Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI – HIỆN THỰC SINH ĐỘNG, TƯƠNG LAI TƯƠI SÁNG CỦA NHÂN LOẠI TIẾN BỘ

Sau những biến động chính trị ở Liên Xô và Đông Âu vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, các nhà tư tưởng phương Tây đã mở một chiến dịch tiến công nhằm xuyên tạc, phủ nhận, bôi nhọ chủ nghĩa xã hội (CNXH), lớn tiếng tuyên bố “chủ nghĩa xã hội là quái thai của lịch sử”, là “ý muốn ngông cuồng” của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin. Hiện nay, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, các thế lực thù địch càng ráo riết tiến công trên mặt trận tư tưởng lý luận hòng làm dao động về lý tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN), gây mơ hồ, ảo tưởng về một chế độ xã hội tư bản tốt đẹp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Sự chống phá điên cuồng, quyết liệt đó càng chứng tỏ sức sống của CNXH hiện thực mà các thế lực thù địch không thể ngăn cản được.
1. Sự thật, chủ nghĩa xã hội là khát vọng ngàn đời của nhân loại tiến bộ. Cuối công xã nguyên thủy, khi xã hội đã manh nha phân chia giai cấp, không hài lòng với xã hội đương thời, quần chúng nghèo khổ đã hoài vọng về cuộc sống thời nguyên thuỷ tuy “nghèo về vật chất nhưng giàu tình người”. Khi chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, giai cấp nô lệ chỉ là “công cụ biết nói”, nhiều cuộc khởi nghĩa của nô lệ đã nổ ra nhằm đòi quyền sống, quyền tự do, xóa bỏ giai cấp chủ nô tàn bạo, nhưng đều bị thất bại. Không có lối thoát, họ đã ước mơ về một đời sống ấm no, bình đẳng trên “thiên đường”, ở thế giới bên kia. Đến thời kì phong kiến, phản kháng lại chế độ hà khắc, nhiều trào lưu tư tưởng XHCN đã phê phán sự tàn bạo, dã man, bất công của xã hội đương thời và mơ ước xây dựng một xã hội tốt đẹp. Tomat Morơ (1478-1535) - nhà tư tưởng XHCN không tưởng đã phê phán gây gắt xã hội đương thời với hình tượng điển hình “cừu ăn thị người” và mơ ước xây dựng một xã hội không có áp bức, bóc lột, bất công. Giăng Mêliê (1664 - 1729) - một linh mục người Pháp trong Di chúc để lại ông đã ông kêu gọi nhân dân hãy đứng lên đấu tranh xóa bỏ bộ máy quan lại, quý tộc, tăng lữ đương thời, là lực lượng “ăn chơi phè phỡn trên lưng người lao động”, nhân dân không cần bộ máy ăn bám đó.
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, các nhà tư tưởng XHCN không tưởng đã phê phán gần sát bản chất của xã hội tư sản và dự báo về mô hình một xã hội tương lai tốt đẹp. Sáclơ Phuriê (1772 - 1837) đã coi chủ nghĩa tư bản là một “trạng thái vô chính phủ của công nghiệp” “sự nghèo khổ sinh ra từ chính bản thân sự dồi dào...”. Ông dự đoán, chế độ văn minh tư sản phải chuyển sang một giai đoạn mới của lịch sử loài người, tức giai đoạn của “chế độ xã hội được bảo đảm”. Hăngri Đơ Xanh Ximông (1760 - 1825) mơ ước xây dựng một xã hội trong đó “chế độ sở hữu phải được tổ chức sao cho có lợi nhất cho toàn xã hội về mặt tự do và về mặt kinh tế”. Rôbớt Ôoen (1771 - 1858) coi tư hữu, tôn giáo, hôn nhân tư sản là “ba cái cũi” cần xóa bỏông đã trực tiếp thực nghiệm xây dựng một xã hội tốt đẹp đem lại nhiều lợi ích cho công nhân. Nhưng ông ảo tưởng kêu gọi giai cấp tư sản độ lượng, “mở két bạc” của nó để nuôi dưỡng giai cấp công nhân nên mô hình đó không được hiện thực hóa.
Như vậy, ngay từ khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, nhân loại tiến bộ đã nguyền rủa chế độ xã hội áp bức, bóc lột, bất công và mơ ước về một xã hội tốt đẹp không có người bóc lột người - đó chính là xã hội XHCN, cộng sản chủ nghĩa (CSCN). Đúng như V.I.Lênin khẳng định: “Đã lâu rồi, đã hàng bao thế kỷ nay, thậm chí hàng ngàn năm nay, nhân loại mong ước thủ tiêu “lập tức” mọi sự bóc lột”[1]. Và “...xoá bỏ sự khác nhau giữa người giàu và người nghèo. Đó là một nguyện vọng có tính chất xã hội chủ nghĩa”[2].
2. Không chỉ là khát vọng, chủ nghĩa xã hội là kết quả phát triển tất yếu của xã hội loài người. Từ lập trường của giai cấp vô sản, kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, gắn nghiên cứu lí luận với hoạt động thực tiễn trong phong trào công nhân, với phẩm chất, trí tuệ tuyệt vời, C.Mác và Ph.Ăngghen với hai phát kiến vĩ đại: chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà cốt lõi của nó là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã phát hiện ra quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài người là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội cũ bằng một hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn, “sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”[3]. Từ việc phát hiện ra quy luật phát triển chung của nhân loại, các ông đi sâu nghiên cứu xã hội tư bản chủ nghĩa, phát hiện ra học thuyết giá trị thặng dư, vạch trần bản chất, cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị sức lao động làm thuê của công nhân.
Để bóc lột giá trị thặng dư, giai cấp tư sản đã phát triển các nhân tố của lực lượng sản xuất to lớn, đồ sộ vượt quá mức dung nạp của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn này tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng xã hội thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng một phương thức cao hơn, phương thức sản xuất CSCN - hình thái kinh tế - xã hội CSCN. Chủ nghĩa xã hội “không cần phải thực hiện một lý tưởng nào cả, mà chỉ cần giải phóng những nhân tố của xã hội mới đã phát triển trong lòng xã hội tư sản cũ đang sụp đổ”[4]. Từ đó, các ông khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội hiện đại chẳng qua chỉ là sự phản ánh của sự xung đột có thật ấy vào trong tư duy, là sự phản ánh trên ý niệm của sự xung đột ấy, trước hết trong đầu óc của giai cấp trực tiếp chịu đau khổ và sự xung đột ấy, tức là giai cấp công nhân”[5]. Các ông chỉ rõ, giai cấp công nhân là lực lượng duy nhất có sứ mệnh lịch sử cao cả xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ XHCN, CSCN thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những người công nhân hiện đại”[6]. Từ sự vận động tất yếu của lịch sử, các ông chỉ rõ: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”[7]. Bằng những phát hiện vĩ đại này, Mác - Ăngghen đã nâng CNXH từ không tưởng trở thành khoa học, trở thành vũ khí tư tưởng, hệ tư tưởng chỉ đạo phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, chuyển phong đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác, liên tục thu được những thành quả đáng tự hào.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin rút ra kết luận: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ; vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”[8].
