Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

Lợi dụng tệ tham nhũng để chống phá cách mạng Việt Nam - thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch

     Tham nhũng đang là một vấn nạn chung của toàn cầu, không riêng một quốc gia nào. Để phòng, chống tệ nạn này, Đảng, Nhà nước ta có quyết tâm chính trị rất cao, triển khai quyết liệt, đảm bảo cho Luật Phòng, chống tham nhũng (năm 2005) đi vào đời sống xã hội, góp phần cảnh tỉnh, răn đe, loại dần tệ nạn này. Song trớ trêu thay, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội không thấy rõ điều đó, mà còn lợi dụng vấn đề này để chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước của nhân dân ta.
     Những người thường xuyên tiếp xúc internet hẳn không xa lạ với những thông tin, bài viết có nội dung đề cập đến hiện tượng tham nhũng ở Việt Nam được đăng tải trên các blog, facebook, wesite,… của một số hội, nhóm “xã hội dân sự” và các cá nhân tự xưng là những nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền”, “vì dân”, “vì nước”, v.v. Nhìn vào những thông tin, bài viết của các hội, nhóm, cá nhân trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nó thường mang nặng sự suy diễn chủ quan, tô vẽ, thổi phồng, thậm chí xuyên tạc trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Để lôi kéo người dân “tin tưởng” vào các luận điệu xuyên tạc, các hội, nhóm, nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền” thường lợi dụng những vụ án tham nhũng liên quan đến cán bộ, đảng viên đã xảy ra hoặc những sự việc tiêu cực trong xã hội để suy diễn, quy kết “do tham nhũng” và thổi phồng cho đó là tình trạng “phổ biến”, “bản chất” của chế độ xã hội chủ nghĩa, một “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo, do “năng lực quản lý yếu kém” của Nhà nước, v.v. Chúng suy diễn rằng, có sự “bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí” của lãnh đạo, chính quyền các cấp nên nó mới lộng hành như vậy. Nguy hiểm hơn, để truyền tải rộng rãi các thông tin xuyên tạc tới người dân, chúng còn lập riêng một số website, blog để đăng tải bài viết, hình ảnh xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ về đời tư, sự minh bạch của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta.
     Mục đích trên của chúng nhằm vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo “hoài nghi” về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội. Đi đôi với luận điệu xuyên tạc trên của các nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền” là những lời hô hào, xúi giục nhân dân “đoàn kết”, “đứng lên đấu tranh đòi tự do, dân chủ”; kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi: “Cương lĩnh”, “thể chế chính trị”, “mô hình lãnh đạo”, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, v.v.
     Cùng với các hội, nhóm “xã hội dân sự”, nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền”, còn phải kể đến một số tổ chức mang danh quốc tế. Họ luôn tự cho mình cái quyền đi “phán xét” tình hình tham nhũng ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam và thường kỳ đưa ra cái gọi là “Báo cáo tham nhũng toàn cầu”. Đáng chú ý, khi đề cập đến thực trạng tham nhũng ở Việt Nam, các bản “báo cáo” này thường dựa trên những quan điểm chủ quan, thiếu cơ sở, mang tính phiến diện, phản ánh sai lệch tình hình; đưa ra những đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện “quyền tự do” cho người dân để “nâng cao hiệu quả” chống tham nhũng và kêu gọi “cho phép các tổ chức xã hội dân sự” tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng, v.v.
     Như vậy đã rõ, các tổ chức hội, nhóm, cá nhân trên đang cố tình muốn sử dụng vấn đề tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam làm “công cụ”, “ngọn cờ tiên phong” để thực hiện ý đồ xấu, chống phá Việt Nam. Thực chất, đó chỉ là những tổ chức, cá nhân có quan điểm, tư tưởng phiến diện, lệch lạc được các thế lực thù địch, phản động “hậu thuẫn”, cổ vũ, đội lốt “trách nhiệm” với “vận mệnh” của dân tộc, của đất nước để chống lại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay. Đây rõ ràng là chiêu trò, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nhằm gây “nhiễu loạn” chính trị - xã hội, nhằm xóa bỏ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
     Như chúng ta biết, tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, kể cả ở nước nghèo và nước giàu, quốc gia phát triển, đang phát triển hoặc kém phát triển; không phân biệt do một đảng hay do đa đảng lãnh đạo.
