ngừng học tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp,
liên tục sáng tạo để cải thiện năng suất và nâng cao hiệu quả lao động trong
công việc.
“Lúc này chúng ta còn cần
nỗ lực hơn nữa để cùng chung tay vượt qua đại dịch COVID-19. Tôi cũng đề nghị
Quốc hội, Chính phủ, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội cùng các các bộ,
ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan ưu tiên nguồn lực, cơ
chế chính sách và hành động quyết liệt để đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực
có kỹ năng, tay nghề cao, phổ cập nghề cho thanh niên.
Tôi cũng mong rằng cộng đồng
doanh nghiệp và người sử dụng lao động tiếp tục tham gia tích cực vào sự nghiệp
hỗ trợ đào tạo nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động, đặc biệt là đối với
người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, để vững bước tiến vào tương lai.
Tôi có một niềm tin chắc
chắn rằng người lao động Việt Nam luôn phát huy tối đa phẩm chất và năng lực
của mình để vươn lên trong học tập, lao động và sản xuất, góp phần đưa nước ta
sớm chiến thắng dịch bệnh và thúc đẩy phát triển bền vững, thịnh vượng trong
giai đoạn tới”.
Chủ tịch nước trân trọng gửi tới toàn thể người lao động và các cơ quan, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp trong cả nước lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc tốt đẹp nhất.
Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021
TẤM GƯƠNG TỰ HỌC CỦA BÁC HỒ
Lao động vất vả nhưng
khát vọng học tập luôn cháy bỏng trong Nguyễn Tất Thành. Cùng với bức thư gửi
cho cha, anh còn gửi một bức thư cho anh trai Nguyễn Sinh Khiêm (thời kỳ này
đang giúp việc vặt ở Toà Khâm sứ Trung Kỳ), nhờ xin cho vào học Trường Thuộc địa
tại Pari. Nhưng kết quả không khả quan hơn, vẫn với sự kỳ thị, toàn quyền trả lời:
“…ông chủ sự giáo dục Trung Kỳ, được hỏi ý kiến đã cho biết người thanh niên
này đã bắt đầu học Trường Quốc học Huế, nay qua làm bồi ở Pháp, có thể tiếp tục
học ở một trường tại thuộc địa trước khi có tham vọng trở thành sinh viên ở
Pháp”.
Đầu năm 1913, Nguyễn Tất
Thành theo tàu rời Mỹ trở về Pháp, sau đó sang Anh. Đến nước Anh, lên bờ, làm
gì để sinh sống là một câu hỏi quá khó khăn giữa thủ đô London hoa lệ. Nguyễn Tất
Thành nhận cào tuyết cho một trường học. Công việc quá vất vả mệt nhọc, anh
đành phải bỏ việc. Anh tìm được một việc khác là đốt lò. Từ 5 giờ sáng, anh đã
phải chui xuống hầm để nhóm lửa, suốt ngày đổ than, thay than trong lò, sống
trong cảnh tranh tối tranh sáng, ngột ngạt đáng sợ.
Nhưng cũng ngay từ những
ngày đầu tiên đến nước Anh, Nguyễn Tất Thành bắt tay ngay vào việc học ngoại ngữ.
Hằng ngày, sáng sớm và buổi chiều, trước và sau giờ lao động để kiếm tiền sống,
anh miệt mài tự học. Hằng tuần, vào ngày nghỉ, anh học tiếng Anh với một giáo
sư người Ý.
Giữa năm ấy, từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh ở Pháp. Bức thư cho thấy anh rất quyết tâm học ngoại ngữ: "Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và tháng ngày luống những chỉ lo làm việc khỏi đói, chớ chẳng học được bao nhiêu. Và cháu ước ao rằng bốn, năm tháng nữa, lúc gặp bác thì sẽ nói và hiểu được tiếng Anh nhiều nhiều…”.
Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền
kinh tế nước ta, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu.
Đối với yếu tố cầu, dịch bệnh COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn
cách xã hội cần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020, của
Thủ tướng Chính phủ, “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống
dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh. Do ảnh hưởng đại dịch COVID-19, cầu của nền kinh tế
(tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu) bị sụt giảm, từ đó làm suy giảm hoạt động sản
xuất và tăng trưởng của nền kinh tế. Các biện pháp của Chính phủ đang triển
khai hiện nay chủ yếu hướng tới kích thích tổng cầu và phục hồi sản xuất.