3. CNXH hiện thực đã ra đời, tồn tại mang bản chất ưu việt hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Năm 1871, Công xã Pari nổ ra, tuy chỉ tồn tại trong 72 ngày nhưng bước đầu đã chứng minh khả năng cách mạng của giai cấp công nhân và bản chất tốt đẹp của mô hình xã hội XHCN. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), đã sáng lập nên một chế độ xã hội mới – xã hội XHCN. Lần đầu tiên trong lịch sử, khát vọng thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại cần lao đã trở thành hiện thực sinh động trên một đất nước rộng lớn bằng một phần sáu trái đất, “Nước Nga có chuyên lạ đời, biến người nô lệ thành người tự do” và đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.
Nước Nga Xô viết, tiếp sau là Liên Xô  đã sáng tạo nên những giá trị Xô viết vĩ đại để nhân loại tiến bộ noi theo. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chính  quyền Xô viết đã ban hành những sắc lệnh nổi tiếng: Sắc lệnh về Hòa bình, Sắc lệnh về Ruộng đất, đồng thời ban hành hàng loạt chính sách tiến bộ như: ngày làm 8 giờ, giáo dục không mất tiền, bình đẳng nam nữ, tự do tín ngưỡng, tách nhà thờ khỏi nhà trường… Trong hơn 70 năm (1917 - 1991) xây dựng và phát triển, từ một nước Nga lạc hậu, Liên Xô đã trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ), sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới ; kinh tế tăng trưởng hàng năm với tốc độ bình quân vài chục phần trăm, đã từng là cường quốc đứng thứ ba thế giới. Chính trị, văn hóa, khoa học giáo dục đều có sự phát triển vượt bậc và ảnh hưởng lớn đến nhiều nước trên thế giới. Liên-Xô trở thành một dân tộc có nền văn hoá cao, phổ cập giáo dục rộng rãi nhất với ¾ dân số có trình độ từ trung học trở lên, trên 30 triệu người làm việc trí óc[9]. Liên-Xô đi tiên phong trong nhiều ngành khoa học như ngành vũ trụ, hạt nhân, sinh học..., có lĩnh vực đã từng vượt Mỹ. Liên-Xô đã giải phóng  hàng trăm dân tộc thiểu số ra khỏi Nước Nga Sa hoàng - nhà tù của các dân tộc, đem đến cho họ cuộc sống mới. Khắc phục những khác biệt về kinh tế -  xã hội; tăng cường sự đoàn kết, hữu nghị, giao lưu hòa hợp và xích lại gần nhau giữa các dân tộc. Đời sống mọi mặt của các dân tộc được nâng cao. Quần chúng công nông được hưởng đầy đủ các quyền chính trị kinh tế văn hóa xã hội bảo vệ sức khoẻ, chữa bệnh và nhiều giá trị khác nữa như  quyền nhà ở, quyền được học hành, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo… .  Đó chính là những giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt do Liên Xô tạo nên, đã buộc chủ nghĩa tư bản phải tự điều chỉnh, tự tô vẽ lại bộ mặt của mình theo hướng nhân văn hơn, tiến bộ hơn.
Liên Xô đã tích cực, chủ động giúp đỡ  phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc hiệu quả, thiết thực. Chủ nghĩa xã hội hiện thực đứng đầu là Liên Xô đã từng là lực lượng lớn mạnh, có tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự to lớn, đủ sức răn đe, ngăn chặn sự hiếu chiến, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Với sự ủng hộ nhiệt tình, to lớn của Liên Xô, phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc phát triển như vũ bão; phong trào cộng sản- công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới lớn mạnh không ngừng. Liên Xô đã thực sự là thành trì của hoà bình, an ninh quốc tế, góp phần chủ yếu cứu loài người khỏi thảm hoạ phát xít.
Chủ nghĩa xã hội từ một nước phát triển thành một hệ thống thế giới, tạo thế cân bằng với chủ nghĩa tư bản, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt hành tinh. Đó hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, mà là sức sống của một chế độ xã hội XHCN hiện thực tiến bộ, vì con người.
Thế nhưng, sau 70 năm tồn tại và phát triển, CNXH hiện thực đã sụp đổ ngay trên chính quê hương đã sinh ra nó. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cơn chấn động chính trị này, trong đó nguyên nhân sâu xa là sự vận dụng giáo điều chủ nghĩa Mác  - Lênin, duy trì quá lâu mô hình kinh tế - xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp; nguyên nhân trực tiếp là do sai lầm của những người lãnh đạo đứng đầu của Đảng Cộng sản cùng với sự phản bội của một số kẻ cơ hội bên trong kết hợp với sự chống phá của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Bởi thế, sự sụp đổ hệ thống XHCN hoàn toàn không phải là sự sụp đổ của lý tưởng cộng sản, càng không phải là sự phá sản của chủ nghĩa Mác, không phải là sự diệt vong tất yếu của CNXH hiện thực mà là sự đổ vỡ của một mô hình CNXH còn nhiều khuyết tật, không tôn trọng quy luật khách quan… Thực tế, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ,  nhân dân Nga vẫn  đánh giá cao các giá trị Xô viết, trong một cuộc thăm dò dư luận, tiến hành vào ngày 12 tháng 1 năm 2008, trung tâm Phân tích Levada đã đưa ra các số liệu: 57% số người dân Nga được hỏi ý kiến cho rằng: Cách mạng tháng Mười Nga đã đem lại lợi ích cho nhân dân Nga, 26% người được hỏi tin tưởng: cách mạng đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Nga. 31 % cho rằng Cách mạng đem đến sự nhảy vọt cho nền kinh tế và xã hội Nga.