     Ở Việt Nam, ngay từ khi xây dựng chính quyền cách mạng (năm 1945), Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ đã nhận diện, thẳng thắn chỉ ra các hiện tượng tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, v.v. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”. Người cho đó là: “Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”. Tham nhũng còn gây ra tác hại làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với bộ máy và công chức, viên chức nhà nước, triệt tiêu động lực cơ bản nhất của sự phát triển. Người luôn nghiêm khắc nhắc nhở mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên: Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”“… một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.        Quán triệt tinh thần đó, trong văn kiện của Đảng tại các kỳ đại hội đều cảnh báo về tệ nạn này, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII) của Đảng nêu: “Nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội là một trong bốn nguy cơ trước mắt của đất nước”. Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) của Đảng đánh giá: “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành,… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước,…”. Nhiều văn bản, như: Chỉ thị 64-CT/TW của Ban Bí thư (khóa VI), Chỉ thị 15-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VII) “Về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng”; Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Chỉ thị 50-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng”,… đã đi vào cuộc sống, trở thành phương thuốc hữu hiệu ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng. Khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 được ban hành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XII) đã ra Nghị quyết 1039/2006/NQ-UBTVQH11, ngày 28-8-2006, về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Nghị quyết 294A/2007/NQ-UBTVQH12, ngày 27-9-2007, về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 13/2007/QĐ-TTg, ngày 24-01-2007, về việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và quy chế hoạt động của Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Các cơ quan bảo vệ pháp luật, như: Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,… đã thành lập những đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng.
     Cùng với các chủ trương, văn bản pháp luật phòng, chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta đã có những hành động cụ thể nhằm vạch mặt, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất và có hành vi tham nhũng. Theo thống kê của Thanh tra Chính phủ, năm 2015, ngành Thanh tra đã phát hiện 100 vụ, 172 đối tượng có hành vi tham nhũng và liên quan đến tham nhũng với số tiền 40,7 tỷ đồng. Cơ quan điều tra các cấp đã thụ lý điều tra 351 vụ án, 813 bị can phạm tội về tham nhũng, khởi tố mới 178 vụ, 317 bị can; thu hồi, nộp ngân sách nhà nước trên 103 tỷ đồng và 2.887 m2 đất. Viện kiểm sát các cấp thụ lý giải quyết 323 vụ/806 bị can về các tội danh tham nhũng, truy tố 310 vụ/697 bị can; tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 260 vụ, 577 bị cáo về tội danh này. Riêng quý II năm 2016, có 04 trường hợp người đứng đầu bị kết luận là thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng, đã xử lý kỷ luật 02 người, xử lý hình sự 02 người; phát hiện 07 vụ, 08 đối tượng có hành vi tham nhũng và liên quan đến tham nhũng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thụ lý điều tra 148 vụ, 354 đối tượng tham nhũng và liên quan đến tham nhũng, v.v.
     Thời gian qua, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam tiếp tục khẳng định và quyết tâm đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Gần đây, tại phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kết luận: “Cần tập trung chỉ đạo xử lý một số vụ án tham nhũng kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; tài liệu, chứng cứ chắc đến đâu xử lý đến đó, sau đó điều tra xử lý tiếp nhằm tạo sự lan tỏa và chuyển biến tích cực trong phát hiện, xử lý tham nhũng”. Trong báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV nêu rõ: “kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính và trong xã hội chưa nghiêm; năng lực, phẩm chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng tham nhũng còn nghiêm trọng, xảy ra nhiều vụ tham nhũng lớn trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng, đất đai,...”. Tiếp xúc với cử tri thành phố Hải Phòng, ngày 03-8-2016, Thủ tướng đã cảm ơn các ý kiến tâm huyết, thẳng thắn của cử tri về các vấn đề còn khó khăn, tồn tại của đất nước và khẳng định quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Chính phủ; đồng thời nhấn mạnh “không có vùng cấm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng”.
     Như vậy, Đảng, Nhà nước ta không phủ nhận tham nhũng đã và đang tồn tại ở Việt Nam; là vấn đề nhức nhối, gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với xã hội, trực tiếp phá hoại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, “tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống,… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi” đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân, làm sai lệch các chủ trương, chính sách của Đảng, dẫn đến nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Để ngăn chặn tệ nạn này, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí; kiên quyết đấu tranh loại trừ những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng và loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội, không để tham nhũng cản trở công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tế trên là bằng chứng xác thực nhất bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phiến diện, chủ quan, lệch lạc, thù địch đang cố tình lợi dụng vấn đề tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam để thực hiện mục đích, ý đồ xấu./.
Nguồn: http://tapchiqptd.vn/

