Hiển thị các bài đăng có nhãn kết quả. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kết quả. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN KẾT QUẢ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Hiện nay, trên các trang mạng xã hội, blogger cá nhân xuất hiện một số tổ chứ Quốc tế có thâm thù, kỳ thị với chế độ chính trị và Nhà nước ta, đã lấy vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” làm cái cớ để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền”. Họ xuyên tạc, boi den tình hình nhân quyền ở Việt Nam rằng: “Việt Nam là một quốc gia mà tôn giáo nằm dưới sự chi phối của chính phủ”, “Việt Nam đang cô đơn" vv... Tuy nhiên, cho dù họ có ra sức chống phả, xuyên tạc, bôi đen với chiêu trò nào đi chăng nữa cũng không thể phủ nhận, xóa bỏ những thành quả to lớn về bảo đảm quyền con người mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được trong những năm vừa qua.

Trong cương lĩnh, đường lối của Đảng ta từ khi thành lập đến nay, Đảng luôn nhất quán quan điểm xem quyền con người là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định những cam kết quốc tế của Nhà Nước ta với cộng đồng quốc tế về quyền con người: Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết. Hiến pháp năm 2013 đã dành cả một chương (chương II) quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, nêu rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bao đảm theo hiến pháp và pháp luật” (khoản 1, Điều 14)

Cho đến nay, Việt Nam đã gia nhập, ký kết nhiều công ước quốc tế cơ bản về quyền con người và công ước chuyên biệt về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như: “Công ước quốc tế về Quyền Dân sự, Chính trị, năm 1966; Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” “Công ước chống tra tấn” (CAT) và “Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật, năm 2014.vv...

Trên thực tế, các quyền về dân sự, chính trị, quyền tự do tín ngưỡng, tôn  giáo và quyền của các dân tộc thiểu số được bảo đảo ngày càng tốt hơn. Quyền tự do ngôn luận báo chí ngày càng được bảo đảm đầy đủ và phát triển tốt. Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa, việc bảo đảm quyền con người được thực hiện ngày càng tốt hơn thông qua tốc độ tăng trưởng kinh tế. Bình quân thu nhập đầu người tăng lên; tỷ lệ hộ ghèo giảm xuống, Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho nhóm ghèo, hộ ghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số vv…

Những thành tựu trên đây là cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc, chứng minh quyền con người ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm đầy đủ. Các thế lực thù địch dù có dung mưu thâm, kế hiểm thế nào đi chăng nữa cũng không thể phủ nhận kết quả bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

TÍNH TẤT YẾU CỦA SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THÉ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Ngay đầu những năm 40 thế kỷ XIX, từ quan điểm duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu GCVS và phát hiện được SMLS của nó và xem đó là nhiệm vụ khách quan mà sự  phát triển của chế độ “sở hữu tư nhân” đã tất yếu đặt ra cho chính GCCN. Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh…” các ông đã chính thức sử dụng thuật ngữ “không tránh khỏi”,tính tất yếu” để chỉ nói về cơ sở khách quan của SMLS của GCVS mà nó phải “thi hành” như một “nhiệm vụ lịch sử” - nhiệm vụ được “chỉ ra từ trước” và gắn với “chế độ tư hữu. Các ông viết: “Giai cấp vô sản đang thi hành bản án mà chế độ tư hữu, trong khi đẻ ra giai cấp vô sản, đã làm ra cho mình, cũng giống như nó đang thi hành bản án mà lao động làm thuê, trong khi sản xuất ra sự giàu có cho kẻ khác và sự khốn cùng cho bản thân, đã làm ra cho mình”.

Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã đạt được trước đó, trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát, hệ thống hóa và đề cập một cách toàn diện tính tất yếu của SMLS của GCVS. Sau này, khi đánh giá ý nghĩa của “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh rằng đây là “tác phẩm phổ biến hơn cả, có tính chất quốc tế hơn cả, trong tất cả các văn phẩm xã hội chủ nghĩa, đó là cương lĩnh chung của hàng triệu công nhân tất cả các nước…”.

Trong các tác phẩm được viết sau “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tiếp tục nghiên cứu và khẳng định tính tất yếu của SMLS của GCCN. Đặc biệt, trong “Lời bạt viết cho lần xuất bản thứ hai” (1873) của tác phẩm “Tư bản -Tập I”, C. Mác đã khẳng định: “Trong chừng mực sự phê phán đó nói chung đại biểu cho một giai cấp nhất định thì nó chỉ có thể đại biểu cho giai cấp mà sứ mệnh lịch sử là thực hiện một cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và vĩnh viễn xóa bỏ các giai cấp, tức là cho giai cấp vô sản, mà thôi”.

Theo tư tưởng của các ông, tính tất yếu của SMLS của GCCN được biểu hiện ở tất yếu kinh tế, tất yếu xã hội, tất yếu chính trị, tất yếu văn hóa-tư tưởng-xã hội và tất yếu quốc tế. Đồng thời, khi nói về tầm quan trọng của việc nhận thức quy luật khách quan đối với hoạt động tực tiễn con người, Ph.Ăngghen nói: “Những lực lượng xa lạ khách quan, từ trước đến nay vẫn thống trị lịch sử, giờ đây sẽ chính do con người kiểm soát. Chỉ có từ lúc đó, loài người mới sáng tạo ra lịch sử của mình một cách hoàn toàn tự giác; chỉ có từ lúc đó những  nguyên nhân xã hội mà họ đem vận dụng mới đưa lại những kết quả mà họ mong muốn, với một mức độ rất lớn và luôn tăng lên mãi”.

Như vậy là, toàn bộ những tư tưởng cách mạng và khoa học về tính tất yếu của SMLS của GCCN đều là kết quả nghiên cứu của C.Mác, Ph.Ăngghen và sau này là V.I.Lênin đối với quá trình vận động khách quan của xã hội loài người nói chung và trực tiếp là của xã hội TBCN nói riêng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở mỗi quốc gia và trên phạm vi quốc tế. Ngày nay, dù CNTB đang có những điều chỉnh để che đậy những hạn chế, khuyết tật mang tính bản chất của mình và dù cho nhân loại đang biến động nhanh chóng, khó lường- những biến động đang tác động trực tiếp đến sự phát triển của GCCN nhưng những luận điểm về tính tất yếu của sứ mệnh lịch sử của GCCN đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN KẾT QUẢ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC Ở VIỆT NAM

Ở nước ta, cuộc chiến phòng chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN,TC) đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân tiến hành mạnh mẽ, quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu với quan điểm “không có vùng cấm” và đã đạt nhiều kết quả cụ thể rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt. Thành quả đó để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao và quốc tế ghi nhận.

Theo số liệu của BCĐ Trung ương về PCTN tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng, từ năm 2013 đến 2020, cả nước đã có hơn 1.900 vụ án tham nhũng bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; 131.000 đảng viên, trong đó có hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, 30 sĩ quan cấp tướng thuộc lực lượng vũ trang) đã bị xử lý kỷ luật. Chỉ tính riêng năm 2021, cơ quan có thẩm quyền đã kỷ luật 618 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái (tăng 132 so với năm 2020), trong đó có 32 trường hợp thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Đây là những con số biết nói, khẳng định công tác đấu tranh PCTN “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

Chính những thành quả trong công tác PCTN đã góp phần loại bỏ những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, làm trong sạch đội ngũ, nhằm xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ. Việc xử lý nghiêm minh có ý nghĩa cảnh cáo, răn đe phòng ngừa chung, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ; khẳng định vị thế, uy tín của Đảng, đất nước ta trên trường quốc tế. Điều này cũng bác bỏ những luận điệu xảo trá, suy diễn của các lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

Cơ sở pháp lý ngày càng hoàn thiện. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được ghi nhận tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Nội dung hiến định này của Việt Nam hoàn toàn tương thích với luật pháp quốc tế.

Một số nguyên tắc, chuẩn mực cơ bản về bảo vệ, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo đã được ghi nhận trong các luật và bộ luật quan trọng của Việt Nam như: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Điều 9); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 116), Luật Giáo dục năm 2019 (Điều 13, 20); Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Điều 17); Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, v.v..

Theo đó, luật pháp Việt Nam có quy định rất rõ ràng về quyền và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định rõ quyền tự do tin hoặc không tin theo tôn giáo, tự do bày tỏ niềm tin, thực hành nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo, tham gia lễ hội, học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo của mọi người; quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền tự do tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. 

Đã từ lâu, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến các hoạt động tôn giáo và ban hành những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động đúng tôn chỉ mục đích và Hiến pháp, pháp luật. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. . Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đều được thực hiện các sinh hoạt tôn giáo bình thường tại gia đình và các cơ sở tôn giáo hoặc các địa điểm hợp pháp khác theo nghi lễ truyền thống của tôn giáo mình. Các cá nhân và tổ chức tôn giáo được Nhà nước tạo thuận lợi và đảm bảo điều kiện sinh hoạt tôn giáo bình thường theo quy định của pháp luật như: tạo điều kiện cho các tôn giáo hoàn thiện cơ cấu tổ chức giáo hội; tạo điều kiện về cơ sở thờ tự và sinh hoạt tôn giáo, về kinh sách phục vụ cho việc tu học và hành đạo, về đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, người hướng dẫn việc đạo, về mở rộng các mối quan hệ quốc tế, .v.v..

Đến năm 2018, Nhà nước Việt Nam đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 26.689.748 tín đồ, trong đó có 57.716 chức sắc, 130.167 chức việc; các tôn giáo ở Việt Nam có 29.854 cơ sở thờ tự và hơn 60 cơ sở đào tạo, trong đó có 17 trường đào tạo trình độ đại học. 

Mỗi năm, ở Việt Nam có hàng trăm đầu sách và các ấn phẩm tôn giáo, với hàng triệu bản in được xuất bản phục vụ nhu cầu học tập và tìm hiểu của người dân. Chỉ riêng hai tôn giáo là Công giáo và đạo Tin lành, trong năm 2020 đã xuất bản hơn 1 triệu bản Kinh Thánh. Hiện nay, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có 15 tờ báo và tạp chí; hầu hết các tổ chức tôn giáo đều có các trang thông tin điện tử. 

