Hiển thị các bài đăng có nhãn lao động. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lao động. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2022

NGUỒN LỰC LAO ĐỘNG TRẺ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở NƯỚC TA

Nguồn lực lao động trẻ nông thôn là tổng hòa các yếu tố về số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ này, đang và sẽ tạo ra sức mạnh cho sự tiến bộ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay; là nguồn lực lao động quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, đồng thời cung cấp nguồn lao động cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung (cho khu vực công nghiệp, đô thị, xuất khẩu lao động,...); họ vừa là nguồn lực nội tại, cơ bản, lâu dài, quyết định sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, vừa là đối tượng mà chính quá trình này phải hướng vào phục vụ, trực tiếp ở nông thôn là người nông dân, nòng cốt là thế hệ trẻ. Trong xây dựng nông thôn mới, họ là chủ thể quan trọng, tích cực, sáng tạo và chủ động tham gia trực tiếp xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội nông thôn; có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ứng dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến vào phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; với tư cách là lực lượng tiêu dùng đông đảo ở nông thôn là mục đích, động lực to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội; là chủ thể đổi mới và hoàn thiện các quá trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn; góp phần tích cực, sáng tạo trong việc xây dựng, gìn giữ đời sống văn hóa, xã hội và môi trường lành mạnh, đồng thời bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa tốt đẹp của dân tộc; là nhân tố góp phần quan trọng vào việc xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh, bảo vệ vững chắc quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội nông thôn. Tuy nhiên, lực lượng này chưa được khai thác và sử dụng một cách hiệu quả, làm lãng phí nguồn nhân lực, lãng phí tư liệu sản xuất giàu có và phong phú ở nông thôn.

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2021

"VÌ MỘT VIỆT NAM CHIẾN THẮNG DỊCH BỆNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊNH VƯỢNG"

Nhân Ngày Kỹ năng lao động Việt Nam 4/10, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc có Thư kêu gọi đồng hành nâng tầm kỹ năng lao động "Vì một Việt Nam chiến thắng dịch bệnh và phát triển thịnh vượng".

Trong thư, Chủ tịch nước nêu rõ: Lực lượng lao động có chất lượng, kỹ năng và hiệu quả cao là nguồn tài nguyên vô giá, là nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia.

Ngay từ những ngày đầu độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu tâm nhắc nhở chúng ta rằng “người Việt Nam phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”, còn “cán bộ chǎm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp”.

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế mạnh mẽ, và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đặt ra yêu cầu cấp thiết cho nâng cao kỹ năng lao động. Vì lẽ đó, Tổ chức Kỹ năng nghề thế giới đã khuyến nghị các quốc gia chú trọng phát triển kỹ năng cho người lao động thông qua nhiều hình thức, thể hiện qua thông điệp “Kỹ năng của chúng ta, tương lai của chúng ta” và “Kỹ năng lao động mang đến giá trị đích thực”.

Chủ tịch nước khẳng định: Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chủ động ban hành nhiều chủ trương, chí́nh sách để phát triển kỹ năng lao động. Và trên thực tiễn, lực lượng lao động có kỹ năng, nhất là những người có tay nghề cao, đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhiệt liệt biểu dương và tri ân những đóng góp lớn lao của người lao động, các cơ quan, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp đối với phát triển của đất nước.

Nhân Ngày Kỹ năng lao động Việt Nam 4/10 năm nay, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc kêu gọi toàn thể người lao động trong cả nước không ngừng học tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, liên tục sáng tạo để cải thiện năng suất và nâng cao hiệu quả lao động trong công việc.

“Lúc này chúng ta còn cần nỗ lực hơn nữa để cùng chung tay vượt qua đại dịch COVID-19. Tôi cũng đề nghị Quốc hội, Chính phủ, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội cùng các các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan ưu tiên nguồn lực, cơ chế chính sách và hành động quyết liệt để đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, tay nghề cao, phổ cập nghề cho thanh niên.

Tôi cũng mong rằng cộng đồng doanh nghiệp và người sử dụng lao động tiếp tục tham gia tích cực vào sự nghiệp hỗ trợ đào tạo nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động, đặc biệt là đối với người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, để vững bước tiến vào tương lai.

Tôi có một niềm tin chắc chắn rằng người lao động Việt Nam luôn phát huy tối đa phẩm chất và năng lực của mình để vươn lên trong học tập, lao động và sản xuất, góp phần đưa nước ta sớm chiến thắng dịch bệnh và thúc đẩy phát triển bền vững, thịnh vượng trong giai đoạn tới”.

Chủ tịch nước trân trọng gửi tới toàn thể người lao động và các cơ quan, tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp trong cả nước lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc tốt đẹp nhất.

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021

TẤM GƯƠNG TỰ HỌC CỦA BÁC HỒ

Lao động vất vả nhưng khát vọng học tập luôn cháy bỏng trong Nguyễn Tất Thành. Cùng với bức thư gửi cho cha, anh còn gửi một bức thư cho anh trai Nguyễn Sinh Khiêm (thời kỳ này đang giúp việc vặt ở Toà Khâm sứ Trung Kỳ), nhờ xin cho vào học Trường Thuộc địa tại Pari. Nhưng kết quả không khả quan hơn, vẫn với sự kỳ thị, toàn quyền trả lời: “…ông chủ sự giáo dục Trung Kỳ, được hỏi ý kiến đã cho biết người thanh niên này đã bắt đầu học Trường Quốc học Huế, nay qua làm bồi ở Pháp, có thể tiếp tục học ở một trường tại thuộc địa trước khi có tham vọng trở thành sinh viên ở Pháp”.

Đầu năm 1913, Nguyễn Tất Thành theo tàu rời Mỹ trở về Pháp, sau đó sang Anh. Đến nước Anh, lên bờ, làm gì để sinh sống là một câu hỏi quá khó khăn giữa thủ đô London hoa lệ. Nguyễn Tất Thành nhận cào tuyết cho một trường học. Công việc quá vất vả mệt nhọc, anh đành phải bỏ việc. Anh tìm được một việc khác là đốt lò. Từ 5 giờ sáng, anh đã phải chui xuống hầm để nhóm lửa, suốt ngày đổ than, thay than trong lò, sống trong cảnh tranh tối tranh sáng, ngột ngạt đáng sợ.

Nhưng cũng ngay từ những ngày đầu tiên đến nước Anh, Nguyễn Tất Thành bắt tay ngay vào việc học ngoại ngữ. Hằng ngày, sáng sớm và buổi chiều, trước và sau giờ lao động để kiếm tiền sống, anh miệt mài tự học. Hằng tuần, vào ngày nghỉ, anh học tiếng Anh với một giáo sư người Ý.

