Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017

Biến đổi đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số ở nước ta từ năm 1986 đến nay

Từ năm 1986, đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số có những đổi thay quan trọng trên những vấn đề sau:
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế từng bước được hình thành và xác lập ở vùng miền núi và dân tộc thiểu số.
Đảng, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm lớn đến xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế vùng miền núi dân tộc; khuyến khích đầu tư phát triển hạ tầng; xây dựng các cơ sở công nghiệp, các công trình thủy điện, điện lưới. Mạng lưới đường giao thông ngày càng phát triển. Hệ thống thủy lợi được kiên cố hóa, nâng cấp và xây dựng mới. Nhà nước quy hoạch, xây dựng mạng lưới thông tin bưu điện ở các vùng, miền để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Cơ cấu kinh tế lạc hậu ở vùng miền núi dân tộc trước đây đã chuyển dịch sang đa dạng hóa nhằm phát huy thế mạnh và tiềm năng kinh tế của các tộc người, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng tộc người. Cơ cấu cây trồng vật nuôi có nhiều thay đổi đa dạng, hình thành các vùng trồng cây công nghiệp, cây ăn quả,  vùng chăn nuôi. Sản xuất lâm nghiệp chuyển biến tích cực theo hướng phát triển kinh tế rừng, trồng rừng, khoanh nuôi, chăm sóc bảo vệ rừng. Tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ tăng lên, giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp. Nhiều nghề thủ công nghiệp truyền thống được khôi phục, phát triển.
Nhà nước xác định quyền làm chủ đất đai gắn với môi trường sống của các tộc người thông qua giao đất giao rừng; đẩy mạnh công tác định canh định cư, xây dựng vùng kinh tế mới và phân bố lại lao động.
Khoa học kỹ thuật được ứng dụng vào đời sống kinh tế các tộc người thông qua khuyến nông, khuyến lâm. Phân phối lưu thông và trao đổi thương mại có những bước đổi mới và phát triển.

Địa bàn miền núi dân tộc đã, đang thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài trên các lĩnh vực. Vùng biên giới đã hình thành các khu kinh tế cửa khẩu quan trọng. Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng các khu kinh tế quốc phòng, gắn phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh. 