Từ năm 2003 đến năm 2017, có 9.343 cơ sở thờ tự của tôn giáo ở Việt Nam được phục hồi và xây mới đến năm 2020, hầu hết cơ sở thờ tự của các tôn giáo đã được trùng tu, sửa chữa, trong đó có khoảng 1/3 cơ sở được tu sửa ở quy mô lớn. 

Thời gian gần đây, Nhà nước đã tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đăng cai tổ chức nhiều hoạt động tôn giáo quy mô lớn, mang tầm khu vực và quốc tế, diễn ra trong thời gian dài, như: Công giáo với Lễ Năm thánh 2010 và Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu năm 2012; Phật giáo với Đại lễ Phật đản Vesak các năm 2008, 2014, 2019; đạo Tin lành với Lễ kỷ niệm 500 năm Tin lành cải chính năm 2017...

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

KẾT QUẢN CƠ BẢN TRONG TỔ CHỨC, BẢO ĐẢM TẾT NGUYÊN ĐÁN NHÂM DẦN 2022

Tết Nguyên đán cả nước đã chi 8.324 tỷ đồng chăm lo đời sống cho 57,81 triệu lượt đối tượng là người có công với cách mạng, người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đồng bào ở các vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng biên giới, hải đảo, công nhân trong các khu công nghiệp, khu chế xuất... Chính phủ đã quyết định hỗ trợ tổng số hơn 18.687 tấn gạo cứu đói cho hơn 1,2 triệu nhân khẩu của 18 tỉnh dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần và giáp hạt đầu năm 2022.

Trong dịp Tết, tình hình thị trường cả nước ổn định; không phát hiện những diễn biến bất thường nổi cộm về buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Đảm bảo cung ứng điện, nhiên liệu đầy đủ, ổn định.

Tình hình giao thông trên toàn quốc, đặc biệt tại địa bàn thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được bảo đảm, ổn định, không xảy ra ùn tắc giao thông nghiêm trọng; trong 3 ngày nghỉ Tết vừa qua tình hình tai nạn giao thông giảm cả 3 mặt (số vụ, số người chết, số người bị thương) so với cùng kỳ năm trước. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên cả nước ổn định, không có diễn biến bất thường, không xảy ra các vụ việc phức tạp, đặc biệt nghiêm trọng.

Các địa phương trong cả nước đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc sắc, tạo không khí vui tươi phấn khởi cho nhân dân. Đội tuyển bóng đá nam và đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam đều giành chiến thắng, tạo khí thế và hứa hẹn một năm nhiều thành công. Các khu, điểm du lịch đều chấp hành nghiêm chỉnh các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chủ động xây dựng kế hoạch, phương án tổ chức các hoạt động phục vụ khách du lịch. 

Công tác tuyên truyền, quán triệt cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thực hiện nghiêm về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện nghiêm quy định về việc cấm biếu, tặng quà Tết cho lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức, không sử dụng ngân sách nhà nước, phương tiện, tài sản công trái quy định... Trong dịp nghỉ Tết, tính đến ngày 3-2, chưa xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng. Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân được đảm bảo. Đáng chú ý, công tác phòng, chống dịch Covid-19 được quan tâm. Trong 5 ngày nghỉ Tết (từ 29-1 đến 2-2), trung bình mỗi ngày cả nước ghi nhận khoảng 12.200 ca mắc và 100 ca tử vong do Covid-19, thấp đáng kể so với tuần trước đó. Thực hiện chiến dịch tiêm chủng thần tốc mùa Xuân năm 2022, trong các ngày từ 29-1 đến 2-2, cả nước tiêm chủng được hơn 782.000 liều vắc xin tại 30 tỉnh, thành phố.

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

MỘT SỐ KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam, thực hiện bình đẳng giới luôn nhận được sự quan tâm sát sao của Đảng, Chính phủ, các cơ quan cũng như các tổ chức cả trong và ngoài nước. Hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước không ngừng được hoàn thiện, công tác tổ chức được triển khai đồng bộ, quyết liệt cùng với sự tăng cường hợp tác với các đối tác phát triển và các tổ chức của Liên hợp quốc như Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Ủy ban Địa vị Phụ nữ Liên hợp quốc… để giải quyết các vấn đề xoay quanh bình đẳng giới.

Sau 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 24/12/2010, Việt Nam đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần thu hẹp khoảng cách giới trong các lĩnh vực, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước...

Một là, từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Thể hiện trước hết ở việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý nhằm Báo cáo số 362/BC-CP ngày 18/8/2020 của Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2019 và giai đoạn 2011-2020 cho thấy, tỷ lệ nữ giới tham gia các cấp ủy Đảng khóa sau đã tăng hơn khóa trước. Cụ thể: Tỷ lệ nữ giới tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI là 8,62%, các Đảng bộ trực thuộc Trung ương là 11,4%, cấp huyện là 14% và cấp cơ sở là 18,1%; tới khóa XII, các tỷ lệ tương ứng đạt lần lượt là 10%, 13,3%, 14,3% và 19,07%. Việt Nam nằm trong nhóm 1/3 các nước đứng đầu về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, khóa XIII đạt 24,2%, khóa XIV đạt 27,31%, khóa XV đạt 30,26%.

Hai là, trong lĩnh vực kinh tế, kết quả bình đẳng giới cũng đạt nhiều thành tựu quan trọng. Thể hiện ở khía cạnh giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ, tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động; chú trọng phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê cho thấy, nữ giới chiếm đến 47,3% lực lượng lao động chính của cả nước. Tính đến tháng 10/2019, có khoảng trên 285,6 nghìn doanh nghiệp do nữ doanh nhân đứng đầu, chiếm 24% tổng số doanh nghiệp cả nước. Tỷ lệ nữ giới biết chữ trong độ tuổi từ 15-60 đạt 97,33%, tỷ lệ nữ thạc sỹ đạt 54,25%, tỷ lệ tiến sĩ đạt 30,8%..

Ba là, trong, đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đời sống gia đình cũng gặt hái được nhiều thành tựu. Theo kết quả của Tổng điều tra, tỷ số giới tính khi sinh (SRB) của Việt Nam đã được khống chế ở mức ổn định nhiều nhờ nỗ lực đưa SRB về mức cân bằng tự nhiên với mức 111,5 bé trai/100 bé gái sinh ra sống. Nhờ tính hiệu quả của hệ thống y tế trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ trước, trong và sau sinh, tỷ số tử vong của bà mẹ đã giảm từ 69 ca trên 100 nghìn ca sinh sống năm 2009 xuống còn 46 ca trên 100 nghìn ca sinh sống năm 2019. Những nỗ lực giải quyết vấn đề bình đẳng giới còn được lồng ghép trong lĩnh vực văn hóa và thông tin thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới.


MỘT SỐ KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về quyền con người ở nước ta. Chúng ta đã tiến hành sửa đổi và ban hành mới nhiều văn bản luật, trong đó có những bộ luật liên quan đến đảm bảo quyền con người, như: Luật Báo chí; Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo; Luật Tiếp cận thông tin; Luật An ninh mạng…  Bằng việc tham gia đóng góp ý kiến vào quá trình xây dựng luật pháp, nhân dân đã thực hiện các quyền tự do, dân chủ của mình; và các văn bản pháp luật quan trọng đều thể hiện được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân.

Quyền con người được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quyền làm chủ của người dân Việt Nam được thể hiện rõ ở: quyền bầu cử và ứng cử; quyền tự do ngôn luận, báo chí; quyền tự do tôn giáo… Nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Nhà nước ta đã thành lập Ủy ban quốc gia, đẩy nhanh tiến độ xây dựng “Chính phủ điện tử”; Cổng thông tin điện tử của các cơ quan Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ công trực tuyến để cán bộ, cơ quan, tổ chức đối thoại trực tiếp với nhân dân, nâng cao hiệu quả tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp.

Xây dựng và triển khai thực hiện thắng lợi nhiều chương trình phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người trong các lĩnh vực này. Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2016-2019 đạt khá cao, bình quân 6,8%/năm. Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh, nhưng tăng trưởng cả năm vẫn đạt 2,91%; là một trong những quốc gia tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới.

Một trong những thành tựu nổi bật nhất của Việt Nam bảo đảm quyền con người là đạt được những tiến bộ vượt bậc về xóa đói giảm nghèo, phát triển con người và chất lượng cuộc sống. Tính đến cuối năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo còn 2,75% (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020). Việt Nam là quốc gia đạt được kết quả ấn tượng trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Lĩnh vực giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho người dân ngày càng được nâng cao. Đến nay 63 tỉnh, thành phố đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học. Ngoài sự phát triển các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe trực tiếp, Việt Nam còn thi hành nhiều biện pháp nhằm nâng cao sức khỏe của người dân, ngăn ngừa bệnh tật từ xa như chương trình cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn. Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước sạch tăng lên qua các năm. Bảo hiểm y tế được phát triển, mở rộng. Số lượng người tham gia bảo hiểm y tế đã tăng từ 3,8 triệu (chiếm 5,4% dân số) năm 1993 lên gần 88 triệu người (gần 91% dân số) năm 2020.

Có nhiều chính sách chăm sóc, bảo đảm quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương, bao gồm phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật. Trong đó, trẻ em ngày càng được chăm sóc và bảo vệ tốt hơn để phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần; Tỷ lệ nữ giới được giáo dục ở mọi cấp tăng cao. Các chính sách đổi mới của Việt Nam đã tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động kinh tế-xã hội của đất nước. Lao động nữ được quan tâm nhiều hơn trong thời kỳ thai sản và tuổi nghỉ hưu. Người khuyết tật được quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để được học văn hóa, được ưu tiên bố trí việc làm...