Giữa năm ấy, từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Châu Trinh ở Pháp. Bức thư cho thấy anh rất quyết tâm học ngoại ngữ: "Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và tháng ngày luống những chỉ lo làm việc khỏi đói, chớ chẳng học được bao nhiêu. Và cháu ước ao rằng bốn, năm tháng nữa, lúc gặp bác thì sẽ nói và hiểu được tiếng Anh nhiều nhiều…”.

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu. Đối với yếu tố cầu, dịch bệnh COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn cách xã hội cần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020, của Thủ tướng Chính phủ, “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh. Do ảnh hưởng đại dịch COVID-19, cầu của nền kinh tế (tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu) bị sụt giảm, từ đó làm suy giảm hoạt động sản xuất và tăng trưởng của nền kinh tế. Các biện pháp của Chính phủ đang triển khai hiện nay chủ yếu hướng tới kích thích tổng cầu và phục hồi sản xuất.

Đối với yếu tố cung, đại dịch COVID-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng đầu vào và lao động. Chẳng hạn, trong ngành công nghiệp ô-tô, do linh kiện đầu vào khan hiếm cùng với thực hiện giãn cách xã hội nên các doanh nghiệp sản xuất ô-tô trong nước như Honda, Nissan, Toyota, Ford, Hyundai… phải tuyên bố tạm dừng sản xuất, chỉ đến khi thời kỳ giãn cách xã hội kết thúc và chuỗi cung ứng được kết nối trở lại, các doanh nghiệp sản xuất ô-tô mới quay trở lại hoạt động.

Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nước ngoài và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ COVID-19 khi nguồn cung lao động bị thiếu. Chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũng cao hơn khi các doanh nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát khuẩn, thực hiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm vi-rút.

Ở góc độ xã hội, COVID-19 tác động làm tăng tỷ lệ nghèo và cận nghèo về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình và người lao động. Theo kết quả khảo sát của UNDP và UN WOMEN (2020), “trong tháng 12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo là 11,3%. Tỷ lệ này tăng lên tới 50,7% trong tháng 4-2020. Tỷ lệ hộ cận nghèo tăng từ 3,8% vào tháng 12-2019 lên 6,5% vào tháng 4-2020”. Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân tộc thiểu số và hộ gia đình có lao động phi chính thức và gia đình những người nhập cư chịu tác động từ dịch bệnh lớn hơn. Cũng theo kết quả điều tra của UNDP và UN WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của các hộ gia đình dân tộc thiểu số trong tháng 4 và tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng 25,0% và 35,7% so với mức tháng 12-2019. Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần lượt ước tính khoảng 30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinh và người Hoa. Trong tháng 4 và tháng 5-2020, thu nhập trung bình của hộ di cư được ước tính chỉ tương đương 25,1% và 43,2% so với mức của tháng 12-2019. Những con số này lần lượt là 30,8% và 52,5% đối với nhóm hộ gia đình không di cư”.

Đại dịch COVID-19 đang tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại, lao động, việc làm và thu nhập của người lao động. Trước cú sốc này, Đảng, Nhà nước ta đã cùng với toàn dân nỗ lực thực hiện mục tiêu kép, trong đó tập trung cao độ để phòng chống dịch Covid- 19, bảo vệ sức khỏe, tính mạng của nhân dân.

Thứ Sáu, 4 tháng 6, 2021

CHỦ BÚT LÀM CẢ PHÁT HÀNH VÀ ... QUẢNG CÁO

Mặc dù nhiều khó khăn chồng chất, bị theo dõi gắt gao, thiếu thốn về vật chất và vấn đề sức khỏe, nhưng Nguyễn Ái Quốc dùng hầu hết số tiền kiếm được để mua các tờ báo cánh tả, đặc biệt là báo “Nhân đạo” (L'humanité). Anh vẫn hăng say nghiên cứu, học tập, viết được hơn 30 bài đăng các báo tiến bộ Pháp: La Vie Ouvriere (Đời sống thợ thuyền); L'humanité (Nhân đạo); Le Populaire (Dân chúng)...

Do sớm nhận rõ vai trò của báo chí nên ngày 19-1-1922, Nguyễn Ái Quốc cùng với Ban thường vụ Hội Liên hiệp thuộc địa đã họp, quyết định thành lập cơ quan ngôn luận của Hội, lấy tên tờ báo là “Người cùng khổ” (Le Paria). Nguyễn Ái Quốc tổ chức kiêm chủ bút và đóng góp rất nhiều cho hoạt động của tờ báo, có số Nguyễn Ái Quốc viết đến hai, ba bài. Nhiều số báo anh còn vẽ tranh châm biếm. Tổng cộng, Nguyễn Ái Quốc đã viết 40 bài báo, chiếm hơn 60% tổng số bài đăng trên tờ báo duy nhất trong lịch sử báo chí thế giới, với tư cách là diễn đàn của các dân tộc thuộc địa.

Lúc đó, ở Đông Dương, bọn thực dân đưa ra quy định ai đọc tờ báo “Người cùng khổ” đều bị bắt. Các hiệu sách, báo lẻ nói chung không muốn nhận tờ báo này. Có lúc quỹ của báo không còn đồng nào, thậm chí có lúc còn nợ nhà in 150 francs... Riêng Nguyễn Ái Quốc ủng hộ rất đều cho báo mỗi tháng 25 francs. Người nói: Chúng ta phải bằng bất cứ giá nào làm cho tờ báo sống. Dù chính quyền Pháp ngăn cản, nhưng Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều hoạt động sáng tạo để bảo đảm kinh phí và duy trì hoạt động của tờ báo. Người tham gia bán báo và dùng chính nghề ảnh của mình để...bán báo. Nguyễn Ái Quốc tặng cho mỗi độc giả nào vận động được 25 người mua báo "Người cùng khổ" dài hạn một tấm ảnh phóng cỡ 30x40cm rất nghệ thuật. Người còn ra sức vận động đồng bào mình sinh sống trên đất Pháp dù nghèo túng cũng hết sức dành dụm tiền ủng hộ tờ báo. Nhờ đó, báo nhận được nhiều tên người Việt Nam ủng hộ, mỗi người một ít nhưng cộng lại là một số tiền khá lớn!

Nguyễn Ái Quốc cùng với những người trong Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa thành lập Hợp tác xã và Điều lệ để gây vốn làm báo. Cuộc họp đã thông qua Điều lệ của Hợp tác xã do Nguyễn Ái Quốc trình bày. Điều lệ gồm 25 điều khoản xác định Hội Hợp tác là một hội kinh doanh sản xuất, mỗi cổ phần đóng 100 francs làm vốn, 15.000 francs để ra tờ báo Le Paria. Hợp tác xã kêu gọi mọi người tham gia góp vốn để làm báo, coi như một hình thức kinh doanh cổ phần và nếu có lợi thì những người đóng góp sẽ được hưởng 30%.