VỀ TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN

     Ngày 07/10/2016, Bộ Công an đã chính thức đưa tổ chức Việt Tân vào danh sách tổ chức Khủng bố và tin tức này ngay lập tức được nhiều báo chí, truyền hình trong nước cũng như nước ngoài đưa tin. Trong khi các trang mạng, Blog của tổ chức này cũng như của những tổ chức khác là ngoại vi hay có mối liên hệ mật thiết với Việt Tân ngay lập tức “giãy nẩy” lên như thể đang chân trần đi bộ bỗng dẫm phải gai thì các trang báo mạng lề phải của ta cũng đồng loạt đưa tin về sự kiện này một cách rất kịp thời. Qua đây có thể thấy rằng báo chí của ta đang dần sửa đổi lối viết quen thuộc là giật tít câu view gây sốc sang lối viết có “tâm” hơn rồi. Điều này là rất đáng hoan nghênh. Cớ sao các trang báo lề trái lại “giãy nẩy” lên như vậy? Bởi lẽ, Bộ Công an đã chọc đúng chỗ hiểm của bọn chúng - đó là khâu truyền thông, quảng bá hình ảnh hòng tạo ảnh hưởng chính trị cũng như huy động nguồn tài trợ cho bọn chúng. Điều gì cần thiết phải làm thì bắt buộc phải làm nhằm nâng cao cảnh giác của người dân không chỉ ở trong nước mà còn cả kiều bào ta ở nước ngoài đối với tổ chức khủng bố này.
     Về nguồn gốc lai lịch của tổ chức Việt Tân, bạn đọc có thể tham khảo trên mạng Internet (đương nhiên là trang chính thống hoặc chí ít cũng phải là Wikipedia), tác giả chỉ tóm lại rằng tổ chức này chính là đứa con hoang của “Mặt trận Thống nhất giải phóng Việt Nam” do Hoàng Cơ Minh - cựu sĩ quan quân đội ngụy quyền cầm đầu. Sau khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975 thì sang đầu thập niên 1980, Hoàng Cơ Minh gây dựng tổ chức này nhận sự tài trợ về tiền bạc, vũ khí cùng sự hỗ trợ của Mỹ đặc biệt là của CIA trong việc huấn luyện những phần tử của tổ chức này. “Mặt trận Thống nhất giải phóng Việt Nam” huấn luyện các thành viên của mình trong nhiều năm tại căn cứ đóng ở Thái Lan sau đó thực hiện 03 cuộc Đông Tiến” về Việt Nam bằng cách vượt biên qua Campuchia bằng đường biển và đường bộ. Cả ba cuộc xâm nhập này đều bị lực lượng Công an chặn đứng, các phần tử của mặt trận đó tiêu diệt và Hoàng Cơ Minh cũng bị thiệt mạng trong quá trình xâm nhập này. Sau đó, những thành viên còn sống sót đã lưu vong sang Mỹ, đến năm 2004 công bố thành lập tổ chức “Việt Nam canh tân cách mạng đảng” tức Việt Tân ngày nay. Tuy nhiên, tổ chức này chưa bao giờ được Mỹ công nhận tư cách pháp nhân, có nghĩa là nó hoạt động bất hợp pháp tại Mỹ.
     Về bản chất, kể từ khi mới thành lập, tổ chức này chỉ hoạt động tại bang California, Mỹ và chủ yếu dựa vào nguồn lực tài chính là đóng góp của người dân Việt Nam tị nạn, chạy trốn sang Mỹ sau sự kiện 30/4/1975 vì họ từng làm việc cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa nên sợ bị miền Bắc trả thù. Ban đầu, Việt kiều tại đây bị chúng dùng thủ đoạn lừa đảo nên đã quyên góp tiền bạc cho chúng. Tuy nhiên, sau khi biết rõ âm mưu của chúng thì họ đã khước từ và không đưa tiền nữa thì ngay lập tức chúng trở mặt đem người tới dằn mặt, khủng bố, không cho họ làm ăn. Thậm chí, có những người từng làm việc cho chúng, viết báo ca ngợi chúng, khi biết về âm mưu của tổ chức này đã tuyên bố sẽ công khai các thông tin về chúng thì ngay lập tức bị thủ tiêu. Những thông tin này hoàn toàn có thật, bạn đọc có thể tìm thấy trên mạng Internet.

     Kể từ đó đến nay, chúng nhận sự tài trợ của nhiều tổ chức khác nữa, đẩy mạnh nhiều hoạt động chống phá Việt Nam, gây dựng ngọn cờ, phá hoại đất nước không chỉ về chính trị mà cả về kinh tế, văn hóa… Dưới chiêu bài hết sức nhân văn, cao đẹp chúng sử dụng chiến thuật “không chiến tự nhiên thành” bằng cách hạ uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm mất uy tín của Đảng với quần chúng nhân dân, từ đó dần dần lật đổ chế độ bằng một cuộc bạo động hết sức hòa bình không tiếng súng. Thật sự đây là âm mưu hết sức thâm độc và bài học lịch sử của Liên Xô đã là minh chứng rõ ràng nhất cho điều đó. Do vậy, khi Bộ Công an đưa tổ chức Việt Tân vào tổ chức Khủng bố, không khó hiểu khi chúng phản ứng mạnh mẽ như vậy. Tuy nhiên, đằng sau những lập luận, hướng lái dư luận đó, về bản chất chỉ là sự run sợ của chúng. Bởi lẽ, khi mà lòng dân không hướng về chúng, thì mọi sự tính toán của chúng cũng chỉ tan thành bọt nước mà thôi./.

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

TẠI SAO CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA PHẢI CÓ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG MÁC-XÍT CHÂN CHÍNH?