Thứ Hai, 1 tháng 11, 2021

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG

Xuất phát từ điều kiện lịch sử cụ thể và thực tiễn phát triển của Việt Nam, phù hợp với quy luật và xu thế phát triển chung của nhân loại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới mà trước hết là “đổi mới về tư duy kinh tế”, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Công cuộc đổi mới trở thành sản phẩm sáng tạo, trí tuệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, của nhân dân Việt Nam mang tầm vóc và ý nghĩa lịch sử to lớn trên con đường xây dựng CNXH mang bản sắc Việt Nam, của Việt Nam và do nhân dân Việt Nam thực hiện. Đổi mới đặt ra những vấn đề lý luận và thực tiễn rất mới, có những vấn đề thậm chí trước đây chưa từng có. Đó là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là một quá trình đổi mới sâu sắc cả về phương diện tư duy, nhận thức lý luận, cả về đường lối lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội và công tác chính trị, tư tưởng của Đảng.

Từ một nền kinh tế khép kín, tự cấp tự túc, bị bao vây, cô lập, cấm vận, Việt Nam đã tiến hành mở cửa, trở thành thành viên của ASEAN, APEC, WTO và nhiều tổ chức quốc tế khác, tham gia nhiều định chế thương mại tự do, trong đó có những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế toàn cầu, đồng thời, mở rộng hội nhập ra tất cả các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa - xã hội… Từ chỗ chỉ là thành viên tham gia các định chế quốc tế, Việt Nam đã chủ trương “chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương”, trở thành “đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”.

Từ chỗ phủ nhận cơ chế thị trường (KTT) trong thời kỳ trước Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thống nhất nhận thức rằng, KTTT là sản phẩm của văn minh nhân loại, muốn xây dựng CNXH thành công không thể không phát triển KTTT định hướng XHCN. Đây cũng chính là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng trong tiến trình lãnh đạo công cuộc đổi mới. KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT; là nền KTTT hiện đại và hội nhập quốc tế. Định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện nhất quán trên các phương diện của nền kinh tế - xã hội. Trong mục tiêu phát triển, đó là: lấy con người làm trung tâm, vì mọi người và do con người, nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong phương thức phát triển, đó là phát triển bền vững, bao trùm và hội nhập. Gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường trong từng bước đi và từng chính sách phát triển. Trong quản lý nền kinh tế, đó là phát huy đầy đủ vai trò chủ thể của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, mọi người dân được tham gia và mọi người dân được hưởng lợi; đảm bảo vai trò quản lý nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chủ trương phát triển kinh tế tư nhân cũng là một quá trình đổi mới tư duy táo bạo. Vượt qua những tư duy cố hữu, thậm chí có ý kiến cực đoan muốn xóa bỏ kinh tế tư nhân, Đảng đã xác định kinh tế tư nhân có vị trí “quan trọng lâu dài”, “bộ phận cấu thành quan trọng” trong nền KTTT định hướng XHCN. Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã khẳng định mạnh mẽ và dứt khoát rằng, kinh tế tư nhân - “một động lực quan trọng của nền kinh tế”, là bước đột phá về nhận thức so với giai đoạn trước, khi Việt Nam chỉ coi kinh tế tư nhân là “một trong những động lực của nền kinh tế”. Những thay đổi nhận thức như vậy đã lan toả mạnh mẽ trong đời sống xã hội, tạo ra một sức sống mới cho nền kinh tế.

Từ một nền kinh tế nông nghiệp, lạc hậu, quy mô nhỏ bé, với GDP chỉ 14 tỷ USD và GDP bình quân đầu người chỉ khoảng 250 USD trong những năm đầu đổi mới, Việt Nam đã thoát ra khỏi tình trạng đói nghèo, chuyển sang thực hiện và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đến năm 2018, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt 245 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 2.580 USD, khoảng cách thu nhập giữa Việt Nam với các nước đã được thu hẹp đáng kể. Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm xuống còn 14,8%; tỷ trọng các khu vực công nghiệp, dịch vụ tăng lên 85,2%. Đặc biệt, tỷ lệ người nghèo đã giảm mạnh, từ mức trên 60% vào những năm đầu đổi mới xuống dưới mức 7% hiện nay. Nền kinh tế Việt Nam được nhiều tổ chức quốc tế đánh giá có triển vọng tốt, là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực và thế giới. Nếu duy trì được đà tăng trưởng như 3 thập niên qua thì đến năm 2045 - kỷ niệm mốc lịch sử 100 năm Việt Nam độc lập (1945 - 2045), quy mô GDP của Việt Nam ước sẽ đạt khoảng 2.500 tỷ USD, còn thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 18.000 USD.

Có được những kết quả ấn tượng trên là nhờ Đảng đã định hướng ngày càng rõ mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Từ chỗ tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng, chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên và lực lượng lao động có tiền công thấp, Đảng đã chủ trương chuyển sang thực hiện phát triển kinh tế bao trùm và bền vững, tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, hoàn thiện mô hình tăng trưởng đồng bộ trên cả phương diện kinh tế - kỹ thuật, kinh tế - xã hội và kinh tế - sinh thái, thúc đẩy phát triển trên nền tảng đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế.

Thứ Hai, 20 tháng 9, 2021

SỰ CHỐNG PHÁ CỦA VIỆT TÂN KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN SỰ THẬT

Gần đây, khi cuộc chiến chống đại dịch Covid-19 vẫn đang diễn ra phức tạp ở nhiều nước trên thế giới với những khó khăn mới, nhất là khi những biến thể mới xuất hiện càng gây khó khăn cho việc ngăn chặn đại dịch, thì nhiều nước đã có những điều chỉnh chiến lược, cách thức, mô hình chống dịch mới như Mỹ, Singapo, Ấn Độ… Việt Nam cũng trong xu thế đó, từ nhìn nhận, đánh giá sâu sát hơn diễn biến dịch bệnh và thay đổi tư duy phòng, chống dịch thích ứng tình hình mới, vừa đẩy nhanh chiến lược tiêm chủng vắc xin, tiếp tục 5K+, nghiên cứu cho phép người đã tiêm đủ vắc xin hoạt động bình thường mới, tích cực điều trị kéo giảm tỷ lệ tử vong, huy động F0 đã khỏi bệnh hỗ trợ chống dịch…

Đặc biệt, mới đây, bộ phim thực tế “Ranh giới” phản ánh thực tế ở một khu điều trị bệnh nhân Covid-19 nặng đã gây “bão mạng”. “Ranh giới” đã quay lại những cảnh chân thực về cuộc chiến giành giật với tử thần của các y bác sĩ, nhân viên trong khu điều trị, cho chúng ta chứng kiến, cảm nhận những gì đang ngày đêm diễn ra sâu bên trong khu điều trị, nhất là khi các bệnh nhân là các thai phụ – những con người mang hai sinh mệnh và đang phải chịu đựng những gì khắc nghiệt, khốc liệt nhất của căn bệnh này. Những cảnh chân thực của bộ phim làm cho bất kỳ ai xúc động cảm phục tinh thần nỗ lực đến những giây phút cuối cùng, đến khi không thể gắng gượng được nữa của đội ngũ y bác sĩ để giành giật hơi thở sự sống cho bệnh nhân. Bản thân họ cũng đứng trước quá nhiều ranh giới, ranh giới của sự lây nhiễm, của ý chí và hy vọng, của đoàn tụ và chia ly…

Vậy mà “Việt Tân” lợi dụng tình hình đó để không ngừng phát tán những luận điệu xuyên tạc càn quấy, “gắp lửa bỏ tay người”, quy kết vu cáo đổi lỗi do đường lối của Đảng, điều hành của Chính phủ, phủ nhận nỗ lực phòng, chống dịch… Bài viết “Chính trị ảnh hưởng đến tất cả chúng ta…” của Trần Diệu Chân đăng trên trang của “Việt Tân” là một ví dụ về dã tâm vu cáo Đảng, Nhà nước “cấm đoán, thậm chí tội phạm hóa các hành xử hay suy nghĩ khác với nhà nước độc tài, lên án ngay cả những người góp ý tốt để cải thiện đất nước là phản động hay phản quốc, và tước đi quyền chính trị căn bản nhất của người dân, đó là quyền chọn lựa người xứng đáng điều hành đất nước và quyền tham chính”.

Tại sao những kẻ không đóng góp gì được cho cộng đồng, cho đất nước thì hay lên giọng quy kết, bịa đặt đổ lỗi, đổi trắng thay đen? Họ không hiểu hay cố tình không hiểu? làm sao có thể lờ đi một thực tế Việt Nam kiên cường phát triển cũng như kiên cường chiến đấu với đại dịch. Làm sao có thể phủ nhận được sự thật là ở Việt Nam, người dân là chủ thể trung tâm của mọi đường lối, chính sách vận hành, phát triển đất nước; vừa là nguồn lực to lớn, vừa là đối tượng trung tâm được bảo vệ trước đại dịch.

Thứ nhất, phải nhắc lại rằng, ở Việt Nam, Nhà nước là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Người dân được quyền dân chủ lựa chọn người đại diện xứng đáng đứng ra thực hiện quyền lực của mình. Mọi quy định lập nên hệ thống chính trị, quy chế vận hành các cơ quan nhà nước, nhất là Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng, trưởng ngành, người đứng đầu chính quyền các cấp đều từ nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, do nhân dân bầu nên qua các cơ chế thành lập và hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, các quy định, cơ chế và quy trình lấy ý kiến nhân dân tham gia vào xây dựng Hiến pháp và các bộ luật, văn bản pháp quy…

Thứ hai, thực tế 35 năm công cuộc đổi mới đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là minh chứng hiện thực hùng hồn, sinh động, xoay quanh giá trị trung tâm không gì khác ngoài sự phát triển vì con người. Nền kinh tế nước ta ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, mà đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình. Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu nông sản. Quy mô, trình độ khoa học – công nghệ của nền kinh tế, thu nhập của nhân dân trên khắp các vùng, miền đều được nâng lên. Trong hơn 30 năm qua, GDP bình quân đầu người tăng hơn 30 lần, từ 88 USD năm 1988, thì đến năm 2020, con số này đạt 2.779 USD. Nước ta tích cực góp phần bảo đảm an ninh lương thực thế giới, hằng năm xuất khẩu hàng triệu tấn lương thực và nhiều chủng loại sản phẩm hàng hóa khác. Năm 2020, dù chịu ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn xuất khẩu 6,2 triệu tấn gạo, 1,5 triệu tấn càphê, xấp xỉ 900 nghìn tấn hạt điều và hạt tiêu, đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng chục tỷ USD.