 4. Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng phát triển nhưng những mâu thuẫn cơ bản vốn có không những không được khắc phục mà còn tăng lên, chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ bị thay thế bằng CNXH, CNCS. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc với những nước phụ thuộc ngày càng tăng lên. Đặc biệt, sự tích tụ tư bản với một khối lượng khổng lồ đang ngày càng tập trung vào tay một số ít các nhà tư sản, là điều kiện cho phép các nhóm tư bản và cá nhân thu được lợi nhuận kếch sù. Ở nhiều nước tư bản, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi nhuận là 300%, cá biệt có những nơi lên tới 700% - 800%. Ở Mỹ, 1% người giàu nhất đã làm chủ 40% tài sản, trong khi 80% người dân ở mức thấp nhất làm chủ chỉ có 7% tài sản nước Mỹ[10]. Năm 2011, tại Liên minh châu Âu có 120 triệu người sống trong cảnh nghèo đói. Tổ chức phi chính phủ Oxfam có trụ sở tại Anh, ngày 12 tháng 9 năm 2013 cảnh báo, tới năm 2015, sẽ có thêm 25 triệu người châu Âu rơi vào cảnh đói nghèo[11]. Thực chất sự phát triển của chủ nghĩa tư bản những năm qua chỉ hướng tới phục vụ cho một bộ phận giàu có nhất. Chính điều đó đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gây gắt, làm bùng phát nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân và người lao động chống lại giới chủ tư sản với quy mô rộng khắp. Khởi nguồn là từ “phố Wall” - trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất nước Mỹ (nổ ra vào ngày 14 tháng 9 năm 2012), sau đó, lan rộng ra hàng chục thành phố của Mỹ và các nước thuộc Liên minh châu Âu để phản đối các biện pháp khắc khổ và tỉ lệ thất nghiệp, đói nghèo đang ngày càng gia tăng[12]. Sự phản kháng xã hội mạnh mẽ càng làm bộc lộ bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Khẩu hiệu “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản. Sự thật này một lần nữa chứng minh tính chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững của chủ nghĩa tư bản. Đúng như Mác đã từng nói, chủ nghĩa tư bản đang huỷ hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao động  tài nguyên.
Mặc dù, hiện nay ở nhiều nước tư bản phát triển, đời sống của giai cấp công nhân và người lao động đã được cải thiện, một bộ phận công nhân đã là chủ nhân của một số lượng cổ phiếu nhất định trong công ty và trở thành tầng lớp trung lưu trong xã hội. Đó là kết quả của các cuộc đấu tranh quyết liệt liên tục, bền bỉ của chính bản thân giai cấp công nhân và người lao động chống lại sự áp bức, bóc lột của giới chủ trong suốt nhiều thế kỷ. Nhưng so với tỷ suất bóc lột và những món lợi nhuận kếch xù mà giai cấp tư sản có được thì sự điều chỉnh về chế độ phúc lợi xã hội, an sinh xã hội tiến bộ cho công nhân và người lao động cũng vô cùng nhỏ bé. Suy cho cùng những điều chỉnh của giới chủ theo hướng thỏa mãn ngày càng nhiều hơn những đòi hỏi chính đáng của giai cấp công nhân và người lao động, trước hết cũng là vì lợi ích của chính giai cấp tư sản. Sự điều chỉnh, thích nghi chỉ làm dịu đi những mâu thuẫn xã hội, chứ không làm thay đổi bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, được biểu hiện ở mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản vẫn tồn tại và ngày càng gay gắt, tất yếu chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ bị CNXH, CNCS thay thế trong tương lai.
5. Quá độ lên CNXH vẫn là một tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Trái với dự đoán của nhiều chính khách và phần tử cơ hội sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên xô và Đông Âu, các nước XHCN còn lại không những không bị sụp đổ mà còn đổi mới, cải cách thành công và tiếp tục vững bước đi lên CNXH. Thành công của công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam, cải cách kinh tế ở Lào, kết quả bước đầu của chính sách “cập nhật hoá mô hình kinh tế” ở Cuba,… đã đưa các nước này không chỉ vượt qua được giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, mà còn tạo được những bước đột phá phát triển, là những bằng chứng rõ ràng về sự phục hồi của CNXH. Đồng thời, sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào cánh tả ở nhiều nước Mỹ Latinh trong gần hai thập niên qua là bằng chứng sống động về sự bền bỉ của lý tưởng XHCN. Rõ ràng, mặc dù con đường đi lên CNXH đã và đang trải qua những khó khăn, thử thách, nhưng “theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”[13]. Chủ nghĩa xã hội là hiện thực sinh động, tương lai tươi sáng của nhân loại tiến bộ đang nỗ lực hướng tới...
6.  Đi lên CNXH là khát vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam, phù hợp xu thế thời đại. Trước đòi hỏi cấp thiết của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời, lãnh đạo dân tộc ta làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.
Bằng sức mạnh của CNXH, dân tộc ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ đưa miền Bắc đi lên CNXH, Đại thắng Mùa Xuân 1975 đưa cả nước đi lên CNXH. Đến cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới CNXH hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, phong trào XHCN đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa”. Hiện nay, tình hình thế giới đang có những diễn biến phức tạp, khó lường, sự nghiệp đổi mới đất nước đang đứng trước những thời cơ, vận hội đan xen với những thách thức, khó khăn, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”[14]. 
Nhờ sự kiên định ấy, sau gần 30 đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, thế và lực của đất nước ngày càng được nâng cao. Nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; chính trị xã hội ổn định; quốc phòng an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, công nghiệp và dịch vụ đã chiếm 83% trong tổng GDP; GDP tăng gấp gần 7 lần và kim ngạch xuất khẩu tăng gấp hơn 200 lần; GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 2.200 USD; an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỉ lệ hộ nghèo giảm mạnh, còn dưới 6%, đã có hơn 98% số hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia; tuổi thọ trung bình tăng từ 64,8 tuổi năm 1986 lên khoảng 73,5 tuổi năm 2015. Năm 2000 cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tỷ lệ người lớn biết chữ tăng từ 84% năm 1980 lên 98,25% năm 2014. Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 81% năm 1990 xuống còn khoảng 22,4% năm 2014. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao, thương mại và đầu tư với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; hiện có hơn 18.200 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 256 tỷ USD, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao… Trong những năm vừa qua, trước tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nước ta đã thực hiện được mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội…[15] .