Đối với yếu tố cung, đại dịch COVID-19 làm đứt gãy
chuỗi cung ứng đầu vào và lao động. Chẳng hạn, trong ngành công nghiệp ô-tô, do
linh kiện đầu vào khan hiếm cùng với thực hiện giãn cách xã hội nên các doanh
nghiệp sản xuất ô-tô trong nước như Honda, Nissan, Toyota, Ford, Hyundai… phải
tuyên bố tạm dừng sản xuất, chỉ đến khi thời kỳ giãn cách xã hội kết thúc và
chuỗi cung ứng được kết nối trở lại, các doanh nghiệp sản xuất ô-tô mới quay
trở lại hoạt động.
Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên
gia người nước ngoài và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ
COVID-19 khi nguồn cung lao động bị thiếu. Chi phí sử dụng lao động trong thời
kỳ này cũng cao hơn khi các doanh nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát
khuẩn, thực hiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm
vi-rút.
Ở góc độ xã hội, COVID-19 tác động làm tăng tỷ lệ
nghèo và cận nghèo về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia
đình và người lao động. Theo kết quả khảo sát của UNDP và UN WOMEN (2020),
“trong tháng 12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo là 11,3%. Tỷ lệ này tăng lên
tới 50,7% trong tháng 4-2020. Tỷ lệ hộ cận nghèo tăng từ 3,8% vào tháng 12-2019
lên 6,5% vào tháng 4-2020”. Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân
tộc thiểu số và hộ gia đình có lao động phi chính thức và gia đình những người
nhập cư chịu tác động từ dịch bệnh lớn hơn. Cũng theo kết quả điều tra của UNDP
và UN WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của các hộ gia đình dân tộc thiểu số
trong tháng 4 và tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng 25,0% và 35,7% so với mức
tháng 12-2019. Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần lượt ước tính khoảng
30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinh và người Hoa. Trong tháng 4 và
tháng 5-2020, thu nhập trung bình của hộ di cư được ước tính chỉ tương đương
25,1% và 43,2% so với mức của tháng 12-2019. Những con số này lần lượt là 30,8%
và 52,5% đối với nhóm hộ gia đình không di cư”.
Đại dịch COVID-19 đang tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại, lao động, việc làm và thu nhập của người lao động. Trước cú sốc này, Đảng, Nhà nước ta đã cùng với toàn dân nỗ lực thực hiện mục tiêu kép, trong đó tập trung cao độ để phòng chống dịch Covid- 19, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân.
Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2021
CHỦ BÚT LÀM CẢ PHÁT HÀNH VÀ ... QUẢNG CÁO
Mặc dù nhiều
khó khăn chồng chất, bị theo dõi gắt gao, thiếu thốn về vật chất và vấn đề sức
khỏe, nhưng Nguyễn Ái Quốc dùng hầu hết số tiền kiếm được để mua các tờ báo
cánh tả, đặc biệt là báo “Nhân đạo” (L'humanité). Anh vẫn hăng say nghiên cứu,
học tập, viết được hơn 30 bài đăng các báo tiến bộ Pháp: La Vie Ouvriere (Đời sống
thợ thuyền); L'humanité (Nhân đạo); Le Populaire (Dân chúng)...
Do sớm nhận rõ
vai trò của báo chí nên ngày 19-1-1922, Nguyễn Ái Quốc cùng với Ban thường vụ Hội
Liên hiệp thuộc địa đã họp, quyết định thành lập cơ quan ngôn luận của Hội, lấy
tên tờ báo là “Người cùng khổ” (Le Paria). Nguyễn Ái Quốc tổ chức kiêm chủ bút
và đóng góp rất nhiều cho hoạt động của tờ báo, có số Nguyễn Ái Quốc viết đến
hai, ba bài. Nhiều số báo anh còn vẽ tranh châm biếm. Tổng cộng, Nguyễn Ái Quốc
đã viết 40 bài báo, chiếm hơn 60% tổng số bài đăng trên tờ báo duy nhất trong lịch
sử báo chí thế giới, với tư cách là diễn đàn của các dân tộc thuộc địa.
Lúc đó, ở Đông
Dương, bọn thực dân đưa ra quy định ai đọc tờ báo “Người cùng khổ” đều bị bắt.