Về thị trường, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã tham gia vào thị trường trên khắp năm châu, từ thị trường các nước giàu nhất, đến thị trường của các quốc gia chậm phát triển, gồm gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là những thành tựu ngoạn mục mà không phải quốc gia nào cũng đạt được chỉ trong hơn 30 năm qua, cho dù họ có xuất phát điểm thuận lợi hơn. Đặc biệt, ở những nơi vùng sâu, miền núi, mức độ tăng thu nhập và thành tựu phát triển kinh tế của các địa phương thể hiện càng rõ hơn…

Đó là những hiện thực của giá trị phát triển vì con người ở nước ta không thể phủ nhận. Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới vừa qua đã cho thấy, cách thức phát triển của Việt Nam là đúng đắn. Những thành quả của sự phát triển kinh tế đã lan tỏa, tạo điều kiện, là tiền đề cho thực hiện, nâng cao thành tựu trên các lĩnh vực xã hội. Các thành tựu về tiến bộ và công bằng xã hội đã trở thành động lực để thực hiện phát triển kinh tế bền vững. Xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam đạt thành tựu mang tính điển hình của thế giới, đưa Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện thành công, sớm hơn dự định nhiều mục tiêu thiên niên kỷ do Liên hợp quốc phát động. Tính đến tháng 1/2021, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều mới ở nước ta giảm xuống chỉ còn 4,8% (nếu so với tỷ lệ hộ nghèo trên 50% thập niên 90 của thế kỷ XX, thì đến nay giảm hơn 10 lần). Hệ số GINI có xu hướng giảm, năm 2018, 2019, 2020 lần lượt là: 0,425; 0,423; 0,375, tức là mức độ bình đẳng thu nhập ngày một tăng lên. Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng dần đều theo thời gian, năm 2017: 0,687; năm 2018: 0,700; năm 2019: 0,703 và năm 2020: 0,702; nếu so sánh với các nước có thu nhập trung bình ngang với ta thì họ còn thấp hơn rất nhiều.

Sự phát triển và tính ưu việt của hệ thống y tế, chăm lo sức khỏe cho nhân dân được phát huy từ Trung ương đến cơ sở. Đặc biệt, trong tình hình đại dịch Covid-19 hiện nay diễn biến phức tạp, càng chứng tỏ tính ưu việt của hệ thống y tế trong việc huy động tổng lực đội ngũ y sĩ, bác sĩ, cũng như phương tiện vật chất để chăm lo sức khỏe cho nhân dân.

Những ngày này, khi đất nước ta đang dồn sức, nỗ lực đương đầu với đại dịch, tinh thần tương thân, tương ái, nhân văn, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau lại càng thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết. Những tấm gương thầy thuốc, người dân chăm lo cho đồng bào, những người có hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn hơn cả chăm lo cho chính bản thân mình, gia đình mình. Sự tự nguyện trao gửi yêu thương, đùm bọc, sẻ chia trở thành giá trị như một lẽ tự nhiên trong huyết quản của mỗi người. Trong khó khăn càng dấy lên rất nhiều cách làm sáng tạo ủng hộ, hỗ trợ về tinh thần vật chất để cùng chống dịch. Khắp nơi nghĩa cử đồng bào, kể cả kiều bào ở nước ngoài, mặc dù cuộc sống của họ chưa chắc đã là dư dả, nhưng với tình yêu Tổ quốc, yêu quê hương, họ đã, đang chắt chiu ủng hộ vật chất, gửi về những tình cảm gắn kết, chia sẻ khó khăn với đồng bào những nơi bị dịch bệnh hoành hành.

Tất cả những kết quả tiến bộ, những biểu hiện sinh động và cao đẹp đó là gì nếu không phải chính là sự tiến bộ toàn diện và những giá trị nhân văn đã trở thành hiện thực được xây đắp trong từng bước phát triển. Bởi thể chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, chính là cơ chế vận hành, thực thi quyền lực, cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước, cải thiện căn bản, toàn diện và không ngừng nâng cao đời sống mọi người dân…/.

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

KẾT QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG - AN NINH

Thực hiện chính sách hội nhập quốc tế toàn diện, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng an ninh cũng không ngừng được phát triển và mở rộng. Hội nhập quốc phòng - an ninh vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước vừa góp phần bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh mới. Việt Nam đã chuyển từ chủ trương tham dự, sang phát huy vai trò thành viên có trách nhiệm trên nhiều diễn đàn khu vực và toàn cầu. Nội dung hội nhập quốc tế để giữ nước từ xa, từ sớm, giữ nước từ khi “nước còn chưa nguy”. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng - an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực. Việt Nam đã đẩy mạnh thực hiện các cơ chế đối thoại Quốc phòng - An ninh, giao lưu biên phòng với các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Campuchia, trao đổi hữu nghị của tàu hải quân được đẩy mạnh. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tuỳ viên quân sự tại hơn 30 nước và hơn 40 nước có văn phòng tuỳ viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh quân sự toàn cầu. Việt Nam cũng đã tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc. Việt Nam đã gửi các sỹ quan thông tin đến các Phái bộ gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc tại Cộng hoà Trung Phi, Nam Xu Đăng và tiếp theo đó đã triển khai các bệnh viện dã chiến cấp 2 và công binh. Như vậy, Việt Nam không chỉ giữ vững độc lập chủ quyền của Tổ quốc mà còn chủ động, tích cực đóng góp vào việc duy trì hoà bình, an ninh quốc tế.

Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Về mặt lý luận đây là mối quan hệ biện chứng, tất yếu, khách quan, bất kỳ quốc gia nào muốn hội nhập quốc tế thành công đều phải vận dụng hợp lý mối quan hệ này. Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong suốt những năm đổi mới vừa qua đã thể hiện nhất quán và từng bước cụ thể nội dung của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế cho từng giai đoạn phù hợp với bối cảnh nhất định. Đó cũng là quá trình phát triển quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Thực tiễn triển khai và kết quả đạt được sau 35 năm đổi mới cho thấy chính sách đối ngoại trên là hoàn toàn đúng đắn và khoa học. Hội nhập quốc tế của Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng và chiều sâu. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới, xây dựng đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với nhiều nước, trong đó có nhiều nước lớn, có vị trí và tầm ảnh hưởng quan trọng của thế giới và khu vực. Việt Nam cũng tham gia vào hầu hết các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng và thực sự có nhiều đóng góp quan trọng và có trách nhiệm trong những tổ chức này. Quá trình đó, Việt Nam cũng đã từng bước hội nhập toàn diện trên tất cả các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội và quốc phòng - an ninh. Trong đó hội nhập kinh tế là nòng cốt, là cơ sở, hội nhập trong các lĩnh vực khác là toàn diện và bổ sung cho hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập quốc tế đã góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn có ý lịch sử của đất nước trong 35 đổi mới vừa qua.

Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung thực sự là những luận cứ xác đáng nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch về lĩnh vực này./.

KẾT QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA XÃ HỘI

Cùng với sự hội nhập nhanh, sâu rộng và toàn diện trong lĩnh vực kinh tế, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hoá - xã hội cũng có những bước phát triển quan trọng. Hội nhập với tốc độ cao hơn, toàn diện hơn, đa dạng về hình thức, phương thức, đối tác và chất lượng hội nhập ngày càng nâng cao. Việt Nam đã ký hơn 100 thoả thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hoá, đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều. Các hình thức giao lưu văn hoá, phim ảnh, thời trang… của Việt Nam với quốc tế ngày càng nhiều.

Hội nhập văn hoá cũng là cơ hội để Việt Nam quảng bá đất nước, con người, văn hoá Việt Nam và tiếp thu giá trị văn hoá các nước. Nhờ có hội nhập mạnh mẽ về văn hoá mà bạn bè quốc tế đến Việt Nam ngày càng nhiều. Trong suốt nhiều năm vừa qua, khách du lịch đến Việt Nam đều tăng với tốc độ cao, góp phần cả về phát triển kinh tế và văn hoá, xã hội. Cũng từ thành công của hội nhập trong lĩnh vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hoá tại Việt Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hoá tiêu biểu của nhiều quốc gia trên thế giới. Từ đó, thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao lưu với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực và động lực về văn hoá- xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. Đồng thời, hội nhập quốc tế cũng tạo công ăn việc làm, góp phần giảm nghèo bền vững ở Việt Nam. Sau 35 năm đổi mới và hội nhập, tỷ lệ nghèo giảm mạnh. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ gần 60% vào năm 1993 xuống còn 37,4% năm 1998, xuống còn 13,4% năm 2008 và đến năm 2016 chỉ còn 5,8%.