Theo báo cáo của mật thám Pháp ở Paris ngày 14-6-1923 thì năm 1923, báo "Người cùng khổ" xuất bản mỗi số 2000 bản, trong đó 1000 bản gửi đi các nước thuộc địa châu Phi và Đông Dương. Với khoảng thời gian từ tháng 4-1922 đến tháng 6-1926, tờ báo "Người cùng khổ" phát hành được 38 số. Tại Việt Nam, các thủy thủ yêu nước đã bí mật đem báo "Người cùng khổ" từ Paris về các cảng Sài Gòn, Hải Phòng đưa cho các cơ sở rồi từ đó phân phát đi bằng cách truyền tay nhau đến các thanh niên trí thức yêu nước ở các thành phố, học sinh, sinh viên. Những bài hay, nhất là những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc thường được họ chép lại, làm tài liệu để đọc đi đọc lại nhiều lần và phổ biến cho bạn bè, vì số lượng báo đưa về không nhiều, không thể đến khắp các nơi cần có.

NGÔI NHÀ "BỐN KHÔNG" TRONG NGÕ HẺM

Vào tháng 7-1921, Nguyễn Ái Quốc chuyển đến ở nhà số 9, ngõ Compoint thuộc Quận 17, Pháp. Đây là nơi Nguyễn Ái Quốc ở đến hai năm, từ tháng 7-1921 đến tháng 6-1923.

Sau này, vào năm 1968, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Bộ trưởng Xuân Thuỷ làm Trưởng đoàn, đồng chí Lê Đức Thọ làm cố vấn đặc biệt lên đường sang Pháp tham dự Hội nghị Paris về Việt Nam đã đến thăm căn phòng mà Người đã từng ở này.

Khi nhìn thấy căn phòng và những vật dụng sinh hoạt của Bác quá đơn sơ, nghèo nàn, tất cả anh chị em trong Đoàn đều vô cùng xúc động; bước vào phòng, một gian buồng hẹp khoảng 9m2, nhìn về phía tay trái có một la-va-bô treo trên tường cùng một vòi nước nhỏ, ngay cạnh đó là một tủ quần áo làm bằng gỗ tạp. Sát tường bên trái là chiếc giường sắt đơn, đầu giường có một cái tủ con để sách vở và vài đồ lặt vặt. Phía trên có một ngọn đèn nhỏ vừa đủ để thắp sáng gian buồng. Sau khi ra về, đồng chí Xuân Thuỷ đã xúc động viết :

“Ngày nào lạnh lẽo phố Công - poanh (Compoint)

Ngõ nhỏ buồng con, Bác một mình

Cuộc sống đi về coi chật hẹp

Mà lòng “Ái Quốc” rộng mông mênh”.

Trong cuốn sách Thời thanh niên của Bác Hồ, tác giả Hồng Hà kể: Bà Giamô, chủ nhà, cho anh Nguyễn thuê gian buồng mỗi bề khoảng ba mét, không bếp, không nước, không điện, không lò sưởi, gió thổi lùa qua khe cửa… Buồng anh chỉ đủ kê một cái giường sắt, một cái bàn con…. Trên bàn có một cái thau, trong thau có một bình đựng nước để rửa mặt. Khi anh viết hoặc đọc sách thì anh đưa thau và bình nước xuống gầm giường… Một người bạn Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng kể lại: “Tôi là Giăng Pho (Jean Feur), thợ điện, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Tôi quen biết đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ năm 1920-1921, vì hồi đó chúng tôi cùng trọ một nhà, ở ngõ hẻm Compoint. Đó là khu công nhân nghèo, mà ngõ hẻm lại là nghèo nhất ở khu nghèo này. Gọi là ngõ hẻm, vì nó chỉ có đường vào, không có đường ra. Cả “phố”chỉ vẻn vẹn có 4 cái nhà lụp xụp, 3 nhà cho thuê để gửi xe. Một nhà tầng dưới là một quán cà phê nhỏ, tầng trên có hai buồng. Tôi và anh Nguyễn trọ… Mùa đông giá lạnh, không đủ chăn đắp, trước khi đi làm, anh đặt nhờ một viên gạch trên bếp bà chủ nhà; tối về, anh gói viên gạch vào một tờ báo, rồi đút vào giường cho đỡ rét”.

Hình ảnh viên gạch đã đi vào hình tượng thơ của nhà thơ Chế Lan Viên trong bài “Người đi tìm hình của nước”:

“Có nhớ chăng, hỡi gió rét thành Ba Lê

Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá”.

Chuyện viên gạch hồng hoàn toàn đúng thực tế thời đó. Ông Tổng Lãnh sự Pháp - người tặng viên gạch lưu niệm của gia đình cho Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh TP Hồ Chí Minh kể: "Nước Pháp vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 vẫn còn nghèo. Ngay tại thủ đô Paris vẫn còn nhiều vùng chưa có điện. Để chống lại giá rét mùa đông, người ta sản xuất ra một loại gạch sưởi, bên trong được cấu tạo thành nhiều ngăn, nhiều lớp để tích tụ nhiệt. Ban ngày trước khi đi làm, người ta đặt viên gạch vào cạnh lò sưởi; khi đi ngủ người ta đặt viên gạch dưới giường nằm cho ấm. Viên gạch này là kỷ vật của bà ngoại ông Jean François Parot. Bà đã giữ lại suốt hơn nửa thế kỷ như kỷ niệm về một thời nghèo khó..."

Về sinh hoạt hằng ngày, cuốn Đường Bác Hồ đi cứu nước ghi: Mỗi buổi mai, Người nấu cơm trong một cái xanh nhỏ bằng sắt tây đặt trên ngọn đèn dầu. Với một con cá mắm hoặc một tí thịt. Người ăn một nửa và để dành một nửa đến chiều. Có khi một miếng bánh mì với một miếng phomát là đủ ăn cả ngày.

Lúc này, Nguyễn Ái Quốc đang làm thợ sửa ảnh tại tiệm ảnh của ông Lainé nằm cùng ngõ ở số 7 với số tiền công là 40 francs mỗi tuần. Phần lớn số tiền kiếm được, Người dùng để đặt báo và mua sách.

Thiếu khổ đủ bề nhưng “điều cần nhất” đã được Người nói lên ngay sau lời ngọt nhạt lôi kéo của toàn quyền Pháp: “Cảm ơn Ngài! Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập…

NGƯỜI KHÔNG ĐỦ TIỀN ĂN NHỮNG MÓN CỦA DÂN NGHÈO PARIS

Anh sống rất cực khổ. Để kiếm tiền, anh làm nghề rửa ảnh và phóng đại ảnh. Chính cụ Phan Chu Trinh đã dạy Nguyễn Tất Thành nghề này. Ngoài ra, anh còn làm cả nghề sơn vẽ đồ cổ - những đồ rất được chuộng bởi những bà quý tộc già, những người trọc phú. Thế nhưng, không may đây chỉ là một công việc theo mùa, mỗi năm chỉ làm vài tháng.

