Hiển thị các bài đăng có nhãn quyền lực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quyền lực. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

QUYỀN LỰC ẢO TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Sự phát triển của công nghệ truyền thông và các nền tảng mạng xã hội đã giúp cho người sử dụng đạt được nhiều tiện ích trong tiếp nhận, chia sẻ thông tin, hình ảnh, đồng thời được bộc lộ chính kiến, quan điểm và thảo luận đa chiều về nhiều vấn đề xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những tác dụng tích cực, việc sử dụng mạng xã hội (MXH) cũng gây ra rất nhiều hệ lụy cho người dùng.

“NGÁO” PHÂY, “HÁO” LIKE, “NGHIỆN” TRANH LUẬN

Với cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới vật lý đang được số hóa. Đời sống thực đang được phản chiếu vào không gian mạng. Chỉ cần có một chiếc điện thoại thông minh và có sóng wifi, 4G người ta có thể tham gia thế giới ảo trên MXH mọi lúc, mọi nơi. Chính vì vậy, MXH ngày càng chiếm ưu thế và là phương tiện truyền thông rộng rãi và nhanh nhất thế giới với lượng người dùng lên tới hàng tỷ người, tính tương tác cao.

Đặc trưng nổi bật của MXH là sự bình đẳng trong tranh luận và bày tỏ quan điểm chính kiến, thể hiện sự yêu – ghét đối với các vấn đề được đăng tải công khai trên các nền tảng MXH. Trên MXH, một vị giáo sư, bác tiến sỹ hay anh lái xe công nghệ, bà bán trà đá, cô công nhân vệ sinh môi trường cũng đều có quyền như nhau khi thả các nút “yêu thích”, “thương thương” hay “phẫn nộ”, “buồn chán”; đồng thời được thoải mái “bình luận” thể hiện kiến thức, cảm xúc, phông văn hóa của mình đối với một chủ đề. Các nền tảng MXH xuyên quốc gia cho phép người dùng tranh luận, đưa ra quan điểm, chính kiến cá nhân một cách công khai, “tự do” đăng tải hình ảnh, bài viết về các sự kiện mà không bị “kiểm duyệt”, không phải xác minh, không chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của thông tin, hình ảnh đã lôi kéo được rất nhiều người sử dụng. Việc tham gia MXH có nhiều đối tượng ở nhiều ngành nghề, mỗi người tham gia đều mang một tâm thế, sở thích khác nhau. Có người tham gia chỉ thuần túy giải trí, thư giãn; tìm hiểu thông tin cho công việc; người khác lại tìm kiếm lợi nhuận từ việc bán hàng “online”… Một số người nhờ những bài viết của mình mà trở thành thành KOLs (người dẫn dắt ý tưởng), có vị thế, uy tín trên MXH…

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực là những mảng tối. Một bộ phận không nhỏ người dùng MXH vướng vào “quyền lực ảo” trên không gian mạng với một số biểu hiện đặc trưng sau:

Thứ nhất, mất quá nhiều thời gian truy cập MXH. Người sử dụng liên tục ở trạng thái “online”, mất thời gian lướt mạng, luôn phải tìm kiếm, nghĩ ra đề tài, bài viết nhằm duy trì lượng người người đọc, người hâm mộ. Thậm chí, MXH luôn còn khiến người dùng luôn “nơm nớp” một cảm giác FOMO (sợ hãi về việc sẽ bỏ lỡ một điều gì đó). Cảm giác này ám ảnh rằng nếu không thường xuyên vào mạng sẽ bị bỏ lỡ những điều hay ho, rồi trở thành “lạc hậu” trong mắt cộng đồng mạng.

Thứ hai, được tung hô thái quá, quên đi xuất phát điểm, quên vị trí và công việc chuyên môn của mình. Có một thực tế là, một số nhà báo, giảng viên, nhà nghiên cứu, cán bộ công chức do đặc thù nghề nghiệp nên được tiếp cận sớm với nhiều thông tin, trong đó có những thông tin quan trọng, thông tin mang tính chất “nội bộ” hơn các đối tượng khác. Nhờ việc được tiếp cận, biết thông tin sớm cộng với có kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành theo dõi nên họ viết bài đăng tải trên trang cá nhân và được cộng động mạng hưởng ứng, khích lệ bằng lượt “thích”, “chia sẻ”, “bình luận”… Hiệu ứng từ việc hưởng ứng và “tung hô” của “cư dân mạng” khiến cho người viết trước mắt có được cảm giác hân hoan, được thừa nhận, được chứng tỏ, nhưng về lâu dài khi cảm giác được “tung hô” và những lời khen “vô thưởng vô phạt” luôn thường trực sẽ khiến người viết sa vào ngộ nhận về một thứ quyền lực ảo mà quên đi trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp.

Nguy hiểm hơn, một bộ phận có biểu hiện “hai mặt”, chẳng hạn như có những phóng viên, nhà báo khi viết tin bài đăng báo theo nhiệm vụ thì ủng hộ chủ trương chính sách, nhưng trong các bài viết đăng tải trên MXH thì luôn đi ngược lại những quy định, chủ trương, đường lối, thể hiện thái độ tiêu cực; có những cán bộ ngành trong họp chuyên môn thuần túy không phát biểu ý kiến, nhưng trên trang cá nhân lại gay gắt bày tỏ thái độ bất mãn, phản đối các chủ trương, định hướng của lãnh đạo ngành… Chưa kể một số KOLs, một số nhà báo có fanpages có lượng theo dõi lớn chỉ chú tâm đăng tải bài viết với mục đích “tống tiền” doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân có dấu hiệu sai phạm.

Thứ ba, có quan điểm lệch lạc, sai trái dẫn đến lèo lái, định hướng dư luận xã hội một cách tiêu cực. Thực tế việc duy trì chế độ “online” trên mạng đã khiến một số KOLs đắm chìm trong thế giới ảo gây nên những hệ lụy thật. Không ít người đã đăng tải trạng thái, bài viết với những thông điệp cực đoan, lệch lạc, tiêu chuẩn kép, công kích về giới tính, tôn giáo, đạo đức và pháp luật. Xu thế chửi bới, bôi nhọ, “bóc phốt”, tấn công cá nhân trên không gian mạng là những biểu hiện “lệch chuẩn”, đang thu hút một lượng lớn người theo dõi, lấn át các thông tin quan trọng của đất nước, của đời sống xã hội. Nó là sự thách thức đối với thể chế, khi một số lượng lớn những người theo dõi trở thành “fan cuồng” có thể quay ra “tấn công” các cơ quan nhà nước, các cơ quan truyền thông chính thống bằng nhiều hình thức.

Để được cộng đồng mạng tung hô, chia sẻ, bình luận nhiều một số người dùng MXH đã không ngần ngại đánh tráo khái niệm, sao chép, trích dẫn, cắt dán tùm lum để dựng nên những bài viết không chính xác, đi ngược dòng dư luận, phản biện lại các thông tư, nghị định, dự thảo luật đang được đệ trình, xin ý kiến… mà không căn cứ vào cơ sở khoa học, cơ sở pháp luật, văn hóa… miễn sao nhiều like, nhiều chia sẻ là vui.