KẾT QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ QUỐC TẾ

Về hội nhập kinh tế quốc tế. Đến nay, hội nhập kinh tế quốc tế đã phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Độ mở của nền kinh tế nước ta hiện nay vào loại cao nhất thế giới với tỷ trọng xuất khẩu trên GDP là hơn 200%. Việt Nam đã tham gia vào hầu hết các hiệp định đa phương thế hệ mới. Với các kết quả hội nhập kinh tế sâu, rộng như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của Việt Nam mở rộng thị trường, kết nối và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Rõ ràng, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn phát triển mới cả về chiều rộng, chiều sâu và toàn diện. Với những Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vừa được ký kết có tính toàn diện, quy mô rộng, mức độ cam kết cao, điều chỉnh toàn bộ các lĩnh vực, trong đó bao hàm nhiều nội dung mới như thương mại điện tử, phát triển bền vững, các biện pháp sau biên giới, đồng bộ chính sách, giải quyết chính sách giữa nhà đầu tư và nhà nước đem lại rất nhiều cơ hội cho phát triển, đồng thời đòi hỏi những nỗ lực trong nước rất cao để có thể đem lại kết quả như mong muốn. Thông qua hội nhập quốc tế, kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế nước ta tăng rất nhanh, từ 1,74 tỷ USD năm 1986 lên 10 tỷ USD năm 1996, 45 tỷ USD năm 2006 và 287,8 tỷ USD năm 2020(5). Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần phát huy nội lực, tranh thủ được nguồn lực nước ngoài, đặc biệt là công nghệ và quản trị hiện đại. Thông qua hội nhập quốc tế, Việt Nam đã thu hút được lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn, góp phần bổ sung nguồn lực trong nước. Nguồn vốn FDI thu hút vào nước ta tăng rất nhanh, từ 428,5 triệu USD năm 1991 lên 4 tỷ USD năm 2006 và 20 tỷ USD năm 2020(6). Năm 2020, đã có 112 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, trong đó, dẫn đầu là Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Đồng thời, hội nhập quốc tế cũng là áp lực giúp đẩy mạnh cải cách mạnh mẽ trong nước để bảo đảm điều kiện hội nhập thành công và hiệu quả. Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần tạo ra tốc độ tăng trưởng cao của Việt Nam, góp phần đưa kim ngạch xuất nhập khẩu tăng liên tục trong nhiều năm qua, góp phần chuyển dịch cơ cấu xuất nhập khẩu theo hướng chất lượng hơn.

Tuy nhiên, quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế cũng cho thấy cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, qua những cuộc khủng hoảng, hoặc những biến động của thế giới cho thấy để hội nhập thành công phải có nội lực mạnh, đồng thời phải đa phương hoá, đa dạng hoá các đối tác, các thị trường để tránh những rủi ro và lệ thuộc. Kinh nghiệm thu hút đầu tư nước ngoài cũng cho thấy cần phải nhận thức sâu sắc hiệu quả của thu hút đầu tư, nhất là giai đoạn hiện nay, phải bảo đảm thu hút được công nghệ cao, công nghệ sạch và làm tốt việc chuyển giao công nghệ cũng như gắn kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

KẾT QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ

Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng. Chính sách đối ngoại đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, Việt Nam là bạn là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ hội nhập của Việt Nam với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược. Từ một nước bị bao vây cấm vận, với chính sách đối ngoại đúng đắn, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã nhanh chóng thiết lập quan hệ hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng. Chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới. Trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, chúng ta đã chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực quan trọng. Hợp tác đa phương theo phương châm chủ động, tích cực tham gia, nhất là vào quá trình xây dựng và định hình các quy tắc và luật lệ mới, phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương. Việc tham gia các cơ chế đa phương một cách tích cực chủ động là để trực tiếp bảo đảm các lợi ích an ninh, phát triển và vị thế của đất nước. Năm 2020 Việt Nam với vai trò là Chủ tịch ASEAN và là Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Việt Nam đã thể hiện rất tốt vai trò của mình, có đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của khu vực và thế giới. Với thế và lực trong nước tăng lên cùng với chính sách đối ngoại chủ động, tích cực và hiệu quả vị thế của Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế.

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2020

TRONG NHỮNG GIỜ KHẮC KHÓ KHĂN NHẤT, VIỆT NAM VẪN KHÔNG BỎ AI Ở LẠI PHÍA SAU!

Chỉ riêng trong năm 2020, Việt Nam đã triển khai trên 260 chuyến bay chở 73.000 công dân từ 59 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trở về nước an toàn.

Năm 2020 là một năm hết sức đặc biệt, tình hình thế giới, khu vực biến động hết sức nhanh chóng. Đặc biệt, dịch bệnh Covid -19 xảy ra trên thế giới cũng như ở khu vực và trong nước đã tác động, ảnh hưởng rất nhiều đến mọi mặt của đời sống xã hội, đến chính trị, kinh tế và đặc biệt là đến sức khỏe của người dân. Trong tình hình như vậy, Việt Nam đã làm rất tốt nhiệm vụ kép, đó là vừa kiềm chế được đại dịch Covid -19, đồng thời vẫn giữ được môi trường ổn định để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh trả lời báo chí ngày 24/12 nhấn mạnh: “Đó là những thành tích hết sức lớn lao của đất nước trong năm 2020 và đó cũng là cơ sở hết sức thuận lợi cho các hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Dịch bệnh Covid -19 xảy ra, các hoạt động đối ngoại chung trên thế giới của các nước đều bị ảnh hưởng rất lớn. Chúng ta cũng không phải ngoại lệ. Tuy nhiên, trong năm 2020 Việt Nam vẫn triển khai được các hoạt động hết sức quan trọng, cả về đối ngoại song phương lẫn đối ngoại đa phương”.

Theo Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh, trong năm qua, Việt Nam vẫn duy trì được quan hệ với các đối tác, không phải thông qua các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao các nước đến Việt Nam như thông thường. Năm 2020, Việt Nam đã chuyển đổi hình thức, tăng cường trao đổi bằng điện đàm, qua trực tuyến với lãnh đạo cấp cao của các nước. Cụ thể, có 33 cuộc điện đàm của lãnh đạo cấp cao Việt Nam với với lãnh đạo của hầu hết các nước quan trọng trên thế giới cũng như các nước trong khu vực.

Trong các cuộc điện đàm, những nội dung về tăng cường quan hệ giữa Việt Nam với các nước vẫn được triển khai. Đây là điểm hết sức đặc biệt vì thông thường hàng năm, các chuyến thăm của lãnh đạo các nước đến Việt Nam cũng như Việt Nam ra các nước trung bình trong khoảng trên 10-20 cuộc, nhưng riêng năm 2020 vẫn triển khai được 33 cuộc điện đàm của các lãnh đạo cấp cao, từ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng đến Chủ tịch Quốc hội và các cấp khác.

Năm 2020, Việt Nam đảm nhận vai trò là Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch Liên minh Nghị viện Đông Nam Á (AIPA) và đồng thời là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Cho đến thời điểm này, có thể nói là Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, vai trò Chủ tịch của ASEAN, của AIPA. Trong năm đầu tiên đảm nhận vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Việt Nam cũng thu được những kết quả hết sức cụ thể, đó là tiếp tục đưa được vai trò gắn kết, vai trò trung tâm của ASEAN trong các vấn đề thích ứng với những biến động trên thế giới cũng như với khu vực và với từng nước.

Đồng thời, Việt Nam đã đóng góp vào giải quyết các vấn đề trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc với tâm thế một nước có tiếng nói, với vai trò là đại diện của các nước đang phát triển cũng như các nước trung bình và nhỏ trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.

Về hội nhập kinh tế, trong năm 2020, Việt Nam thúc đẩy và thông qua phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu và thúc đẩy cùng các nước để ký kết được Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

Trong năm 2020, một nhiệm vụ cũng hết sức quan trọng mà đối ngoại đã phải thực hiện, đó là bảo hộ công dân trong tình hình mới khi Covid-19 xảy ra. Năm nay ghi nhận nhu cầu bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài lớn chưa từng có. Số lượng các cuộc gọi của công dân Việt Nam cần tư vấn về các vấn đề liên quan đến bảo hộ công dân ở nước ngoài thông qua tổng đài điện thoại về bảo hộ công dân đã tăng gần 200% trong năm 2020. Điều đó nói lên là nhu cầu bảo hộ công dân bên ngoài rất lớn, nhưng điểm lớn nhất đó là việc trong đại dịch Covid-19, Việt Nam là một trong số ít các nước đã có các chuyến bay đưa công dân bị mắc kẹt về nước.

Chỉ riêng trong năm 2020, Việt Nam đã triển khai trên 260 chuyến bay chở 73.000 công dân từ 59 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trở về nước an toàn. Đó là một những nhiệm vụ hết sức quan trọng.

Trong năm 2020, việc quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài vẫn tiếp tục được thực hiện. Dịch bệnh Covid-19 đã làm ảnh hưởng lớn đến việc phóng viên nước ngoài vào Việt Nam đưa tin, bài quảng bá về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trong năm Chủ tịch ASEAN 2020. Nhưng trong tình hình đó, báo chí của Việt Nam, báo chí đối ngoại đã tiếp tục quảng bá được hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thông qua một phương thức mới, đó là nền tảng số. Qua nền tảng số, có thể nói Việt Nam đã vươn xa so với trước đây trên những nền tảng thông thường, nền tảng số đã hỗ trợ cho việc quảng bá Việt Nam tăng lên rất nhiều.

Nhiệm vụ trọng tâm, định hướng của đối ngoại Việt Nam năm 2021

Chia sẻ về nhiệm vụ trọng tâm, định hướng của đối ngoại Việt Nam trong năm 2021, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh cho biết, dự báo tình hình thế giới và khu vực năm 2021 sẽ tiếp tục biến động, trong đó có dịch bệnh Covid-19. Đó là những thách thức đối với tất cả các nước và đối với Việt Nam. Tuy vậy, đi kèm với thách thức vẫn có rất nhiều cơ hội, đó là xu thế hòa bình, xu thế mong muốn hòa bình tiếp tục phát triển. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đang phát triển, trong đó kinh tế số những vấn đề liên quan đến công nghệ cao là cơ hội phát triển không chỉ về kinh tế xã hội mà còn tạo ra những phương thức hoạt động mới.

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nói: “Với tình hình như vậy, đối ngoại của chúng ta trong năm 2021 sẽ tiếp tục với việc củng cố, làm sâu sắc hơn quan hệ của Việt Nam với các nước, các đối tác, đặc biệt các đối tác chiến lược, các đối tác toàn diện, các nước láng giềng.

Thứ hai, Việt Nam tiếp tục chủ động hội nhập quốc tế thông qua các hoạt động của chúng ta ở Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Nhưng đồng thời trong ASEAN, chúng ta phải làm sao phát huy được những kết quả của năm Chủ tịch vừa qua, tiếp tục duy trì đà phát triển của ASEAN cũng như những sáng kiến, những nội dung của ASEAN trong năm 2020.