Gần như suốt thời gian ở Pháp, Người làm việc quên ăn, quên ngủ. Trong suốt 5 năm trời, hồ sơ mật thám ghi lại, chỉ có duy nhất một lần Người đến quán rượu vì công việc, nhưng chỉ một tiếng sau đã rời đi.

Một tài liệu ghi: “Ngày 8 tháng 1 năm 1923: Nguyễn Ái Quốc đến gặp Phan Văn Trường tại một quán rượu trong ngõ Compoint từ 16 giờ đến 17 giờ. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã lên án Chính phủ Poăngcarê (Poincaré) chiếm cứ vùng Rua (Rhur), một việc làm mà “nhân dân vô sản trên thế giới không cho phép”.

Và cũng chỉ duy nhất một lần mật thám ghi được, Người đến chợ để lo cho bữa tối: “Tháng 9, ngày 21, năm 1920: Hồi 17 giờ, Nguyễn Ái Quốc đi chợ quán Vingram. 17 giờ 30, về đến nhà”.

Cuốn sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Pháp” viết: “Với tiền thu nhập ít ỏi, qua nhiều báo cáo theo dõi của mật thám, đồng chí Nguyễn Ái Quốc lúc đó sống thiếu thốn, ăn uống qua loa cho qua ngày, thậm chí không đủ tiền ăn những món thông thường của người dân bình thường ở thành phố Paris.”

Ăn uống qua loa, làm việc cật lực, Nguyễn Ái Quốc nhiều lần bị ốm. Tháng 3 năm 1921, Người phải mất hơn hai tháng nằm điều trị vì bị áp xe vai.

Đời sống của Người mỗi ngày một khó khăn vì việc làm không ổn định mà giá sinh hoạt mỗi ngày một đắt đỏ. Người còn bị mật thám theo dõi sát sao, chúng thậm chí còn đe dọa chủ thuê, khiến Người mất việc. Báo cáo của tên mật thám ký là Devèze ngày 29-7-1921 cho thấy: Vì trình độ kỹ thuật thấp nên mỗi tuần hãng Lainé ở số 7, ngõ Compoint chỉ trả cho Nguyễn Ái Quốc có 40 franc, coi như thợ học việc. Từ ngày 6-11-1921, Nguyễn Ái Quốc nghỉ việc ở hãng này, vì nghi bị ho lao”.

Theo báo cáo mật của Cục An ninh quốc gia Pháp số 420 SR ngày 19-9-1922, “Nguyễn Ái Quốc lại thôi không làm thuê về nghề ảnh cho hãng Lainé nữa. Hàng quạt và chao đèn vẽ bằng sơn dầu rất khó bán. Có lẽ hãng Lainé không dám thuê Nguyễn Ái Quốc làm, vì anh đã bị mật thám theo dõi chặt chẽ từng ngày và mật thám Pháp cũng làm khó dễ cho chủ hãng, đe dọa chủ hãng”.

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

BÓNG TỐI DƯỚI CHÂN TƯỢNG NỮ THẦN TỰ DO

Cuối năm 1912, Nguyễn Tất Thành theo con tàu đến Mỹ. Điện tín của Chánh mật thám Sài Gòn sau này ghi lại: Ngày 15-12-1912, từ New York, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ cho biết tình hình và địa chỉ của cha. Thư cho biết, anh đã gửi cho cha mình ba ngân phiếu nhưng mới chỉ nhận được một lần trả lời.

Thời gian ở Mỹ, Người dành một phần thời gian để lao động kiếm sống, còn phần lớn thời gian dành cho học tập, nghiên cứu. Nữ tác giả Josephine Stenson, một nhà sử học người Mỹ đã tự bỏ tiền túi ra để đi khắp những nơi mà Bác Hồ đặt chân tìm hiểu, sau này đã phát biểu sâu sắc về Bác Hồ tại Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890-1990) ở Hà Nội.

Bà viết: “…Tôi nghĩ ngay đến Tượng thần Tự do ở quê hương tôi. Tôi là nhà sử học, tôi đã lật ra xem những trang ghi cảm tưởng của mọi chính khách khi họ đến tham quan và chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và ca ngợi thần Tự do, Nguyễn Tất Thành khi đến New York cũng đã đến chiêm ngưỡng Tượng thần Tự do và mọi chính khách, sau khi đã đến tham quan thần Tự do đều ghi cảm tưởng bằng những lời ca ngợi Ngôi sao tỏa sáng trên vòng Nguyệt quế là ánh sáng tự do... Duy chỉ có Nguyễn Tất Thành đến xem thần Tự Do nhưng nhìn xuống dưới chân tượng và ghi “Ánh sáng trên đầu thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Tượng thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”. Duy nhất chỉ có Nguyễn Tất Thành nhìn xuống chân Tượng thần Tự do và ghi lại những ý kiến trên. Nguyễn Tất Thành nhìn số phận con người chứ không chiêm ngưỡng hào quang tỏa sáng từ bức Tượng thần Tự do".

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

QUỐC HỘI BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT LÀ ĐÚNG ĐẮN, CẦN THIẾT

Như vậy, Quân đội ta tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là cần thiết, đúng chủ trương của Đảng, phù hợp với thực tiễn, phù hợp yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đất đai giao cho quân đội quản lý, vừa phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, vừa là tư liệu sản xuất thiết yếu, là cơ sở quan trọng để quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng. Các đơn vị quân đội cần sử dụng đất để trồng trọt, chăn nuôi, tăng gia sản xuất. Các doanh nghiệp quân đội, các đoàn kinh tế-quốc phòng cần đất để đặt trụ sở hoạt động; xây dựng nhà máy, kho xưởng phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh; xây dựng nông, lâm, ngư trường... Do vậy, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết về thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế là hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng, phù hợp với thực tiễn và cần thiết.