Thứ tư, xa rời thực tế, đắm chìm trong không gian ảo khiến họ trở nên lạc lõng, không bắt nhịp được với đời sống thực tại. Điều nguy hại này không chỉ xảy đến với những người lớn tuổi mà có một bộ phận không nhỏ giới trẻ cũng đang mắc phải biểu hiện sống ảo. Vì quá đắm chìm trong sự “tung hô”, cổ vũ mà không ít người luôn có biểu hiện, thái độ thờ ơ, vô cảm với mọi diễn biến cuộc sống xung quanh. Đi ăn, đi cà phê, đi du lịch cũng chỉ “loay hoay” chụp ảnh, nghĩ ý tứ minh họa cho ảnh rồi đăng tải, xong rồi “cắm mặt” vào đếm “like”! Có người chỉ vì mê mải với “cõi ảo” khiến năng lực công tác giảm sút, không đáp ứng và theo kịp yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn…

Thứ năm, ảo tưởng, sẵn sàng công kích cá nhân, nhãn hàng, cơ quan nếu như không được cung cấp dịch vụ vừa ý. Từ khi MXH phát triển một số bộ phận người dân đã nảy sinh thái độ ứng xử không đúng mực, ra đường khi vi phạm pháp luật, gặp cảnh sát giao thông thay vì xuất trình giấy tờ hợp lệ chỉ “lăm lăm” dùng điện thoại để quay phim, chụp ảnh. Khi xếp hàng thực hiện các dịch vụ công thay vì lấy số thứ tự chờ đến lượt thì xông vào giơ điện thoại “livestream” chất vấn người tiếp nhận hồ sơ. Một số khác khi đi du lịch về thì đăng hóa đơn thanh toán dịch vụ, viết các bài đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch nhằm hạ uy tín nhà hàng, khách sạn, nhãn hàng… Đến khi bị phản biện, biết sai thì ầm thầm hạ tút, xóa bài không một lời xin lỗi, giải thích. Việc “sống ảo” của một số người dùng MXH đã gây thiệt hai không nhỏ cho một số tổ chức, cơ quan và các nhãn hàng.

Thứ sáu, chuyện gì cũng đưa lên MXH. Chính nhờ MXH có tính tương tác cao, kết nối nhiều thành phần, nhiều tổ chức, nhiều đối tượng nên tạo ra sự tự do kết nối, tự do tiếp cận, tương tác, giao lưu, chia sẻ; thực tế MXH cũng có sự hữu ích khi có không ít các vụ việc, sự vụ được giải quyết nhanh chóng và kịp thời. Tuy nhiên, một số người vì ngộ nhận “quyền lực ảo” nên luôn hiếu thắng, manh động, “cầm đèn chạy trước ô tô”, chuyện gì cũng đưa lên MXH để bàn thảo.


Thứ Hai, 22 tháng 8, 2022

NGUY HIỂM TỪ QUYỀN LỰC “NGẦM”

Tìm hiểu những vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật của cán bộ có chức quyền trong những năm qua, nhất là những vụ án cán bộ cấp cao vi phạm pháp luật, chúng tôi nhận thấy hầu hết khi đương chức, những cán bộ này như là “vua con”. Dù họ có nhiều việc làm sai trái nhưng cấp dưới không dám ngăn cản, thậm chí buộc phải làm theo.

Chẳng hạn, ông Vũ Huy Hoàng có nhiều sai phạm trong việc bổ nhiệm cán bộ khiến dư luận rất bất bình. Rồi các ông: Nguyễn Bắc Son khi làm Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Tất Thành Cang khi làm Phó bí thư Thường trực Thành ủy TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Đức Chung khi làm Chủ tịch UBND TP Hà Nội… cùng nhiều cán bộ cấp bộ, cấp tỉnh, cấp huyện đã ngang nhiên lạm dụng quyền lực, lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ để tham nhũng, trục lợi.

Vì sao Đảng ta đã có quy định về những điều đảng viên không được làm, đã ban hành các quy chế, quy định yêu cầu các cấp ủy và CB, ĐV, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu tổ chức đảng phải gương mẫu thực hiện để chống lạm dụng quyền lực; pháp luật cũng có những quy định khá chặt chẽ để phòng, chống lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ, chống TN, TC, nhưng vẫn có nhiều CB, ĐV, công chức, nhất là cán bộ cấp cao vi phạm như vậy?

Thẳng thắn nhìn nhận chúng ta sẽ thấy, “lỗ hổng” ở đây chính là sự lạm quyền của một số cán bộ cấp cao, của người đứng đầu. Lạm quyền dẫn đến siêu quyền lực, siêu mánh lới, siêu mưu kế đen tối ở một số cán bộ, một số người đứng đầu. Nguyên nhân sâu xa dẫn đến “lỗ hổng” kiểm soát quyền lực này chính là vai trò của người cầm cân nảy mực. Việc phát huy trách nhiệm, quyền hạn người đứng đầu là phù hợp với thực tế phát triển, nhưng nhiều người đứng đầu không chuẩn mực về đạo đức, tư cách, nhiều trường hợp tham lam vô độ, nịnh trên nạt dưới, tạo bè cánh bao bọc cho mình. Với cơ chế chủ yếu vẫn là xin-cho, người đứng đầu có quyền phân bổ kinh phí, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, phân công các công việc gắn liền với lợi ích cá nhân; người đứng đầu phẩm chất kém khi đã thích ai, có cảm tình với ai thì người đó được hưởng lợi (và ngược lại) thì khó ai dám trái ý “sếp” mà chủ yếu là lờ đi hoặc đồng lõa với những sai phạm của “sếp” để được lòng (đồng nghĩa với được hưởng lợi).

Thực tế cho thấy, hầu hết những sai phạm của cán bộ lãnh đạo trong những năm qua đều có sự độc đoán, chuyên quyền, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; vi phạm các quy định trong công tác cán bộ, quản lý đầu tư, xây dựng, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản… và cái đích cuối cùng là tham nhũng, trục lợi… Những vi phạm này, không thể nói là tất cả các thành viên cấp ủy, ban lãnh đạo và chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác với những cán bộ đó đều “không biết”, mà nhiều người biết rõ nhưng không có ý kiến phản biện. Nhiều trường hợp tập thể phải biểu quyết theo quy định cũng chỉ là để “hợp lý hóa ý muốn của thủ trưởng”! Việc kiểm soát quyền lực thực sự rất khó ở chỗ này và vì thế, nhiều cán bộ cấp cao, người đứng đầu đã lạm quyền, bị quyền lực làm cho tha hóa, dẫn đến vi phạm pháp luật, kỷ luật.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã thẳng thắn đánh giá: Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ; việc kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp…

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

VAI TRÒ CỦA KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

Thể chế chính trị ở nước ta có những nét đặc thù: Đảng Cộng sản Việt Nam là lược lượng duy nhất được nhân dân thừa nhận giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Nhà nước quản lý xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và phục vụ lợi ích của nhân dân; Nhân dân làm chủ thông qua các hình thức dân chủ và đại diện. Các thành tố trong hệ thống chính trị đều thống nhất về mục tiêu phấn đấu vì lợi ích của nhân dân. Đây là nét khác biệt với các thể chế chính trị khác bởi họ bảo vệ trước hết cho lợi ích của giai cấp cầm quyền.

Đồng chí Tổng Bí thư giải thích rõ bản chất của chế độ chính trị của nước ta: “Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, là hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quan là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ… Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội”. Nhân dân tin tưởng uỷ quyền, trao quyền lực chính trị cho Đảng, cán bộ, công chức nhà nước trở thành công bộc của nhân dân. Vì thế, Tổng Bí thư yêu cầu phải:“Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực”.

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC – “THANH BẢO KIẾM NHIỆM MÀU” PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

Trong điều kiện đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm vấn đề kiểm soát quyền lực khi trao cho cán bộ, đảng viên. Bởi vì, “Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Do đó, nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha” bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”. Theo Hồ Chí Minh, muốn kiểm soát quyền lực phải có hai điều: “Một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường xuyên làm. Hai là, người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”.