Tuy nhiên, sự nghiệp đổi mới đất nước vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém; có những yếu kém kéo dài chậm được khắc phục. Đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí… chưa được ngăn chặn đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; dân chủ XHCN và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ, kỷ cương pháp nước chưa nghiêm, một số mặt công tác xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm. Trong lịch sử cách mạng, gặp muôn vàn khó khăn trong thời kì những năm 1930 “cơ sở cách mạng bị khủng bố trắng”, những năm 1945, chính quyền cách mạng non trẻ phải chống lại cả “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, trong thời kỳ chống Pháp, “châu chấu đá xe”, chống Mỹ- cường quốc số một thế giới, điên cuồng hòng “đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá”,  những năm 1980 , “lụt bắc, lụt nam, máu tràn biên giới” mà chúng ta đã trải qua và đã giành thắng lợi vĩ đại, thì những hạn chế, khó khăn hiện nay chúng ta đang mắc phải chúng ta tin tưởng nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng có thể và sẽ khắc phục được. CNXH không phải là ảo tưởng mà là hiện thực đang ngày càng sinh động ở nước ta. Hiện thực đó không phải chỉ những người cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam tự nhận, tự thấy mà được các nước, các tổ chức quốc tế thừa nhận và ca ngợi. Thô-mát Gian-đơn (Thomas Jandl), TS người Mỹ đã nhiều lần đến Việt Nam, nhận xét: Việt Nam đã rất thành công và đạt nhiều tiến bộ trong giải quyết vấn đề liên quan đến quyền con người như: Chương trình xóa đói giảm nghèo và hoàn thành sớm Mục tiêu Thiên niên kỷ. Nhìn vào tổng thể, có thể nói Việt Nam đã bảo đảm tốt hơn các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân… Việt Nam được thế giới biết đến như một tấm gương về tiến độ thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, đặc biệt là mục tiêu xóa đói, giảm nghèo. Thành tựu Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là to lớn và rất quan trọng, có ý nghĩa không chỉ với quốc gia mà ở mức độ nhất định cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. “… tương lai của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc ở mức độ quyết định vào những cuộc cải cách của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc và Việt Nam”[16].  Hiện thực ấy cũng là những đòn giáng trả đanh thép giành cho những kẻ cơ hội chính trị đang hàng ngày, hàng giờ kêu gào đòi từ bỏ CNXH. 
Lịch sử phát triển của nhân loại đã minh chứng, tầng lớp chủ nô có tàn bạo đến đâu cũng không duy trì mãi được chế độ nô lệ và phải bị chế độ phong kiến thay thế; tầng lớp địa chủ, quý tộc  có vạn lần tung  hô “quốc vương vạn tuế”  thì chế độ phong kiến cũng bị chế độ tư bản thay thế; và hiện nay giai cấp tư sản có trăm phương ngàn kế tô vẽ chủ nghĩa tư bản vĩnh hằng, thì nó cũng sẽ bị CNXH, CNCS thay thế. Đó là quy luật thép của sự phát triển lịch sử xã hội loài người. Đảng ta, nhân dân ta phấn đấu đi lên CNXH, CNCS là phù hợp với quy luật thép ấy./.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Mátxitcova, 1979, tr.53
[2] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 13, Nxb Tiến bộ, Mátxitcova, 1979, t.13, tr.159
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.21
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 445 - 446
[5] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 372 - 373
[6] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 605
[7] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 613
[8] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1981, tr. 140
[9] Nguyễn Anh Thái (chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 258 - 259.
[11] Xem:  http://vov.vn/The-gioi/Gan-1-ty-nguoi-van-con-trong-tinh-trang-doi-ngheo/284316.vov.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG.H. 2011, tr. 69
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG.H. 2011, tr 70.
[15] Xem: http://baodientu.chinhphu.vn/Diễn văn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Lễ kỷ niệm Ngày 30/4.
[16]Giáo sư, Tiến sĩ Alếchxăng Lilốp:Việt nam trong thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.1, tr. 156.  

CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM ĐANG ĐƯỢC CHĂM LO TOÀN DIỆN

Hiện nay, các thế lực thù địch đang vu khống xuyên tạc rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam "đàn áp các dân tộc", vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, “chiếm đất”, “đàn áp, kìm kẹp người dân tộc thiểu số”, “vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế”… nhằm kích động tư tưởng đòi “tự trị”, “ly khai” “chia nhỏ”, “xé lẻ” Việt Nam.
Sự thật, chỉ có chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, tổ chức nhân dân đấu tranh, giành độc lập, xây dựng chế độ mới, mới thực sự đem lại độc lập, tự do, cơm no, áo ấm, cuộc sống hạnh phúc, tốt đẹp cho đồng bào các dân tộc ở Việt Nam như hiện nay.
Sự thật, chỉ từ khi Đảng ta lãnh đạo, tổ chức nhân dân ta đấu tranh làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945 thắng lợi thì các tộc người và cả dân tộc Việt Nam từ trong đêm trường nô lệ dưới ách áp bức, đô hộ của đế quốc Pháp, mặc cảm, miệt thị, ăn hiếp lẫn nhau… mới “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” trở thành chủ nhân chân chính của đất nước. Chế độ mới đã nâng quan hệ giữa các tộc người lên trình độ mới: Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển. Hiến pháp năm 1946 khẳng định: "Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung". Thay mặt Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định các dân tộc đều là anh em, phải đoàn kết để xây dựng, bảo vệ đất nước:"Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xơ Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau". “Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta”. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG. H. 2000, tr. 217-218).

Khám, chữa bệnh miễn phí cho đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Lạng Sơn. Ảnh: internet.
Nhờ phát huy cao độ sức mạnh tất cả các dân tộc trên cơ sở quan hệ bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển, chúng ta vừa kháng chiến, vừa kiến quốc đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đấu tranh thống nhất nước nhà. Hơn hai mươi năm sau, chúng ta làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước, cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đóng góp vào chiến công chung đó có công sức của tất cả các tộc người, trong đó có các tộc người thiểu số, tiêu biểu là hàng trăm cá nhân và đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang, hơn 300 Bà mẹ Việt Nam anh hùng là người dân tộc thiểu số.
Khi đất nước thống nhất, Đảng, Nhà nước ta có điều kiện để quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân tộc; xác lập quyền bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các tộc người. Các Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, V, VI, được cụ thể hóa tại các Nghị quyết 22-NQTW ngày 27-11-1989 của Bộ Chính trị và Quyết định 72-HĐBT ngày 13-3-1990 của Hội đồng Bộ trưởng đề ra chủ trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX, X, XI, đặc biệt có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, Khóa IX về công tác dân tộc, đã tiếp tục đề ra các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp quan trọng về dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc. Quan hệ dân tộc ở nước ta đã thu được kết quả tốt đẹp. Trong khi nhiều nước trên thế giới như các nước Bắc Phi, Mỹ La-tinh và cả ở Đông Nam Á… xung đột sắc tộc, chia rẽ, ly khai dân tộc xảy ra liên miên thì ở nước ta tình hình chính trị xã hội ổn định, 54 dân tộc anh em sống bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vùng dân tộc thiểu số từng bước hình thành và phát triển, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa. Tốc độ tăng trưởng GDP của các tỉnh miền núi luôn đạt mức bình quân từ 8 đến 10%/năm trong suốt nhiều năm. Số hộ đói nghèo hằng năm giảm khoảng 4-5%. Kinh tế trang trại phát triển nhanh cả về số lượng và quy mô. Điển hình từ năm 2000 ở xã Tân Châu, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng có 1.395 hộ thì đã có 20% hộ thu nhập hơn 500 triệu đồng/hộ/năm, cả xã có 30 ô tô tải, 306 máy kéo, 717 xe máy… hộ nghèo chỉ còn 5%.
Cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống vùng dân tộc được xây dựng ngày càng nhiều. Hệ thống ruộng nước, ruộng bậc thang được mở rộng; hệ thống thủy lợi phát triển mạnh: Việt Bắc có 70-80%, Tây Bắc 60%, Tây Nguyên 90% diện tích ruộng được các công trình thủy lợi tưới nước.
Mạng lưới giao thông phát triển khá: Gần 100% xã có đường ô tô tới trung tâm. Ngày xưa, từ Hà Nội lên Lai Châu mất 1 tháng thì nay chỉ 1 ngày; lên Mèo Vạc, Lũng Cú cũng chỉ mất hơn 1 ngày… Đường mở đến đâu là kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng phát triển đến đó. Đây là một thành công lớn của Đảng, Nhà nước ta, đem lại lợi ích toàn diện cho đồng bào.
Giáo dục, đào tạo vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc được quan tâm; quy mô giáo dục tiếp tục phát triển, xã hội hóa giáo dục, đào tạo thu được thành tựu bước đầu: 100% số xã đặc biệt khó khăn có trường tiểu học, nhà mẫu giáo; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt 90-95%; đến năm 2010, cả nước đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Đời sống văn hóa của đồng bào được nâng cao: 90% xã có điện thoại, 80% số hộ được xem truyền hình, 90% được nghe đài phát thanh bằng tiếng các dân tộc; gần 100% xã vùng dân tộc có nhà văn hóa, bưu điện văn hóa; văn hóa truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy.
Việc khám, chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa được quan tâm hơn: Gần 100% số xã có cán bộ y tế trực; 93,5% số xã có trạm y tế; hơn 95% trẻ em được tiêm chủng theo Chương trình tiêm chủng mở rộng. Các loại bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn và từng bước đẩy lùi.
Hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi bước đầu được tăng cường và củng cố. Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đã có bước trưởng thành, tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị các cấp ngày càng cao. Hàng vạn sinh viên dân tộc thiểu số được đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp theo chế độ cử tuyển. Tình hình chính trị, trật tự xã hội vùng dân tộc cơ bản ổn định; an ninh, quốc phòng được giữ vững (theo Báo cáo Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7, Khóa IX về công tác dân tộc, ngày 29-7-2009).
Thô-mát Gian-đơn (Thomas Jandl), TS người Mỹ đã nhiều lần đến Việt Nam, nhận xét: Việt Nam đã rất thành công và đạt nhiều tiến bộ trong giải quyết vấn đề liên quan đến quyền con người như: Chương trình xóa đói giảm nghèo và hoàn thành sớm Mục tiêu Thiên niên kỷ. Nhìn vào tổng thể, có thể nói Việt Nam đã bảo đảm tốt hơn các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân… Việt Nam được thế giới biết đến như một tấm gương về tiến độ thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, đặc biệt là mục tiêu xóa đói, giảm nghèo (xem Báo Quân đội nhân dân ngày 13-6-2011). Tất cả những thành tựu đó đã chứng tỏ quan hệ bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các tộc người tiếp tục được củng cố, tăng cường. Đây là thành công lớn do công cuộc Đổi mới đem lại, mà những người mặc cảm, định kiến nhất đối với chúng ta cũng không thể nào phủ nhận được.
Hiện nay, chúng ta càng có điều kiện thuận lợi để tiếp tục củng cố mối quan hệ dân tộc tốt đẹp hơn. Công cuộc Đổi mới đã đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội đã có bước phát triển vượt bậc, nhất là bưu chính, viễn thông, dịch vụ, giao thông. Sức mạnh về mọi mặt được tăng cường, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Tiềm lực, sức mạnh tổng hợp đó đã cho phép Đảng, Nhà nước ta có điều kiện tốt hơn để quan tâm, giải quyết vấn đề dân tộc.
Tuy nhiên, vấn đề dân tộc rất đa dạng, sinh động, liên quan đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội, không kém phần phức tạp, vừa cấp bách, vừa lâu dài. Bởi nó có nguyên nhân từ những vấn đề lịch sử để lại; do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên; do phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; do sự chống phá của các thế lực thù địch và do cả những hạn chế, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta... Do đó, không thể giải quyết tốt mọi vấn đề dân tộc trong ngày một, ngày hai.

Bởi thế, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục tập trung thực hiện tốt hơn nữa chính sách dân tộc, nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân các dân tộc, củng cố xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

PHẢI CHĂNG CHẾ ĐỘ ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP LÀ PHÁT HUY ĐƯỢC DÂN CHỦ?

Những năm qua, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện các âm mưu, thủ đoạn nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội (CNXH) và phong trào cách mạng thế giới thông qua chiến lược “diễn biến hoà bình”. Một trong những mũi nhọn mà chúng sử dụng là bôi nhọ, vu khống, xuyên tạc mô hình chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó đặc biệt là chế độ một Đảng Cộng sản cầm quyền. Hiện nay họ đang sử dụng các trang mạng xã hội để tuyên truyền rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới rằng chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì dân chủ mới được tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Họ cho rằng chế độ một đảng cộng sản cầm quyền như ở các nước XHCN là hoàn toàn không có dân chủ. Điều đó đúng hay sai, để trả lời câu hỏi đó cần phải tìm hiểu và luận giải sâu kỹ mới có thể khẳng định được.
Khi nghiên cứu về dân chủ cho ta thấy, dân chủ với tư cách là hình thức chế độ chính trị của nhà nước, dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, nên không bao giờ có một thứ dân chủ “thuần tuý chung chung”, dân chủ phi giai cấp, mà bao giờ nó cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Sự phát triển của các nền dân chủ chịu sự quy định trực tiếp của quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội và thông qua đấu tranh giai cấp.