Thứ ba, Việt Nam đã tham gia, đã ký kết các hiệp định thương mại tự do và tiếp tục sẽ có các hiệp định thương mại tự do được phê chuẩn. Vì vậy phải làm sao thực thi một cách hiệu quả, tận dụng được cơ hội của các hiệp định thương mại tự do đã mang lại. Đó là nhiệm vụ chung cho tất cả tất cả các bộ, ngành không phải chỉ riêng của ngành đối ngoại.

Thứ tư, nhưng có lẽ là nhiệm vụ quan trọng nhất, đó là duy trì môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền biển đảo của đất nước. Đó là mục tiêu hết sức lớn lao, xuyên suốt.

Cuối cùng, trong bối cảnh dịch bệnh còn nhiều diễn biến phức tạp, công tác bảo hộ công dân cũng sẽ là một trọng tâm của ngành ngoại giao trong thời gian tới”./.

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

MỘT SỐ KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG THỰC HIỆN CÔNG TÁC TÔN GIÁO CỦA QUÂN ĐỘI NHỮNG NĂM QUA

Trong những năm qua, các đơn vị quân đội thực hiện công tác tôn đạt được những kết quả quan trọng. Một là, nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ, nhất là cán bộ lãnh đạo, chủ trì các cấp ngày càng nâng lên. Hai là, các đơn vị trong toàn quân đã có nhiều việc làm thiết thực, cụ thể, như: tích cực tham gia hỗ trợ đồng bào các tôn giáo phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, phòng, chống dịch bệnh, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, gia đình văn hóa, cùng với giúp đồng bào phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, lũ lụt, v.v. Ba là, các đoàn kinh tế - quốc phòng, lực lượng Bộ đội Biên phòng thường xuyên cử cán bộ, các tổ công tác xuống địa bàn vùng tôn giáo, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương kiện toàn chức danh cán bộ thôn, bản; bồi dưỡng, kết nạp đảng viên; xây dựng tổ chức huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên, làm tốt công tác tuyển quân, tuyển sinh quân sự; công tác vận động chức sắc, tín đồ, người có uy tín trong các tôn giáo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh ngày càng hiệu quả. Bốn là, công tác dân vận ở vùng đồng bào tôn giáo được tiến hành với nhiều nội dung, hình thức phong phú, mang lại hiệu quả thiết thực, nổi bật là:  “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”, “Gắn kết hộ người Kinh với hộ đồng bào dân tộc thiểu số”, giúp đồng bào phát triển kinh tế hộ gia đình; “Xóa một hộ đói, giảm một hộ nghèo”; phong trào “Họ đạo gương mẫu”; Chương trình “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”, “Ngân hàng bò”, “Nâng bước em tới trường;“Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo”, “Gắn kết yêu thương, giữa lương và giáo”,v.v. Hằng năm, nhân các dịp lễ, tết, các sự kiện chính trị trọng đại của Đảng, Nhà nước, Quân đội và những ngày lễ trọng của các tôn giáo, các đơn vị tổ chức nhiều cuộc gặp mặt các chức sắc, tín đồ tôn giáo; công tác quản lý, rèn luyện, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng quân nhân theo các tôn giáo thực hiện nghiêm điều lệnh quản lý bộ đội; thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, không có hành vi phân biệt, đối xử luôn tạo điều kiện cho quân nhân theo các tôn giáo phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, có đủ trình độ, năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ. Năm là, công tác tôn giáo trong Quân đội có nhiều kêt quả tích cực, như công tác bồi dưỡng, kết nạp quân nhân theo các tôn giáo vào Đảng và tham gia sinh hoạt đảng, thực hiện đúng hướng dẫn của Trung ương. Nhân các ngày lễ của các tôn giáo lãnh đạo, chỉ huy đơn vị đều tổ chức các hoạt động văn hóa phù hợp với các tôn giáo và điều kiện của đơn vị. 

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020

KẾT QUẢ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA KHI THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH PHỤ NỮ, HÒA BÌNH VÀ AN NINH

Ở cấp độ toàn cầu
Một là, số lượng lãnh đạo nữ tại các cơ quan về phụ nữ, hòa bình và an ninh Liên hợp quốc ngày càng tăng kể từ khi triển khai chương trình phụ nữ, hòa bình và an ninh. Tính đến tháng 12-2018, phụ nữ chiếm 35% vị trí cấp trưởng và 48% vị trí cấp phó tại các Phái bộ gìn giữ hòa bình và Phái bộ chính trị đặc biệt của Liên hợp quốc (năm 2017 là 26% và 35%)(10). Lần đầu tiên bổ nhiệm nữ Tổng chỉ huy các Phái bộ hòa bình Liên hợp quốc và Đại diện đặc biệt của Tổng Thư ký Liên hợp quốc về bạo lực tình dục trong xung đột vũ trang. Thành lập Nhóm chuyên gia không chính thức (IEG) về phụ nữ, hòa bình và an ninh và Nhóm chuyên gia về pháp luật và bạo lực tình dục trong xung đột vũ trang.

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2020

MỘT SỐ KẾT QUẢ VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho đường lối và chiến lược phát triển, Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam đã đề ra và lãnh đạo thực hiện đường lối và nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển con người Việt Nam. Đó là con người phát triển toàn diện về trí lực, thể lực, khả năng lao động, tính tích cực chính trị - xã hội; lý tưởng sống, lối sống, đạo đức và bản lĩnh chính trị. Qua các kỳ đại hội, Đảng khẳng định, CNH, HĐH gắn với phát triển tri thức trong toàn cầu hóa là con đường tất yếu, trong đó, đặc biệt chú trọng vai trò của khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, tiếp tục coi đó là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất. CNH, HĐH ở mỗi quốc gia cần phải có các nguồn lực phát triển, trong đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự phát triển bền vững của mọi quốc gia từ trước đến nay.

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2019

MỘT SỐ KẾT QUẢ TRONG GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở NƯỚC TA

Ở Việt Nam, quá trình nhận thức về tầm quan trọng của việc giáo dục phòng, chống tham nhũng ngày càng có nhiều tiến bộ. Trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và các lần sửa đổi bổ sung, bổ sung năm 2007, 2012 chưa có mục riêng về tuyên truyền, giáo dục phòng, chống tham nhũng dù trong các quy định nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, tổ chức trong phòng, chống tham nhũng cũng đã bước đầu đề cập đến nội dung này. Điều 85 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 quy định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tuyên truyền, giáo dục nhân dân và các thành viên tổ chức mình thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Điều 86 của Luật quy định: Cơ quan báo chí có trách nhiệm biểu dương tinh thần và những việc làm tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng; lên án, đấu tranh đối với những người có hành vi tham nhũng; tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI – HIỆN THỰC SINH ĐỘNG, TƯƠNG LAI TƯƠI SÁNG CỦA NHÂN LOẠI TIẾN BỘ