Trái với luận điệu xuyên tạc của những kẻ chống phá, rằng quân đội chỉ muốn “giữ đất”, không chịu giao đất phục vụ phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã nhiều lần khẳng định: Bộ Quốc phòng sẵn sàng chuyển giao đất cho địa phương quản lý nếu vị trí đất đó không thực sự cần thiết cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Thực tế, quân đội đã bàn giao hàng chục nghìn héc-ta đất, trong đó có nhiều vị trí đất “vàng” cho địa phương quản lý, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Tuy nhiên, những diện tích đất có vị trí quan trọng phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng thì không thể giao lại cho địa phương, vì khi phát sinh tình huống sẽ rất khó thu hồi kịp thời để thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Trong điều kiện bình thường, khi chưa phát sinh tình huống quân sự, quốc phòng, những diện tích đất ấy được dùng cho lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, góp phần tăng tiềm lực quân sự, quốc phòng. Khi phát sinh tình huống, diện tích đó được sử dụng ngay cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Thực hiện như vậy cũng sẽ tránh diện tích đất quốc phòng bị lấn chiếm như thực tế đã xảy ra ở một số nơi, sau đó việc thu hồi đất bị lấn chiếm rất gian nan, phức tạp.

Việc sử dụng đất quốc phòng vào hoạt động kết hợp kinh tế với quốc phòng là đúng chủ trương của Đảng, có tính lịch sử, kế thừa, gắn liền với quá trình xây dựng, phát triển quân đội qua nhiều thời kỳ. Dù trong thời kỳ nào, Bộ Quốc phòng luôn quán triệt và yêu cầu khi sử dụng đất quốc phòng vào hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế phải tuân thủ nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, phù hợp với quy hoạch, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của quân đội; bảo đảm nguyên tắc ưu tiên hàng đầu cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và dự trữ lâu dài nguồn đất đai phục vụ nhiệm vụ quốc phòng-an ninh, để kịp thời sử dụng khi có tình huống xảy ra. Do đó, luận điệu xuyên tạc rằng quân đội giữ đất là vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm là hoàn toàn sai trái, cần phải được nhận diện để phản bác. 

Có thể thấy, việc Luật Biên phòng Việt Nam; Nghị quyết về tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; Nghị quyết về thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, đều được Quốc hội thông qua với tỷ lệ tán thành rất cao, trong đó có nghị quyết đạt tỷ lệ tán thành 100% số đại biểu tham gia biểu quyết, chứng tỏ việc chuẩn bị các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới quốc phòng được chuẩn bị kỹ lưỡng, khoa học và toàn diện, hợp hiến, hợp lý và hợp lòng dân. Kết quả nói trên cũng cho thấy sự đồng tình, ủng hộ của đại biểu Quốc hội và nhân dân đối với các vấn đề quốc phòng. Đó là cơ sở quý báu để tiếp tục nâng cao sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, vì mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2020

CHỨC NĂNG THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT ĐƯỢC KHẲNG ĐỊNH TRONG THỰC TIỄN XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU, TRƯỞNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI

Hơn 75 năm qua cho thấy, trong bất cứ điều kiện nào, dù khó khăn đến đâu, Quân đội ta cũng vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế bằng những hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Trong kháng chiến chống Pháp, với vô vàn khó khăn chồng chất, trước hết là ăn, mặc, tiếp đến là trang bị vũ khí…, nếu không có các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất, chế tạo vũ khí, khí tài, đạn dược…, liệu Quân đội có thể hoàn thành được nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó! Trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, hậu phương lớn miền Bắc vừa tiến hành công cuộc cải tạo, phục hồi kinh tế từ một nước sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu trong điều kiện chiến tranh, vừa chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, nếu các đơn vị quân đội không tham gia lao động sản xuất, không có các căn cứ hậu cần tại chỗ trên chiến trường miền Nam, nhất là ở các địa bàn chiến lược như: khu 5, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ,... đặc biệt là Bộ đội Trường Sơn, Quân chủng Hải quân để xẻ núi, bạt đèo, xây dựng hàng chục ngàn cây số đường bộ, đường sông, đường ống, đường biển, mở các tuyến vận tải chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam và nước bạn Lào, Cam-pu-chia, liệu có thể có Chiến thắng của ngày 30 tháng 4 lịch sử!

Sau ngày 30 tháng 4, đất nước hoàn toàn thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước ra sức hô hào, cổ súy, viện trợ tiền của, vũ khí cho bọn ngụy quân, ngụy quyền, bọn Fulro tăng cường hoạt động chống phá, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng. Một lần nữa, Quân đội lại tiên phong trên các mặt trận, vừa phải làm tròn chức năng là đội quân chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng, vừa là đội quân xung kích vào những nơi khó khăn, nguy hiểm nhất, cùng cả nước xây dựng kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Đồng thời, kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; giữa xây dựng thế trận quốc phòng với phát triển kinh tế, góp phần cùng cả nước từng bước vượt qua khó khăn, thách thức để bước vào hội nhập và giao lưu quốc tế với uy tín và vị thế mới.

Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế; trọng tâm là Nghị quyết 71/ĐUQSTW, ngày 25-4-2002 “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội trong thời kỳ mới - Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội”; Nghị quyết 520-NQ/QUTW, ngày 25-9-2012 về “Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”; Thông tư 69/2017/TT-BQP ngày 03-4-2017 của Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh kinh tế của Quân đội. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, có bước phát triển toàn diện, đạt kết quả quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh.

Quán triệt quan điểm đó, các đơn vị quân đội đã phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng thực sự là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế, xã hội ở từng địa phương, vùng, miền gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước; tham gia có hiệu quả xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng căn cứ cách mạng, đẩy lùi các hủ tục; xây dựng làng, bản văn hóa; cùng đồng bào các dân tộc xây dựng vành đai biên giới, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Những việc làm đó góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, dân tộc, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Như vậy, lao động sản xuất là một nhiệm vụ chính trị xuyên suốt của Quân đội ta, một giá trị cốt lõi làm nên nhân cách, phẩm giá “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì thế, những luận điệu xuyên tạc của tổ chức, cá nhân thời gian qua dù vô tình hay cố ý là không thể chấp nhận và đáng bị lên án.

QUÂN ĐỘI THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT LÀ MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG ĐÃ ĐƯỢC HIẾN ĐỊNH

Điều 68 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013) ghi rõ: “... kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh...”. Điều đó cho thấy, việc kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là của toàn dân, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là ở nơi dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế của Quân đội cũng chính hướng tới mục tiêu đó.

Tuy nhiên, để hiểu tường tận vai trò, chức năng tham gia xây dựng kinh tế của Quân đội, cần có một cách nhìn khách quan, khoa học về vấn đề này. Trước hết, thuật ngữ “quân đội làm kinh tế” phải được hiểu dưới góc độ tham gia lao động sản xuất, xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội; không được hiểu với nghĩa kinh tế đơn thuần, dù doanh nghiệp đó sản xuất trong bất cứ lĩnh vực nào. Nhận thức sai lầm, ngộ nhận dù vô tình hay cố ý đối với thuật ngữ này chính là một sự đánh tráo khái niệm, nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Quân đội, gây sự hiểu nhầm trong xã hội, chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Quân đội; giữa Quân đội và nhân dân.