Trong lịch sử nhân loại, với việc xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã thực hiện một bước tiến vượt bậc về dân chủ bằng việc xoá bỏ chế độ thần quyền phong kiến, hình thành xã hội công dân mà ở đó quyền tự do cá nhân được thừa nhận. Nhưng, sau khi đã thiết lập được quyền thống trị của mình, giai cấp tư sản từng bước sử dụng dân chủ như một hình thức thống trị giai cấp. Sự hạn hẹp của nền dân chủ tư sản nằm ngay trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Sự phát triển của lịch sử trên nền móng của sự phát triển các lực lượng sản xuất với trình độ xã hội hoá ngày càng sâu rộng của nó tạo ra những tiền đề khách quan để phủ nhận phương thức tư bản chủ nghĩa, chấm dứt vai trò lịch sử của giai cấp tư sản. Đó cũng chính là quy luật phát triển nội tại của nền dân chủ xã hội, của bước chuyển biến lớn lao từ nền dân chủ tư sản sang dân chủ XHCN trên phạm vi toàn thế giới. Hướng đến CNXH là hướng đến một nền dân chủ tiến bộ và hoàn thiện. Cuộc đấu tranh vì CNXH là cuộc đấu tranh vì một chế độ dân chủ chân chính nhất. Dân chủ XHCN và dân chủ tư sản khác nhau về bản chất và về trình độ với tư cách là những xã hội nối tiếp nhau trong nấc thang từ thấp lên cao của xã hội loài người.
Nền dân chủ vô sản gắn chặt với cuộc đấu tranh vì CNXH, cho nên nó chỉ có thể thực hiện được bằng con đường thiết lập quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với toàn thể xã hội thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.
Như đã biết, đa nguyên về chính trị và đa đảng đối lập là nét đặc trưng của thể chế chính trị tư sản trên thế giới hiện nay. Nói chung, ở các nước tư bản, về hình thức thì các đảng chính trị đều “tự do”, “bình đẳng” trong cuộc đấu tranh nghị trường và đều có khả năng trở thành đảng cầm quyền, nhưng trong thực tế thì chỉ có các đảng lớn, có thế lực, được sự hậu thuẫn của các tập đoàn tư bản độc quyền mới có khả năng chiến thắng. Mặt khác, chế độ đa đảng ở phương Tây, xét trong thực chất, cũng là dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị vì tất cả các đảng cánh hữu đều nhằm phục vụ chế độ tư bản. Đúng là cơ chế đa đảng đưa lại một số tác động tích cực nhất định cho các đảng tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo điều kiện cho họ khả năng tránh nguy cơ chuyên quyền, độc đoán. Tuy vậy, thể chế đa đảng này cũng dễ khuyến khích các lực lượng đối lập vì lợi ích cục bộ chỉ biết phản đối tất cả những gì của đảng cầm quyền, bất chấp phải- trái, đúng- sai. Hệ quả là làm xuất hiện một nền chính trị vị quyền lực và một công nghệ đấu đá chính trị trên lưng những lợi ích chính đáng của đông đảo cử tri.
Tính giai cấp của nền dân chủ tư bản phương Tây được thể hiện thông qua vị trí của tiền bạc ngày càng trở thành yếu tố quyết định trong đời sống chính trị. Cái gọi là “nền dân chủ Mỹ” chỉ là nền dân chủ của nhà giàu.
Như vậy, dân chủ hay không dân chủ  không phụ thuộc vào số lượng các đảng chính trị, vào việc có áp dụng hay không áp dụng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Trong từng thời điểm cụ thể, nhà nước nói riêng và xã hội nói chung đều phải do một đảng lãnh đạo. Có hay không có dân chủ, dân chủ được thực hiện ở trình độ cao hay thấp, tất cả phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền, chứ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các đảng phái chính trị.
Trong các nước XHCN, Đảng Cộng sản là tổ chức thực hiện sự thống trị của giai cấp vô sản, cho nên sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với hệ thống chính trị là điều đương nhiên. Điều đó được thể hiện ở đường lối, chính sách của Đảng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội  sẽ được thể chế hoá trong toàn bộ Hiến pháp và pháp luật. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và phát triển của nhà nước XHCN.
Ở Việt Nam, thực hiện dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là bản chất, là quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của Nhà nước Việt Nam XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Từ khi ra đời đến nay, Đảng là nhân tố đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó không phải là ý chí chủ quan về chính trị mà là một tất yếu khách quan của lịch sử. Mọi mưu toan hạ thấp vai trò của Đảng Cộng sản là trái với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan cho việc hình thành chế độ đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc. Ngoài Đảng Cộng sản, không một đảng phái hoặc một lực lượng chính trị nào có thể đưa ra được cương lĩnh, đường lối cho cách mạng Việt Nam, có thể đồng thời giải quyết hai mục tiêu dân tộc và dân chủ, độc lập dân tộc và CNXH.
Để thực hành dân chủ rộng rãi, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân chủ đã là một sản phẩm thực tế và đang trên đà phát triển với các thành tựu của sự nghiệp đổi mới. Ngày nay, dân chủ đã được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, tư tưởng... Đó là các quyền sử dụng tư liệu sản xuất, có công ăn việc làm, quyền học tập và hưởng thụ văn hóa, quyền tham gia quản lý nhà nước, giám sát cán bộ, đảng viên, công chức và cơ quan Nhà nước, quyền đóng góp ý kiến vào các chủ trương, chính sách, pháp luật, bày tỏ ý kiến về các hiện tượng tích cực và tiêu cực trong đời sống xã hội. 

PHẢI CHĂNG CHẾ ĐỘ ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP LÀ PHÁT HUY ĐƯỢC DÂN CHỦ?

Những năm qua, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện các âm mưu, thủ đoạn nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội (CNXH) và phong trào cách mạng thế giới thông qua chiến lược “diễn biến hoà bình”. Một trong những mũi nhọn mà chúng sử dụng là bôi nhọ, vu khống, xuyên tạc mô hình chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó đặc biệt là chế độ một Đảng Cộng sản cầm quyền. Hiện nay họ đang sử dụng các trang mạng xã hội để tuyên truyền rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới rằng chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì dân chủ mới được tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Họ cho rằng chế độ một đảng cộng sản cầm quyền như ở các nước XHCN là hoàn toàn không có dân chủ. Điều đó đúng hay sai, để trả lời câu hỏi đó cần phải tìm hiểu và luận giải sâu kỹ mới có thể khẳng định được.