Các hiệu sách, báo lẻ nói chung không muốn nhận tờ báo này. Có lúc quỹ của báo
không còn đồng nào, thậm chí có lúc còn nợ nhà in 150 francs... Riêng Nguyễn Ái
Quốc ủng hộ rất đều cho báo mỗi tháng 25 francs. Người nói: Chúng ta phải bằng
bất cứ giá nào làm cho tờ báo sống. Dù chính quyền Pháp ngăn cản, nhưng Nguyễn
Ái Quốc đã có nhiều hoạt động sáng tạo để bảo đảm kinh phí và duy trì hoạt động
của tờ báo. Người tham gia bán báo và dùng chính nghề ảnh của mình để...bán
báo. Nguyễn Ái Quốc tặng cho mỗi độc giả nào vận động được 25 người mua báo
"Người cùng khổ" dài hạn một tấm ảnh phóng cỡ 30x40cm rất nghệ thuật.
Người còn ra sức vận động đồng bào mình sinh sống trên đất Pháp dù nghèo túng
cũng hết sức dành dụm tiền ủng hộ tờ báo. Nhờ đó, báo nhận được nhiều tên người
Việt Nam ủng hộ, mỗi người một ít nhưng cộng lại là một số tiền khá lớn!
Nguyễn Ái Quốc
cùng với những người trong Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa thành lập Hợp
tác xã và Điều lệ để gây vốn làm báo. Cuộc họp đã thông qua Điều lệ của Hợp tác
xã do Nguyễn Ái Quốc trình bày. Điều lệ gồm 25 điều khoản xác định Hội Hợp tác
là một hội kinh doanh sản xuất, mỗi cổ phần đóng 100 francs làm vốn, 15.000
francs để ra tờ báo Le Paria. Hợp tác xã kêu gọi mọi người tham gia góp vốn để
làm báo, coi như một hình thức kinh doanh cổ phần và nếu có lợi thì những người
đóng góp sẽ được hưởng 30%.
Theo báo cáo của
mật thám Pháp ở Paris ngày 14-6-1923 thì năm 1923, báo "Người cùng khổ"
xuất bản mỗi số 2000 bản, trong đó 1000 bản gửi đi các nước thuộc địa châu Phi
và Đông Dương. Với khoảng thời gian từ tháng 4-1922 đến tháng 6-1926, tờ báo
"Người cùng khổ" phát hành được 38 số. Tại Việt Nam, các thủy thủ yêu
nước đã bí mật đem báo "Người cùng khổ" từ Paris về các cảng Sài Gòn,
Hải Phòng đưa cho các cơ sở rồi từ đó phân phát đi bằng cách truyền tay nhau đến
các thanh niên trí thức yêu nước ở các thành phố, học sinh, sinh viên. Những
bài hay, nhất là những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc thường được họ chép lại, làm
tài liệu để đọc đi đọc lại nhiều lần và phổ biến cho bạn bè, vì số lượng báo
đưa về không nhiều, không thể đến khắp các nơi cần có.
NGÔI NHÀ "BỐN KHÔNG" TRONG NGÕ HẺM
Vào tháng
7-1921, Nguyễn Ái Quốc chuyển đến ở nhà số 9, ngõ Compoint thuộc Quận 17, Pháp.
Đây là nơi Nguyễn Ái Quốc ở đến hai năm, từ tháng 7-1921 đến tháng 6-1923.
Sau này, vào
năm 1968, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Bộ trưởng Xuân
Thuỷ làm Trưởng đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ làm cố vấn đặc biệt lên đường sang
Pháp tham dự Hội nghị Paris về Việt Nam đã đến thăm căn phòng mà Người đã từng ở
này.
Khi nhìn thấy
căn phòng và những vật dụng sinh hoạt của Bác quá đơn sơ, nghèo nàn, tất cả anh
chị em trong Đoàn đều vô cùng xúc động; bước vào phòng, một gian buồng hẹp khoảng
9m2, nhìn về phía tay trái có một la-va-bô treo trên tường cùng một vòi nước nhỏ,
ngay cạnh đó là một tủ quần áo làm bằng gỗ tạp. Sát tường bên trái là chiếc giường
sắt đơn, đầu giường có một cái tủ con để sách vở và vài đồ lặt vặt. Phía trên
có một ngọn đèn nhỏ vừa đủ để thắp sáng gian buồng. Sau khi ra về, đồng chí
Xuân Thuỷ đã xúc động viết :
“Ngày nào lạnh
lẽo phố Công - poanh (Compoint)
Ngõ nhỏ buồng
con, Bác một mình
Cuộc sống đi về
coi chật hẹp
Mà lòng “Ái Quốc”
rộng mông mênh”.