Hơn nữa, mục tiêu tham gia lao động sản xuất, xây dựng phát triển kinh tế của Quân đội là: gia tăng sức mạnh của Quân đội và sức mạnh tổng hợp của quốc gia; góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trong đó có kinh tế quốc phòng; tận dụng tiềm lực, tiềm năng của đất nước về mọi mặt; từng bước nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khó khăn lại được tiến hành ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, nếu không có các đơn vị quân đội, các doanh nghiệp ngoài Quân đội khó có thể tiếp cận được. Ở khía cạnh này ta thấy, ngay từ đầu, vấn đề giữa lợi nhuận và sự toàn vẹn của lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân tộc đã được các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất trả lời một cách dứt khoát. Với thế mạnh của mình và về nguồn nhân lực, vật tư, trang thiết bị, Quân đội tham gia sẽ phải gánh vác những nhiệm vụ chính trị xã hội mà các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước cũng khó có thể đảm đương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, những nơi đời sống của nhân dân còn hết sức thiếu thốn, lạc hậu. Rõ ràng, tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội là một mệnh lệnh, một nhiệm vụ chính trị của Quân đội. Không chỉ tham gia lao động sản xuất đơn thuần, mà các đơn vị quân đội còn có thế mạnh là sử dụng nguồn lực có chất lượng của mình để tổ chức các lớp học văn hóa, giúp nhân dân nâng cao dân trí, xây dựng kết cấu hạ tầng, như: điện, đường, trường, trạm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, v.v. Có thể nói, những đóng góp của cán bộ, chiến sĩ các đoàn kinh tế - quốc phòng trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, kết hợp giữa phát triển kinh tế, xã hội với thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; giữa quân sự, quốc phòng với phát triển kinh tế, xã hội thời gian qua là rất lớn và không thể phủ nhận.

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2020

ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ AN NINH CHÍNH TRỊ, TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI ĐỐI VỚI DI CƯ LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐẾN HÀ NỘI

Để hạn chế tác động tiêu cực của di dân lao động từ nông thôn đến bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở Hà Nội, nội dung hay hoạt động mấu chốt nhất là nâng cao nhận thức, định hướng thái độ và hành vi cho họ. Bởi vì, chính người lao động di cư tự do ra Hà Nội là chủ nhân của những hành động liên quan đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở Hà Nội.

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2019

CHỨC NĂNG THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT ĐƯỢC KHẲNG ĐỊNH TRONG THỰC TIỄN XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI

Hơn 70 năm qua cho thấy, trong bất cứ điều kiện nào, dù khó khăn đến đâu, Quân đội ta cũng vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất, tham gia xây dựng kinh tế bằng những hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Trong kháng chiến chống Pháp, với vô vàn khó khăn chồng chất, trước hết là ăn, mặc, tiếp đến là trang bị vũ khí…, nếu không có các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất, chế tạo vũ khí, khí tài, đạn dược…, liệu Quân đội có thể hoàn thành được nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó! Trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, hậu phương lớn miền Bắc vừa tiến hành công cuộc cải tạo, phục hồi kinh tế từ một nước sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu trong điều kiện chiến tranh, vừa chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, nếu các đơn vị quân đội không tham gia lao động sản xuất, không có các căn cứ hậu cần tại chỗ trên chiến trường miền Nam, nhất là ở các địa bàn chiến lược như: khu 5, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ,... đặc biệt là Bộ đội Trường Sơn, Quân chủng Hải quân để xẻ núi, bạt đèo, xây dựng hàng chục ngàn cây số đường bộ, đường sông, đường ống, đường biển, mở các tuyến vận tải chiến lược chi viện cho chiến trường miền Nam và nước bạn Lào, Cam-pu-chia, liệu có thể có Chiến thắng của ngày 30 tháng 4 lịch sử!
Sau ngày 30 tháng 4, đất nước hoàn toàn thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước ra sức hô hào, cổ súy, viện trợ tiền của, vũ khí cho bọn ngụy quân, ngụy quyền, bọn Fulro tăng cường hoạt động chống phá, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng. Một lần nữa, Quân đội lại tiên phong trên các mặt trận, vừa phải làm tròn chức năng là đội quân chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng, vừa là đội quân xung kích vào những nơi khó khăn, nguy hiểm nhất, cùng cả nước xây dựng kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh. Đồng thời, kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; giữa xây dựng thế trận quốc phòng với phát triển kinh tế, góp phần cùng cả nước từng bước vượt qua khó khăn, thách thức để bước vào hội nhập và giao lưu quốc tế với uy tín và vị thế mới.
Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế; trọng tâm là Nghị quyết 71/ĐUQSTW, ngày 25-4-2002 “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội trong thời kỳ mới - Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội”; Nghị quyết 520-NQ/QUTW, ngày 25-9-2012 về “Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”; Thông tư 69/2017/TT-BQP ngày 03-4-2017 của Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh kinh tế của Quân đội. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, có bước phát triển toàn diện, đạt kết quả quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh.
Quán triệt quan điểm đó, các đơn vị quân đội đã phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng thực sự là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế, xã hội ở từng địa phương, vùng, miền gắn với tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước; tham gia có hiệu quả xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng căn cứ cách mạng, đẩy lùi các hủ tục; xây dựng làng, bản văn hóa; cùng đồng bào các dân tộc xây dựng vành đai biên giới, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Những việc làm đó góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, dân tộc, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Như vậy, lao động sản xuất là một nhiệm vụ chính trị xuyên suốt của Quân đội ta, một giá trị cốt lõi làm nên nhân cách, phẩm giá “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì thế, những luận điệu xuyên tạc của tổ chức, cá nhân thời gian qua dù vô tình hay cố ý là không thể chấp nhận và đáng bị lên án.