          Ngay từ khi mới ra đời, giai cấp vô sản đã trở thành lực lư­ợng đối lập trực tiếp về quyền lợi với giai cấp t­ư sản và bị giai cấp tư­ sản bóc lột đến bần cùng. Do vậy, giai cấp vô sản luôn phản kháng quyết liệt và tổ chức các hoạt động đấu tranh chống lại giai cấp t­ư sản, chống lại chế độ áp bức t­ư bản chủ nghĩa. Xoá bỏ chủ nghĩa tư­ bản xây dựng xã hội mới tốt đẹp không có ngư­ời bóc lột ng­ười chính là sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân hiện đại.
          Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là một phát hiện vĩ đại của chủ nghĩa Mác- Lênin; thực hiện nó, biến nó trở thành hiện thực là trách nhiệm cao cả của phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Tuy nhiên, để thực hiện đư­ợc sứ mệnh lịch sử cao cả đó thì giai cấp vô sản phải thành lập đ­ược chính đảng của mình và xây dựng nó thực sự trở thành đội tiên phong, bộ chỉ huy tham m­ưu chiến đấu của giai cấp.
          Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, ở đâu, lúc nào giai cấp vô sản xây dựng đ­ược chính đảng vững mạnh, thì phong trào đấu tranh của công nhân đi đúng hư­ớng và đạt hiệu quả, ng­ược lại nếu giai cấp vô sản không tổ chức ra đ­ược chính đảng, không quan tâm đến công tác xây dựng đảng thì phong trào trì trệ, khủng hoảng, thậm chí tan giã sụp đổ. Đây là vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Bằng quan điểm duy vật về lịch sử, Mác và Ăng Ghen đã luận chứng một cách khoa học về sự diệt vong không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư­ bản, về tính tất yếu của sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang một hình thái kinh tế xã hội cao hơn là chủ nghĩa cộng sản, mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. Hai ông cũng đã chỉ ra rằng bước chuyển biến đó không phải diễn ra một cách tự phát mà bằng con đư­ờng cách mạng xã hội; đồng thời hai ông cũng chỉ rõ lực l­ượng thực hiện sự chuyển biến đó là giai cấp vô sản hiện đại. Việc xóa bỏ chủ nghĩa tư­ bản xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới ấy chính là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản; sứ mệnh lịch sử ấy không phải do ý muốn chủ quan của giai cấp vô sản, cũng không phải do ý muốn chủ quan của một giai cấp, một tầng lớp hay một cá nhân nào đặt ra, mà là do chính địa vị kinh tế- xã hội của giai cấp vô sản quy định.
Tuy nhiên, giai cấp vô sản muốn thực hiện đ­ược sứ mệnh lịch sử của mình thì phải tổ chức ra đư­ợc chính đảng cách mạng của giai cấp mình; chính đảng đó phải có đủ khả năng, phẩm chất lãnh đạo, hư­ớng dẫn phong trào cách mạng của công nhân. Đó cũng chính là điều kiện tiên quyết nhất, và quan trọng nhất bởi vì chỉ khi nào giai cấp vô sản tổ chức đ­ược ra chính đảng chính trị của mình, thì cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản mới chuyển từ đấu tranh tự phát, rời rạc thành cuộc đấu tranh tự giác, có tổ chức lãnh đạo, hành động thống nhất; và cũng chỉ khi đó thì giai cấp vô sản mới chuyển từ giai cấp “tự mình” thành giai cấp “vì mình”.

Trong tác phẩm “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản” V.I.Lênin đã khẳng định: “ Không có một đảng sắt thép đ­ược tôi luyện trong đấu tranh, không có một đảng đ­ược sự tín nhiệm của tất cả những phần tử trung thực trong giai cấp nói trên, không có một đảng biết nhận xét tâm trạng của quần chúng  và biết tác động vào tâm trạng đó thì không thể tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ấy được".
Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tr­ước khi chủ nghĩa Mác ra đời vốn là các phong trào lẻ tẻ, rời rạc lại mang tính tự phát, nên phát triển chậm chạp và không đạt hiệu quả; hoạt động đấu tranh của họ mới chỉ hướng vào đập phá máy móc, đòi hỏi quyền lợi kinh tế như­ các cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xi nê di (Đức), cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Ly Ông (Pháp), hoặc cải lương đòi giai cấp tư­ sản, chính phủ tư sản giảm bớt các chính sách hà khắc đối với mình như­ phong trào hiến chương ở Anh... Kết quả tất cả các phong trào trên đều bị thất bại và bị giai cấp t­ư sản đàn áp đẫm máu. Ngay cả khi chủ nghĩa Mác đã ra đời, đã từng bư­ớc thấm sâu vào phong trào công nhân, giai cấp công nhân đã phần nào có một vũ khí lý luận cách mạng, đã làm được cái mà tr­ước đây họ ch­ưa bao giờ mơ ­ước là họ đã “thực sự” trở thành ng­ười “làm chủ” xã hội trong thời gian ngắn ngủi ở công xã Pa ri (1872), như­ng niềm “hân hoan” ấy đã không tồn tại đư­ợc bao lâu lại phải chịu cảnh “đầu rơi máu chảy” d­ưới sự đàn áp của giai cấp t­ư sản phản động. Thất bại của công xã Pa ri một mặt do giai cấp công nhân Pa ri đã thiếu triệt để cách mạng, mặt khác quan trọng hơn là do giai cấp công nhân Pa ri ch­ưa có một chính đảng cách mạng. Lịch sử một lần nữa lại chứng minh rằng, nếu không thành lập đư­ợc chính đảng Mác xít thì phong trào công nhân không những không phát triển đư­ợc, mà còn phải chịu những thất bại thảm hại.