Trong cuốn sách
Thời thanh niên của Bác Hồ, tác giả Hồng Hà kể: Bà Giamô, chủ nhà, cho anh Nguyễn
thuê gian buồng mỗi bề khoảng ba mét, không bếp, không nước, không điện, không
lò sưởi, gió thổi lùa qua khe cửa… Buồng anh chỉ đủ kê một cái giường sắt, một
cái bàn con…. Trên bàn có một cái thau, trong thau có một bình đựng nước để rửa
mặt. Khi anh viết hoặc đọc sách thì anh đưa thau và bình nước xuống gầm giường…
Một người bạn Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng kể lại: “Tôi là Giăng Pho
(Jean Feur), thợ điện, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Tôi quen biết đồng chí
Nguyễn Ái Quốc từ năm 1920-1921, vì hồi đó chúng tôi cùng trọ một nhà, ở ngõ hẻm
Compoint. Đó là khu công nhân nghèo, mà ngõ hẻm lại là nghèo nhất ở khu nghèo
này. Gọi là ngõ hẻm, vì nó chỉ có đường vào, không có đường ra. Cả “phố”chỉ vẻn
vẹn có 4 cái nhà lụp xụp, 3 nhà cho thuê để gửi xe. Một nhà tầng dưới là một
quán cà phê nhỏ, tầng trên có hai buồng. Tôi và anh Nguyễn trọ… Mùa đông giá lạnh,
không đủ chăn đắp, trước khi đi làm, anh đặt nhờ một viên gạch trên bếp bà chủ
nhà; tối về, anh gói viên gạch vào một tờ báo, rồi đút vào giường cho đỡ rét”.
Hình ảnh viên gạch
đã đi vào hình tượng thơ của nhà thơ Chế Lan Viên trong bài “Người đi tìm hình
của nước”:
“Có nhớ chăng,
hỡi gió rét thành Ba Lê
Một viên gạch hồng,
Bác chống lại cả một mùa băng giá”.
Chuyện viên gạch
hồng hoàn toàn đúng thực tế thời đó. Ông Tổng Lãnh sự Pháp - người tặng viên gạch
lưu niệm của gia đình cho Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TP Hồ Chí Minh kể:
"Nước Pháp vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 vẫn còn nghèo. Ngay tại thủ
đô Paris vẫn còn nhiều vùng chưa có điện. Để chống lại giá rét mùa đông, người
ta sản xuất ra một loại gạch sưởi, bên trong được cấu tạo thành nhiều ngăn, nhiều
lớp để tích tụ nhiệt. Ban ngày trước khi đi làm, người ta đặt viên gạch vào cạnh
lò sưởi; khi đi ngủ người ta đặt viên gạch dưới giường nằm cho ấm. Viên gạch
này là kỷ vật của bà ngoại ông Jean François Parot. Bà đã giữ lại suốt hơn nửa
thế kỷ như kỷ niệm về một thời nghèo khó..."
Về sinh hoạt hằng
ngày, cuốn Đường Bác Hồ đi cứu nước ghi: Mỗi buổi mai, Người nấu cơm trong một
cái xanh nhỏ bằng sắt tây đặt trên ngọn đèn dầu. Với một con cá mắm hoặc một tí
thịt. Người ăn một nửa và để dành một nửa đến chiều. Có khi một miếng bánh mì với
một miếng phomát là đủ ăn cả ngày.
Lúc này, Nguyễn
Ái Quốc đang làm thợ sửa ảnh tại tiệm ảnh của ông Lainé nằm cùng ngõ ở số 7 với
số tiền công là 40 francs mỗi tuần. Phần lớn số tiền kiếm được, Người dùng để đặt
báo và mua sách.