Để kiểm soát quyền lực thì việc lựa chọn cán bộ phụ trách kiểm tra, giám sát, kiểm soát là yêu cầu quan trọng bậc nhất. Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải chú trọng lựa chọn những người biết đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, phải có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và “ít lòng tham muốn vật chất”, không vì cảnh nghèo mà thay lòng đổi dạ sinh ra bất liêm. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc. Theo Người, đây chính là căn cứ quan trọng bậc nhất trong đánh giá, lựa chọn cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát. Đồng thời, phải lựa chọn những người có đủ uy tín, kinh nghiệm, năng lực trình độ để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực. Không phải gặp việc gì, gặp ai cũng có thể phái đi kiểm tra, giám sát, kiểm soát được. Do đó, Hồ Chí Minh cho rằng: cán bộ phụ trách công tác kiểm tra trước hết phải là người lãnh đạo và “người lãnh đạo cần phải có một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm và giàu năng lực để giúp mình đi kiểm tra”. Trong công tác kiểm tra, người lãnh đạo cần chú trọng xây dựng một đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và phải chịu trách nhiệm đối với công tác kiểm tra của mình. Đồng thời, Hồ Chí Minh phê phán rất nghiêm khắc những người lãnh đạo, cán bộ kiệm tra mắc bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy: “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”.

Song song với việc lựa chọn cán bộ, để đảm bảo công tác kiểm tra, kiểm soát quyền lực thực sự là “thanh bảo kiếm nhiệm màu” trong phòng, chống tham nhũng đòi hỏi phải có phương pháp đúng, nghĩa là kiểm tra, kiểm soát phải có hệ thống và sát thực tiễn. Mục đích của việc kiểm tra, kiểm soát quyền lực nói chung, trong đấu tranh phòng chống tham nhũng nói riêng là “để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”, tuyệt nhiên không phải là hành động “bới bèo ra bọ, quét nhà ra rác” rồi tìm cách hạ uy tín, hạ bệ nhau. Đối tượng kiểm tra theo Hồ Chí Minh bao gồm: Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác - mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy. Trong quá trình kiểm tra không nên chỉ căn cứ vào các báo cáo, mà phải sâu sát thực tiễn đi đến tận nơi. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, hiệu quả công việc chính là thước đo đánh giá kết quả sử dụng quyền lực ủy thác. Thông qua công tác kiểm tra để xem những nghị quyết đó đã thực hành được đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, nhân dân có ra sức tham gia hay không. Trên cơ sở đó vừa phát huy ưu điểm, phát hiện cái mới, cái tốt hơn nhằm điều chỉnh phương thức lãnh đạo sát hợp hơn; đồng thời, ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện quan liêu, xa dân, không sâu sát thực tiễn trong tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Ngoài ra, để kiểm tra, kiểm soát quyền lực không chỉ dựa vào lực lượng chuyên trách mà quan trọng nhất cần phải dựa vào tai mắt của nhân dân. Trên thực tế, hầu hết các vụ việc tham nhũng đều do nhân dân phát hiện và tố giác. Muốn phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra, kiểm soát quyền lực, theo Hồ Chí Minh, Đảng phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân; phải công khai mọi hoạt động của Nhà nước; phải hình thành các thiết chế dân chủ để mọi người dân “biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”. Đây chính là cơ sở để người dân tham gia kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, của mọi cán bộ, đảng viên trong Nhà nước. Trên cơ sở đó, các hành vi tham nhũng dù tinh vi đến đâu cũng không thể che mắt nhân dân. Cán bộ phụ trách công tác kiểm tra phải thường xuyên gần gũi dân, lắng nghe dân, bảo vệ dân và học hỏi dân để phát hiện tiêu cực, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng.

Trên cơ sở kết quả kiểm tra cần phải công khai trừng trị cán bộ, đảng viên đã tha hóa, biến chất, suy thoái để răn đe, cảnh tỉnh và nêu gương “tự chỉnh đốn” trước quần chúng. Theo Hồ Chí Minh, Đảng không dũng cảm cắt bỏ ung nhọt, sâu bệnh sẽ rất khó để phòng ngừa tham nhũng. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh bác đơn xin ân giảm án tử hình của Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu được coi là điển hình của tinh thần “thượng tôn” pháp luật, đức trị kết hợp với pháp trị - thực sự có sức mạnh răn đe đối với những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tha hóa quyền lực vào thời điểm lúc bấy giờ.

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2021

ĐỒNG TIỀN, QUYỀN LỰC VÀ SỰ THOÁI HÓA

Phát biểu trước đội ngũ cán bộ, đảng viên, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng đặt câu hỏi: “Tiền bạc lắm làm gì, chết có mang đi được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Câu hỏi đặt ra là tại sao khi đã lên đến những đỉnh cao về chức vụ, quyền lực và tiền bạc thì không thiếu, mà không ít cán bộ vẫn liều lĩnh thực hiện các hành vi phạm pháp? Ma lực nào đã thúc đẩy họ?

Các vị từng là Ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, bí thư, chủ tịch UBND thành phố, một số người từng là anh hùng… vì dính vào tham nhũng, tiêu cực mà phải ngồi tù sẽ sống những năm tháng còn lại của cuộc đời trong dằn vặt, tủi hổ. Vậy, tại sao họ đánh đổi hoặc có thể nói là bán những thứ quý giá mà mình đang có, trong đó quan trọng nhất là danh dự, sự tôn trọng của xã hội đối với mình để lấy tiền?

Trong nền kinh tế thị trường, đồng tiền có sự chi phối rất lớn. Nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của đồng tiền, giá trị của đồng tiền và sức hút của đồng tiền cũng ngày càng lớn hơn. Dân gian ta lan truyền câu cửa miệng: “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Nhưng có thật tiền sẽ mua được mọi thứ? Và một xã hội tốt đẹp có nên để xảy ra tình trạng tiền mua được mọi thứ?

Giáo sư người Mỹ Michael J.Sandel đã đặt ra câu hỏi này trong cuốn: “Tiền không mua được gì?” (What money can’t buy?). Trong xã hội Mỹ-điển hình của một xã hội tư bản đề cao giá trị đồng tiền, Michael J. Sandel vẫn nhìn thấy những thứ mà không thể và không nên dùng tiền để mua. Ông viết: “Có những điều tốt đẹp trong cuộc sống sẽ bị xói mòn, bị hư hỏng nếu chúng bị coi là hàng hóa. Vì vậy, để xác định xem thị trường có thể tồn tại ở đâu, cái gì nên tránh xa thị trường thì chúng ta phải tìm ra cách thức đánh giá giá trị một số thứ, như: Sức khỏe, giáo dục, cuộc sống gia đình, tự nhiên, nghệ thuật, trách nhiệm công dân… Chúng đều là những vấn đề mang tính đạo đức và chính trị chứ không chỉ đơn thuần là kinh tế”.

Michael J.Sandel đã đề cập đến vấn đề đạo đức của đồng tiền, hay chính xác là đạo đức khi sử dụng đồng tiền. Bởi theo ông: “Cuộc tranh luận này (cuộc tranh luận về khía cạnh đạo đức của đồng tiền - PV) không hề tồn tại trong kỷ nguyên tôn vinh thị trường. Hậu quả là khi không nhận biết được vấn đề, không bao giờ nghĩ đến chuyện tranh luận về chúng, từ chỗ có một nền kinh tế thị trường, chúng ta đã trượt sang trạng thái trở thành một xã hội thị trường”. Cũng theo tác giả người Mỹ: “Nền kinh tế thị trường là một công cụ đáng giá và hiệu quả, giúp chúng ta tổ chức được hoạt động sản xuất. Còn xã hội thị trường là một phương thức sống mà trong đó, các giá trị thị trường thâm nhập vào mọi ngóc ngách của cuộc sống con người. Chúng ta muốn một nền kinh tế thị trường hay một xã hội thị trường? Làm sao chúng ta xác định được hàng hóa nào được phép mua bán, còn hàng hóa nào phải chịu sự chi phối của các giá trị phi thị trường? Chỗ nào không nên có vai trò của đồng tiền?”.

Như thế, đồng tiền chi phối xã hội, ảnh hưởng tới cách nghĩ, cách ứng xử và đạo đức xã hội là câu chuyện mà con người ở mọi quốc gia đều có thể cảm nhận được. Thế nhưng, tùy vào văn hóa xã hội và thể chế chính trị mà cách giải quyết vấn đề này rất khác nhau.

Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đang áp dụng ngày càng đầy đủ hơn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường. Nếu không có “định hướng XHCN”, thì các đặc điểm kinh tế thị trường của chúng ta cũng giống như nền kinh tế thị trường của các quốc gia trên thế giới. Phần “định hướng XHCN” vì thế rất quan trọng để hạn chế mặt trái của đồng tiền. Nhưng định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường là thứ mà chúng ta phải tốn nhiều công sức để thiết kế, định hình, nó bao gồm cả yếu tố thể chế và đạo đức.

Trong khi đó, mặt trái của kinh tế thị trường vẫn đang tác động hằng ngày, hằng giờ tới mỗi con người. Nền kinh tế càng phát triển thì lưu lượng tiền tệ trong nền kinh tế càng lớn và ý muốn dùng tiền để mua mọi thứ nếu không được phân tích, chỉ ra mặt trái, nếu không được kiểm soát thì có thể dần trở thành điều hiển nhiên của cuộc sống. Hệ lụy của nó là xã hội sẽ dần biến chất, đến mức những giá trị chuẩn mực đạo đức, nhân văn mang tính truyền thống của dân tộc, mang bản chất của xã hội XHCN sẽ bị thách thức. Ví như gần đây, chúng ta thấy có những ý kiến đòi phải công nhận mại dâm như một nghề chính thức trong xã hội, phải đóng thuế. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải xác định rõ xem nhân phẩm của người phụ nữ có phải là thứ có thể mang ra mua bán, trao đổi hay không? Truyền thống văn hóa của chúng ta, bản chất xã hội XHCN của chúng ta có chấp nhận được việc mua bán đó không?…

Nếu ta để đồng tiền quyết định mọi vấn đề thì sẽ dẫn tới hệ lụy là người làm chính sách, nhà quản lý có thể hy sinh mọi thứ vì phát triển kinh tế. Vì phát triển kinh tế, chúng ta có thể hy sinh môi trường sống, vì kinh tế ta có thể hủy hoại cả nền văn hóa truyền thống của dân tộc, vì đồng tiền ta có thể hy sinh sức khỏe, vì đồng tiền ta có thể hy sinh các mối quan hệ trong gia đình… Để rồi cuối cùng, chúng ta sẽ không biết rõ mình là ai! Phát triển kinh tế, làm giàu kiểu như vậy thì thể hiện sự tàn phá hạnh phúc hơn là kiến thiết hạnh phúc.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ QUYỀN LỰC

Một là, cụ thể hóa các biểu hiện tha hóa quyền lực đối với từng vị trí, lĩnh vực công tác, trước hết là của cán bộ lãnh đạo, quản lý để biết và thực hiện, tự phòng tránh không mắc phải sự tha hóa quyền lực dù là nhỏ nhất là cách tốt nhất để phòng ngừa với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Hai là, thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực theo nguyên tắc quyền hạn đi đôi với trách nhiệm, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát. Xây dựng quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể, cá nhân, bảo đảm phải rõ quyền, đủ quyền, đúng quyền và thực quyền. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế phản biện, chất vấn, giải trình để bảo đảm công khai, minh bạch; xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm hoặc đùn đẩy, né tránh, trả thù, trù dập. Nghiên cứu xây dựng quy định phát huy vai trò, trách nhiệm, quyền của các đại biểu dự đại hội đảng các cấp trong suốt cả nhiệm kỳ, trước hết là quyền chất vấn, kiểm tra, giám sát đối với các cấp ủy viên do mình bầu ra. Xây dựng các quy định về báo cáo công việc liên quan đến công tác cán bộ (tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng....) của cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền các cấp. Hoàn thiện và đổi mới các quy định của Đảng, trước mắt cần làm rõ, cụ thể hóa nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng ta. 

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống mẫu mực, trình độ, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII về công tác cán bộ. 

Khi xem xét về sự tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên đều phải xét từ góc độ hai phía, người có quyền lực và đối tượng chịu sự tác động của quyền lực đó. Trong thực tế, sự tha hóa quyền lực thường xảy ra giữa cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có chức vụ, quyền hạn trong hệ thống chính trị, nhất là của người đứng đầu các cơ quan đảng, nhà nước với cán bộ, đảng viên dưới quyền thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý mà thường qua đó các bên đều có lợi ích nhất định. Do đó, việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền... từ cấp Trung ương đến cơ sở là cực kỳ quan trọng, quyết định tới kết quả hoạt động của cả hệ thống chính trị theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. 

Bốn là, đổi mới, sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII. Đặc biệt, cần quy định hạn chế cấp hàm và cấp phó tối đa của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là cấp phó trong nội bộ các cơ quan đảng. Nếu quá nhiều cấp hàm và cấp phó sẽ khó cho việc kiểm soát quyền lực mà hiệu lực, hiệu quả công tác sẽ không cao. Đồng thời, rà soát và sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, trong đó cần quy định rõ ràng nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể, của người đứng đầu và từng cấp phó, công chức, viên chức, nhân viên để mọi người thực hiện đúng với vị trí công việc của mình, nhất là ở những nơi “nhất thể hóa” bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong việc kiểm soát quyền lực. Trong đó, cần đẩy mạnh kiểm tra, giám sát công tác cán bộ và cán bộ theo hướng đồng bộ hóa các quy định của Nhà nước theo chủ trương, quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm. Thực hiện đồng thời cấp trên kiểm tra, giám sát cấp dưới; kiểm tra, giám sát nội bộ, giám sát từ dưới lên; giám sát chéo giữa các cơ quan, tổ chức, giám sát của nhân dân.

Sáu là, tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm về phương thức cầm quyền và việc kiểm soát quyền lực với các đảng cầm quyền trên thế giới. Đảng phải chú trọng xây dựng bộ máy rất tinh gọn, không bao biện, làm thay chính quyền; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy tư tưởng dân chủ chỉ đạo toàn bộ quá trình hoạt động của đảng; bảo đảm hoạt động cầm quyền và hiệu quả cầm quyền của đảng phản ánh lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng nhân dân. Tuần tự thúc đẩy dân chủ trong các khâu bầu cử, ra quyết sách, quản lý và giám sát. Lấy phát triển dân chủ trong đảng để dẫn dắt dân chủ trong chính quyền và xã hội.
Ngay từ những ngày đầu thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra những biểu hiện của sự tha hóa quyền lực. Trong bài “Sao cho được lòng dân” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 12-10-1945, với bút danh Chiến Thắng, Người đã viết: “Thứ nhất, dân ghét các ông chủ tịch, các ông ủy viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng…”./.

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2021

PHÁ ĐIỂM YẾU Ở “KHÂU THEN CHỐT”

NQTƯ 4, khóa XII đã khẳng định hiệu lực, hiệu quả từ việc hàng loạt cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý nghiêm minh. Nhưng cần khẳng định rằng, Đảng ta không lấy kỷ luật cán bộ là mục tiêu hàng đầu, mà thông qua đó để răn đe, giáo dục, cảnh tỉnh, cảnh báo, ngăn ngừa sai phạm. Việc kết hợp giữa “xây” và “chống” trên tinh thần lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lấy “chống” là nhiệm vụ thường xuyên thông qua kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện NQTƯ 4, khóa XII với Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong 5 năm qua tạo ra những thay đổi tích cực trong toàn hệ thống chính trị. Việc xây dựng cam kết, kế hoạch rèn luyện, tu dưỡng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với trách nhiệm nêu gương được triển khai đồng bộ, sâu rộng, ngày càng trở thành việc làm chủ động, thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng.

Ông Nguyễn Đức Hà, nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở đảng, Ban Tổ chức Trung ương tâm đắc: Điểm mới là trong tự phê bình và phê bình gắn với NQTƯ 4, khóa XII, chúng ta không làm từ trên xuống, không làm từ dưới lên, cũng không làm từ giữa ra mà tiến hành đồng thời ở các cấp, nghĩa là các cấp cùng tiến hành nhưng ở cấp nào cũng lựa chọn những trọng tâm, trọng điểm. Khi các cấp ủy chọn được trọng tâm, trọng điểm thì nhất thiết phải có gợi ý kiểm điểm sâu và cấp ủy phải chỉ đạo theo dõi sát sao. Ví dụ, Bộ Chính trị gợi ý kiểm điểm cho một số ban thường vụ tỉnh ủy. Tất cả những nơi được Bộ Chính trị gợi ý đều phân công một đồng chí ủy viên Bộ Chính trị về dự chỉ đạo, theo dõi và có các cơ quan Đảng chỉ đạo, giám sát. Ở các địa phương, tất cả vấn đề lớn, vấn đề nổi cộm, vấn đề được báo chí, dư luận công luận bức xúc, lên án đều được đưa vào chương trình kiểm điểm gắn với việc thực hiện NQTƯ 4, khóa XII. Các tỉnh ủy, thành ủy có quy định rõ, hằng tháng chi bộ sinh hoạt thì các đảng viên phải đối chiếu với 27 biểu hiện để tự phê bình và phê bình. Đến nay, 27 biểu hiện được hầu hết cán bộ, đảng viên nắm chắc để tự soi chiếu vào mình, từ đó phòng tránh, ngăn ngừa, đấu tranh.

Nhận định về sự chuyển biến tích cực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương từng nhiều lần tâm huyết: Việc thực hiện NQTƯ 4, khóa XII không chỉ giúp tầm soát, thanh lọc đội ngũ, mà còn là dấu ấn rõ nét, tạo bước đột phá về nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên, thực hành đạo đức công vụ, từng bước xóa bỏ tình trạng nhũng nhiễu, hành dân, tham nhũng vặt… Về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Cùng với phòng, chống các biểu hiện suy thoái, Đảng ta đặc biệt chú trọng công tác bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ. Thực tiễn cho thấy, nhiều nhiệm kỳ, Đảng nhận thức rất rõ vai trò của cán bộ và công tác cán bộ, nhưng vấn đề cán bộ luôn phức tạp, nhạy cảm, dễ xảy ra tiêu cực và khó phát hiện, xử lý. Công tác cán bộ vẫn là khâu yếu và luôn là một trong những vấn đề bức xúc nhất mà dư luận xã hội quan tâm. Tại nhiều hội nghị, diễn đàn, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Phải coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc thường xuyên của Đảng.

Từ những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ đã được NQTƯ 4, khóa XII nêu ra, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tập trung rất cao để lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện việc rà soát, bổ sung, sửa đổi, ban hành hệ thống quy định, quy chuẩn, nguyên tắc, cách thức chấn chỉnh và đổi mới toàn diện về công tác cán bộ, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm số một, là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị.

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành gần 130 văn bản quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có nhiều nghị quyết, quy định, quy chế, quy trình, hướng dẫn… về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Để cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết của Trung ương, các cấp ủy cấp tỉnh ban hành hơn 6.200 văn bản các loại, trong đó có nhiều văn bản về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Việc ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết của Trung ương và cấp ủy các cấp đã từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ để thực hiện, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Nhìn lại kết quả lựa chọn cán bộ từ đại hội đảng các cấp vừa qua cho thấy, trong công tác cán bộ, nhân sự, Đảng ta áp dụng rất nhiều điểm mới quan trọng so với các nhiệm kỳ trước, trong đó có quy định tiêu chuẩn nhân sự tham gia cấp ủy, quy trình công tác nhân sự và đặc biệt là thực hiện giảm 5% số lượng cấp ủy viên cấp tỉnh, cấp huyện. Qua thực hiện cho thấy cấp tỉnh giảm 6,2%, cấp huyện giảm 11,6%, cấp cơ sở giảm 12,5% và qua đó góp phần giảm chi ngân sách hàng trăm tỷ đồng/năm. Điểm đáng chú ý, dù giảm số lượng cấp ủy nhưng chất lượng, hiệu quả lãnh đạo lại tăng lên nhiều. Bởi chúng ta mở rộng dân chủ, tăng cường trách nhiệm của các cá nhân, tập thể trong lựa chọn giới thiệu người tham gia cấp ủy, có sự thẩm định, giám sát của nhiều bên.

Rút kinh nghiệm từ những hạn chế, yếu kém trong công tác cán bộ, việc chuẩn bị, giới thiệu nhân sự tham gia vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII được tiến hành chặt chẽ hơn. Qua nhiều lần quy hoạch, bổ sung, điều chỉnh, Trung ương đã bỏ phiếu kín giới thiệu và đưa vào quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Việc quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2021-2026 được tiến hành từng bước thận trọng theo quy trình chặt chẽ, dân chủ. Đây là kết quả của cả quá trình đổi mới công tác cán bộ một cách bài bản, đúng hướng trên tinh thần bám sát cương lĩnh, nghị quyết, Điều lệ Đảng. Kiên quyết không để lọt vào cấp ủy các cấp những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, phẩm chất năng lực kém, thiếu gương mẫu, mất đoàn kết nội bộ, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chạy chức chạy quyền, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm.

“Cán bộ lãnh đạo các cấp phải ghi nhớ, bất cứ ai cũng không có quyền lực tuyệt đối ngoài pháp luật, bất kỳ ai sử dụng quyền lực đều phải phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và tự giác chịu sự giám sát của nhân dân”./.

Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

NƯỚC VIỆT NAM LÀ NƯỚC DÂN CHỦ, MỌI QUYỀN HÀNH, LỰC LƯỢNG ĐỀU Ở NƠI DÂN, TẤT CẢ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC THUỘC VỀ NHÂN DÂN

Trong tác phẩm “Dân vận” (1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân... Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Thấm nhuần những tư tưởng trên, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi lãnh đạo, nền dân chủ ở Việt Nam ngày càng được củng cố, hoàn thiện và phát triển, nhất là giai đoạn hiện nay: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”.Hiến pháp năm 2013 (tại Khoản 1, Điều 4): “Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thì đương nhiên đối với cuộc bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, sự kiện chính trị quan trọng hàng đầu để xây dựng chính quyền nhân dân thì sự lãnh đạo của Đảng là tất yếu. Chính sự lãnh đạo đó sẽ giúp cho quá trình bầu cử tốt hơn, đúng Hiến pháp và pháp luật, phát huy được vai trò của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị.

Trải qua hơn 75 năm kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không ngừng phát triển, tự hoàn thiện, đồng hành cùng dân tộc, thực sự là nơi xây nên nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ lầm than lên địa vị chủ nhân của đất nước đang vững bước trên con đường xây dựng theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thông qua thực hiện chức năng của Quốc hội, quyền làm chủ của người dân luôn được bảo đảm và phát huy theo tinh thần quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, địa vị chủ thể của dân với tư cách là chủ thể gốc của mọi quyền lực; những biểu hiện vi phạm quyền làm chủ của người dân đều được phát hiện và xử lý nghiêm. Hiến pháp 2013 đã tiếp tục khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân,… Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”.

Trong lịch sử đất nước ta, kể từ ngày Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, để có một cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946 được tổ chức thành công, một cuộc bầu cử thật sự tự do, thật sự dân chủ, là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt lên muôn vàn khó khăn của “thù trong, giặc ngoài” với những âm mưu đen tối của các thế lực phản động định tiêu diệt cách mạng Việt Nam, cũng như giặc đói, giặc dốt...là di chứng của chế độ thực dân đế quốc để lại... Trong thời điểm đấy, đại đa số cử tri lần đầu tiên mới được thực hiện quyền bầu cử của mình, đại đa số là những nông dân chưa đọc thông viết thạo, tuyệt đại đa số phụ nữ lần đầu được cầm trên tay lá phiếu… tất cả đều xúc động, tự hào đến rơi nước mắt vì đi bầu cử đối với họ chính là khẳng định quyền công dân của một đất nước tự do, quyền được bình đẳng trong xã hội.

Năm 1954, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, hai miền Nam Bắc nước ta tạm thời chia cắt. Những người con miền Nam ra Bắc tập kết mang trong mình niềm hy vọng lớn lao sẽ được trở về quê hương, đoàn tụ gia đình sau ngày Tổng tuyển cử tự do dự kiến vào ngày 20/7/1956. Nhưng Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam đã không những đã cự tuyệt thi hành những điều khoản của hiệp định Giơ-ne-vơ mà còn trắng trợn đàn áp, trả thù những người kháng chiến, yêu nước ở miền Nam, đẩy mạnh tiến hành các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” gây chia rẽ, hận thù, chống lại lợi ích và khát vọng độc lập, thống nhất của dân tộc Việt Nam. Ngày tổng tuyển cử đã bị chế độ Ngô Đình Diệm cố tình vi phạm, kéo dài cuộc đấu tranh gian khổ hy sinh để 20 năm sau, đến năm 1976 mới lại có cuộc bầu cử thống nhất đất nước. Đồng bào cử tri ngày ấy cũng hân hoan biết bao khi cầm trên tay lá phiếu bầu tự do khi đất nước đã hoàn toàn hòa bình, thống nhất.Công dân đủ điều kiện trở thành cử tri, thông qua bầu cử để trực tiếp lựa chọn những người xứng đáng có đủ phẩm chất đạo đức và năng lực đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Quốc hội) và cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (hội đồng nhân dâncác cấp) hoặc tự mình ứng cử để được lựa chọn (thông qua bầu cử) là người đại diện cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Theo tiến trình phát triển của xã hội, tính dân chủ trong bầu cử và ứng cử ngày càng được mở rộng. Dẫu còn mặt này mặt khác, có một vài đại biểu chưa đạt được như kỳ vọng của cử tri, nhưng thực tế chúng ta có thể thấy rằng chất lượng cácđại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân ngày càng được nâng cao. Điều này được minh chứng khi trên diễn đàn của Quốc hội, của hội đồng nhân dâncác cấp ngày càng xuất hiện nhiều hơn những tiếng nói đại diện cho quyền lực nhân dân trong hoạt động kiểm tra giám sát của các đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, trong các phát biểu, kiến nghị, góp ý và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật và giải quyết những vấn đề mà cử tri, nhân dân cả nước quan tâm.

Các cử tri cũng có thể nhận thấy, dẫu còn không ít khó khăn nhưng đất nước ta đã phát triển về nhiều mặt, đời sống xã hội nhìn chung đã cải thiện đáng kể, ước mơ đủ “cơm ăn, áo mặc, được học hành” từ những ngày đầu lập nước giờ đây đã vươn cao hơn đến tầm thời đại với sự hội nhập sâu rộng, sánh vai với các cường quốc năm châu trên thế giới. Như vậy đi bầu cử không chỉ là sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn là thể hiện niềm tin vào Đảng, nhà nước, đặt kỳ vọng vào tương lai tươi đẹp hơn của đất nước mình, địa phương mình. Mỗi lá phiếu của cử tri mang trong mình sứ mệnh cao cả là một viên gạch hồng góp phần dựng xây Tổ quốc.

Trải qua nhiều kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, các công dân cử tri đã ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình nên đã tích cực thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu, tích cực tham gia vào cuộc bầu cử từ giai đoạn giới thiệu người ứng cử, tham gia các Hội nghị cử tri để đóng góp ý kiến, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với người ứng cử đến giai đoạn bỏ phiếu bầu để ngày bầu cử đã thực sự trở thành ngày hội, một dịp sinh hoạt chính trị của đồng bào nhân dân cả nước. Những vấn đề chưa phù hợp trong quy chế, quy định bầu cử đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lực của người dân được thực hiện tốt hơn trên thực tế.

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2021

SỨC MẠNH “CON QUÁI VẬT” MẠNG XÃ HỘI CẦN PHẢI ĐƯỢC KIỀM CHẾ

Không phải ngẫu nhiên mà khi bất kỳ một quốc gia xảy ra biến động nào về chính trị, việc đầu tiên mà nhà nước cầm quyền thực hiện đó là chặn mọi kết nối đến các nền tảng mạng xã hội trên phạm vi quốc gia của mình. Đây là một giải pháp để hạn chế việc "con quái vật" mạng xã hội bị sử dụng sai cách.

Nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Mỹ và các nước châu Âu, từ lâu cũng đã nhận thấy "quyền lực vô hình" của các nền tảng mạng xã hội và đang tìm những giải pháp để kiềm chế sức mạnh đó.

Đã không ít lần, chính phủ Mỹ muốn chia tách Facebook để giảm tầm ảnh hưởng của mạng xã hội này. Trong khi đó, chính phủ các nước châu Âu cũng tìm các giải pháp để ngăn chặn tầm ảnh hưởng của Facebook, như yêu cầu kiểm duyệt gắt gao các thông tin được chia sẻ lên Facebook và sẽ phạt nặng nếu Facebook không chịu gỡ bỏ các nội dung theo yêu cầu của chính phủ các nước này.

Các quốc gia cũng đang ráo riết xây dựng các bộ luật gắt gao hơn để kiểm soát tầm ảnh hưởng của Facebook và các nền tảng mạng xã hội. Nhiều giải pháp cũng đã được không ít các quốc gia đưa ra và áp dụng, như yêu cầu đặt máy chủ chứa dữ liệu người dùng của các quốc gia đó tại nước sở tại hoặc yêu cầu Facebook gỡ bỏ các nội dung sai sự thật, thông tin giả mạo liên quan đến các quốc gia đó…

Đặc biệt, mỗi người dùng Internet cũng có thể trở thành một "chiến sĩ" để chống lại con "quái vật" mang tên mạng xã hội bằng cách sử dụng các nền tảng mạng xã hội một cách có trách nhiệm. Việc tỉnh táo trước các thông tin được chia sẻ trên mạng xã hội và hạn chế chia sẻ các thông tin giả mạo, sai sự thật… cũng đã góp phần giúp cho môi trường mạng xã hội trở nên "sạch" hơn.

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC, KỶ LUẬT NGHIÊM MINH - LIỆU PHÁP LÀM TRONG SẠCH BỘ MÁY

Quyền lực không được kiểm soát một cách nghiêm ngặt là “điều kiện” để không ít cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu cầu lợi ích cá nhân, trục lợi, làm giàu bất chính. Quyền lực không bị quản chế khiến nhiều người cố chạy chức, chạy quyền để hưởng “lợi”.

Trong thời gian gần đây, nhiều sự vụ liên quan đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ mà cụ thể là vấn nạn chạy chức, chạy quyền; thao túng quyền lực; lạm quyền, tiếm quyền, lộng quyền; vấn đề tham nhũng và vi phạm các quy định của Đảng và Nhà nước của một bộ phận cán bộ khiến dư luận hết sức bất bình và ít nhiều làm xói mòn niềm tin của nhân dân. Phát biểu tại Hội nghị trực tuyến cuối năm của Chính phủ với các địa phương sáng 28-12-2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã phải nghẹn lòng và “khổ tâm, đau xót” khi nói đến 113 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị kỷ luật.

Trước đây một năm, Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị về việc Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền được ban hành và như một “cú đấm thép”, một loại “vacxin” đối với vấn nạn này nhưng rõ ràng vẫn cần sự quyết tâm hơn nữa trong công tác giám sát quyền lực, góp phần làm trong sạch hệ thống chính trị trong tình hình mới.

Công bằng mà nói, từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến công tác cán bộ. Nhiều chủ trương, nghị quyết, cơ chế chính sách đã ra đời và từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, với quyết tâm “nhốt quyền lực trong lồng thể chế”.

Thế nhưng lần này, có thể nói Quy định số 205-QĐ/TW là một quyết tâm chính trị lớn từ Bộ Chính trị đủ sức răn đe và có tác dụng cảnh giới cao, chắc chắn sẽ khắc phục được những hiện tượng lệch lạc của cán bộ, đưa quyền lực vào đúng quỹ đạo của nó với bản chất là “quyền lực công”, “vì nhân dân phục vụ”, mang lại niềm tin cho nhân dân, đặc biệt trong bối cảnh cả nước đang thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Theo kết quả của một cuộc khảo sát mới đây, khi được hỏi “Điều gì khiến ông/bà mất niềm tin nhất trong cuộc sống”, thì “nạn chạy chức, chạy quyền”, “vấn nạn tham nhũng”, “đạo đức xã hội xuống cấp” và “cán bộ quan liêu, xa dân” là những nguyên nhân dẫn đến mất niềm tin cao nhất (tỷ lệ lần lượt là 68,5%; 69,7%; 44,1%, 37,9%).

Điều này cho thấy, nếu quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ thì hiện tượng lệch lạc trong sử dụng quyền lực của cán bộ như chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, lãng phí, quan liêu,... sẽ gây mất niềm tin của nhân dân, thậm chí có nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Nguyên nhân chính của những vấn nạn nói trên chủ yếu ở khâu kiểm soát quyền lực. Quyền lực được giao quá lớn nhưng không kiểm soát một cách chặt chẽ và có hiệu quả dễ dẫn đến tự tung, tự tác, thậm chí coi thường luật pháp; đề bạt, cất nhắc theo kiểu “thân hữu”, kiểu “quà tặng” với tốc độ “Thánh gióng”.

Quyền lực không được kiểm soát một cách nghiêm ngặt cũng là “điều kiện” để không ít cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu cầu lợi ích cá nhân, trục lợi, làm giàu bất chính. Quyền lực không bị quản chế khiến nhiều người cố chạy chức, chạy quyền để hưởng “lợi”.

Như vậy, Quy định số 205-QĐ/TW như là một “quyền uy”, một cơ chế chế ước quyền lực để kiểm soát các chủ thể quyền lực, kiểm soát hành vi của cán bộ (nhất là người đứng đầu cấp ủy), kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, kiểm soát hiện tượng chạy chức chạy quyền.

Cần phải nhấn mạnh rằng, không có một khái niệm quyền lực chung chung mà quyền lực luôn gắn với chủ thể quyền lực. Như vậy, kiểm soát quyền lực xét đến cùng là kiểm soát hành vi sử dụng quyền lực của chủ thể.

Người có quyền lực thường có thể (cả khách quan và chủ quan) vượt qua giới hạn quyền lực được giao nếu không có cơ chế kiểm soát quyền lực một cách chặt chẽ, nghiêm khắc. Từ đó có thể khẳng định, muốn không lạm quyền, lộng quyền thì phải khống chế quyền lực, lý luận và thực tiễn cũng đã chứng minh một nguyên tắc: “quyền lực tuyệt đối làm tha hóa tuyệt đối”.

Quy định số 205-QĐ/TW đã “điểm mặt” những hành vi chạy chức, chạy quyền gắn với công tác cán bộ đã khiến không ít người “có tật giật mình” và đây là cơ hội để “tự tiêm cho mình một loại vacxin miễn nhiễm với căn bệnh chạy chức, chạy quyền”.

“Tập trung, dân chủ” là một trong những nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng nhưng thực tế cho thấy nhiều lãnh đạo đã “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ” và bị kỷ luật. Nguyên nhân chủ yếu là cố tình hiểu sai quy trình, bản chất, mục đích của nguyên tắc tập trung dân chủ, hiểu sai về quyền lực. Nhưng nguyên nhân sâu xa hơn chính là công tác kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện. Do đó, để thực hiện tốt Quy định số 205-QĐ/TW, cần phải tiến hành đồng bộ một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, cần tăng cường vai trò của thông tin đại chúng trong tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội. Thời gian qua, truyền thông đại chúng đã đóng góp tích cực vào công tác tuyên truyền, phát hiện những sai phạm và lên án những hành vi lệch lạc của cán bộ, công chức trong đó có hiện tượng tham nhũng, lãng phí, chạy chức, chạy quyền, quan liêu, xa dân; tuy nhiên, cần nghiêm túc nói rằng, nhiều lúc còn “sa đà” vào những mặt trái của xã hội mà thiếu sự “cân bằng” trong phản ánh những mặt tốt, nhân tố tích cực của xã hội.

Bên cạnh những cán bộ “hư hỏng”, biến chất vẫn còn nhiều lắm những cán bộ thanh liêm, hết lòng hết sức vì nhân dân phục vụ. Bên cạnh hiện tượng chạy chức, chạy quyền thì cũng có những con người, bằng nỗ lực, phấn đấu và cả sự hy sinh của mình làm tốt vai trò được Đảng và Nhà nước giao.

Bên cạnh những “cậu ấm, cô chiêu”, những “Thánh gióng” trong công tác cán bộ thì cũng không ít lãnh đạo đã công tâm, công chính, vì tổ chức mà phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, cất nhắc những cán bộ tốt, vừa có đức, vừa có tài. Do đó, truyền thông đại chúng cần phải tích cực hơn nữa, chú ý nhiều hơn nữa về những thành tựu trong công tác cán bộ; tuyên dương những cán bộ tốt nhiều hơn nữa nhằm định hướng tốt cho dư luận.

Thứ hai, cần thực hiện đúng cơ chế công khai, minh bạch trong công tác tuyển dụng cán bộ, tăng cường phương thức thi tuyển cạnh tranh. Việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, cất nhắc cán bộ có thể tiến hành nhiều kênh, đa dạng hóa phương thức. Thế nhưng, để giảm thiểu tối đa hiện tượng “chạy chức, chạy quyền” thì cần phải công khai, minh bạch để “trao quyền lực đúng người”.

Bên cạnh đó, cần phải tăng cường công tác thi tuyển một cách sòng phẳng theo kiểu cạnh tranh để “sàn” được người tài. Đặc biệt, đối với những vị trí công việc cần những cán bộ có tố chất, năng lực gì thì phải có phần thi liên quan đến yêu cầu đó để ứng viên có cơ hội thể hiện hiểu biết, năng lực của mình; trình bày các chương trình hành động mà vị trí công việc đòi hỏi.

Bằng cách này chắc chắn sẽ hạn chế tối đa những “cậu ấm, cô chiêu” hay “con ông cháu cha” không đáp ứng được yêu cầu mà lại chiếm giữ những vị trí lãnh đạo (thậm chí lãnh đạo chủ chốt), làm phương hại đến tổ chức, gây mất niềm tin trong nhân dân.

Thứ ba, cần xử lý thật nghiêm những hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền; hành vi tham nhũng, lãnh phí. Chạy chức, chạy quyền là nguồn cơn của tham nhũng, lãng phí. Một khi ai đó đã xác định “chạy” nghĩa là không chỉ mong muốn có “quyền” mà thực chất là mong muốn có “lợi”, mà muốn có lợi nhanh thì chỉ có tham nhũng, trục lợi.

Trong thời gian qua, chúng ta đã phát hiện, xử lý không ít cán bộ tha hóa, biến chất. Điều này đã tạo nên dư luận tốt và từng bước nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Kết quả khảo sát trên cho thấy, 97,6% số người được hỏi cho biết “rất tin tưởng” vào vai trò lãnh đạo của Đảng là chỉ báo cho thấy niềm tin của nhân dân vào Đảng.