Lịch sử phong trào cũng đã chứng minh rằng; mặc dù giai cấp vô sản đã tổ chức ra đ­ược chính đảng của mình, như­ng lúc nào và ở đâu nếu đảng của giai cấp vô sản được xây dựng vững mạnh về chính trị t­ư t­ởng và tổ chức thì phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân mới phát triển mạnh và thu đư­ợc nhiều thành công; ngư­ợc lại nếu đâu, khi nào đảng của giai cấp công nhân không thường xuyên được xây dựng trong sạch, bị bọn cơ hội, xét lại lợi dụng, lũng đoạn thì ở đó phong trào sẽ không phát triển dc, thậm chí bị thất bại, Quốc tế II là một minh chứng.     
Nhận thức rõ vị trí vai trò của đảng mác xít đối với sự phát triển của phong trào công nhân, V.I.Lênin đã đấu tranh tích cực chống bọn cơ hội chủ nghĩa,vạch trần bản chất của chúng bảo vệ chủ nghĩa Mác và cùng những ngư­ời đảng viên trung kiên trong đảng dân chủ xã hội Nga đã từng b­ước đấu tranh thành lập ra tổ chức đảng kiểu mới, một Đảng thực sự cách mạng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác. Do ảnh h­ưởng tư­ tư­ởng của Lênin và Đảng Bôn-xê-vích Nga, trong thập niên thứ hai của thế kỷ XX đã ra đời hàng loạt các Đảng cộng sản theo tư­ tư­ởng đảng Mác xít kiểu mới như­: Đảng cộng sản Đức, Áo, Phần Lan, Ba Lan ( năm 1918); Mỹ, Ý (năm 1920)... Khi các Đảng công nhân đư­ợc củng cố, thì phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng đ­ược vực dậy, đỉnh cao của nó là cách mạng Tháng Mư­ời Nga 1917. Thắng lợi của cách mạng Tháng M­ười Nga vĩ đại đã mở ra cho nhân loại một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên hiện thực; mở ra một thời đại  mới  thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư­ bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Hồ Chí Minh khẳng định: “Giống nh­ư mặt trời chói lọi, cách mạng Tháng M­ười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người ch­ưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như­ thế”.
Sau thắng lợi của cách mạng Tháng M­ười Nga, dư­ới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Nga; giai cấp công nhân và nhân dân Nga đã bảo vệ đ­ược thành quả của cách mạng tr­ớc sự bao vây chống phá của chủ nghĩa đế quốc, hào hứng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đã thu được nhiều thành công, tạo ra sức mạnh để giành thắng lợi trong chiến tranh thế giới lần thứ II.
          Với những thành công vang dội ấy nó đã cổ vũ và thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ; các đảng cộng sản, dư­ới ngọn cờ của cách mạng Tháng M­ười Nga đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân n­ước mình làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, dẫn đến sự ra đời của một loạt các n­ước xã hội chủ nghĩa, hình thành lên hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh vào những năm 50, 60 của thế kỷ XX; hàng loạt nư­ớc thuộc địa sau khi giành chính quyền cũng chọn con đ­ường chủ nghĩa xã hội hoặc phát triển theo định h­ướng xã hội chủ nghĩa. Những năm 70- 80 của thế kỷ XX, những thành tựu to lớn của chủ nghĩa xã hội đã chứng thực đó là một xã hội tốt đẹp; đã luận giải tính đúng đắn của lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, trong đó có lý luận về sự lãnh đạo của Đảng vô sản, lý luận về xây dựng đảng và quy luật về mối quan hệ giữa xây dựng chính Đảng vô sản vững mạnh với sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
          Cuối thập kỷ 80, đầu 90 thế kỷ XX chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đã dẫn đến sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, để lại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế những tổn thất hết sức nặng nề. Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nh­ưng một trong những nguyên nhân quan trọng có ý nghĩa quyết định đó là công tác xây dựng đảng không được trú trọng đúng mức, tạo cơ sở cho những phần tử cơ hội xét lại lũng đoạn Đảng, làm mất uy tín của Đảng với nhân dân. Sự sụp đổ đó để lại cho chúng ta nhiều bài học, một trong những bài học đó là phải th­ường xuyên làm tốt công tác xây dựng Đảng và tăng cư­ờng sự lãnh đạo của Đảng. Điều này một lần nữa chứng minh mối quan hệ giữa công tác xây dựng Đảng với sự phát triển và sinh tồn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế./.

GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC CHO THANH NIÊN HIỆN NAY

Thanh niên là người chủ tương lai của đất nước,vì vậy giáo dục, rèn luyện nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc để cho thanh niên là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những năm qua, công tác giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc có nhiều đổi mới nên đã thu hút được nhiều thanh niên tham gia. Kết quả thu được là rất tích cực, đã góp phần hình thành lớp thanh niên thời đại mới vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên chưa thực sự vững tin vào độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giảm sút ý chí phấn đấu, vươn lên, ngại khó, ngại khổ; sống thực dụng, ích kỷ, vi phạm kỷ luật, pháp luật Nhà nước, coi nặng giá trị vật chất... Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, một phần do một bộ phận thanh niên chưa được trải nghiệm nhiều trong cuộc sống, lại thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cùng với những tác động khách quan từ mặt trái của kinh tế thị trường, tệ quan liêu, tham nhũng và sự chống phá của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó có một bộ phận không nhỏ thanh niên. Trong khi đó công tác giáo dục chính trị tư tưởng đối với thanh niên chưa được các cấp, các ngành, các đoàn thể chính trị - xã hội quan tâm đúng mức, hiệu quả giáo dục chưa cao nhất là hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc.
Để định hướng nhận thức và hành động cách mạng cho nhân dân, nhất là lực lượng thanh niên một cách đúng đắn, việc giáo dục lý tưởng sống và trau dồi đạo đức, nhân cách nói chung, ý thức bảo vệ Tổ quốc chân chính nói riêng là vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay, trong đó cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức trách nhiệm của toàn xã hội về giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên hiện nay.
Giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chính trị xã hội cơ sở. Do đó, cấp ủy đảng các cấp cần xác định rõ nội dung giáo dục tuyên truyền. Phát huy sức mạnh của mọi tổ chức đoàn thể chính trị xã hội để giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên. Gắn công tác lãnh đạo nhiệm vụ chính trị, xây dựng các tổ chức cơ sở vững mạnh với công tác giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng, ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên. Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn chặt chẽ để Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên.
Hai là, chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục nhằm nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên trong sự nghiệp cách mạng hiện nay.
Nội dung và phương pháp giáo dục có vị trí, vai trò quan trọng trong nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên, do đó cần phải đổi mới. Về nội dung giáo dục phải đúng, đủ những vấn đề cần chuyển tải, phải gắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ và phù hợp với tâm lý thanh niên. Về phương pháp tuyên truyền, giáo dục phải đa dạng, phong phú thông qua phương tiện thông tin đại chúng, pa nô, áp phích, báo chí, đài phát thanh, truyền hình, hoạt động văn hóa, văn nghệ, bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử và văn hóa, các lễ hội truyền thống, các ngày lễ, kỷ niệm dân tộc của Đảng, của địa phương, đơn vị. Phát huy vai trò của gia đình, nhà trường, cơ quan, đơn vị, địa phương,vì đây là môi trường thuận lợi nhất để những nội dung, phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc đến với thanh niên hiệu quả nhất. 
Ba là, xây dựng một môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, tạo điều kiện để thanh niên tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện mọi mặt trong đó có nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc.
Môi trường xã hội là nơi để thanh niên thể hiện sức trẻ của mình, là nơi để họ vận dụng những kiến thức, kỹ năng, sức sáng tạo vào thực hiện các nhiệm vụ chính trị, là nơi thể hiện tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ Tổ quốc của mình. Môi trường xã hội trong lành là điều kiện giúp thanh niên có nhận thức, thái độ, động cơ đúng đắn trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện phẩm chất, nhân cách vànhận thức rõ bổn phận, trách nhiệm của bản thân trước gia đình, địa phương, cơ quan, đơn vị, Tổ quốc và nhân dân.Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang tạo ra môi trường thuận lợi, mở ra cho thanh niên nhiều cơ hội mới, nhưng đồng thời cũng đem lại nhiều thách thức. Vì vậy, muốn tận dụng được cơ hội để phát triển và hòa nhập với thế giới, đồng thời lọc bỏ được những tác hại thì thanh niên Việt Nam phải tích cực tự học tập tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao trình độ mọi mặt, có như vậy đứng vững và phát triển.
Sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng là rất to lớn, vẻ vang và cũng đầy khó khăn gian khổ. Để giữ vững độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội thì thanh niên Việt Nam những chủ nhân tương lai của đất nước phải được giáo dục, rèn luyện về mọi mặt, trong đó giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc.  