Thiếu khổ đủ bề
nhưng “điều cần nhất” đã được Người nói lên ngay sau lời ngọt nhạt lôi kéo của
toàn quyền Pháp: “Cảm ơn Ngài! Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được
tự do, Tổ quốc tôi được độc lập…
NGƯỜI KHÔNG ĐỦ TIỀN ĂN NHỮNG MÓN CỦA DÂN NGHÈO PARIS
Anh sống rất cực
khổ. Để kiếm tiền, anh làm nghề rửa ảnh và phóng đại ảnh. Chính cụ Phan Chu
Trinh đã dạy Nguyễn Tất Thành nghề này. Ngoài ra, anh còn làm cả nghề sơn vẽ đồ
cổ - những đồ rất được chuộng bởi những bà quý tộc già, những người trọc phú.
Thế nhưng, không may đây chỉ là một công việc theo mùa, mỗi năm chỉ làm vài
tháng.
Gần như suốt thời
gian ở Pháp, Người làm việc quên ăn, quên ngủ. Trong suốt 5 năm trời, hồ sơ mật
thám ghi lại, chỉ có duy nhất một lần Người đến quán rượu vì công việc, nhưng
chỉ một tiếng sau đã rời đi.
Một tài liệu
ghi: “Ngày 8 tháng 1 năm 1923: Nguyễn Ái Quốc đến gặp Phan Văn Trường tại một
quán rượu trong ngõ Compoint từ 16 giờ đến 17 giờ. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã
lên án Chính phủ Poăngcarê (Poincaré) chiếm cứ vùng Rua (Rhur), một việc làm mà
“nhân dân vô sản trên thế giới không cho phép”.
Và cũng chỉ duy
nhất một lần mật thám ghi được, Người đến chợ để lo cho bữa tối: “Tháng 9, ngày
21, năm 1920: Hồi 17 giờ, Nguyễn Ái Quốc đi chợ quán Vingram. 17 giờ 30, về đến
nhà”.
Cuốn sách “Chủ
tịch Hồ Chí Minh ở Pháp” viết: “Với tiền thu nhập ít ỏi, qua nhiều báo cáo theo
dõi của mật thám, đồng chí Nguyễn Ái Quốc lúc đó sống thiếu thốn, ăn uống qua
loa cho qua ngày, thậm chí không đủ tiền ăn những món thông thường của người
dân bình thường ở thành phố Paris.”
Ăn uống qua
loa, làm việc cật lực, Nguyễn Ái Quốc nhiều lần bị ốm. Tháng 3 năm 1921, Người
phải mất hơn hai tháng nằm điều trị vì bị áp xe vai.
Đời sống của
Người mỗi ngày một khó khăn vì việc làm không ổn định mà giá sinh hoạt mỗi ngày
một đắt đỏ. Người còn bị mật thám theo dõi sát sao, chúng thậm chí còn đe dọa
chủ thuê, khiến Người mất việc. Báo cáo của tên mật thám ký là Devèze ngày
29-7-1921 cho thấy: Vì trình độ kỹ thuật thấp nên mỗi tuần hãng Lainé ở số 7,
ngõ Compoint chỉ trả cho Nguyễn Ái Quốc có 40 franc, coi như thợ học việc. Từ
ngày 6-11-1921, Nguyễn Ái Quốc nghỉ việc ở hãng này, vì nghi bị ho lao”.
Theo báo cáo mật
của Cục An ninh quốc gia Pháp số 420 SR ngày 19-9-1922, “Nguyễn Ái Quốc lại
thôi không làm thuê về nghề ảnh cho hãng Lainé nữa. Hàng quạt và chao đèn vẽ bằng
sơn dầu rất khó bán. Có lẽ hãng Lainé không dám thuê Nguyễn Ái Quốc làm, vì anh
đã bị mật thám theo dõi chặt chẽ từng ngày và mật thám Pháp cũng làm khó dễ cho
chủ hãng, đe dọa chủ hãng”.
Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021
BÓNG TỐI DƯỚI CHÂN TƯỢNG NỮ THẦN TỰ DO
Cuối năm 1912, Nguyễn Tất
Thành theo con tàu đến Mỹ. Điện tín của Chánh mật thám Sài Gòn sau này ghi lại:
Ngày 15-12-1912, từ New York, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ
cho biết tình hình và địa chỉ của cha. Thư cho biết, anh đã gửi cho cha mình ba
ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một lần trả lời.