Thứ Hai, 8 tháng 5, 2017

Không thể tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế tư nhân

Thành phần kinh tế tư nhân ra đời trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân, hay chế độ tư hữu (sở hữu cá thể, tiểu chủ và sở hữu tư bản tư nhân) và bao gồm: thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân (nói gọn là tư nhân và cá thể). Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, thì kinh tế tư nhân được thừa nhận và khuyến khích phát triển; coi đó là “vấn đề chiến lược lâu dài” trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đến nay, kinh tế tư nhân đã phát triển và trở thành lực lượng kinh tế lớn mạnh, đóng vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế, góp phần vào công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích các chủ thể kinh tế tư nhân làm giàu hợp pháp và góp phần làm giàu cho xã hội là cách thức quan trọng giải phóng sức sản xuất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Trước hết, kinh tế tư nhân đã góp phần huy động các nguồn lực (vốn, nhân công, khoa học - công nghệ) vào sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đóng góp ngày càng nhiều vào ngân sách nhà nước. Đồng thời, tạo môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Sự phát triển của kinh tế tư nhân tạo sức ép thúc đẩy đổi mới doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và đổi mới quản lý nhà nước; tạo ra đội ngũ doanh nhân năng động, có khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Qua hơn 30 năm đổi mới, diện mạo của khu vực kinh tế tư nhân đã có sự thay đổi rõ rệt; số lượng doanh nghiệp tư nhân không ngừng phát triển với quy mô rộng lớn hơn, tham gia ở tất cả các lĩnh vực, từ sản xuất đến thương mại, dịch vụ (cả dịch vụ công),... đóng góp ngày càng nhiều cho kinh tế và xã hội. Hiện cả nước có khoảng 500.000 doanh nghiệp tư nhân, chiếm 90% số doanh nghiệp cả nước và khoảng 1 triệu hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ. Trong giai đoạn 2006 - 2015, so với kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), khu vực kinh tế tư nhân đóng góp hơn 40% GDP của cả nước; 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp; khoảng 80% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ; 64% tổng lượng hàng hóa và 100% giá trị sản lượng hàng hóa vận chuyển. Giai đoạn 2011 - 2015, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 36% tổng vốn đầu tư phát triển; thu hút khoảng 51% lực lượng lao động cả nước và tạo khoảng 1,2 triệu việc làm cho người lao động mỗi năm, góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội. Ưu thế nổi bật của kinh tế tư nhân trong giải quyết việc làm là có thể thu hút được lực lượng lao động đa dạng: từ lao động có trình độ cao đến lao động giản đơn; mức đầu tư cho một chỗ làm việc thấp hơn so với các thành phần kinh tế khác. Vì vậy, nó có sức vươn lên mạnh mẽ, đóng góp nhiều vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Song, không vì thế mà đề cao quá mức, dẫn đến tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân, rằng kinh tế tư nhân là ''nền tảng'' của nền kinh tế và gán cho nó ''vai trò chủ đạo'' - vai trò mà bản thân nó không bao giờ đảm nhận nổi. Hiện nay, có tới 98% doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân có quy mô vừa và nhỏ; trong đó, doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ (sử dụng dưới 5 lao động và vốn kinh doanh dưới 10 tỷ đồng) chiếm tỷ trọng đáng kể (96%). Tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân lớn trong số doanh nghiệp Việt Nam còn rất thấp, so với quy mô của các doanh nghiệp tư nhân nước ngoài thì cũng chẳng đáng là bao.
Hằng năm, VnReport công bố danh sách tốp 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, tính cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân, số doanh nghiệp tư nhân trong tốp 500 và tốp 100 có tăng, nhưng chưa nhiều. Ở Việt Nam, tập đoàn kinh tế tư nhân đã hình thành và ngày càng mang dáng vóc của một tập đoàn kinh tế, như: VinGroup, Hòa Phát, TH True Milk, Macsan, SunGroup,… nhưng còn rất ít. Sự đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP đã lên đến trên 40%, nhưng chủ yếu là của bộ phận cá thể, còn doanh nghiệp tư nhân đóng góp tỷ lệ rất nhỏ. Năm 2005, đóng góp vào GDP của doanh nghiệp tư nhân là 8,51%, bộ phận cá thể là 32,06%; con số tương ứng của năm 2010 là: 6,90% và 32,07%; năm 2015 là 7,80% và 31,33% và năm 2016 là 7,90% và 31,50%... Mức đóng góp vào GDP của kinh tế tư nhân như vậy thì làm sao đảm đương nổi “vai trò chủ đạo”? Cùng với đó, năng lực cạnh tranh của thành phần kinh tế này còn thấp, chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ chưa cao, nguồn lực tài chính và trình độ trang thiết bị kỹ thuật còn nhỏ bé, thấp kém. Năng lực quản trị còn nhiều hạn chế, đại bộ phận các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân thực hiện kinh doanh theo “kiểu ngắn hạn”, chưa hoạch định được chiến lược kinh doanh dài hạn... Ngoài ra, vẫn còn tồn tại “tính tự phát”, “vô chính phủ” trong sản xuất, kinh doanh. Hơn nữa, tư nhân không muốn và không đủ sức đầu tư vào những công trình lớn, xây dựng dài ngày, hiệu quả đầu tư thấp, thu hồi vốn chậm và những công trình công ích lãi suất thấp hoặc phi lợi nhuận. Từ đó cho thấy, nếu giao “vai trò chủ đạo” nền kinh tế cho kinh tế tư nhân thì chẳng khác gì giao một nhiệm vụ “không tưởng” vượt khỏi khả năng đảm đương của nó. Như vậy, không nên ảo tưởng rằng, kinh tế tư nhân có thể đóng ''vai trò chủ đạo” nền kinh tế.
Đảng ta đã xác định xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo nền kinh tế là định hướng chính trị đúng đắn và hoàn toàn phù hợp với lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Một số người đã tìm cách cổ súy, cố tình đòi tư nhân hóa nền kinh tế, là thông qua kinh tế để chuyển hóa về chính trị Việt Nam. Bởi cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, khi tư nhân hóa nền kinh tế thì tất yếu đất nước sẽ phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Đây là mưu đồ rất nguy hiểm. Chúng ta hãy cảnh giác với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những ý kiến phủ nhận đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, hạ thấp vai trò của kinh tế nhà nước, cổ vũ cho tư nhân hóa nền kinh tế, tiến tới làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta.