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC LÀ MỘT THỨ TÔN GIÁO; MỘT THỨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG?

Cuộc đấu tranh bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa giai cấp tư sản và giai cấp tư sản là điều hiển nhiên bởi nó khác nhau về bản chất và lợi ích; nhưng đáng buồn là trên thực tế một số kẻ nhân danh là "hiền sỹ"; "con lạc cháu hồng" lại đi rêu rao rằng: chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác - Lênin cũng chỉ là một thứ tôn giáo, một thứ chủ nghĩa xã hội không tưởng.
Tư duy, lập luận, bảo vệ "con đường chính trị" của mình thì tùy vào nhãn quan chính trị, bản lĩnh, lập trường, quan niệm và lợi ích của mỗi người hoặc (nhóm người).
Vậy chủ nghĩa xã hội khoa học có phải là một thứ tôn giáo; là học thuyết không tưởng? Sự thật về mặt lý thuyết và học thuật xin phép không cắt nghĩa, nhưng hãy thử làm một phép so sánh đã được kiểm nghiệm trên thực tế sẽ thấy sự khác nhau rất cơ bản về bản chất giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với tôn giáo; giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với chủ nghĩa xã hội không tưởng:
Thứ nhất, sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với tôn giáo:

Sự khác nhau
Tôn giáo
CNXHKH
1. Thế giới quan
Duy tâm
Duy vật
2. Lực lượng thay đổi xã hội
Thần thánh
Lực lượng chính trị là giai cấp công nhân
3. Phương pháp
Tu hành
Đấu tranh
4. Kết quả
Hơn 2000 năm, không thay đổi được xã hội
Gần 1 thế kỷ tạo ra thời đại mới: từ CNTB lên CNXH
Thứ hai, sự khác nhau về chất giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với chủ nghĩa xã hội không tưởng:
Sự khác nhau
CNXH Không tưởng
CNXH Khoa học
1. Cơ sở kinh tế kỹ thuật
Kỹ thuật thủ công trong nông nghiệp, tiểu công nghiệp
Công nghiệp hiện đại, xã hội hóa ngày càng cao
2. Cơ sở chính trị - xã hội
Nhân dân lao động bị áp bức bóc lột nói chung (nông dân, thợ thủ công…)
Giai cấp công nhân hiện đại
3. Cơ sở nhận thức
Nhận thức cảm tính
Nhận thức khoa học
4. Phương pháp
Cải lương xã hội
Cách mạng xã hội
5. Hiệu quả
Chủ nghĩa xã hội không tưởng phát triển tỷ lệ nghịch với phong trào công nhân
Phát triển cùng sự phát triển của phong trào công nhân, thực hiện bước tiến trong giải phóng xã hội


Từ hai bảng so sánh trên cho thấy, chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời là bước phát triển về chất trong dòng chảy tư tưởng xã hội chủ nghĩa của nhân loại. Do đó không thể đồng nhất chủ nghĩa xã hội khoa học với một thứ tôn giáo nào đó hoặc là chủ nghĩa xã hội không tưởng. Kính mong các "hiền sỹ" – những người vốn tự xưng danh "vì nước, vì dân" nghiên cứu, suy xét.