Thời gian ở Mỹ, Người
dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho
học tập, nghiên cứu. Nữ tác giả Josephine Stenson, một nhà sử học người Mỹ đã tự
bỏ tiền túi ra để đi khắp những nơi mà Bác Hồ đặt chân tìm hiểu, sau này đã
phát biểu sâu sắc về Bác Hồ tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ
tịch Hồ Chí Minh (1890-1990) ở Hà Nội.
Bà viết: “…Tôi nghĩ ngay
đến Tượng thần Tự do ở quê hương tôi. Tôi là nhà sử học, tôi đã lật ra xem những
trang ghi cảm tưởng của mọi chính khách khi họ đến tham quan và chiêm ngưỡng Tượng
thần Tự do và ca ngợi thần Tự do, Nguyễn Tất Thành khi đến New York cũng đã đến
chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và mọi chính khách, sau khi đã đến tham quan thần
Tự do đều ghi cảm tưởng bằng những lời ca ngợi Ngôi sao tỏa sáng trên vòng Nguyệt
quế là ánh sáng tự do... Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem thần Tự Do nhưng
nhìn xuống dưới chân tượng và ghi “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp
trời xanh, còn dưới chân Tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao
giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa
các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”. Duy nhất chỉ
có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân Tượng thần Tự do và ghi lại những ý kiến
trên. Nguyễn Tất Thành nhìn số phận con người chứ không chiêm ngưỡng hào quang
tỏa sáng từ bức Tượng thần Tự do".
Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020
QUỐC HỘI BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT LÀ ĐÚNG ĐẮN, CẦN THIẾT
Như vậy, Quân đội ta tham gia lao động sản xuất, xây dựng
kinh tế là cần thiết, đúng chủ trương của Đảng, phù hợp với thực tiễn, phù hợp
yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đất đai giao cho quân đội quản lý, vừa phục
vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, vừa là tư liệu sản xuất thiết yếu, là cơ sở
quan trọng để quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc
phòng. Các đơn vị quân đội cần sử dụng đất để trồng trọt, chăn nuôi, tăng gia sản
xuất. Các doanh nghiệp quân đội, các đoàn kinh tế-quốc phòng cần đất để đặt trụ
sở hoạt động; xây dựng nhà máy, kho xưởng phục vụ hoạt động sản xuất, kinh
doanh; xây dựng nông, lâm, ngư trường... Do vậy, việc Quốc hội ban hành Nghị
quyết về thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản
lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất,
xây dựng kinh tế là hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng, phù hợp với thực
tiễn và cần thiết.
Trái với luận điệu xuyên tạc của những kẻ chống phá, rằng
quân đội chỉ muốn “giữ đất”, không chịu giao đất phục vụ phát triển kinh tế-xã
hội ở địa phương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã nhiều lần khẳng định: Bộ Quốc phòng
sẵn sàng chuyển giao đất cho địa phương quản lý nếu vị trí đất đó không thực sự
cần thiết cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Thực tế, quân đội đã bàn giao hàng
chục nghìn héc-ta đất, trong đó có nhiều vị trí đất “vàng” cho địa phương quản
lý, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Tuy nhiên, những diện tích
đất có vị trí quan trọng phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng thì không thể
giao lại cho địa phương, vì khi phát sinh tình huống sẽ rất khó thu hồi kịp thời
để thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Trong điều kiện bình thường, khi
chưa phát sinh tình huống quân sự, quốc phòng, những diện tích đất ấy được dùng
cho lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, góp phần tăng tiềm lực quân sự, quốc
phòng. Khi phát sinh tình huống, diện tích đó được sử dụng ngay cho nhiệm vụ
quân sự, quốc phòng. Thực hiện như vậy cũng sẽ tránh diện tích đất quốc phòng bị
lấn chiếm như thực tế đã xảy ra ở một số nơi, sau đó việc thu hồi đất bị lấn
chiếm rất gian nan, phức tạp.
Việc sử dụng đất quốc phòng vào hoạt động kết hợp kinh
tế với quốc phòng là đúng chủ trương của Đảng, có tính lịch sử, kế thừa, gắn liền
với quá trình xây dựng, phát triển quân đội qua nhiều thời kỳ. Dù trong thời kỳ
nào, Bộ Quốc phòng luôn quán triệt và yêu cầu khi sử dụng đất quốc phòng vào hoạt
động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế phải tuân thủ nguyên tắc kết hợp chặt
chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, phù hợp với quy hoạch, phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ của quân đội; bảo đảm nguyên tắc ưu tiên hàng đầu cho nhiệm vụ sẵn
sàng chiến đấu và dự trữ lâu dài nguồn đất đai phục vụ nhiệm vụ quốc phòng-an
ninh, để kịp thời sử dụng khi có tình huống xảy ra. Do đó, luận điệu xuyên tạc
rằng quân đội giữ đất là vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm là hoàn toàn sai trái,
cần phải được nhận diện để phản bác.