Khi nghiên cứu về dân chủ cho ta thấy, dân chủ với tư cách là hình thức chế độ chính trị của nhà nước, dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, nên không bao giờ có một thứ dân chủ “thuần tuý chung chung”, dân chủ phi giai cấp, mà bao giờ nó cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Sự phát triển của các nền dân chủ chịu sự quy định trực tiếp của quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội và thông qua đấu tranh giai cấp.
Trong lịch sử nhân loại, với việc xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã thực hiện một bước tiến vượt bậc về dân chủ bằng việc xoá bỏ chế độ thần quyền phong kiến, hình thành xã hội công dân mà ở đó quyền tự do cá nhân được thừa nhận. Nhưng, sau khi đã thiết lập được quyền thống trị của mình, giai cấp tư sản từng bước sử dụng dân chủ như một hình thức thống trị giai cấp. Sự hạn hẹp của nền dân chủ tư sản nằm ngay trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Sự phát triển của lịch sử trên nền móng của sự phát triển các lực lượng sản xuất với trình độ xã hội hoá ngày càng sâu rộng của nó tạo ra những tiền đề khách quan để phủ nhận phương thức tư bản chủ nghĩa, chấm dứt vai trò lịch sử của giai cấp tư sản. Đó cũng chính là quy luật phát triển nội tại của nền dân chủ xã hội, của bước chuyển biến lớn lao từ nền dân chủ tư sản sang dân chủ XHCN trên phạm vi toàn thế giới. Hướng đến CNXH là hướng đến một nền dân chủ tiến bộ và hoàn thiện. Cuộc đấu tranh vì CNXH là cuộc đấu tranh vì một chế độ dân chủ chân chính nhất. Dân chủ XHCN và dân chủ tư sản khác nhau về bản chất và về trình độ với tư cách là những xã hội nối tiếp nhau trong nấc thang từ thấp lên cao của xã hội loài người.
Nền dân chủ vô sản gắn chặt với cuộc đấu tranh vì CNXH, cho nên nó chỉ có thể thực hiện được bằng con đường thiết lập quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với toàn thể xã hội thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.
Như đã biết, đa nguyên về chính trị và đa đảng đối lập là nét đặc trưng của thể chế chính trị tư sản trên thế giới hiện nay. Nói chung, ở các nước tư bản, về hình thức thì các đảng chính trị đều “tự do”, “bình đẳng” trong cuộc đấu tranh nghị trường và đều có khả năng trở thành đảng cầm quyền, nhưng trong thực tế thì chỉ có các đảng lớn, có thế lực, được sự hậu thuẫn của các tập đoàn tư bản độc quyền mới có khả năng chiến thắng. Mặt khác, chế độ đa đảng ở phương Tây, xét trong thực chất, cũng là dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị vì tất cả các đảng cánh hữu đều nhằm phục vụ chế độ tư bản. Đúng là cơ chế đa đảng đưa lại một số tác động tích cực nhất định cho các đảng tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo điều kiện cho họ khả năng tránh nguy cơ chuyên quyền, độc đoán. Tuy vậy, thể chế đa đảng này cũng dễ khuyến khích các lực lượng đối lập vì lợi ích cục bộ chỉ biết phản đối tất cả những gì của đảng cầm quyền, bất chấp phải- trái, đúng- sai. Hệ quả là làm xuất hiện một nền chính trị vị quyền lực và một công nghệ đấu đá chính trị trên lưng những lợi ích chính đáng của đông đảo cử tri.
Tính giai cấp của nền dân chủ tư bản phương Tây được thể hiện thông qua vị trí của tiền bạc ngày càng trở thành yếu tố quyết định trong đời sống chính trị. Cái gọi là “nền dân chủ Mỹ” chỉ là nền dân chủ của nhà giàu.
Như vậy, dân chủ hay không dân chủ  không phụ thuộc vào số lượng các đảng chính trị, vào việc có áp dụng hay không áp dụng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Trong từng thời điểm cụ thể, nhà nước nói riêng và xã hội nói chung đều phải do một đảng lãnh đạo. Có hay không có dân chủ, dân chủ được thực hiện ở trình độ cao hay thấp, tất cả phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền, chứ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các đảng phái chính trị.
Trong các nước XHCN, Đảng Cộng sản là tổ chức thực hiện sự thống trị của giai cấp vô sản, cho nên sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với hệ thống chính trị là điều đương nhiên. Điều đó được thể hiện ở đường lối, chính sách của Đảng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội  sẽ được thể chế hoá trong toàn bộ Hiến pháp và pháp luật. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và phát triển của nhà nước XHCN.
Ở Việt Nam, thực hiện dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là bản chất, là quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của Nhà nước Việt Nam XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Từ khi ra đời đến nay, Đảng là nhân tố đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó không phải là ý chí chủ quan về chính trị mà là một tất yếu khách quan của lịch sử. Mọi mưu toan hạ thấp vai trò của Đảng Cộng sản là trái với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan cho việc hình thành chế độ đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc. Ngoài Đảng Cộng sản, không một đảng phái hoặc một lực lượng chính trị nào có thể đưa ra được cương lĩnh, đường lối cho cách mạng Việt Nam, có thể đồng thời giải quyết hai mục tiêu dân tộc và dân chủ, độc lập dân tộc và CNXH.
Để thực hành dân chủ rộng rãi, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân chủ đã là một sản phẩm thực tế và đang trên đà phát triển với các thành tựu của sự nghiệp đổi mới. Ngày nay, dân chủ đã được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, tư tưởng... Đó là các quyền sử dụng tư liệu sản xuất, có công ăn việc làm, quyền học tập và hưởng thụ văn hóa, quyền tham gia quản lý nhà nước, giám sát cán bộ, đảng viên, công chức và cơ quan Nhà nước, quyền đóng góp ý kiến vào các chủ trương, chính sách, pháp luật, bày tỏ ý kiến về các hiện tượng tích cực và tiêu cực trong đời sống xã hội. 

PHẢI CHĂNG CHẾ ĐỘ ĐA NGUYÊN CHÍNH TRỊ, ĐA ĐẢNG ĐỐI LẬP LÀ PHÁT HUY ĐƯỢC DÂN CHỦ?

Những năm qua, các thế lực thù địch ráo riết thực hiện các âm mưu, thủ đoạn nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội (CNXH) và phong trào cách mạng thế giới thông qua chiến lược “diễn biến hoà bình”. Một trong những mũi nhọn mà chúng sử dụng là bôi nhọ, vu khống, xuyên tạc mô hình chính trị - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), trong đó đặc biệt là chế độ một Đảng Cộng sản cầm quyền. Hiện nay họ đang sử dụng các trang mạng xã hội để tuyên truyền rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới rằng chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì dân chủ mới được tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Họ cho rằng chế độ một đảng cộng sản cầm quyền như ở các nước XHCN là hoàn toàn không có dân chủ. Điều đó đúng hay sai, để trả lời câu hỏi đó cần phải tìm hiểu và luận giải sâu kỹ mới có thể khẳng định được.