CẦN NHẬN RÕ LUẬN ĐIỆU: "VIỆT NAM KHÔNG CẢI TỔ SẼ SỤP ĐỔ"

     Lâu nay các thế lực thù địch của cách mạng Việt Nam luôn rêu rao cái gọi là “Việt Nam phải cải tổ”, “Không cải tổ sẽ sụp đổ”.Dường như họ đang cố gắng đem những “cái mang tính hiện tượng” để quy về “cái bản chất”, nêu lên một giả định của sự cải tổ ở Việt Nam, trong khi bản thân họđã thực sự hiểu bản chất của quá trình cải tổ hay chưa?
      Cải tổ, đổi mới - nguyên tắc thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội. 
     Tuy không trùng khít về nội hàm khái niệm song tựu trung lại đổi mới, cải cách, cải tổ đều có hệ mục tiêu về lý luận và mục tiêu thực tiễn.
     Vấn đề đặt ra là cải tổ để làm gì? Đối với Việt Nam chúng ta, một quốc gia luôn vận dụng trung thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, coi cải cách, cải tổ, đổi mới là nguyên tắc sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa và là đòi hỏi khách quan để phát triển đất nước. Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có lộ trình, “đổi mới nhưng không đổi màu”, đổi mới để xác lập hệ thống quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và để xã hội xã hội chủ nghĩa từng bước được xác lập vững chắc làchủ trương nhất quán.
Mục tiêu của cải cách, cải tổ, đổi mới không phải quốc gia nào, giai cấp thống trị nào cũng giống nhau và không phải đất nước nào đổi mới, cải tổ cũng thành công, thậm chí còn bị trả giá đắt cho tính vô nguyên tắc, tùy tiện trong cải cách, cải tổ.Vào những năm 80, 90 thế kỷ XX, ở Liên Xô do nhận thức thiếu đúng đắn về điểm xuất phát của cải tổ, việc lấy cải tổ chính trị làm xuất phát  đã làm nảy sinh các làn sóng “tính công khai”, “phê bình và tự phê bình trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”, “dân chủ hóa toàn diện đời sống xã hội”, những thành tựu lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội Liên Xô sau 70 năm bị đánh đổ từ sai lầm này.
     Sự thành công của cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc (khởi xướng năm 1978); hay công cuộc đổi mới của Việt Nam từ năm 1986, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; Việt Nam được xem là điểm đến an toàn, hấp dẫn đối với bè bạn quốc tế. 
     Đừng lấy “cái hiện tượng” để quy về “cái bản chất”
    Trong khi các phần tử cơ hội chính trị nêu lên những hiện tượng để cố thuyết giảng về sự bất đồng, mâu thuẫn ở Việt Nam càng chứng tỏ ông không có cái nhìn biện chứng và khách quan. Vốn dĩ, sự xuất hiện các mặt đối lập, các mâu thuẫn ở các sự vật, hiện tượng, kể cả các hiện tượng xã hội là tất yếu khách quan;Trong một quốc gia sự tồn tại những khác biệt, những hiện tượng sai trái là điều dễ hiểu; vấn đề làphải nhận biết mâu thuẫn trong xã hội đó là cơ bản hay không cơ bản, chủ yếu hay thứ yếu, bên trong hay bên ngoài… Vấn đề không phải là sợ có mâu thuẫn mà là ở chỗ giải quyết mâu thuẫn đúng đắn, triệt để nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
     Họ đang vô tình hay hữu ý lờ đi sự biến động, xung đột, mâu thuẫn ở các nước trên thế giới trong khi đề cập đến những hiện tượng ở Việt Nam?
     Không đâu xa, Thái Lan một quốc gia gần Việt Nam đã trải qua hơn 20 cuộc đảo chính, kể từ năm 1932 đến nay, trong đó có 11 cuộc đảo chính thành công. Các vụ xả súng ở Connecticut, Oregon, California (Mỹ), Pari (Pháp) hay những bất ổn ở Lybia, Ai Cập, Syria, hiện tượng nhà nước Hồi giáo IS tự xưng đã nói lên trong các xã hội đó còn đầy rẫy những bất công, mâu thuẫn không thể điều hòa. Đó là chưa kể đến mâu thuẫn giữa giới giàu có, người nghèo khổ, tỉ lệ thất nghiệp ở các nước tư bản phát triển.Bất ổn chính trị đồng nghĩa với các mâu thuẫn, tranh chấp quyền lực, hoạt động của các băng đảng, tổ chức chính trị, ổ nhóm phạm tội xuyên quốc gia, quốc tế…Các quốc gia này mặc dù đang cố gắng để giải quyết mâu thuẫn nhưng dường như khó đem lại kết quả vì nỗ lực giải quyết mâu thuẫn của chính giới đang vướng vào vòng luẩn quẩn lập trường giai cấp.
     Trong khi đó, trên tinh thần “thượng tôn pháp luật”, cùng với sự khoan dung, độ lượng, với các hành vi sai trái Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn giải quyết có lý có tình”, hướng tới mục tiêu cao nhất là tạo nên sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để chung tay xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những thiếu sót, hạn chế chế trong quản lý xã hội,trong thực thi công vụ luôn được phát hiện khắc phục sửa chữa kịp thời; điển hình như vụ việc của ông Đoàn Văn Vươn, các cá nhân, tổ chức sai phạm đều nghiêm túc nhận khuyết điểm và chủ động khắc phục; hay sai phạm trong xây dựng tại toàn nhà 8B Lê Trực, trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát được làm rõ và kiên quyết xử lý.
     Một khía cạnh nữa chứng tỏ các phần tử cơ hội chính trị có cái nhìn phiến diện, muốn đưa “cái hiện tượng thành cái bản chất” khi họ cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước không quan tâm đến quyền làm chủ của nhân dân. Điều này hoàn toàn trái với trong hiện thực Việt Nam. Thử hỏi rằng nếu Đảng, Nhà nước Việt Nam không tôn trọng, lắng nghe nhân dân, các tầng lớp trí thức, các nhà quản lý thì làm sao có hơn 15 triệu lượt góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992; và hàng triệu lượt ý kiến của Đảng viên, người không phải là đảng viên đóng góp vào dự thảo văn kiện đại hội XII của Đảng. Đó là chưa nói đến cấp địa phương như thành phố Hồ Chí Minh chỉ sau 1 tháng công bố toàn văn Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố đến các tầng lớp nhân dân để lấy ý kiến đóng góp, đã có hơn 15.646 ý kiến góp ý và 189 bài viết trên các báo, đài Trung ương và Thành phố.Đến đây, chúng ta càng hiểu hơn cái “mẹo” của các thế lực thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam đó là luôn đem những cái có tính hiện tượng quy thành bản chất, mà thiếu đi cái nhìn khách quan, toàn diện đối với sự phát triển của một quốc gia dân tộc./.