Sau những biến động chính trị ở Liên Xô và Đông Âu vào cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, các nhà tư tưởng phương Tây đã mở một chiến dịch tiến công nhằm xuyên tạc, phủ nhận, bôi nhọ chủ nghĩa xã hội (CNXH), lớn tiếng tuyên bố “chủ nghĩa xã hội là quái thai của lịch sử”, là “ý muốn ngông cuồng” của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin. Hiện nay, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, các thế lực thù địch càng ráo riết tiến công trên mặt trận tư tưởng lý luận hòng làm dao động về lý tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN), gây mơ hồ, ảo tưởng về một chế độ xã hội tư bản tốt đẹp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và dân tộc ta đã lựa chọn. Sự chống phá điên cuồng, quyết liệt đó càng chứng tỏ sức sống của CNXH hiện thực mà các thế lực thù địch không thể ngăn cản được.
1. Sự thật, chủ nghĩa xã hội là khát vọng ngàn đời của nhân loại tiến bộ. Cuối công xã nguyên thủy, khi xã hội đã manh nha phân chia giai cấp, không hài lòng với xã hội đương thời, quần chúng nghèo khổ đã hoài vọng về cuộc sống thời nguyên thuỷ tuy “nghèo về vật chất nhưng giàu tình người”. Khi chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, giai cấp nô lệ chỉ là “công cụ biết nói”, nhiều cuộc khởi nghĩa của nô lệ đã nổ ra nhằm đòi quyền sống, quyền tự do, xóa bỏ giai cấp chủ nô tàn bạo, nhưng đều bị thất bại. Không có lối thoát, họ đã ước mơ về một đời sống ấm no, bình đẳng trên “thiên đường”, ở thế giới bên kia. Đến thời kì phong kiến, phản kháng lại chế độ hà khắc, nhiều trào lưu tư tưởng XHCN đã phê phán sự tàn bạo, dã man, bất công của xã hội đương thời và mơ ước xây dựng một xã hội tốt đẹp. Tomat Morơ (1478-1535) - nhà tư tưởng XHCN không tưởng đã phê phán gây gắt xã hội đương thời với hình tượng điển hình “cừu ăn thị người” và mơ ước xây dựng một xã hội không có áp bức, bóc lột, bất công. Giăng Mêliê (1664 - 1729) - một linh mục người Pháp trong Di chúc để lại ông đã ông kêu gọi nhân dân hãy đứng lên đấu tranh xóa bỏ bộ máy quan lại, quý tộc, tăng lữ đương thời, là lực lượng “ăn chơi phè phỡn trên lưng người lao động”, nhân dân không cần bộ máy ăn bám đó.
Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, các nhà tư tưởng XHCN không tưởng đã phê phán gần sát bản chất của xã hội tư sản và dự báo về mô hình một xã hội tương lai tốt đẹp. Sáclơ Phuriê (1772 - 1837) đã coi chủ nghĩa tư bản là một “trạng thái vô chính phủ của công nghiệp” “sự nghèo khổ sinh ra từ chính bản thân sự dồi dào...”. Ông dự đoán, chế độ văn minh tư sản phải chuyển sang một giai đoạn mới của lịch sử loài người, tức giai đoạn của “chế độ xã hội được bảo đảm”. Hăngri Đơ Xanh Ximông (1760 - 1825) mơ ước xây dựng một xã hội trong đó “chế độ sở hữu phải được tổ chức sao cho có lợi nhất cho toàn xã hội về mặt tự do và về mặt kinh tế”. Rôbớt Ôoen (1771 - 1858) coi tư hữu, tôn giáo, hôn nhân tư sản là “ba cái cũi” cần xóa bỏông đã trực tiếp thực nghiệm xây dựng một xã hội tốt đẹp đem lại nhiều lợi ích cho công nhân. Nhưng ông ảo tưởng kêu gọi giai cấp tư sản độ lượng, “mở két bạc” của nó để nuôi dưỡng giai cấp công nhân nên mô hình đó không được hiện thực hóa.
Như vậy, ngay từ khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, nhân loại tiến bộ đã nguyền rủa chế độ xã hội áp bức, bóc lột, bất công và mơ ước về một xã hội tốt đẹp không có người bóc lột người - đó chính là xã hội XHCN, cộng sản chủ nghĩa (CSCN). Đúng như V.I.Lênin khẳng định: “Đã lâu rồi, đã hàng bao thế kỷ nay, thậm chí hàng ngàn năm nay, nhân loại mong ước thủ tiêu “lập tức” mọi sự bóc lột”[1]. Và “...xoá bỏ sự khác nhau giữa người giàu và người nghèo. Đó là một nguyện vọng có tính chất xã hội chủ nghĩa”[2].
2. Không chỉ là khát vọng, chủ nghĩa xã hội là kết quả phát triển tất yếu của xã hội loài người. Từ lập trường của giai cấp vô sản, kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, gắn nghiên cứu lí luận với hoạt động thực tiễn trong phong trào công nhân, với phẩm chất, trí tuệ tuyệt vời, C.Mác và Ph.Ăngghen với hai phát kiến vĩ đại: chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà cốt lõi của nó là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội đã phát hiện ra quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài người là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội cũ bằng một hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn, “sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”[3]. Từ việc phát hiện ra quy luật phát triển chung của nhân loại, các ông đi sâu nghiên cứu xã hội tư bản chủ nghĩa, phát hiện ra học thuyết giá trị thặng dư, vạch trần bản chất, cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị sức lao động làm thuê của công nhân.
Để bóc lột giá trị thặng dư, giai cấp tư sản đã phát triển các nhân tố của lực lượng sản xuất to lớn, đồ sộ vượt quá mức dung nạp của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn này tất yếu dẫn đến cuộc cách mạng xã hội thay thế phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng một phương thức cao hơn, phương thức sản xuất CSCN - hình thái kinh tế - xã hội CSCN. Chủ nghĩa xã hội “không cần phải thực hiện một lý tưởng nào cả, mà chỉ cần giải phóng những nhân tố của xã hội mới đã phát triển trong lòng xã hội tư sản cũ đang sụp đổ”[4]. Từ đó, các ông khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội hiện đại chẳng qua chỉ là sự phản ánh của sự xung đột có thật ấy vào trong tư duy, là sự phản ánh trên ý niệm của sự xung đột ấy, trước hết trong đầu óc của giai cấp trực tiếp chịu đau khổ và sự xung đột ấy, tức là giai cấp công nhân”[5]. Các ông chỉ rõ, giai cấp công nhân là lực lượng duy nhất có sứ mệnh lịch sử cao cả xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ XHCN, CSCN thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những người công nhân hiện đại”[6]. Từ sự vận động tất yếu của lịch sử, các ông chỉ rõ: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”[7]. Bằng những phát hiện vĩ đại này, Mác - Ăngghen đã nâng CNXH từ không tưởng trở thành khoa học, trở thành vũ khí tư tưởng, hệ tư tưởng chỉ đạo phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, chuyển phong đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác, liên tục thu được những thành quả đáng tự hào.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin rút ra kết luận: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ; vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”[8].
3. CNXH hiện thực đã ra đời, tồn tại mang bản chất ưu việt hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Năm 1871, Công xã Pari nổ ra, tuy chỉ tồn tại trong 72 ngày nhưng bước đầu đã chứng minh khả năng cách mạng của giai cấp công nhân và bản chất tốt đẹp của mô hình xã hội XHCN. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), đã sáng lập nên một chế độ xã hội mới – xã hội XHCN. Lần đầu tiên trong lịch sử, khát vọng thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại cần lao đã trở thành hiện thực sinh động trên một đất nước rộng lớn bằng một phần sáu trái đất, “Nước Nga có chuyên lạ đời, biến người nô lệ thành người tự do” và đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.
Nước Nga Xô viết, tiếp sau là Liên Xô  đã sáng tạo nên những giá trị Xô viết vĩ đại để nhân loại tiến bộ noi theo. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chính  quyền Xô viết đã ban hành những sắc lệnh nổi tiếng: Sắc lệnh về Hòa bình, Sắc lệnh về Ruộng đất, đồng thời ban hành hàng loạt chính sách tiến bộ như: ngày làm 8 giờ, giáo dục không mất tiền, bình đẳng nam nữ, tự do tín ngưỡng, tách nhà thờ khỏi nhà trường… Trong hơn 70 năm (1917 - 1991) xây dựng và phát triển, từ một nước Nga lạc hậu, Liên Xô đã trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ), sản lượng công nghiệp chiếm 20% tổng sản lượng công nghiệp thế giới ; kinh tế tăng trưởng hàng năm với tốc độ bình quân vài chục phần trăm, đã từng là cường quốc đứng thứ ba thế giới. Chính trị, văn hóa, khoa học giáo dục đều có sự phát triển vượt bậc và ảnh hưởng lớn đến nhiều nước trên thế giới. Liên-Xô trở thành một dân tộc có nền văn hoá cao, phổ cập giáo dục rộng rãi nhất với ¾ dân số có trình độ từ trung học trở lên, trên 30 triệu người làm việc trí óc[9]. Liên-Xô đi tiên phong trong nhiều ngành khoa học như ngành vũ trụ, hạt nhân, sinh học..., có lĩnh vực đã từng vượt Mỹ. Liên-Xô đã giải phóng  hàng trăm dân tộc thiểu số ra khỏi Nước Nga Sa hoàng - nhà tù của các dân tộc, đem đến cho họ cuộc sống mới. Khắc phục những khác biệt về kinh tế -  xã hội; tăng cường sự đoàn kết, hữu nghị, giao lưu hòa hợp và xích lại gần nhau giữa các dân tộc. Đời sống mọi mặt của các dân tộc được nâng cao. Quần chúng công nông được hưởng đầy đủ các quyền chính trị kinh tế văn hóa xã hội bảo vệ sức khoẻ, chữa bệnh và nhiều giá trị khác nữa như  quyền nhà ở, quyền được học hành, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo… .  Đó chính là những giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt do Liên Xô tạo nên, đã buộc chủ nghĩa tư bản phải tự điều chỉnh, tự tô vẽ lại bộ mặt của mình theo hướng nhân văn hơn, tiến bộ hơn.
Liên Xô đã tích cực, chủ động giúp đỡ  phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc hiệu quả, thiết thực. Chủ nghĩa xã hội hiện thực đứng đầu là Liên Xô đã từng là lực lượng lớn mạnh, có tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự to lớn, đủ sức răn đe, ngăn chặn sự hiếu chiến, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Với sự ủng hộ nhiệt tình, to lớn của Liên Xô, phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc phát triển như vũ bão; phong trào cộng sản- công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới lớn mạnh không ngừng. Liên Xô đã thực sự là thành trì của hoà bình, an ninh quốc tế, góp phần chủ yếu cứu loài người khỏi thảm hoạ phát xít.
Chủ nghĩa xã hội từ một nước phát triển thành một hệ thống thế giới, tạo thế cân bằng với chủ nghĩa tư bản, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt hành tinh. Đó hoàn toàn không phải là “giấc mơ”, mà là sức sống của một chế độ xã hội XHCN hiện thực tiến bộ, vì con người.
Thế nhưng, sau 70 năm tồn tại và phát triển, CNXH hiện thực đã sụp đổ ngay trên chính quê hương đã sinh ra nó. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cơn chấn động chính trị này, trong đó nguyên nhân sâu xa là sự vận dụng giáo điều chủ nghĩa Mác  - Lênin, duy trì quá lâu mô hình kinh tế - xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp; nguyên nhân trực tiếp là do sai lầm của những người lãnh đạo đứng đầu của Đảng Cộng sản cùng với sự phản bội của một số kẻ cơ hội bên trong kết hợp với sự chống phá của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Bởi thế, sự sụp đổ hệ thống XHCN hoàn toàn không phải là sự sụp đổ của lý tưởng cộng sản, càng không phải là sự phá sản của chủ nghĩa Mác, không phải là sự diệt vong tất yếu của CNXH hiện thực mà là sự đổ vỡ của một mô hình CNXH còn nhiều khuyết tật, không tôn trọng quy luật khách quan… Thực tế, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ,  nhân dân Nga vẫn  đánh giá cao các giá trị Xô viết, trong một cuộc thăm dò dư luận, tiến hành vào ngày 12 tháng 1 năm 2008, trung tâm Phân tích Levada đã đưa ra các số liệu: 57% số người dân Nga được hỏi ý kiến cho rằng: Cách mạng tháng Mười Nga đã đem lại lợi ích cho nhân dân Nga, 26% người được hỏi tin tưởng: cách mạng đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Nga. 31 % cho rằng Cách mạng đem đến sự nhảy vọt cho nền kinh tế và xã hội Nga.