QUÂN ĐỘI THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT LÀ MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG ĐÃ ĐƯỢC HIẾN ĐỊNH

Điều 68 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013) ghi rõ: “... kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh...”. Điều đó cho thấy, việc kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là của toàn dân, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là ở nơi dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế của Quân đội cũng chính hướng tới mục tiêu đó.
Tuy nhiên, để hiểu tường tận vai trò, chức năng tham gia xây dựng kinh tế của Quân đội, cần có một cách nhìn khách quan, khoa học về vấn đề này. Trước hết, thuật ngữ “quân đội làm kinh tế” phải được hiểu dưới góc độ tham gia lao động sản xuất, xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội; không được hiểu với nghĩa kinh tế đơn thuần, dù doanh nghiệp đó sản xuất trong bất cứ lĩnh vực nào. Nhận thức sai lầm, ngộ nhận dù vô tình hay cố ý đối với thuật ngữ này chính là một sự đánh tráo khái niệm, nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Quân đội, gây sự hiểu nhầm trong xã hội, chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Quân đội; giữa Quân đội và nhân dân.
Hơn nữa, mục tiêu tham gia lao động sản xuất, xây dựng phát triển kinh tế của Quân đội là: gia tăng sức mạnh của Quân đội và sức mạnh tổng hợp của quốc gia; góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trong đó có kinh tế quốc phòng; tận dụng tiềm lực, tiềm năng của đất nước về mọi mặt; từng bước nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khó khăn lại được tiến hành ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, nếu không có các đơn vị quân đội, các doanh nghiệp ngoài Quân đội khó có thể tiếp cận được. Ở khía cạnh này ta thấy, ngay từ đầu, vấn đề giữa lợi nhuận và sự toàn vẹn của lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân tộc đã được các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất trả lời một cách dứt khoát. Với thế mạnh của mình và về nguồn nhân lực, vật tư, trang thiết bị, Quân đội tham gia sẽ phải gánh vác những nhiệm vụ chính trị xã hội mà các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước cũng khó có thể đảm đương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, những nơi đời sống của nhân dân còn hết sức thiếu thốn, lạc hậu. Rõ ràng, tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội là một mệnh lệnh, một nhiệm vụ chính trị của Quân đội. Không chỉ tham gia lao động sản xuất đơn thuần, mà các đơn vị quân đội còn có thế mạnh là sử dụng nguồn lực có chất lượng của mình để tổ chức các lớp học văn hóa, giúp nhân dân nâng cao dân trí, xây dựng kết cấu hạ tầng, như: điện, đường, trường, trạm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở...
Có thể nói, những đóng góp của cán bộ, chiến sĩ các đoàn kinh tế - quốc phòng trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, kết hợp giữa phát triển kinh tế, xã hội với thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; giữa quân sự, quốc phòng với phát triển kinh tế, xã hội thời gian qua là rất lớn và không thể phủ nhận.

THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT LÀ MỘT CHỨC NĂNG CỦA QUÂN ĐỘI

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, hoàn toàn khác với bản chất của quân đội các thể chế chính trị, xã hội khác, được thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân, quan hệ cán binh và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả. Quân đội của các nước tư bản chủ nghĩa “là công cụ vững chắc nhất để duy trì chế độ cũ, là thành trì kiên cố nhất để bảo đảm cho kỷ luật tư sản và sự thống trị của tư bản, là nhà trường giáo dục một cách nô lệ và sự phụ thuộc của người lao động đối với tư bản”1. Đây là điểm khác biệt cốt yếu của quân đội tư sản với Quân đội ta. Quân đội của Việt Nam là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, mục tiêu chiến đấu của Quân đội là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia - dân tộc. Ngoài mục tiêu đó, Quân đội không có mục đích nào khác. Nhưng không vì thế mà phủ nhận vai trò của Quân đội trong tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội, mà cùng với chức năng của đội quân chiến đấu, Quân đội ta còn phải thực hiện tốt chức năng đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất.
Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, vấn đề quân đội tham gia lao động sản xuất luôn được các triều đại phong kiến Việt Nam vận dụng và phát huy hiệu quả vào công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc. Đó là chính sách “ngụ binh ư nông”. Điều căn bản cốt lõi của chính sách “ngụ binh ư nông” là gửi quân dự bị ở nông thôn, lao động, sản xuất tại địa phương, khi đất nước cần thì huy động họ trở thành binh lính thường trực bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” để vừa bảo đảm cho triều đình luôn duy trì một lực lượng cân đối giữa xây dựng kinh tế với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; giữa sản xuất và chiến đấu, hậu phương và tiền tuyến trong chiến tranh giữ nước, bảo đảm cho quân đội luôn có một đội quân thường trực có số lượng đủ mức cần thiết, tinh thông võ nghệ, sẵn sàng chiến đấu cao và quân dự bị đông đảo, dễ dàng huy động khi có chiến tranh. Chính sách này còn thể hiện mối liên kết hài hòa giữa quân sự và kinh tế (trước hết là nông nghiệp), giữa kinh tế và quân sự, có khả năng chuyển hóa nhanh nền kinh tế từ thời bình sang thời chiến và ngược lại. Nhờ thực hiện tốt chính sách này, mà đất nước ta dưới các triều đại phong kiến không những có số lượng quân thường trực phù hợp, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc, mà còn có lực lượng dự bị hùng hậu, khi đất nước chưa huy động, họ góp phần tạo ra một lượng của cải vật chất to lớn phục vụ quốc kế dân sinh; đảm bảo vũ khí, trang bị và các nhu cầu thiết yếu khác cho quân đội cả trong thời bình lẫn thời chiến.
Hiện nay, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, ngân sách đảm bảo cho quốc phòng hạn hẹp, việc Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đã tạo ra nguồn lực to lớn, đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội và cải thiện đời sống người lao động, củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, góp phần làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ năm 2000 đến nay, các đoàn kinh tế - quốc phòng đã đỡ đầu, đón nhận hơn 101.000 hộ dân vào sinh sống, lập nghiệp; xây dựng mới 536 điểm dân cư tập trung với hơn 32.000 hộ dân; xóa 344 thôn, bản “trắng” đảng viên; củng cố, giúp hàng nghìn chi bộ, tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở đi vào hoạt động có nền nếp, v.v. Chỉ tính riêng năm 2016, tổng doanh thu của các doanh nghiệp quân đội đạt gần 350 nghìn tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt hơn 43 nghìn tỷ đồng; nộp ngân sách Nhà nước hơn 40 nghìn tỷ đồng.

Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2017

QUÂN ĐỘI THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT, TẠI SAO KHÔNG?