Không thể phủ nhận vai trò của kinh tế nhà nước

Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay có nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu. Song, sở hữu nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước là đặc trưng, giữ vai trò chủ đạo và là một trong các yếu tố quan trọng đảm bảo cho nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó được khẳng định tại Khoản 1, Điều 51, Hiến pháp năm 2013, là hoàn toàn phù hợp với lý luận và thực tiễn nước ta.
Kinh tế nhà nước đã và đang giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế nhà nước được cấu thành từ: (1) Bộ phận doanh nghiệp gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn và doanh nghiệp mà Nhà nước nắm cổ phần hoặc phần vốn chi phối; (2) Bộ phận phi doanh nghiệp, ngoài các tài sản thuộc sở hữu nhà nước còn bao gồm cả đất đai, rừng, biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia... Với phạm vi rộng lớn như vậy, sở hữu nhà nước và kinh tế nhà nước giữ vị trí trọng yếu, vai trò chủ đạo trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tạo nền tảng cơ bản để phát triển mọi ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế và loại hình doanh nghiệp; đã và đang giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Trong đó, hệ thống doanh nghiệp nhà nước là nòng cốt, đang được đổi mới, mặc dù tỷ trọng GDP có giảm sút từ 29,34% năm 2010, còn 29,01% năm 2013 và 28,69% năm 2015, nhưng vẫn giữ vai trò chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt, tập trung hơn vào những ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn Nhà nước cần nắm giữ, v.v. Hệ thống doanh nghiệp nhà nước do sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa nên tuy số lượng giảm, lĩnh vực, địa bàn thu hẹp, nhưng vẫn có bước phát triển mạnh về quy mô tài sản, doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân sách nhà nước. Năm 2013, riêng 18 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn có vốn nhà nước là 840 nghìn tỷ đồng (chiếm 83% vốn nhà nước tại doanh nghiệp), tổng giá trị tài sản 1.985 nghìn tỷ đồng, tổng doanh thu 1.184 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 136 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 191 nghìn tỷ đồng.
Doanh nghiệp nhà nước đã trở thành lực lượng nòng cốt để thực hiện vai trò quan trọng trong ổn định, tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần to lớn trong đảm bảo quốc phòng - an ninh, an ninh lương thực, an ninh năng lượng quốc gia. Kinh tế nhà nước là lực lượng chủ yếu hình thành các trung tâm kinh tế, đô thị mới, là lực lượng đầu tư vào những lĩnh vực, các công trình,… trọng điểm quốc gia đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi vốn chậm và lợi nhuận thấp, v.v. Đồng thời, là đội quân chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế, thu hút FDI, có vai trò tích cực trong việc hạn chế những tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu đến nền kinh tế nước ta trong các năm 2008 - 2010. Nhiều tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước hoạt động thực sự có hiệu quả, như: Tập đoàn Viễn thông Quân đội, Tập đoàn Bưu chính viễn thông, Tập đoàn Công nghiệp hóa chất, Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản...
Tuy nhiên, kinh tế nhà nước cũng có những hạn chế, yếu kém. Hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng suất của tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước còn thấp và rất thấp. Sức cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu, thất thoát và thua lỗ còn lớn. Tình trạng đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, độc quyền doanh nghiệp đang hiện hữu, làm méo mó quan hệ thị trường, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, hạn chế sự cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế.... Một số người chỉ dựa vào những yếu kém, hạn chế của kinh tế nhà nước mà cho rằng thành phần kinh tế này không thể giữ vai trò chủ đạo nền kinh tế; rằng xác định “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, Việt Nam đã phải trả giá quá đắt”(!) Từ đó, họ đòi xóa bỏ vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này; đòi tư nhân hóa hết doanh nghiệp nhà nước, “khuyên” ta nên bỏ cụm từ “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”,... đều là những cách nhìn phiến diện.
Mặc dù doanh nghiệp nhà nước (bộ phận nòng cốt của kinh tế nhà nước) thời gian qua có những hạn chế, yếu kém, nhưng đó là những yếu kém trong khâu tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh, là sai lầm và yếu kém của một số cá nhân lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp,… chứ không phải là sai lầm về quan điểm, chủ trương kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Hơn nữa, nhìn chung toàn bộ nền kinh tế; trong đó, có kinh tế nhà nước dựa trên lực lượng sản xuất còn thấp kém, cùng với nền kinh tế thị trường còn rất mới và hội nhập quốc tế, thì những hạn chế, yếu kém của doanh nghiệp nước ta nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng là khó tránh khỏi. Thực tế cũng cho thấy, ở Việt Nam, không phải mọi doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều hoạt động có hiệu quả. Chúng ta đã và đang chứng kiến nhiều “đại gia” của kinh tế tư nhân “ngã ngựa”; thua lỗ, mất trắng doanh nghiệp, phải đi làm thuê hoặc rơi vào vòng lao lý, tù tội.... Vậy là, hiệu quả sản xuất, kinh doanh không hẳn là do sở hữu quyết định. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng không ít doanh nghiệp thua lỗ, phá sản, yếu kém,… do yếu tố cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế… gây ra.


Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Đặc điểm kinh tế truyền thống của các tộc người thiểu số ở Việt Nam

- Các tộc người có trình độ phát triển kinh tế không đồng đều.
Nhóm tộc người thiểu số còn bảo lưu yếu tố kinh tế nguyên thủy, cư trú ở miền núi vùng cao, vùng sâu, vùng xa; gồm những tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơme ở Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Trường Sơn - Tây Nguyên; nhóm Hmông - Dao, Hán - Tạng ở vùng núi phía Bắc. Hoạt động kinh tế của nhóm này cơ bản là sản xuất nương rẫy du canh; công cụ sản xuất khá thô sơ, năng suất thấp. Săn bắn hái lượm đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống kinh tế.
Nhóm tộc người cư trú lâu đời ở chân núi, thung lũng như Tày, Nùng, Thái, Mường...; canh tác lúa nước là chính, kết hợp với sản xuất nương rẫy; sản xuất và sinh hoạt định canh định cư, trình độ thâm canh của khá cao, canh tác bằng sức kéo; trao đổi thương mại diễn ra trong cộng đồng và khu vực.
Nhóm các tộc người là cư dân ở đồng bằng như Việt, Chăm, Khơme, Hoa, có nền văn minh lúa nước lâu đời, kỹ thuật thâm canh cao, kinh nghiệm sản xuất phong phú. Các hoạt động chăn nuôi, thủ công, trao đổi thương mại đều sớm phát triển hơn; đời sống kinh tế đa dạng về cơ cấu ngành nghề, vật nuôi cây trồng.
- Kinh tế truyền thống tộc người mang nặng tính tự cung, tự cấp của nền kinh tế tự nhiên.
Các tộc người sản xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tự túc lương thực, thực phẩm và phục vụ đời sống sinh hoạt tại chỗ. Trong các hình thái kinh tế - xã hội tiền tư bản, trình độ sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng kinh tế yếu kém nên đồng bào các dân tộc sản xuất trước hết nhằm phục vụ nhu cầu của gia đình, làng bản; tập trung vào sản xuất lương thực, chủ yếu là lúa gạo, hoa màu như ngô, khoai, sắn, kê, rau, đậu… nhằm tự túc lương thực, đảm bảo bữa ăn hàng ngày và một phần tích trữ.
Ở miền núi và vùng dân tộc, dù có giao thương nhưng hoạt động kinh tế còn khép kín, mang tính nội bộ làng bản. Các sản phẩm nông nghiệp của các dân tộc nghèo nàn và chất lượng thấp. Giao thông đi lại khó khăn đã hạn chế việc trao đổi và giao lưu kinh tế. Ở miền xuôi, giao lưu kinh tế đã vượt ra ngoài quy mô làng xã, song cũng chỉ ở mức độ nhất định.
- Kinh tế các tộc người dựa trên nền tảng nông nghiệp nhiệt đới gió mùa.
 Các tộc người sống trên lãnh thổ nước ta đều cùng chung hệ sinh thái nhiệt đới, đời sống kinh tế dựa trên nền tảng nông nghiệp nhiệt đới gió mùa, trồng trọt là chính, chăn nuôi là nghề phụ; hái lượm nổi trội hơn so với săn bắn, đánh cá. Mỗi tộc người đã tích lũy được những tri thức sản xuất nông nghiệp thích hợp với điều kiện tự nhiên khu vực nhiệt đới gió mùa. Có nhiều cây trồng, vật nuôi chính giống nhau, kinh nghiệm sản xuất khá tương đồng; lúa là cây trồng chủ đạo. Đồng bào miền núi thường canh tác lúa nương, sáng tạo ra nền văn hóa nương rẫy. Các tộc người ở vùng chân núi và đồng bằng có nền nông nghiệp lúa nước, văn hóa lúa nước phát triển.
- Đời sống kinh tế mang bản sắc văn hóa tộc người độc đáo.
Bản sắc văn hóa tộc người trong đời sống kinh tế thể hiện đa dạng ở tất cả các hoạt động kinh tế của từng tộc người từ phương thức canh tác, kỹ thuật, biện pháp sản xuất, tri thức, kinh nghiệm, cách thức tổ chức sản xuất, công cụ sản xuất, giống cây trồng vật nuôi, các sản phẩm làm ra… Các nghề và sản phẩm thủ công mang dấu ấn tộc người nổi bật: nghề rèn của người Hmông, nghề dệt của người Thái, nghề đan lát của người Khơ mú... Đời sống kinh tế tộc người còn phản ánh sắc thái tộc người trên các lĩnh vực văn hóa; là nền tảng tồn tại và phát triển của tộc người, phản ánh truyền thống tộc người. 

Nguồn gốc và đặc điểm của tiếng Việt

Tiếng Việt là ngôn ngữ của tộc người Việt (Kinh) - tộc người đa số ở Việt Nam, được dùng làm phương tiện giao tiếp chung từ lâu trong lịch sử dân tộc. Đến nay, các nhà khoa học đã thống nhất rằng: Tiếng Việt có nguồn gốc từ nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme, chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiếng Thái về thanh điệu, ngữ pháp, và vay mượn khoảng 50% vốn từ tiếng Hán, về sau còn chịu ảnh hưởng một phần tiếng Pháp, Nga, Anh.
Tiếng Việt bắt đầu hình thành vào khoảng thiên niên kỷ thứ II tr.CN, có nguồn gốc từ tiếng Môn - Khơme, gọi là tiếng Việt-Mường chung, lúc này tộc người Việt và Mường chưa phân tách ra.  Đến giai đoạn thế kỷ IV - II tr.CN, tiếng Việt-Mường tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Thời Bắc thuộc, tiếng Hán là ngôn ngữ hành chính, tiếng Việt vẫn được người dân sử dụng rộng rãi, nhưng bộ phận cư dân đồng bằng đã tiếp thu nhiều vốn từ tiếng Hán.
Thời kỳ độc lập tự chủ từ giữa thế kỷ X trở đi, tiếng Việt tiếp tục phát triển, nhân dân ta tiếp thu chữ Hán để sáng tạo ra chữ Nôm vào thế kỷ XI. Đến đây, cư dân Việt-Mường phân tách ra thành hai tộc người. Tiếng Việt là tiếng của tộc người Việt (Kinh). Chữ Hán và chữ Nôm cùng song hành tồn tại. Thời Pháp thuộc, chữ Hán giảm sút, tiếng Pháp được dùng làm ngôn ngữ hành chính, tiếng Việt bị chèn ép song vẫn tồn tại và phát triển. Chữ quốc ngữ của tiếng Việt bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XVII, là kết quả dùng chữ Latinh và hệ dấu của tiếng Bồ Đào Nha để phiên âm tiếng Việt.
Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, chữ quốc ngữ đã được sử dụng rộng rãi trong xã hội. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tiếng Việt trở thành quốc ngữ, sánh vai với ngôn ngữ các quốc gia khác; là tiếng phổ thông của cả nước, công cụ giao tiếp chung của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.
Các đặc điểm của tiếng Việt:
Thường xuyên tiếp xúc, tiếp thu các yếu tố của ngôn ngữ các dân tộc Việt Nam và tiếng Hán, tiếng Pháp, Nga, Anh để làm giàu thêm tiếng Việt; làm cho sự giao lưu giữa người Việt với các tộc người khác trên lãnh thổ ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau. Chính sự giao tiếp thường nhật mà tiếng Việt đã sớm trở thành ngôn ngữ chung của cả nước.
Tiếng Việt luôn phát triển, bổ sung vốn từ để đáp ứng mọi phương diện đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, giáo dục.
Có tính thống nhất cao, không kỳ thị phương ngữ. Bên cạnh các quy tắc chuẩn sử dụng tiếng nói và chữ viết tiếng Việt, ở các địa phương vẫn tồn tại các yếu tố riêng có tính địa phương về âm điệu, một số từ vị...