 4. Hiện nay, mặc dù chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng phát triển nhưng những mâu thuẫn cơ bản vốn có không những không được khắc phục mà còn tăng lên, chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ bị thay thế bằng CNXH, CNCS. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc với những nước phụ thuộc ngày càng tăng lên. Đặc biệt, sự tích tụ tư bản với một khối lượng khổng lồ đang ngày càng tập trung vào tay một số ít các nhà tư sản, là điều kiện cho phép các nhóm tư bản và cá nhân thu được lợi nhuận kếch sù. Ở nhiều nước tư bản, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi nhuận là 300%, cá biệt có những nơi lên tới 700% - 800%. Ở Mỹ, 1% người giàu nhất đã làm chủ 40% tài sản, trong khi 80% người dân ở mức thấp nhất làm chủ chỉ có 7% tài sản nước Mỹ[10]. Năm 2011, tại Liên minh châu Âu có 120 triệu người sống trong cảnh nghèo đói. Tổ chức phi chính phủ Oxfam có trụ sở tại Anh, ngày 12 tháng 9 năm 2013 cảnh báo, tới năm 2015, sẽ có thêm 25 triệu người châu Âu rơi vào cảnh đói nghèo[11]. Thực chất sự phát triển của chủ nghĩa tư bản những năm qua chỉ hướng tới phục vụ cho một bộ phận giàu có nhất. Chính điều đó đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gây gắt, làm bùng phát nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân và người lao động chống lại giới chủ tư sản với quy mô rộng khắp. Khởi nguồn là từ “phố Wall” - trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất nước Mỹ (nổ ra vào ngày 14 tháng 9 năm 2012), sau đó, lan rộng ra hàng chục thành phố của Mỹ và các nước thuộc Liên minh châu Âu để phản đối các biện pháp khắc khổ và tỉ lệ thất nghiệp, đói nghèo đang ngày càng gia tăng[12]. Sự phản kháng xã hội mạnh mẽ càng làm bộc lộ bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Khẩu hiệu “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản. Sự thật này một lần nữa chứng minh tính chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững của chủ nghĩa tư bản. Đúng như Mác đã từng nói, chủ nghĩa tư bản đang huỷ hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao động  tài nguyên.
Mặc dù, hiện nay ở nhiều nước tư bản phát triển, đời sống của giai cấp công nhân và người lao động đã được cải thiện, một bộ phận công nhân đã là chủ nhân của một số lượng cổ phiếu nhất định trong công ty và trở thành tầng lớp trung lưu trong xã hội. Đó là kết quả của các cuộc đấu tranh quyết liệt liên tục, bền bỉ của chính bản thân giai cấp công nhân và người lao động chống lại sự áp bức, bóc lột của giới chủ trong suốt nhiều thế kỷ. Nhưng so với tỷ suất bóc lột và những món lợi nhuận kếch xù mà giai cấp tư sản có được thì sự điều chỉnh về chế độ phúc lợi xã hội, an sinh xã hội tiến bộ cho công nhân và người lao động cũng vô cùng nhỏ bé. Suy cho cùng những điều chỉnh của giới chủ theo hướng thỏa mãn ngày càng nhiều hơn những đòi hỏi chính đáng của giai cấp công nhân và người lao động, trước hết cũng là vì lợi ích của chính giai cấp tư sản. Sự điều chỉnh, thích nghi chỉ làm dịu đi những mâu thuẫn xã hội, chứ không làm thay đổi bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, được biểu hiện ở mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản vẫn tồn tại và ngày càng gay gắt, tất yếu chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ bị CNXH, CNCS thay thế trong tương lai.
5. Quá độ lên CNXH vẫn là một tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Trái với dự đoán của nhiều chính khách và phần tử cơ hội sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên xô và Đông Âu, các nước XHCN còn lại không những không bị sụp đổ mà còn đổi mới, cải cách thành công và tiếp tục vững bước đi lên CNXH. Thành công của công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam, cải cách kinh tế ở Lào, kết quả bước đầu của chính sách “cập nhật hoá mô hình kinh tế” ở Cuba,… đã đưa các nước này không chỉ vượt qua được giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, mà còn tạo được những bước đột phá phát triển, là những bằng chứng rõ ràng về sự phục hồi của CNXH. Đồng thời, sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào cánh tả ở nhiều nước Mỹ Latinh trong gần hai thập niên qua là bằng chứng sống động về sự bền bỉ của lý tưởng XHCN. Rõ ràng, mặc dù con đường đi lên CNXH đã và đang trải qua những khó khăn, thử thách, nhưng “theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”[13]. Chủ nghĩa xã hội là hiện thực sinh động, tương lai tươi sáng của nhân loại tiến bộ đang nỗ lực hướng tới...
6.  Đi lên CNXH là khát vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam, phù hợp xu thế thời đại. Trước đòi hỏi cấp thiết của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời, lãnh đạo dân tộc ta làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ ách thống trị gần 100 năm của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.
Bằng sức mạnh của CNXH, dân tộc ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ đưa miền Bắc đi lên CNXH, Đại thắng Mùa Xuân 1975 đưa cả nước đi lên CNXH. Đến cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới CNXH hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, phong trào XHCN đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa”. Hiện nay, tình hình thế giới đang có những diễn biến phức tạp, khó lường, sự nghiệp đổi mới đất nước đang đứng trước những thời cơ, vận hội đan xen với những thách thức, khó khăn, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”[14]. 
Nhờ sự kiên định ấy, sau gần 30 đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, thế và lực của đất nước ngày càng được nâng cao. Nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; chính trị xã hội ổn định; quốc phòng an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, công nghiệp và dịch vụ đã chiếm 83% trong tổng GDP; GDP tăng gấp gần 7 lần và kim ngạch xuất khẩu tăng gấp hơn 200 lần; GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 2.200 USD; an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỉ lệ hộ nghèo giảm mạnh, còn dưới 6%, đã có hơn 98% số hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia; tuổi thọ trung bình tăng từ 64,8 tuổi năm 1986 lên khoảng 73,5 tuổi năm 2015. Năm 2000 cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tỷ lệ người lớn biết chữ tăng từ 84% năm 1980 lên 98,25% năm 2014. Tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 81% năm 1990 xuống còn khoảng 22,4% năm 2014. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao, thương mại và đầu tư với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; hiện có hơn 18.200 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 256 tỷ USD, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao… Trong những năm vừa qua, trước tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nước ta đã thực hiện được mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội…[15] .
Tuy nhiên, sự nghiệp đổi mới đất nước vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém; có những yếu kém kéo dài chậm được khắc phục. Đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí… chưa được ngăn chặn đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; dân chủ XHCN và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ, kỷ cương pháp nước chưa nghiêm, một số mặt công tác xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm. Trong lịch sử cách mạng, gặp muôn vàn khó khăn trong thời kì những năm 1930 “cơ sở cách mạng bị khủng bố trắng”, những năm 1945, chính quyền cách mạng non trẻ phải chống lại cả “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”, trong thời kỳ chống Pháp, “châu chấu đá xe”, chống Mỹ- cường quốc số một thế giới, điên cuồng hòng “đưa Việt Nam về thời kỳ đồ đá”,  những năm 1980 , “lụt bắc, lụt nam, máu tràn biên giới” mà chúng ta đã trải qua và đã giành thắng lợi vĩ đại, thì những hạn chế, khó khăn hiện nay chúng ta đang mắc phải chúng ta tin tưởng nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng có thể và sẽ khắc phục được. CNXH không phải là ảo tưởng mà là hiện thực đang ngày càng sinh động ở nước ta. Hiện thực đó không phải chỉ những người cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam tự nhận, tự thấy mà được các nước, các tổ chức quốc tế thừa nhận và ca ngợi. Thô-mát Gian-đơn (Thomas Jandl), TS người Mỹ đã nhiều lần đến Việt Nam, nhận xét: Việt Nam đã rất thành công và đạt nhiều tiến bộ trong giải quyết vấn đề liên quan đến quyền con người như: Chương trình xóa đói giảm nghèo và hoàn thành sớm Mục tiêu Thiên niên kỷ. Nhìn vào tổng thể, có thể nói Việt Nam đã bảo đảm tốt hơn các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho người dân… Việt Nam được thế giới biết đến như một tấm gương về tiến độ thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, đặc biệt là mục tiêu xóa đói, giảm nghèo. Thành tựu Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là to lớn và rất quan trọng, có ý nghĩa không chỉ với quốc gia mà ở mức độ nhất định cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới. “… tương lai của chủ nghĩa xã hội phụ thuộc ở mức độ quyết định vào những cuộc cải cách của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc và Việt Nam”[16].  Hiện thực ấy cũng là những đòn giáng trả đanh thép giành cho những kẻ cơ hội chính trị đang hàng ngày, hàng giờ kêu gào đòi từ bỏ CNXH. 
Lịch sử phát triển của nhân loại đã minh chứng, tầng lớp chủ nô có tàn bạo đến đâu cũng không duy trì mãi được chế độ nô lệ và phải bị chế độ phong kiến thay thế; tầng lớp địa chủ, quý tộc  có vạn lần tung  hô “quốc vương vạn tuế”  thì chế độ phong kiến cũng bị chế độ tư bản thay thế; và hiện nay giai cấp tư sản có trăm phương ngàn kế tô vẽ chủ nghĩa tư bản vĩnh hằng, thì nó cũng sẽ bị CNXH, CNCS thay thế. Đó là quy luật thép của sự phát triển lịch sử xã hội loài người. Đảng ta, nhân dân ta phấn đấu đi lên CNXH, CNCS là phù hợp với quy luật thép ấy./.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Mátxitcova, 1979, tr.53
[2] V.I.Lênin: Toàn tập, tập 13, Nxb Tiến bộ, Mátxitcova, 1979, t.13, tr.159
[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.21
[4] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 17, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 445 - 446
[5] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 372 - 373
[6] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 605
[7] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 613
[8] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1981, tr. 140
[9] Nguyễn Anh Thái (chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 258 - 259.
[11] Xem:  http://vov.vn/The-gioi/Gan-1-ty-nguoi-van-con-trong-tinh-trang-doi-ngheo/284316.vov.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG.H. 2011, tr. 69
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG.H. 2011, tr 70.
[15] Xem: http://baodientu.chinhphu.vn/Diễn văn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Lễ kỷ niệm Ngày 30/4.
[16]Giáo sư, Tiến sĩ Alếchxăng Lilốp:Việt nam trong thế kỷ XX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.1, tr. 156.