Xét về bản chất, Quân đội ta là quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Việc tăng gia sản xuất đã là truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến, hễ đi đến đâu là cán bộ, chiến sĩ quân đội đều phải trồng trọt, dù rằng đơn vị có di chuyển đến địa điểm khác vẫn phải trồng trọt. Làm như vậy để tạo ra nguồn hậu cần tại chỗ cho đơn vị khác khi đến có nguồn sử dụng, đảm bảo sức khỏe và chiến đấu giành thắng lợi. Trong hòa bình, với bản chất, truyền thống của Quân đội ta việc tiếp tục tăng gia sản xuất cũng rất cần thiết. Về chức năng, Quân đội ta là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Vẫn biết rằng, Quân đội là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, nhưng không có nghĩa là không tham gia xây dựng đất nước. Thông qua thực hiện chức năng đội quân lao động sản xuất, quân đội đã và đang tăng cường tiềm lực quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Các đơn vị quân đội thường xuyên tổ chức tăng gia sản xuất đáp ứng yêu cầu phần lớn rau xanh và một phần quan trọng thực phẩm bổ sung cho bữa ăn của bộ đội lại không cần thiết sao? Doanh nghiệp quân đội với hai loại hình: (1). Loại doanh nghiệp thuần túy kinh tế thì phải hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, bình đẳng như các doanh nghiệp dân sinh khác. (2). Loại hình doanh nghiệp quốc phòng, trong thời bình phải tham gia sản xuất dân sinh, khi thời chiến thì chuyển sang sản xuất quốc phòng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Nếu các doanh nghiệp quốc phòng này không sản xuất dân sinh thì không có nguồn kinh phí hoạt động, phải trông chờ vào nguồn ngân sách quốc phòng eo hẹp thì còn đâu nguồn vốn đầu tư cho hiện đại hóa quân đội? Mặt khác, có sản xuất dân sinh thì mới đảm bảo cuộc sống của công nhân quốc phòng và điều quan trọng là giữ gìn tay nghề của nguồn nhân lực này, nếu không thì không thể xoay sở kịp khi có yêu cầu sản xuất quốc phòng. Hơn nữa, một số lĩnh vực quân đội không thực hiện thì khó có lực lượng nào thực hiện được. Chẳng hạn, một số lĩnh vực sản xuất quốc phòng thì phải do doanh nghiệp quốc phòng đảm nhiệm, vừa đảm bảo bí mật quân sự, vừa đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Quân đội cũng được Chính phủ giao xóa đói giảm nghèo ở các huyện khó khăn nhất trong số 62 huyện nghèo của cả nước theo Nghị quyết 30 a của Chính phủ.

Với việc xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên các địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng - an ninh, các đoàn kinh tế - quốc phòng đã phối hợp với địa phương xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, tổ chức quy hoạch, bố trí lại dân cư, tạo việc làm, điều kiện bền vững cho các hộ dân định cư lâu dài, hình thành các điểm, cụm dân cư tập trung trên vành đai biên giới, địa bàn xung yếu, tạo thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn, hướng chiến lược. Từ năm 2000 đến nay, các đoàn kinh tế - quốc phòng đã đỡ đầu, đón nhận trên 101.000 hộ dân vào sinh sống, lập nghiệp trong các khu kinh tế - quốc phòng; xây dựng mới 536 điểm dân cư tập trung với trên 32.000 hộ dân; xóa 344 thôn, bản “trắng” đảng viên; củng cố, giúp hàng nghìn chi bộ, tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở đi vào hoạt động nền nếp có hiệu quả, v.v. Điều đó tạo ra nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ, công nhân, người lao động các binh đoàn 15, 16 làm nhiệm vụ phát triển kinh tế, tăng cường quốc phòng trên biên giới Nam Trung Bộ và biên giới phía Tây Nam Tổ quốc chẳng nhẽ lại không cần sao? Vì thế, ai đó cho rằng, Quân đội chỉ tập trung huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu mà không tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế là không có cơ sở./.

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Những cống hiến suất sắc của V.I.Lênin - Lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

     Vừa qua nhân kỉ niệm 147 năm ngày sinh V.I.Lênin, trên các trang xã hội lại một số quan điểm cũ rích, nhai đi, nhai lại, đưa ra nhận xét công kích, xuyên tạc, chống phá và phủ nhận vai trò của V.I.Lênin - Lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
     V.I.Lênin, tên thật là Vladimir Ilits Ulianov, sinh ngày 22/4/1870, ở Simbirsk (nay là Ulianovsk), trong một gia đình trí thức tiến bộ. Ông mất ngày 21/1/1924, tại làng Gorki, Moskva, thi hài ông được đặt tại lăng ở Quảng trường Đỏ. Lênin là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, lãnh tụ lỗi lạc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Di sản Lênin để lại cho nhân loại tiến bộ là vô cùng to lớn cả trên phương diện thực tiễn hoạt động cách mạng và tư tưởng lý luận. Về di sản tư tưởng lý luận, Lênin là người đã kế tục, bảo vệ và phát triển một cách xuất sắc, toàn diện chủ nghĩa Mác cả triết học, kinh tế chính trị học mácxít và chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
     Đáp ứng yêu cầu bức thiết của lịch sử, V.I. Lênin đã bảo vệ thành công, phát triển sáng tạo và bổ sung nhiều vấn đề lý luận phù hợp với thực tiễn, đưa chủ nghĩa Mác lên tầm cao mới, như: vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác thành vấn đề dân tộc và thuộc địa trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, vấn đề thời đại; đề ra những nguyên tắc có tính cương lĩnh của giai cấp vô sản về vấn đề dân tộc; coi phong trào giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới; phê phán chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi cũng như chủ nghĩa sô vanh nước lớn. Khẩu hiệu của Mác Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại đã được Lênin phát triển thành Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!.  
     Về thực tiễn: Lênin là người đầu tiên đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn nước Nga; chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho việc thành lập Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Nga - tiền thân của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga, một đảng vô sản kiểu mới đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga làm nên cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, và thực hiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xôviết; là người đã làm chủ nghĩa Mác từ lý luận trở thành hiện thực. Sau Cách mạng Tháng Mười, Lênin đã lãnh đạo những người Bônsêvích và nhân dân lao động Nga đấu tranh thắng lợi chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, bảo vệ thành công sự tồn tại của Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Lênin là tổng công trình sư đầu tiên của những phương hướng, kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xôviết, trong đó đặc biệt là chính sách kinh tế mới (NEP). Lênin là người tích cực đấu tranh cho chủ nghĩa quốc tế vô sản, thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) để lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tập hợp mọi lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. 
     Ghi nhận những cống hiến to lớn của V.I. Lênin, nhân loại đã gắn liền tên tuổi ông với tên tuổi của C. Mác và Ph. Ăng-ghen; chủ nghĩa Lênin gắn liền với chủ nghĩa Mác, trở thành chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự gắn bó đó, phản ánh sâu sắc sự thống nhất về bản chất, tính chất của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin. Ông được tạp chí Time (Mỹ) bình chọn là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Lênin đã nhiều lần bị bắt, bị tù đầy, bị trục xuất ra nước ngoài, bị mưu sát, nhưng Người luôn là tấm gương sáng ngời về tinh thần cách mạng kiên trung, về ý chí quyết tâm giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, về phẩm chất đạo đức cách mạng cao cả, về lối sống giản dị, trong sáng, gần gũi nhân dân.

     Mọi mưu đồ đối lập C. Mác với V.I. Lênin, chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lênin đều là không đúng và đều nhằm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Lênin là người đã thực hiện và phát triển chủ nghĩa Mác. Là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc giải phóng. Là người thầy đã tạo ra những chiến sĩ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận cách mạng khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất.