Hiển thị các bài đăng có nhãn mô hình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn mô hình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

VIỆC DUY TRÌ TRONG MỘT THỜI GIAN DÀI MÔ HÌNH QUẢN LÝ TẬP TRUNG, KẾ HOẠCH, BAO CẤP LÀ MỘT TRONG NGUYÊN NHÂN KHIẾN LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU SỤP ĐỔ

Sự tan rã của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu diễn ra vào cuối thập niên 80 - đầu thập niên 90 được coi là là thảm họa địa chính trị tồi tệ nhất thế kỷ XX, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin bị thách thức nghiêm trọng từ cả bên ngoài và bên trong, gây xáo trộn mạnh về chính trị - tư tưởng đối với các Đảng Cộng sản, Đảng Công nhân, đội ngũ cán bộ, đảng viên và một bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực phản động đã ra sức công kích, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, nhận thức đúng đắn nguyên nhân dẫn đến sự tan rã của Liên Xô và Đông Âu là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Việc duy trì trong một thời gian dài mô hình quản lý tập trung, kế hoạch, bao cấp, đã khiến chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trở thành xơ cứng, giáo điều, là nguồn gốc tình trạng trì trệ và khủng hoảng kinh tế - xã hội ở các nước này trong thập niên 80 đến 90 của thế kỷ XX. Trong khi các nước tư bản từ sau cuộc khủng hoảng năng lượng thập niên 70, thế kỷ XX đã không ngừng cải cách, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, bỏ xa Liên Xô và Đông Âu về nhiều mặt, thì các nhà lãnh đạo ở Liên Xô và Đông Âu vẫn chủ quan, kiêu ngạo tự cho mô hình chủ nghĩa xã hội của mình là đúng đắn, không có gì sai sót, không tiến hành sửa chữa, thậm chí còn áp nó đó lên các nước xã hội chủ nghĩa khác. Đây là một trong những nguyên nhân khiến Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

KHÔNG THỂ COI SỰ SỤP ĐỖ MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU LÀ SAI LẦM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

Như chúng ta đã biết, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xôviết ở Liên Xô và Đông Âu trong những năm 90 của thế kỷ XX là bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân sâu xa từ nhận thức không đúng, vận dụng máy móc, giáo điều những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Nhưng điều tệ hại nhất và là nguyên chủ yếu, trực tiếp dẫn đến sự đổ vỡ của chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xôviết ở Liên Xô và các nước Đông Âu là do nhiều sai lầm chủ quan, kéo dài, ngày càng trầm trọng của các đảng cộng sản và những người lãnh đạo của các đảng và nhà nước ở đó. Họ đã xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ Mác - Lênin, để cho chủ nghĩa cơ hội lũng đoạn chính trị, mất cảnh giác, thủ tiêu đấu tranh giai cấp, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, mất phương hướng chính trị, thiếu sắc sảo, nhạy bén trong lãnh đạo, quan liêu, bảo thủ, trì trệ... không theo kịp sự phát triển của thực tiễn.

Ở vào thời điểm có tính chất bước ngoặt liên quan đến vận mệnh của chủ nghĩa xã hội thì họ không đủ bản lĩnh và trí tuệ chèo lái con| thuyền cách mạng vượt qua sóng to, gió lớn mà lại tự “dâng hiến” mọi thành quả đã đạt được trong gần một thế kỷ đấu tranh cho chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản không một chút do dự.

Tất cả điều đó không có nghĩa là chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị phá sản, những nguyên lý cơ bản của nó là sai lầm. Trái lại, chính vì không nắm vững bản chất cách mạng và khoa học; xơ cứng, giáo điều trong vật dụng, phát triển; buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng, lùi bước trong cuộc đấu tranh tư tưởng, mất cảnh giác với kẻ thù ở bên ngoài, không tỉnh táo đề phòng sự phá hoại từ bên trong đã làm cho chủ nghĩa xã hiện thực sụp đỗ. Bài học xương máu” ấy đang nhắc nhở chúng ta trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải luôn luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tuyệt đối không lặp lại sai lầm “theo vết xe đổ”, để mất vai tròlãnh đạo của Đảng Cộng sản, mất chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã phải để biết bao xương máu mới có được.

Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2021

“BOM HÀNG” MÙA DỊCH - HÀNH VI KHÓ CHẤP NHẬN

     Trong lúc tình hình dịch bệnh căng thẳng, các cơ quan chức năng đi chợ giúp người dân thì một phường tại quận Tân Phú (TP HCM) lại bị "bom hàng" tới 30 đơn khiến dư luận bức xúc.

     Nhằm tăng cường các biện pháp giãn cách xã hội, đảm bảo nguồn lương thực, thực phẩm cho người dân trong thời gian giãn cách xã hội, chính quyền các địa phương tại TP HCM đã tổ chức thực hiện việc đi chợ giúp người dân. 

     Đây là biện pháp cần thiết và có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay, tuy nhiên quá trình triển khai thực hiện trong thực tế còn gặp một số khó khăn, mới đây nhất là tình trạng trong ngày 27-8, một phường ở quận Tân Phú (TP HCM) đã bị "bom hàng" 30 đơn. 

     Từ vụ việc này, vấn đề pháp lý được đặt ra đó là hành vi "bom hàng" có vi phạm pháp luật và có bị xử lý hay không?

     Thứ nhất, pháp luật hiện hành không có bất cứ thuật ngữ hay quy định nào về việc "bom hàng". Tuy nhiên, có thể hiểu đây là việc bên bán hàng và bên mua hàng tự mình hoặc thông qua bên thứ ba (trường hợp này là đại diện địa phương) thỏa thuận, xác lập thành công việc mua hàng. Nhưng khi thực hiện việc giao, nhận hàng và thanh toán thì bên đặt hàng không thực hiện giao dịch đó (cố tình không nghe điện thoại, hoặc từ chối không nhận hàng).

     Thứ hai, căn cứ quy định tại Điều 116, 119, Điều 398 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp này, giao dịch giao đặt hàng được xem là việc các bên đã xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa. 

     Theo đó, khi hợp đồng được xác lập, mỗi bên có quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc giao đặt hàng, cụ thể với bên mua là phải thực hiện nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán tiền mua. Nếu không thực hiện thì vi phạm thỏa thuận của hai bên và quy định của pháp luật dân sự. 

     Trách nhiệm pháp lý phải chịu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 360, Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015. Tuy nhiên, việc này chỉ xảy ra trong trường hợp người bị bom hàng tiến hành khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết. Nói cách khác, nếu người bị bom hàng không yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người bom hàng đối với người bị bom hàng không được đặt ra.

     Ngoài ra, theo quy định của pháp luật hiện hành, các văn bản hướng dẫn xử lý, truy cứu trách nhiệm pháp lý do vi phạm các quy định liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19 cũng chưa có bất cứ chế tài nào xử lý hành chính nào đối với người bom hàng. Mặt khác, vì đây chỉ là giao dịch dân sự nên không có căn cứ để quy kết trách nhiệm hình sự.

     Khi pháp luật chưa có chế tài hành chính hay hình sự, thì việc giải quyết những vấn đề như trên chỉ dừng lại ở góc độ pháp luật dân sự. 

     Việc này chỉ được thực hiện theo nguyện vọng của chủ thể bị bom hàng, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, dịch bệnh diễn biến vô cùng phức tạp thì việc yêu cầu bồi thường dân sự hầu như không xảy ra, cho nên không có ý nghĩa chấn chỉnh ý thức và thái độ của một phận người dân. 

     Do vậy, giải pháp tối ưu nhất cần làm là chính quyền từng địa phương cần tăng cường động viên, vận động người dân tuân thủ, đồng lòng phối hợp, thực hiện đúng các quy định, chỉ đạo của cơ quan ban ngành, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng "chỉ đặt hàng thử", "đặt cho vui". 

     Đối với mô hình đi chợ giúp người dân, có thể tăng cường rà soát đơn hàng, xác nhận lại với người đặt mua hàng cụ thể về việc có mua hàng hay không? Trường hợp không nhận hàng phải có lý do chính đáng. Việc "bom hàng" trong thời gian dịch bệnh diễn ra căng thẳng, đi lại khó khăn là điều khó chấp nhận, do đó mỗi người dân cần ý thức việc làm của mình để tránh ảnh hưởng công việc chung.

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

CÁC MÔ HÌNH ĐẠI DIỆN CHÍNH TRỊ TRÊN THẾ GIỚI

Đến nay, theo Heywood, có thể khái quát bốn mô hình đại diện chính trị tiêu biểu, gồm: i) đại biểu thông thái; ii) đại sứ của cử tri; iii) đại diện ủy nhiệm; và iv) đại diện theo cơ cấu xã hội. Điểm chung là mỗi mô hình đại diện chính trị đều có ưu điểm và hạn chế nhất định.

Mô hình “đại biểu thông thái”: Các quốc gia theo chế độ đại nghị như nước Anh đã từng áp dụng mô hình “Đại biểu thông thái - Trustee Model”. Trong mô hình này, cử tri đặt trọn lòng tin vào các đại biểu mà họ thừa nhận về tri thức và bản lĩnh hơn người. Các đại biểu này được tin là sẽ suy nghĩ và hành động trên cơ sở lợi ích của những người đã bầu chọn họ. Cá nhân các đại biểu có thể độc lập hoạt động dựa trên tri thức và quan điểm của mình. Tuy nhiên, do sự xuất hiện và vai trò ngày càng nổi bật của các Đảng chính trị cho nên sự độc lập của các đại biểu ưu tú luôn bị đặt dấu hỏi: liệu họ có thể khách quan hay không khi mà họ cũng có thể là đảng viên nên phải tuân thủ kỷ luật của các đảng chính trị khi tham gia Quốc hội?

Mô hình “đại sứ của cử tri”: Các quốc gia theo chế độ Tổng thống như Hoa Kỳ lại vận dụng mô hình “Đại sứ của cử tri - Delegate Model”. Trong mô hình này, các đại biểu sẽ đại diện cho các đơn vị bầu cử, nhận sự ủy nhiệm, và hành động như là những “đại sứ” của các cử tri nơi họ đại diện. Các đại diện chính trị này sẽ không thể tự do hành động theo ý mình muốn, cũng không chịu sự chi phối của các Đảng chính trị mà họ có tư cách thành viên. Để duy trì tư cách đại diện chính trị, họ phải gắn bó chặt chẽ với đơn vị bầu cử và hành động nhất quán theo lợi ích và quan điểm của cử tri nơi đã bầu cho họ.

Mô hình “đại diện ủy nhiệm”: Những bất cập của mô hình “đại biểu thông thái” thúc đẩy sự hình thành của mô hình “đại biểu ủy nhiệm - Mandate Model". Mô hình đại diện này xuất phát từ ý tưởng: với chiến thắng sau cuộc bầu cử, đảng chính trị đã giành được sự ủy nhiệm của số đông cử tri để thực hiện những chính sách mà họ đã đề ra trong chiến dịch tranh cử. Như vậy, chủ thể đại diện là các đảng chính trị chứ không phải cá nhân các chính trị gia. Các đại biểu phục vụ cử tri bằng cách trung thành với đảng chính trị và các chính sách của đảng, chứ không thể hành động độc lập hay thu thập và chuyển tải nguyện vọng hay quan điểm của cá nhân cử tri. Điển hình cho mô hình đại diện ủy nhiệm là Quốc hội của vương quốc Anh, khi mà cử tri thường quan tâm đến các đảng chính trị và chủ trương, chính sách, chứ không phải cá nhân đại biểu ứng cử.

Bản thân mô hình đại diện ủy nhiệm cũng có những hạn chế nhất định. Chẳng hạn, hành vi bầu cử của cử tri có thể bị tác động bởi vô vàn yếu tố khiến họ quan tâm đến cá nhân ứng viên hơn là các đảng chính trị. Cử tri cũng có thể thiếu thông tin và tri thức cho nên họ không thể đủ duy lý để tìm hiểu và bỏ phiếu cho các chủ trương, chính sách của đảng chính trị. Thực tế này dẫn đến một biến thể khác là sự kết hợp giữa mô hình đại diện ủy nhiệm và mô hình “đại sứ của cử tri”. Điển hình cho sự kết hợp này là Quốc hội Đức – nơi cử tri vừa bầu cho đại diện của đơn vị bầu cử (chiếm 50% số đại biểu Quốc hội), vừa bầu cho đại diện của các Đảng chính trị (chiếm 50% còn lại).

Mô hình “đại diện theo cơ cấu xã hội - Resemblance Model”: đây là mô hình đại diện chính trị được áp dụng cho cơ quan lập pháp trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Mô hình này nhấn mạnh đến tính bao trùm của các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội. Theo đó, một chính quyền đại diện phải giống như một xã hội thu nhỏ, có đủ đại diện đến từ các nhóm xã hội, các khu vực, các giới, các nghề nghiệp… khác nhau.

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2021

LUẬN CỨ VỀ GIÁ TRỊ PHỔ QUÁT CỦA VIỆC LỰA CHỌN TƯ TƯỞNG, MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA MỘT QUỐC GIA

Mỗi chế độ xã hội đều dựa trên những quan điểm tư tưởng nhất định, là cơ sở để xây dựng, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại cho đến nay, dù tiếp cận từ quan điểm chính trị, ý thức hệ như thế nào, mọi người cũng đều phải thừa nhận, loài người đã trải qua các thời kỳ từ công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, và sau này, đã có các quốc gia đi lên CNXH. Theo quan điểm phát triển, tương ứng với mỗi một thời kỳ đó là một kiểu chế độ xã hội đặc trưng, thể hiện sự tiến hóa của văn minh nhân loại trên các lĩnh vực, từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mô hình tổ chức nhà nước, xã hội, các giá trị văn hóa, tinh thần tiêu biểu... 

Nhìn chung, tư tưởng, mô hình tổ chức xã hội tồn tại trên thực tế, xét ở các khía cạnh khác nhau đều là tri thức, lý thuyết, kết tinh trí tuệ, tinh hoa của nhóm/tầng lớp/giai cấp hay của nhân loại trong từng giai đoạn lịch sử. Các đảng phái chính trị, nhất là đảng cầm quyền ở từng quốc gia đều đại diện cho một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định, đều lựa chọn tư tưởng, cương lĩnh ngay từ khi mới ra đời, đặc biệt khi trở thành đảng cầm quyền. 


Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Đầu tiên cần phải giải thích cho một số ý kiến gần đây nêu ra: “Nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam” là nền KTTT như thế nào? Liệu có hay không việc chưa có định nghĩa, nợ định nghĩa về KTTT định hướng XHCN?

NHẬN DIỆN MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Loại mô hình KTTT này đang được thực thi chỉ ở hai nước (Việt Nam-KTTT định hướng XHCN; Trung Quốc - KTTT XHCN) với thời gian khoảng 30-40 năm. Tuy vậy, các kết quả thực tế đã chứng tỏ đây là mô hình có sức sống mạnh mẽ và có triển vọng lịch sử to lớn. Sự ra đời của mô hình này gắn liền với sự sụp đổ của mô hình kinh tế tập trung bao cấp, vốn phủ nhận vai trò của KTTT trong quá trình phát triển ở các nước nghèo, lạc hậu tiến lên CNXH. Mô hình này đã chứng minh được tính hiệu quả, đồng thời, khẳng định tính tất yếu và phổ biến của KTTT với tư cách là một giai đoạn bắt buộc trong lịch sử phát triển của mọi nền kinh tế. Mô hình KTTT định hướng XHCN vẫn đang trong quá trình thử nghiệm, định hình cấu trúc và bản chất. Bản thân mô hình xây dựng KTTT của hai nước XHCN là Việt Nam và Trung Quốc cũng khác nhau.

NHẬN DIỆN MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG – XÃ HỘI

Mô hình này được thực hiện thành công ở khá nhiều nước Tây-Bắc Âu, điển hình là Đức (quê hương của mô hình KTTT - xã hội), Thụy Điển, Na Uy và Phần Lan. Xét theo tính chất đặc trưng, mô hình này còn có mặt ở một số nước khác, như: Đan Mạch, Hà Lan, Pháp và Bỉ với những mức độ khác nhau.

NHẬN DIỆN MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TỰ DO

KTTT trong khuôn khổ CNTB chủ yếu phát triển theo mô hình thị trường tự do, được thực hiện ở hầu hết các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Mô hình này đề cao vai trò của chế độ sở hữu tư nhân, của tự do cá nhân và cạnh tranh tự do. Trong mô hình KTTT tự do, sự can thiệp điều tiết của nhà nước vào các quá trình kinh tế được hạn chế ở mức thấp. Quá trình phát triển kinh tế chủ yếu do khu vực tư nhân vận hành dưới sự điều tiết của “bàn tay vô hình” (tức cơ chế cạnh tranh tự do). Đây là lý thuyết do nhà kinh tế học Adam Smith đưa ra từ năm 1776. Ông cho rằng, trong nền KTTT tự do, mỗi cá nhân theo đuổi một mối quan tâm và xu hướng lợi ích riêng cho cá nhân mình, và chính các hành động của những cá nhân này lại có xu hướng thúc đẩy nhiều hơn và củng cố lợi ích cho toàn cộng đồng thông qua một "bàn tay vô hình". Ông biện luận rằng, mỗi một cá nhân đều muốn thu lợi lớn nhất cho mình sẽ làm tối đa lợi ích của cả cộng đồng, điều này giống như việc cộng toàn bộ lợi ích của từng cá nhân lại.

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2020

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI VỀ MÔ HÌNH VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI

Gần 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH của Đảng ngày càng sáng tỏ hơn. Một là, về mô hình, mục tiêu của CNXH Việt Nam. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định 8 đặc trưng, trong đó đặc trưng hàng đầu là xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các đặc trưng về vai trò làm chủ của nhân dân, về nền kinh tế phát triển cao, về nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, về xã hội và con người, về đoàn kết các dân tộc, về nhà nước pháp quyền và về hợp tác, hữu nghị trong quan hệ quốc tế, đã làm rõ bản chất tốt đẹp và tính hiện thực của CNXH ở Việt Nam. Hai là, về những nội dung phát triển trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đó là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều loại hình sở hữu theo định hướng XHCN. Xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Ba là, về khả năng bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để tiến lên CNXH. “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”. Bốn là, về năng lực dự báo, xử lý có hiệu quả những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, giải quyết tốt các mối quan hệ lớn phản ánh quy luật đổi mới và phát triển. “Đó là quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; giữa nhà nước và thị trường; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2020

MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI Ở ĐỨC

Nền kinh tế thị trường xã hội Đức được xác định bởi các quy tắc cạnh tranh và một hệ thống an sinh xã hội phát triển, phát huy tối đa tự do sáng tạo, tạo nên năng lực kinh tế mạnh gắn liền với tiến bộ xã hội.

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2018

MÔ HÌNH CON ĐƯỜNG THỨ BA

Sau khi mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu tan rã, trong trào lưu XHCN dân chủ đã xuất hiện tư tưởng "chủ nghĩa dân chủ - xã hội ” hay còn gọi là “con đường thứ ba”. Tuy vậy, nó vẫn gắn với trào lưu CNXHDC. Thuật ngữ "chủ nghĩa dân chủ - xã hội” (CNDCXH), để chỉ tư tưởng hay trào lưu dân chủ - xã hội. Thuật ngữ này hiện nay được các đảng dân chủ - xã hội Tây Âu sử dụng khá phổ biến. Tư tưởng chủ nghĩa dân chủ-xã hội gắn liền với Tuyên ngôn Cương lĩnh của “Quốc tế XHCN” năm 1951. Theo đó: "Chủ nghĩa xã hội là một phong trào quốc tế, không đòi hỏi sự thuần nhất nghiêm ngặt của các quan điểm. Bất kể cơ sở niềm tin của những người xã hội là phương pháp mácxít hay một phương pháp nào khác để phân tích xã hội, bất kể những người xã hội được khích lệ bởi những nguyên lý tôn giáo hay những nguyên lý nhân đạo chủ nghĩa, mọi người XHCN đều cố sức đạt một mục đích duy nhất: tiến tới một xã hội công bằng, một đời sống tốt hơn, tự do và hòa bình trên toàn thế giới ". 
Mô hình “con đường thứ ba” trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế đang thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà lý luận và hoạt động chính trị ở phương Tây. Có thể thấy nó có một số đặc điểm cơ bản sau: 
- Lấy cân bằng giữa tác dụng của thị trường và sự điều tiết của nhà nước làm nguyên tắc để tạo ra nền kinh tế mới; - Lấy cân bằng giữa trách nhiệm và quyền lợi làm nguyên tắc để xây dựng hệ thống phúc lợi mới; - Lấy cân bằng giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội làm nguyên tắc để đề xuất chính sách mới; - Lấy cân bằng giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế làm nguyên tắc trong thực thi chính sách đối ngoại.
Có thể khẳng định, mô hình “con đường thứ ba” là một sự thỏa hiệp chính trị giữa chủ nghĩa tư bản (CNTB) tự do và CNXHDC. Thực chất đây là một phong trào tư tưởng - chính trị ở các nước CNTB vượt ra ngoài cả “tả” và “hữu” trong điều kiện toàn cầu hóa nhằm khắc phục những vấn đề nội tại của chính xã hội tư sản. 
Từ đầu thập niên 1990, nhìn chung thì trong tư tưởng của các đảng dân chủ - xã hội Tây Âu có 3 xu hướng chính hay có thể gọi là 3 mô hình "con đường thứ ba":
- "Mô hình xã hội" dựa vào Nhà nước là chính. Đây là sự lựa chọn của Đảng XHCN Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp và Bỉ. Những giá trị mấu chốt của mô hình này là đoàn kết, phân phối và bình đẳng.
- Mô hình "con đường thứ ba" của Công đảng Anh dưới thời T.Bler, gần như trực tiếp đối xứng với "mô hình xã hội" của Đảng XHCN Pháp. Sự lựa chọn của Công đảng Anh có nhiều điểm giống quan điểm "con đường thứ ba" của Hội đồng dân chủ thuộc Đảng dân chủ Mỹ dưới thời B.Clintơn, A.Gor và Libơman lãnh đạo. Qua đó có thể thấy xu hướng mở rộng của trào lưu dân chủ - xã hội bao gồm các đảng dân chủ.
- "Mô hình sông Ranh" của Đảng dân chủ - xã hội Đức, với quan điểm "thị trường xã hội" phát triển dựa trên sự kết hợp giữa giới chủ doanh nghiệp với tổ chức công đoàn trong việc quản lý doanh nghiệp, và phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, gồm: sự tham gia của các doanh nghiệp, người tham gia bảo hiểm xã hội cũng như vai trò điều tiết của Nhà nước.
Những "mô hình" trên đây phản ánh nỗ lực "đổi mới tư duy" của các đảng dân chủ - xã hội Tây Âu. Trong tuyên bố "Châu Âu: con đường thứ ba, trung dung mới" vào năm 1999, Đảng dân chủ - xã hội Đức kêu gọi các đảng dân chủ - xã hội châu Âu hãy tận dụng "cơ hội lịch sử để hiện đại hóa châu Âu". "Cơ hội lịch sử" được nói ở đây là trong thập niên 1990 có 14/15 quốc gia thành viên lúc đó thuộc Cộng đồng châu Âu do các đảng dân chủ - xã hội kiểm soát.

MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI - DÂN CHỦ

Từ quan điểm của những học giả đồng thời là những nhà lãnh đạo xã hội - dân chủ nổi bật như, E. Bec-xtanh (Đức), W. Bran (Đức), B. Krai-xky (Áo), Ô. Pan-mơ (Thụy Điển), hay quan điểm của những học giả chịu ảnh hưởng nhiều của chủ nghĩa tự do ở Mỹ (Joseph E. Siglitz, Donald Sassoon) hoặc một số học giả Nga vốn chịu ảnh hưởng của quan điểm mác-xít nay đã có sự dịch chuyển sang quan điểm xã hội - dân chủ (S.P. Peregudov, V.B. Rưbacốp,...) , có thể khái quát tư tưởng chính trị của trong trào lưu chủ nghĩa xã hội dân chủ (CNXHDC) phương Tây ở các phương diện sau:
Thứ nhất, về những giá trị cơ bản của CNXH. Sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu sụp đổ, những người CNXHDC phương Tây đã có sự nhận thức lại về CNXH. Họ nhấn mạnh bình đẳng và hiệu quả là hai giá trị cơ bản của CNXH. Nhưng ngày càng có nhiều người CNXHDC phương Tây đặt trọng điểm vào bình đẳng. Đối với họ, CNXH mọc rễ trên chủ nghĩa bình đẳng; CNXH luôn liên hệ với bình đẳng, dân chủ, tự do, công bằng, v.v....
Thứ hai, thể chế kinh tế. Chế độ sở hữu công cộng của CNXH bao gồm: a) chế độ quốc hữu và tập thể về tư liệu sản xuất; b) xã hội hóa và công hữu hóa về tiền vốn và lợi nhuận. Hai kiểu "chế độ sở hữu xã hội " đó có tính tiêu biểu của xã hội XHCN. Những người CNXHDC sử dụng khái niệm "chế độ sở hữu xã hội" để chỉ “sở hữu công cộng” không chỉ về tư liệu sản xuất, mà cả về tiền vốn và lợi nhuận. 
Thứ ba, thể chế chính trị. Những người CNXHDC phương Tây, tuy không đưa ra được những nội dung chính về thể chế chính trị của CNXH, nhưng trong ý tưởng của họ, có thể thấy một nguyên tắc cơ bản của thể chế chính trị XHCN là nhằm thực hiện giá trị bình đẳng, hiệu quả. Đó là CNXH không thể tách rời dân chủ. CNXH về bản chất là dân chủ. Không có dân chủ sẽ không có CNXH. Chính dân chủ là nền móng của thể chế chính trị XHCN.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

HẠN CHẾ CỦA MÔ HÌNH KINH TẾ KẾ HOẠCH HÓA Ở VIỆT NAM

Trước năm 1986, nền kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế kế hoạch hóa, hành chính, tập trung, bao cấp với hai thành phần kinh tế. Việc nhấn mạnh quá mức vai trò của công hữu tư liệu sản xuất mà không coi trọng đúng mức các mặt tổ chức, quản lý sản xuất, phân phối lợi ích, nhất là lợi ích chính đáng của người lao động, đã làm hạn chế, thậm chí triệt tiêu động lực phát triển sản xuất và tǎng nǎng suất lao động. Do thiếu nhận thức đúng đắn về quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, lợi ích xã hội khiến cho nhấn mạnh siêu hình tập thể, cộng đồng mà quên mất con người cụ thể. Nhân tố con người ở giai đoạn này, cũng vì thế mà không được phát huy đầy đủ.
Hạn chế lớn nhất trong tư duy kinh tế cũ là không chấp nhận sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường. Người ta lo ngại một cách rất có lý rằng, đó sẽ là những nhân tố gây bất công xã hội, gây rối ren kinh tế. Và, tốt nhất là để cho vai trò của nhà nước bao trùm toàn bộ cả về sở hữu, quản lý và phân phối. Nhà nước bao cấp và bao tiêu sản phẩm, kế hoạch của nhà nước là mệnh lệnh và là nhu cầu của xã hội chứ không phải quy luật cung cầu, giá trị…
Hệ quả là, sản xuất, nhu cầu phát triển của sức sản xuất chưa được xem trọng. Và, khi mà năng lực tổ chức quản lý của nhà nước bất cập, dẫn tới kết cục là vào những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế Việt Nam lâm vào trạng thái trì trệ, khủng hoảng. Đã xuất hiện những nghịch lý như: sản xuất mà không chú ý hiệu quả kinh tế; trao đổi sản phẩm mà không ngang giá “mua như cướp, bán như cho”; lưu thông trì trệ mà lại “ngăn sông, cấm chợ”…

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2018

SỰ SỤP ĐỔ CỦA MÔ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC Ở LIÊN XÔ VÀ ĐÔNG ÂU CÓ PHẢI LÀ SỰ LỖI THỜI CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN?

Trước sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu nhiều học giả tư sản và các lực lượng phản động đã liên tiếp đưa ra các luận điệu phản động của mình để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, một trong những luận điệu đó, chính là họ cho rằng sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chính là sự lỗi thời lạc hậu của chủ nghĩa Mác – Lênin, vậy có phải quan điểm trên là đúng?
Cần phải nói rằng mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực, trên thực tế đã mang lại sự thay đổi rung trời chuyển đất, tạo ra một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực đã mang lại cuộc sống tốt đẹp cho một bộ phận không nhỏ quần chúng nhân dân lao động ở một loạt các nước xã hội chủ nghĩa. Nó cũng tạo nên một sức mạnh mà giai đoạn trước đó không thể tưởng tượng về nguồn lực vật chất và tinh thần, đủ sức để động viên sức người, sức của, tạo thành lực lượng chủ yếu đánh thắng cả những lực lượng to lớn của liên minh các thế lực tư bản trong Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng như đội quân phát xít tàn bạo của trục ma quỷ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Bằng thực tế sinh động tốt đẹp trên các đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, nó đã động viên, thúc đẩy cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, hòa bình, giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Hàng loạt dân tộc bị áp bức đã giành được độc lập, tự do dưới ảnh hưởng và sự giúp đỡ vô tư của các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đầu. Chính chủ nghĩa xã hội và cuộc đấu tranh rộng lớn, mạnh mẽ của nhân dân lao động trên toàn thế giới đã buộc các thế lực tư bản, đế quốc phải thừa nhận quyền tự do, độc lập của các dân tộc trong hệ thống thuộc địa rộng lớn của chủ nghĩa tư bản, thực dân, đế quốc, mặt khác tạo thành sức ép buộc các thế lực tư bản phải có những cải cách xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân lao động ở chính quốc. Từ những điều phân tích trên có thể khẳng định rằng chủ nghĩa xã hội là một hiện thực hùng mạnh đủ để những chiến lược gia, các nhà lý luận tư sản phải thừa nhận và đưa ra những dự báo về thất bại không thể đảo ngược của chủ nghĩa tư bản.
Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu thực sự đây là một tổn thất to lớn, để lại bài học đau đớn không chỉ cho những người cộng sản, mà còn cho cả nhân loại tiến bộ. Tuy nhiên đó là kết quả của sự bảo thủ, không nhìn thẳng vào thực tế, chậm đổi mới nhận thức và đổi mới các chính sách cũng như những giải pháp cần thiết để giải quyết những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, những mâu thuẫn tất yếu nảy sinh trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Đó cũng chính là những sai lầm của những người cộng sản ở Liên Xô và các nước Đông Âu mắc phải do không nhận thức đúng đắn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về tính biện chứng và quan điểm lịch sử - cụ thể trong quá trình lãnh đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đã cố chấp và thiên kiến mà bỏ qua bài học phương pháp luận quý báu của V.I.Lênin, không “dùng cả hai tay mà lấy những cái tốt nhất của nước ngoài” để xây dựng phát triển chế độ xã hội chủ nghĩa.
Mặt khác, sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội cụ thể. Tuyệt nhiên đó không phải là sự sụp đổ của một học thuyết, càng không thể là sự sụp đổ về một tương lai tốt đẹp mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới. Điều ấy không chỉ được minh chứng bằng việc ngay ở thời điểm hiện nay, một loạt nước ở tây bán cầu cận kề nước Mỹ đang tìm con đường và cách thức để xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình mới. Nó cũng được minh chứng bởi một loạt quốc gia ở chính châu Âu, nhất là các nước Bắc Âu đã và đang lấy chủ nghĩa xã hội làm mục đích và cảm hứng để xây dựng, phát triển đất nước mình.
Tất cả những thực tế ấy đã chứng minh và khẳng định rằng sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu không phải là sự lỗi thời của chủ nghĩa Mác – Lênin, ngược lại nó cũng chứng minh cho những quan điểm trên là hoàn toàn sai trái. Thực tế cũng đang chỉ ra rằng, chính chủ nghĩa tư bản đang đứng trước những thách thức đầy nguy hiểm. Chính sự mâu thuẫn lợi ích, căn bệnh bản chất của chủ nghĩa tư bản đang làm nảy sinh sự chia rẽ khó tránh khỏi trong các liên minh tưởng chừng như bền vững của họ, điều này được biểu hiện qua hiện tượng Brexit của nước Anh tách khỏi châu Âu./.

Thứ Năm, 2 tháng 11, 2017

“Tam quyền phân lập” không phải là sự lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước của Việt Nam

Điều 2, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” nên “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Do đó, mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền ở Việt Nam không phải và không thể “tam quyền phân lập”.
Điều đó không phải do ý chí chủ quan của bất kỳ một chủ thể nào mà do những quy định tất yếu khách quan chi phối, bắt nguồn từ bản chất của chế độ chính trị, chế độ kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn và kinh nghiệm 30 năm đổi mới đã qua cũng như việc học hỏi, tham khảo kinh nghiệm của các nước trong tiến trình hội nhập quốc tế đã cho thấy, tính đúng đắn và sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối đổi mới, lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam không tam quyền phân lập mà thống nhất quyền lực của nhân dân, bởi nhân dân, vì nhân dân.
Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền là sự đồng thuận, phù hợp của Việt Nam với xu thế chung, phổ biến của tiến bộ lịch sử và sự phát triển xã hội trong thế giới hiện đại và đương đại. Tính phổ biến đó được thể hiện ở Việt Nam thông qua tính đặc thù. Nhận rõ tính phổ biến của thế giới để hiểu đầy đủ hơn tính đặc thù của dân tộc trong đổi mới và phát triển, hội nhập quốc tế và hiện đại hóa đất nước. Đây là một tương tác biện chứng cần phải tính đến trong xác định đường lối, chính sách, lựa chọn mô hình và tìm kiếm các giải pháp phát triển. Chủ động hội nhập và tiếp thu có chọn lọc những giá trị và kinh nghiệm của các nước để Việt Nam không ở bên ngoài tiến trình phát triển chung của thế giới. Mặt khác, với tư duy đổi mới, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, cần phải độc lập giải quyết những vấn đề của chính mình trong phát triển, không sao chép máy móc giáo điều mô hình bên ngoài không phù hợp với đặc điểm, điều kiện của Việt Nam. Quan điểm đó được chính thực tiễn (từ thực tiễn biến đổi của thế giới và thời đại đến thực tiễn đất nước và dân tộc) soi sáng, chỉ dẫn. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực hiện thống nhất quyền lực trên cơ sở phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp,... là sự lựa chọn đúng đắn, hợp lý mô hình tổ chức nhà nước ở nước ta.
Nhà nước pháp quyền ra đời là một bước tiến lớn, đánh dấu trình độ phát triển trong lịch sử nhà nước từ học thuyết lý luận đến các mô hình tổ chức nhà nước trong thực tiễn chính trị. Xã hội khi được tổ chức thành nhà nước, được đặc trưng thành xã hội chính trị với hai lĩnh vực cơ bản và quan trọng nhất: kinh tế và chính trị. Một trong những trình độ phát triển của xã hội hiện đại là được xác định bởi nhà nước pháp quyền. Đây là một chỉ báo về xã hội văn minh chính trị mà loài người đã đạt được trong thời đại cách mạng tư sản với vai trò lịch sử của giai cấp tư sản. Nói tới nhà nước pháp quyền là nói tới vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, trong tổ chức và hoạt động của nhà nước. Quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, giữa pháp luật và quyền lực được nhận thức và giải quyết trong quá trình lịch sử hết sức lâu dài và phức tạp, đi xuyên qua các cuộc đấu tranh giai cấp với những xung đột, mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp vì lợi ích và quyền lực, từ kinh tế đến chính trị, nhà nước mang bản chất giai cấp, là công cụ để thực hiện lợi ích và quyền lực, từ kinh tế đến chính trị. Giai cấp thống trị nắm lấy quyền lực nhà nước, thông qua sức mạnh của quyền lực nhà nước để nhân danh đại diện cho ý chí và quyền lực của cả xã hội. Bản chất giai cấp của nhà nước trở thành một thuộc tính phổ biến, vốn có ở mọi nhà nước, mọi thời đại, mọi chế độ chính trị. Ngay trong chủ nghĩa xã hội, dù nhà nước kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, đại biểu cho ý chí và quyền lực của toàn thể nhân dân nhưng vẫn là nhà nước gắn liền với thuộc tính giai cấp. Điểm mới và khác của nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân là ở chỗ, giai cấp công nhân không có lợi ích riêng với nghĩa là tư hữu. Nó chỉ tìm thấy lợi ích của mình khi thực hiện được lợi ích xã hội. Do đó, giai cấp công nhân một khi trở thành giai cấp thống trị trong nhà nước thì sứ mệnh lịch sử của nó là thực hiện quyền lực của nhân dân. Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân là nhà nước mà tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, thống nhất quyền lực vào nhân dân.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền là một tư tưởng chính trị - pháp lý tiến bộ. Việc tìm kiếm mô hình tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc pháp quyền, thực hiện dân chủ, thực hiện và bảo vệ những quyền cơ bản của con người, của công dân là hướng đích quan trọng bậc nhất nhằm hiện thực hóa tư tưởng về nhà nước pháp quyền.
“Tam quyền phân lập” là một tìm tòi lý luận, đem lại những gợi mở có ý nghĩa để xây dựng thể chế pháp quyền, nhà nước pháp quyền, thực hiện dân chủ và quyền con người trong xã hội hiện đại. Song, những mâu thuẫn và hạn chế của nó nằm ngay trong bản chất của nhà nước pháp quyền tư sản, ngay cả trong thuyết đa nguyên chính trị và đa đảng, trong đấu tranh quyền lực của các đảng phái chính trị tư sản nhằm giành ưu thế thao túng quyền lực nhà nước. Vì vậy, tam quyền phân lập không phải là mô hình tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, là một trong những đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời là một trong những phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và là điều kiện bảo đảm cho Việt Nam hội nhập quốc tế trong một thế giới toàn cầu hóa. Đại hội XII của Đảng đã xác định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”1. “Trong tổ chức và hoạt động của nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn”2.
Điều này nhất quán với nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước đã được hiến định trong Hiến pháp năm 2013 “Quyền lực nhà nước là thống nhất” bởi “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Do đó, vấn đề sâu xa, cốt yếu của nhà nước pháp quyền ở nước ta là đảm bảo dân chủ, phát huy quyền làm chủ của người dân, phát triển năng lực làm chủ và thực hành dân chủ của nhân dân trên tư cách người chủ của nhà nước và xã hội. Không phân chia quyền lực nhưng phải đặc biệt phân định, phân biệt rõ các quyền, trên cơ sở phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đổi mới đồng bộ từ Quốc hội (lập pháp) đến Chính phủ (hành pháp) và Tòa án, Viện Kiểm sát (tư pháp) “và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả”3, đó là tinh gọn tổ chức bộ máy đi liền với chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Đây là chìa khóa để giải quyết vấn đề chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Một vấn đề quan trọng khác là phải “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật”. Có cơ chế bảo hiến tốt mới có thể đẩy mạnh xử lý các hành vi vi hiến một cách công khai, minh bạch, bình đẳng. Không có vùng cấm, nhà nước ở trong xã hội và của người dân chứ không đứng trên, không ở bên ngoài xã hội; kiểm soát quyền lực ở các cấp chính quyền. Đẩy mạnh cải cách hành chính đồng bộ với cải cách tư pháp, làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức trong cơ cấu nhà nước cũng như trong hệ thống chính trị. Tăng cường các chế tài để xiết chặt kỷ luật, kỷ cương, pháp chế và trách nhiệm đối với người dân. “Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm trong các cơ quan nhà nước và trong đội ngũ cán bộ, công chức”. Đảm bảo tính chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao của đội ngũ công chức, đề cao đạo đức công chức và kỷ luật công vụ để phục vụ dân có hiệu quả, tăng trưởng niềm tin và mức độ hài lòng của người dân đối với Nhà nước và công chức.
Để tạo ra những chuyển biến đó, đòi hỏi sự nỗ lực và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức, đoàn thể trên tinh thần dân chủ, đoàn kết, đồng thuận vì thắng lợi của đổi mới và phát triển mà sâu xa là phát triển con người - người dân, những người chủ của xã hội dân chủ, của nhà nước pháp quyền.

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Mô hình đổ nhưng học thuyết không đổ

     Trong nhiều thập kỷ qua, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, xét lại liên tục công kích, chống phá quyết liệt Học thuyết Mác - Lênin cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, đầu tiên là phê bình một số luận điểm, khiếm khuyết, rồi tiến tới chúng tìm mọi cách bác bỏ từng luận điểm riêng lẻ, từng bộ phận rồi đi đến phủ nhận toàn bộ Học thuyết Mác - Lênin coi hệ tư tưởng đó đã thuộc về quá khứ, không còn phù hợp với thời đại ngày nay.. Trên phương diện thực tiễn, chúng mượn cớ sự sụp đổ của mô hình CNXH ở các nước Đông Âu và Liên Xô (trước đây) để suy xét và rao giảng một cách võ đoán rằng, “mô hình đổ thì học thuyết cũng đổ theo”. Hiện nay lại càng trở nên ráo riết, quyết liệt hơn. Chúng cho rằng, “chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ là của quá khứ”, “chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, XX; không phù hợp với thời đại ngày nay”, hay “chủ nghĩa Mác - Lênin đã chết cùng với sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu”. Trắng trợn hơn, họ còn xuyên tạc: “C.Mác và V.I.Lênin là những nhà xã hội duy tâm, siêu hình và không tưởng”, học thuyết Mác chỉ là “sự sao chép sống sượng” chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp, kinh tế chính trị học Anh và triết học cổ điển Đức; là “sản phẩm lai tạo”, “hỗn hợp” mang tính chủ quan, áp đặt, “được nặn ra từ những cái đầu thiển cận của C.Mác và Ph.Ăngghen”.
     Điều hết sức nguy hiểm là các quan điểm sai trái này bằng nhiều hình thức đã được tán phát, lan truyền rất nhanh; gây hoang mang, hoài nghi cho nhiều người, để lại những hậu quả không thể xem thường trong xã hội ta. Bằng cách này, họ muốn “chuyển lửa về quê nhà”, tạo nên sự “diễn biến bên trong”, trước hết là diễn biến về nhận thức, tư tưởng; từ đó dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo quỹ đạo chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.
     Nhưng dù có cố gắng thế nào đi nữa, thì những quan điểm sai trái không thể phủ nhận: Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoa học và cách mạng, bản chất cách mạng, khoa học đó đã được khẳng định trong thực tiễn, trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới. chủ nghĩa Mác – Lênin đã trang bị cho giai cấp vô sản, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới vũ khí tư tưởng, lý luận sắc bén để đấu tranh vì mục tiêu cao cả của nhân loại là xóa bỏ chế độ thống trị của giai cấp tư sản, tiến lên xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.