Tiếng Việt rất giàu sức sống, dù bị tiếng Hán, tiếng Pháp chèn ép trong hàng trăm năm nhưng không mất đi, trái lại đã tiếp thu và làm phong phú thêm để dần dần đấu tranh giành lại vị trí quốc ngữ của mình.

Những cống hiến suất sắc của V.I.Lênin - Lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

     Vừa qua nhân kỉ niệm 147 năm ngày sinh V.I.Lênin, trên các trang xã hội lại một số quan điểm cũ rích, nhai đi, nhai lại, đưa ra nhận xét công kích, xuyên tạc, chống phá và phủ nhận vai trò của V.I.Lênin - Lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
     V.I.Lênin, tên thật là Vladimir Ilits Ulianov, sinh ngày 22/4/1870, ở Simbirsk (nay là Ulianovsk), trong một gia đình trí thức tiến bộ. Ông mất ngày 21/1/1924, tại làng Gorki, Moskva, thi hài ông được đặt tại lăng ở Quảng trường Đỏ. Lênin là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, lãnh tụ lỗi lạc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Di sản Lênin để lại cho nhân loại tiến bộ là vô cùng to lớn cả trên phương diện thực tiễn hoạt động cách mạng và tư tưởng lý luận. Về di sản tư tưởng lý luận, Lênin là người đã kế tục, bảo vệ và phát triển một cách xuất sắc, toàn diện chủ nghĩa Mác cả triết học, kinh tế chính trị học mácxít và chủ nghĩa xã hội khoa học trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
     Đáp ứng yêu cầu bức thiết của lịch sử, V.I. Lênin đã bảo vệ thành công, phát triển sáng tạo và bổ sung nhiều vấn đề lý luận phù hợp với thực tiễn, đưa chủ nghĩa Mác lên tầm cao mới, như: vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác thành vấn đề dân tộc và thuộc địa trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, vấn đề thời đại; đề ra những nguyên tắc có tính cương lĩnh của giai cấp vô sản về vấn đề dân tộc; coi phong trào giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới; phê phán chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi cũng như chủ nghĩa sô vanh nước lớn. Khẩu hiệu của Mác Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại đã được Lênin phát triển thành Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!.  
     Về thực tiễn: Lênin là người đầu tiên đã vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn nước Nga; chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho việc thành lập Đảng Công nhân Dân chủ Xã hội Nga - tiền thân của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga, một đảng vô sản kiểu mới đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga làm nên cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, và thực hiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xôviết; là người đã làm chủ nghĩa Mác từ lý luận trở thành hiện thực. Sau Cách mạng Tháng Mười, Lênin đã lãnh đạo những người Bônsêvích và nhân dân lao động Nga đấu tranh thắng lợi chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, bảo vệ thành công sự tồn tại của Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. Lênin là tổng công trình sư đầu tiên của những phương hướng, kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên bang Xôviết, trong đó đặc biệt là chính sách kinh tế mới (NEP). Lênin là người tích cực đấu tranh cho chủ nghĩa quốc tế vô sản, thành lập Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) để lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tập hợp mọi lực lượng cách mạng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. 
     Ghi nhận những cống hiến to lớn của V.I. Lênin, nhân loại đã gắn liền tên tuổi ông với tên tuổi của C. Mác và Ph. Ăng-ghen; chủ nghĩa Lênin gắn liền với chủ nghĩa Mác, trở thành chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự gắn bó đó, phản ánh sâu sắc sự thống nhất về bản chất, tính chất của chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin. Ông được tạp chí Time (Mỹ) bình chọn là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế kỷ XX. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Lênin đã nhiều lần bị bắt, bị tù đầy, bị trục xuất ra nước ngoài, bị mưu sát, nhưng Người luôn là tấm gương sáng ngời về tinh thần cách mạng kiên trung, về ý chí quyết tâm giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, về phẩm chất đạo đức cách mạng cao cả, về lối sống giản dị, trong sáng, gần gũi nhân dân.