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2016

ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI, XÉT LẠI LÀ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH QUY LUẬT CỦA PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ HIỆN NAY

Trong suốt tiến trình lịch sử phát triển Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, giai cấp công nhân luôn phải tiến hành đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu xóa bỏ chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, giải phóng giai cấp, dân tộc, nhân loại. Cùng với quá trình đó, để phong trào tồn tại và phát triển thì giai cấp công nhân và các đảng cộng sản còn phải tiến hành một cuộc đấu tranh rất gay go và quyết liệt với một loại kẻ thù giấu mặt và trá hình, núp dưới bóng chủ nghĩa Mác để chống lại chủ nghĩa Mác và phản bội lại phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đó là chủ nghĩa cơ hội, xét lại.
Chủ nghĩa cơ hội xét lại là trào lưu tư tưởng đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin là tàn dư tư tưởng tư sản, tiểu tư sản trong Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế. Là sự hi sinh lợi ích cơ bản lâu dài của giai cấp và phong trào công nhân vì lợi ích trước mắt của một bộ phận. Thực chất đó là sự đầu hàng trước những trào lưu tư tưởng tư sản và phản bội lại chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ nghĩa cơ hội, xét lại tồn tại dưới nhiều hình thức biểu hiện: Về lý luận, đó là sự chiết trung, ngụy biện sẵn sàng thay đổi quan điểm tư tưởng cơ bản để trục lợi; về kinh tế, chúng mang tư tưởng thực dụng sẵn sàng đánh đổi cả phong trào vì lợi ích kinh tế trước mắt của một nhóm người; về hành động, hành động phiêu lưu, lúc tả lúc hữu, lúc thì nóng vội, lúc thì chủ quan từ bỏ mục tiêu cách mạng, thủ đoạn thì tinh vi lắt léo sẵn sàng thoả hiệp với mọi loại trào lưu khi có lợi. Chủ nghĩa cơ hội, xét lại có quá trình hình thành gắn với quá trình đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng tư sản và vô sản, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế với các trào lưu phi xã hội chủ nghĩa, các quan điểm sai trái và các hành động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.
Cuộc đấu tranh này là một quá trình thường xuyên liên tục có những lúc Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế phải chịu đựng những hậu quả tai hại do chủ nghĩa cơ hội, xét lại gây lên làm kìm hãm phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, cản trở sự phát triển của nhân tố cách mạng vô sản, làm chệch hướng sự phát triển của phong trào cách mạng và phá vỡ tính thống nhất của phong trào, cắt xén, bóp méo, xuyên tạc dẫn đến phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin trên nhiều phương diện.
Lợi dụng chủ nghĩa xã hội đang lâm vào khủng hoảng thoái trào, Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế đang gặp khó khăn thử thách, chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực phản động đang điên cuồng chống phá chủ nghĩa cơ hội, xét lại đẩy mạnh chống phá Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế. Đây cũng là biểu hiện để chúng ta nhận rõ bộ mặt nham hiểm và những âm mưu thủ đoạn thâm độc xảo quyệt của chúng.

Đối với cách mạng Việt Nam hiện nay mặc dù chủ nghĩa cơ hội xét lại với những biểu hiện chưa rõ nét nhưng những phần tử cơ hội xét lại luôn cấu kết với bọn phản động trong và ngoài nước, các thế lực phản động quốc tế nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh, đòi đa nguyên về chính trị, đa Đảng đối lập, đòi từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trước sự thoái hoá của một bộ phận cán bộ đảng viên, tình trạng tham nhũng, lãnh phí đang hoành hành và những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng của chúng ta những phần tử cơ hội xét lại tiếp tục lợi dụng chống phá. Vì vậy chúng ta phải kiên quyết chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại, đây không những là vấn đề mang tính quy luật trong sự phát triển của Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, mà còn là yêu cầu nhiệm vụ thường xuyên cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Do vậy đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội xét lại trong Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế nói chung, Việt Nam nói riêng là vấn đề quan trọng để xây dựng Đảng ta vững mạnh và là vấn đề có ý nghĩa lý luận, thực tiễn cấp bách hiện nay.