Có thể thấy, việc Luật Biên phòng Việt Nam; Nghị quyết
về tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; Nghị quyết về
thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng
đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh
tế, đều được Quốc hội thông qua với tỷ lệ tán thành rất cao, trong đó có nghị
quyết đạt tỷ lệ tán thành 100% số đại biểu tham gia biểu quyết, chứng tỏ việc
chuẩn bị các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới quốc phòng được chuẩn bị
kỹ lưỡng, khoa học và toàn diện, hợp hiến, hợp lý và hợp lòng dân. Kết quả nói
trên cũng cho thấy sự đồng tình, ủng hộ của đại biểu Quốc hội và nhân dân đối với
các vấn đề quốc phòng. Đó là cơ sở quý báu để tiếp tục nâng cao sức mạnh của
nền quốc phòng toàn dân, vì mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2020
CHỨC NĂNG THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT ĐƯỢC KHẲNG ĐỊNH TRONG THỰC TIỄN XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU, TRƯỞNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI
Hơn 75 năm qua cho thấy, trong bất cứ điều kiện nào,
dù khó khăn đến đâu, Quân đội ta cũng vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất,
tham gia xây dựng kinh tế bằng những hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp, hiệu
quả. Trong kháng chiến chống Pháp, với vô vàn khó khăn chồng chất, trước hết là
ăn, mặc, tiếp đến là trang bị vũ khí…, nếu không có các đơn vị quân đội tham
gia lao động sản xuất, chế tạo vũ khí, khí tài, đạn dược…, liệu Quân đội có thể
hoàn thành được nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó! Trong chiến
tranh chống Mỹ, cứu nước, hậu phương lớn miền Bắc vừa tiến hành công cuộc cải tạo,
phục hồi kinh tế từ một nước sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu trong điều kiện
chiến tranh, vừa chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, nếu các
đơn vị quân đội không tham gia lao động sản xuất, không có các căn cứ hậu cần tại
chỗ trên chiến trường miền Nam, nhất là ở các địa bàn chiến lược như: khu 5,
Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ,... đặc biệt là Bộ đội Trường Sơn, Quân chủng
Hải quân để xẻ núi, bạt đèo, xây dựng hàng chục ngàn cây số đường bộ, đường
sông, đường ống, đường biển, mở các tuyến vận tải chiến lược chi viện cho chiến
trường miền Nam và nước bạn Lào, Cam-pu-chia, liệu có thể có Chiến thắng của
ngày 30 tháng 4 lịch sử!
Sau ngày 30 tháng 4, đất nước hoàn toàn thống nhất
cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước
ra sức hô hào, cổ súy, viện trợ tiền của, vũ khí cho bọn ngụy quân, ngụy quyền,
bọn Fulro tăng cường hoạt động chống phá, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng. Một
lần nữa, Quân đội lại tiên phong trên các mặt trận, vừa phải làm tròn chức năng
là đội quân chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng, vừa là đội quân xung kích vào
những nơi khó khăn, nguy hiểm nhất, cùng cả nước xây dựng kinh tế, hàn gắn vết
thương chiến tranh. Đồng thời, kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng thế trận
quốc phòng toàn dân; giữa xây dựng thế trận quốc phòng với phát triển kinh tế,
góp phần cùng cả nước từng bước vượt qua khó khăn, thách thức để bước vào hội
nhập và giao lưu quốc tế với uy tín và vị thế mới.
Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong thời kỳ mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, cụ thể hóa
đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo các
đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế; trọng tâm là
Nghị quyết 71/ĐUQSTW, ngày 25-4-2002 “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của
Quân đội trong thời kỳ mới - Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
doanh nghiệp quân đội”; Nghị quyết 520-NQ/QUTW, ngày 25-9-2012 về “Lãnh đạo nhiệm
vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”;
Thông tư 69/2017/TT-BQP ngày 03-4-2017 của Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế quản
lý hoạt động sản xuất, kinh doanh kinh tế của Quân đội. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ
sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, có bước
phát triển toàn diện, đạt kết quả quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc
phòng, an ninh.