     Mọi mưu đồ đối lập C. Mác với V.I. Lênin, chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lênin đều là không đúng và đều nhằm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: Lênin là người đã thực hiện và phát triển chủ nghĩa Mác. Là người cha của cách mạng vô sản và cách mạng dân tộc giải phóng. Là người thầy đã tạo ra những chiến sĩ cách mạng khắp thế giới, chẳng những bằng lý luận cách mạng khoa học nhất, mà còn bằng đạo đức cách mạng cao cả nhất.

Mô hình đổ nhưng học thuyết không đổ

     Trong nhiều thập kỷ qua, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, xét lại liên tục công kích, chống phá quyết liệt Học thuyết Mác - Lênin cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, đầu tiên là phê bình một số luận điểm, khiếm khuyết, rồi tiến tới chúng tìm mọi cách bác bỏ từng luận điểm riêng lẻ, từng bộ phận rồi đi đến phủ nhận toàn bộ Học thuyết Mác - Lênin coi hệ tư tưởng đó đã thuộc về quá khứ, không còn phù hợp với thời đại ngày nay.. Trên phương diện thực tiễn, chúng mượn cớ sự sụp đổ của mô hình CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô (trước đây) để suy xét và rao giảng một cách võ đoán rằng, “mô hình đổ thì học thuyết cũng đổ theo”. Hiện nay lại càng trở nên ráo riết, quyết liệt hơn. Chúng cho rằng, “chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ là của quá khứ”, “chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, XX; không phù hợp với thời đại ngày nay”, hay “chủ nghĩa Mác - Lênin đã chết cùng với sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu”. Trắng trợn hơn, họ còn xuyên tạc: “C.Mác và V.I.Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không tưởng”, học thuyết Mác chỉ là “sự sao chép sống sượng” chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, kinh tế chính trị học Anh và triết học cổ điển Đức; là “sản phẩm lai tạo”, “hỗn hợp” mang tính chủ quan, áp đặt, “được nặn ra từ những cái đầu thiển cận của C.Mác và Ph.Ăngghen”.
     Điều hết sức nguy hiểm là các quan điểm sai trái này bằng nhiều hình thức đã được tán phát, lan truyền rất nhanh; gây hoang mang, hoài nghi cho nhiều người, để lại những hậu quả không thể xem thường trong xã hội ta. Bằng cách này, họ muốn “chuyển lửa về quê nhà”, tạo nên sự “diễn biến bên trong”, trước hết là diễn biến về nhận thức, tư tưởng; từ đó dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo quỹ đạo chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.
     Nhưng dù có cố gắng thế nào đi nữa, thì những quan điểm sai trái không thể phủ nhận: Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng, bản chất cách mạng, khoa học đó đã được khẳng định trong thực tiễn, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới. chủ nghĩa Mác – Lênin đã trang bị cho giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới vũ khí tư tưởng, lý luận sắc bén để đấu tranh vì mục tiêu cao cả của nhân loại là xóa bỏ chế độ thống trị của giai cấp tư sản, tiến lên xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.