Khi nghiên cứu về dân chủ cho ta thấy, dân chủ với tư cách là hình thức chế độ chính trị của nhà nước, dân chủ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, nên không bao giờ có một thứ dân chủ “thuần tuý chung chung”, dân chủ phi giai cấp, mà bao giờ nó cũng mang bản chất giai cấp sâu sắc. Sự phát triển của các nền dân chủ chịu sự quy định trực tiếp của quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội và thông qua đấu tranh giai cấp.
Trong lịch sử nhân loại, với việc xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản đã thực hiện một bước tiến vượt bậc về dân chủ bằng việc xoá bỏ chế độ thần quyền phong kiến, hình thành xã hội công dân mà ở đó quyền tự do cá nhân được thừa nhận. Nhưng, sau khi đã thiết lập được quyền thống trị của mình, giai cấp tư sản từng bước sử dụng dân chủ như một hình thức thống trị giai cấp. Sự hạn hẹp của nền dân chủ tư sản nằm ngay trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Sự phát triển của lịch sử trên nền móng của sự phát triển các lực lượng sản xuất với trình độ xã hội hoá ngày càng sâu rộng của nó tạo ra những tiền đề khách quan để phủ nhận phương thức tư bản chủ nghĩa, chấm dứt vai trò lịch sử của giai cấp tư sản. Đó cũng chính là quy luật phát triển nội tại của nền dân chủ xã hội, của bước chuyển biến lớn lao từ nền dân chủ tư sản sang dân chủ XHCN trên phạm vi toàn thế giới. Hướng đến CNXH là hướng đến một nền dân chủ tiến bộ và hoàn thiện. Cuộc đấu tranh vì CNXH là cuộc đấu tranh vì một chế độ dân chủ chân chính nhất. Dân chủ XHCN và dân chủ tư sản khác nhau về bản chất và về trình độ với tư cách là những xã hội nối tiếp nhau trong nấc thang từ thấp lên cao của xã hội loài người.
Nền dân chủ vô sản gắn chặt với cuộc đấu tranh vì CNXH, cho nên nó chỉ có thể thực hiện được bằng con đường thiết lập quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản đối với toàn thể xã hội thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.
Như đã biết, đa nguyên về chính trị và đa đảng đối lập là nét đặc trưng của thể chế chính trị tư sản trên thế giới hiện nay. Nói chung, ở các nước tư bản, về hình thức thì các đảng chính trị đều “tự do”, “bình đẳng” trong cuộc đấu tranh nghị trường và đều có khả năng trở thành đảng cầm quyền, nhưng trong thực tế thì chỉ có các đảng lớn, có thế lực, được sự hậu thuẫn của các tập đoàn tư bản độc quyền mới có khả năng chiến thắng. Mặt khác, chế độ đa đảng ở phương Tây, xét trong thực chất, cũng là dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị vì tất cả các đảng cánh hữu đều nhằm phục vụ chế độ tư bản. Đúng là cơ chế đa đảng đưa lại một số tác động tích cực nhất định cho các đảng tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo điều kiện cho họ khả năng tránh nguy cơ chuyên quyền, độc đoán. Tuy vậy, thể chế đa đảng này cũng dễ khuyến khích các lực lượng đối lập vì lợi ích cục bộ chỉ biết phản đối tất cả những gì của đảng cầm quyền, bất chấp phải- trái, đúng- sai. Hệ quả là làm xuất hiện một nền chính trị vị quyền lực và một công nghệ đấu đá chính trị trên lưng những lợi ích chính đáng của đông đảo cử tri.
Tính giai cấp của nền dân chủ tư bản phương Tây được thể hiện thông qua vị trí của tiền bạc ngày càng trở thành yếu tố quyết định trong đời sống chính trị. Cái gọi là “nền dân chủ Mỹ” chỉ là nền dân chủ của nhà giàu.
Như vậy, dân chủ hay không dân chủ  không phụ thuộc vào số lượng các đảng chính trị, vào việc có áp dụng hay không áp dụng chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Trong từng thời điểm cụ thể, nhà nước nói riêng và xã hội nói chung đều phải do một đảng lãnh đạo. Có hay không có dân chủ, dân chủ được thực hiện ở trình độ cao hay thấp, tất cả phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền, chứ không phụ thuộc vào số lượng nhiều hay ít các đảng phái chính trị.
Trong các nước XHCN, Đảng Cộng sản là tổ chức thực hiện sự thống trị của giai cấp vô sản, cho nên sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với hệ thống chính trị là điều đương nhiên. Điều đó được thể hiện ở đường lối, chính sách của Đảng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội  sẽ được thể chế hoá trong toàn bộ Hiến pháp và pháp luật. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và phát triển của nhà nước XHCN.
Ở Việt Nam, thực hiện dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là bản chất, là quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của Nhà nước Việt Nam XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Từ khi ra đời đến nay, Đảng là nhân tố đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó không phải là ý chí chủ quan về chính trị mà là một tất yếu khách quan của lịch sử. Mọi mưu toan hạ thấp vai trò của Đảng Cộng sản là trái với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Việc thực hiện dân chủ ở Việt Nam không có sự cần thiết khách quan cho việc hình thành chế độ đa đảng đối lập, đa nguyên chính trị. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và hạnh phúc. Ngoài Đảng Cộng sản, không một đảng phái hoặc một lực lượng chính trị nào có thể đưa ra được cương lĩnh, đường lối cho cách mạng Việt Nam, có thể đồng thời giải quyết hai mục tiêu dân tộc và dân chủ, độc lập dân tộc và CNXH.
Để thực hành dân chủ rộng rãi, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân chủ đã là một sản phẩm thực tế và đang trên đà phát triển với các thành tựu của sự nghiệp đổi mới. Ngày nay, dân chủ đã được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, tư tưởng... Đó là các quyền sử dụng tư liệu sản xuất, có công ăn việc làm, quyền học tập và hưởng thụ văn hóa, quyền tham gia quản lý nhà nước, giám sát cán bộ, đảng viên, công chức và cơ quan Nhà nước, quyền đóng góp ý kiến vào các chủ trương, chính sách, pháp luật, bày tỏ ý kiến về các hiện tượng tích cực và tiêu cực trong đời sống xã hội.