Quán triệt quan điểm đó, các đơn vị quân đội đã phát
huy vai trò nòng cốt trong xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng thực sự là
nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách
dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế, xã hội ở từng địa phương, vùng, miền gắn
với tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước; tham gia có hiệu quả xây dựng,
phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến
lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng căn cứ cách mạng, đẩy lùi
các hủ tục; xây dựng làng, bản văn hóa; cùng đồng bào các dân tộc xây dựng vành
đai biên giới, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Những việc làm đó góp phần
bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, dân tộc, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”.
Như vậy, lao động sản xuất là một nhiệm vụ chính trị xuyên suốt của Quân đội ta, một giá trị cốt lõi làm nên nhân cách, phẩm giá “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì thế, những luận điệu xuyên tạc của tổ chức, cá nhân thời gian qua dù vô tình hay cố ý là không thể chấp nhận và đáng bị lên án.
QUÂN ĐỘI THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT LÀ MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG ĐÃ ĐƯỢC HIẾN ĐỊNH
Điều 68 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam (sửa đổi năm 2013) ghi rõ: “... kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế,
kinh tế với quốc phòng, an ninh...”. Điều đó cho thấy, việc kết hợp chặt chẽ giữa
kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là quan điểm nhất quán của Đảng,
Nhà nước ta. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là của toàn dân, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc
là ở nơi dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Tham gia lao động
sản xuất, phát triển kinh tế của Quân đội cũng chính hướng tới mục tiêu đó.
Tuy nhiên, để hiểu tường tận vai trò, chức năng tham
gia xây dựng kinh tế của Quân đội, cần có một cách nhìn khách quan, khoa học về
vấn đề này. Trước hết, thuật ngữ “quân đội làm kinh tế” phải được hiểu dưới góc
độ tham gia lao động sản xuất, xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội; không được
hiểu với nghĩa kinh tế đơn thuần, dù doanh nghiệp đó sản xuất trong bất cứ lĩnh
vực nào. Nhận thức sai lầm, ngộ nhận dù vô tình hay cố ý đối với thuật ngữ này
chính là một sự đánh tráo khái niệm, nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Quân đội,
gây sự hiểu nhầm trong xã hội, chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ
Quân đội; giữa Quân đội và nhân dân.
Hơn nữa, mục tiêu tham gia lao động sản xuất, xây dựng phát triển kinh tế của Quân đội là: gia tăng sức mạnh của Quân đội và sức mạnh tổng hợp của quốc gia; góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trong đó có kinh tế quốc phòng; tận dụng tiềm lực, tiềm năng của đất nước về mọi mặt; từng bước nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khó khăn lại được tiến hành ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, nếu không có các đơn vị quân đội, các doanh nghiệp ngoài Quân đội khó có thể tiếp cận được. Ở khía cạnh này ta thấy, ngay từ đầu, vấn đề giữa lợi nhuận và sự toàn vẹn của lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân tộc đã được các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất trả lời một cách dứt khoát. Với thế mạnh của mình và về nguồn nhân lực, vật tư, trang thiết bị, Quân đội tham gia sẽ phải gánh vác những nhiệm vụ chính trị xã hội mà các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước cũng khó có thể đảm đương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, những nơi đời sống của nhân dân còn hết sức thiếu thốn, lạc hậu. Rõ ràng, tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội là một mệnh lệnh, một nhiệm vụ chính trị của Quân đội. Không chỉ tham gia lao động sản xuất đơn thuần, mà các đơn vị quân đội còn có thế mạnh là sử dụng nguồn lực có chất lượng của mình để tổ chức các lớp học văn hóa, giúp nhân dân nâng cao dân trí, xây dựng kết cấu hạ tầng, như: điện, đường, trường, trạm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, v.v. Có thể nói, những đóng góp của cán bộ, chiến sĩ các đoàn kinh tế - quốc phòng trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, kết hợp giữa phát triển kinh tế, xã hội với thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; giữa quân sự, quốc phòng với phát triển kinh tế, xã hội thời gian qua là rất lớn và không thể phủ nhận.