Tuy vậy, vẫn còn không ít những hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức chạy quyền; hành vi tham nhũng, lãng phí chưa được phát hiện và xử lý. Do đó, để Quy định số 205-QĐ/TW đi vào cuộc sống cần chế tài nghiêm khắc, xử lý thật nghiêm minh hơn nữa những cán bộ suy thoái, biến chất; những người “biết nhân sự có hành vi chạy chức, chạy quyền nhưng che giấu, thỏa hiệp, không xử lý theo thẩm quyền hoặc không báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý” hay “trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ, môi giới cho nhân sự thực hiện các hành vi chạy chức, chạy quyền”.

Thứ tư, cần khen thưởng kịp thời, có cơ chế bảo vệ những người phản ánh, tố cáo đúng các hành vi chạy chức, chạy quyền hay bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Thông thường, hiện tượng chạy chức, chạy quyền được phát hiện trước tiên ngay trong các tổ chức đó, thế nhưng, vì nhiều lý do mà nhiều người “ngại” không dám tố cáo.

Tâm lý chung của một người dám tố cáo hành vi xấu, không đúng của người khác khi họ cảm thấy an toàn, đủ niềm tin và không tổn hại đến bản thân, tổ chức. Muốn vậy, phải hình thành cơ chế và phương thức an toàn cho người phát hiện, tố cáo những hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, cần có những khen thưởng kịp thời, đúng mực để động viên, khích lệ những cá nhân phát hiện, tố cáo sai phạm trong công tác cán bộ.

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2020

NGUY HẠI CỦA SỰ THA HÓA QUYỀN LỰC

Có quyền lực đã khó, kiểm soát được quyền lực càng khó hơn. Quyền lực không được giám sát là quyền lực sẽ bị tha hóa. Đó là tất yếu và không có ngoại lệ, thời nào cũng vậy. Thực tế cho thấy, nếu quyền lực bị biến thành “của riêng”, là tha hóa quyền lực. Tha hóa quyền lực, là việc thực hiện không đúng, không đầy đủ, không hết hoặc vượt quá quyền lực được trao trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn. Nó thường biểu hiện ở việc: lạm quyền (làm những việc vượt quá quyền hạn của mình); lộng quyền (làm việc ngang ngược vượt quá quyền hạn của mình, lấn cả quyền hạn của người cấp trên); lợi dụng quyền lực (là dựa vào điều kiện thuận lợi nào đó để mưu lợi riêng không chính đáng); không thực hiện hay thực hiện không hết quyền lực được trao. Thực tiễn cho thấy, xã hội ngày càng văn minh thì sự tha hóa quyền lực càng tinh vi, làm biến tướng bản chất, mục đích của quyền lực, trở thành công cụ để phục vụ cá nhân hay “nhóm lợi ích” nào đó. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự tha hóa quyền lực, nhưng trực tiếp là từ chủ nghĩa cá nhân, lợi ích của cá nhân, gia đình và “nhóm lợi ích”. Và những người nắm quyền bị tha hóa, bị trượt dài trước hết là do bản thân họ thiếu tu dưỡng, rèn luyện, bị cám dỗ, chèo kéo, mua chuộc, thậm chí bị ép buộc,… luôn đặt lợi ích của mình lên trên hết, làm cái gì cũng tính xem mình có lợi ích gì trong đó không?

NGUỒN GỐC CỦA QUYỀN LỰC

Quyền lực xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người, là: “Cái sức có thể dùng để bắt người ta theo mình”. Trong xã hội, quyền lực là quyền định đoạt mọi công việc quan trọng về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện quyền ấy. Thực chất quyền lực là năng lực, khả năng của một tổ chức hay cá nhân, tác động đến những cá nhân, tổ chức khác phải thực hiện ý chí của mình thông qua các phương tiện, phương thức nào đó. Có nhiều loại quyền lực: chính trị, lập pháp, hành chính, tư pháp, kinh tế, thông tin,… trong đó, quyền lực chính trị là quan trọng nhất, bao trùm, chi phối đến mọi hoạt động của đời sống xã hội.

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2020

PHẢI KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ ĐƯỢC QUYỀN LỰC

Một là, cụ thể hóa các biểu hiện tha hóa quyền lực đối với từng vị trí, lĩnh vực công tác, trước hết là của cán bộ lãnh đạo, quản lý để biết và thực hiện, tự phòng tránh không mắc phải sự tha hóa quyền lực dù là nhỏ nhất là cách tốt nhất để phòng ngừa với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

NGUYÊN NHÂN SỰ THA HÓA QUYỀN LỰC

Nguyên nhân khách quan: Mặt trái của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa đã và đang tác động làm nảy sinh, phát triển sự tha hóa quyền lực của cán bộ nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp nói riêng với diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, gây khó khăn cho việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý. 

SỰ THA HÓA QUYỀN LỰC TINH VI, PHỨC TẠP

Thực tiễn cho thấy, sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ, đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ở nước ta thời gian qua diễn ra bằng nhiều phương thức rất đa dạng, tinh vi, phức tạp, từ việc dùng quyền hạn của mình để tác động không đúng, không phù hợp cho đến sự “ưu ái” đối với các lĩnh vực nhằm trục lợi cho mình và nhóm lợi ích… Hầu hết sai phạm đều có liên quan đến cán bộ, đảng viên có chức vụ, quyền hạn trong việc quyết định chủ trương, chính sách, cấp phép, cấp vốn, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ…

GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ PHÒNG VÀ CHỐNG SỰ SUY THOÁI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Một là, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng, coi thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và các Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QÐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” và Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo chương trình toàn khóa và chủ đề hằng năm là giải pháp căn cốt để thực hiện kiểm soát quyền lực trong Đảng, trong cả hệ thống chính trị.

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ PHÒNG VÀ CHỐNG SỰ SUY THOÁI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, việc nhận diện đúng về quyền lực, tha hóa quyền lực, kiểm soát quyền lực để ngăn chặn, phòng và chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của đảng viên không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đến đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp đã được triển khai từ Trung ương đến cơ sở.

QUYỀN LỰC VÀ CÁCH THỨC ĐỂ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC

Quyền lực “là quyền hành và thế lực mạnh, đủ để quyết định các công việc: nắm quyền lực trong tay- dùng quyền lực ép người ta phải nghe theo, làm theo”; còn kiểm soát quyền lực là “kiểm tra, xem xét, nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định” và đặt quyền lực “trong phạm vi quyền hành và trách nhiệm” của những người đã được giao/phân công/ủy nhiệm thực thi quyền lực.

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2020

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN LỰC CỦA NHÂN DÂN

Trên cơ sở kế thừa những tư tưởng chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của Đảng cầm quyền cũng như nhiệm vụ của chuyên chính vô sản, cùng với tư tưởng “Có dân là có tất cả”, tin ở dân, dựa vào dân, Hồ Chí Minh đã coi tập hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân là nguyên tắc cơ bản trong chiến lược cách mạng của Người. Do đó, nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước là phục vụ nhân dân vì "trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân".

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VAI TRÒ CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN LỰC CỦA NHÂN DÂN THEO QUAN ĐIỂM CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN

C. Mác và Ph. Ăngghen là những nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, đặt nền móng lý luận cho phong trào công nhân và phong trào cộng sản trên toàn thế giới. Thời đại của các ông đã chứng kiến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cùng với sự ra đời và phát triển của phong trào công nhân và phong trào cộng sản trong điều kiện giai cấp vô sản chưa giành được chính quyền. Tuy nhiên, các ông đã phác thảo ra những nét cơ bản trở thành chỉ dẫn quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ của các đảng cộng sản và nhà nước vô sản sau này.