Hiển thị các bài đăng có nhãn tư bản chủ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tư bản chủ nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 12, 2023

BẢN CHẤT CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA TRÊN THẾ GIỚI

Khủng hoảng kinh tế là sự biến động và làm gián đoạn quá trình tái sản xuất xã hội, phá hoại các tỷ lệ cân đối của nền kinh tế.

          Từ đầu thế kỷ XIX khi đại công nghiệp cơ khí xuất hiện, quá trình tái sản xuất của CNTB bị lâm vào những cuộc khủng hoảng kinh tế một cách chu kỳ.

          Khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghiã là khủng hoảng sản xuất “thừa”. Biểu hiện của nó là hàng hoá sản xuất không tiêu thụ được, công nhân bị thất nghiệp, xí nghiệp phải đóng cửa, thị trường xã hội rối loạn. “Thừa” hàng không có nghĩa là đã bão hòa với nhu cầu xã hội mà chỉ thừa so với sức mua của quần chúng lao động.

          Khả năng khủng hoảng kinh tế đã tiềm tàng trong sản xuất hàng hoá giản đơn. Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, khủng hoảng kinh tế trở thành hiện thực. Nguyên nhân cơ bản sâu xa của khủng hoảng kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Những biểu hiện chính của mâu thuẫn đó gồm:

          1. Mâu thuẫn giữa tính có tổ chức, có kế hoạch trong từng xí nghiệp với tính chất tự phát vô chính phủ của sản xuất xã hội nhất là trong giai đoạn tự do cạnh tranh. Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản hiện đại mặc dù có sự can thiệp, điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư bản thông qua các kế hoạch và chương trình kinh tế nhưng nền tảng của nền kinh tế của xã hội tư bản vẫn không thay đổi. Do đó, các tỷ lệ cân đối của nền kinh tế vẫn bị phá vỡ vì nó phục tùng trước hết lợi ích của các tập đoàn tư bản độc quyền. Nhà nước tư sản hiện đại phải phục tùng ý chí của giai cấp tư sản.

          2. Mâu thuẫn giữa xu hướng mở rông sản xuất vô hạn của chủ nghĩa tư bản và sức mua có hạn của quần chúng

3. Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Đặc điểm của sản xuất TBCN là sự tách rời giữa tư liệu sản xuất và người lao động. Tư liệu sản xuất thì tập trung trong tay giai cấp tư sản còn người công nhân ngoài sức lao động của mình không còn gì để kiếm sống. Sự tách rời 2 yếu tố đó của sản xuất biểu hiện rõ rệt trong khủng hoảng kinh tế. Lúc này tư liệu sản xuất không được sử dụng còn người lao động không có việc làm. 

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

QUAN ĐIỂM VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM”

Bài viết đã đi sâu phân tích, nêu bật bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện nay. Với nhãn quan duy vật biện chứng, khách quan, khoa học, đồng chí cho rằng, chúng ta cần nhận thấy rằng chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế ở mức cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước. Để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản  thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên phạm vi toàn cầu, nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển.

Biểu hiện bản chất của chủ nghĩa tư bản hiện nay.bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ, đây vẫn là chế độ của thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Trên thực tế, các thiết chế dân chủ tư sản theo công thức “dân chủ tự do” vẫn chỉ dành cho những ông chủ tư bản, những tập đoàn tư bản. Các quyền tự do dân chủ cho số đông người dân vẫn chỉ là hình thức, rất ít thực chất. Trong đời sống chính trị, khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Ở các nước tư bản, các cuộc bầu cử gọi là tự do, dân chủ, dù có thể thay đổi được chính phủ, thay đổi được phe nhóm nhưng không thay thế được thế lực thống trị, giai cấp cầm quyền; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản, của giai cấp tư sản. “Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản”. Mâu thuẫn giữa lao động và tư bản là không thể điều hòa được, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, chủ nghĩa tư bản  vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng cơ cấu, khủng hoảng chu kỳ ở các nước tư bản chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa vẫn tiếp tục diễn ra; khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc, tôn giáo. Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội. Đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: Quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, vì lợi nhuận mà bóc lột tàn tệ và chà đạp lên phẩm giá con người, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội và cạnh tranh khốc liệt để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, là đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CHO RẰNG VIỆT NAM ĐANG ĐI THEO CON ĐƯỜNG TƯ BẢN CHỦ NGHĨA VÀ TRÁ HÌNH CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Quan điểm trên hoàn toàn sai trái. Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức ngày càng rõ hơn nội dung bỏ qua chế độ TBCN. Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”. Đây là bước tiến về nhận thức của Đảng khi xác định rõ nội dung bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về CNXH ngày càng rõ hơn.

Nhận thức được những vấn đề lý luận căn bản đó sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu sắc đường lối của Đảng về hoàn thiện KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, củng cố niềm tin đối với quá trình đổi mới và con đường phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Chuyển hóa từ nhận thức vào hành động trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đối với mỗi cán bộ lãnh đạo quản lý theo vị trí việc làm đó là tổ chức thực thi các chính sách của Nhà nước và tham mưu cho các cấp lãnh đạo trong việc hoạch định chính sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương, mỗi ngành, trên cả nước.


Thứ Tư, 11 tháng 8, 2021

ĐA ĐẢNG KHÔNG PHẢI CỨU CÁNH CHO DÂN CHỦ

Dân chủ chính là quyền của người dân làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ xã hội mà mình đang sống trên tất cả các lĩnh vực, trong mọi hoạt động. Dân chủ gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử qua các chế độ xã hội và thời đại khác nhau. Dân chủ chỉ xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ đều phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật của nhà nước đó quy định.

Chế độ dân chủ mà con người ta có được là kết quả của quá trình phát triển thông qua đấu tranh giai cấp, để giải phóng con người. Chừng nào xã hội còn có giai cấp thì dân chủ trong xã hội đó mang tính giai cấp sâu sắc và phải đặt trong khuôn khổ pháp luật của xã hội đó. Không có thứ dân chủ chung chung phi giai cấp, không có thứ dân chủ nằm ngoài pháp luật... Tất cả những luận điệu phủ nhận vấn đề này đều là lừa bịp, nhằm động cơ đen tối.

Dân chủ chẳng những không thể tách rời mảnh đất hiện thực xã hội, mà còn phụ thuộc rất lớn vào nền tảng kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ dân trí của xã hội đó. Chúng ta không phủ nhận theo lịch sử phát triển của xã hội, sự ra đời của nhà nước tư sản đánh dấu một nấc thang phát triển về dân chủ so với dân chủ trong chế độ phong kiến. Nhưng nền dân chủ trong chế độ tư bản cũng không thể vượt ra ngoài nền tảng kinh tế của xã hội đã sinh ra nó. Do đó toàn bộ thiết chế của nền dân chủ tư sản đều chỉ nhằm đến mục đích cao nhất là bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư sản. Bộ máy chính quyền mà nhà nước tư sản lập nên đều hướng đến mục tiêu chống lại tư tưởng tự do, dân chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Với tư cách là một nấc thang phát triển cao hơn xã hội tư bản, dân chủ trong xã hội chế độ XHCN khác hẳn về chất so với dân chủ trong xã hội tư bản. Nền dân chủ XHCN lấy tiêu chí cốt lõi để khẳng định bản chất nhà nước của mình đó là “nhân dân là chủ” và “nhân dân làm chủ”. Theo đó, dân chủ XHCN được thể hiện trên những nội dung cốt lõi là: nền dân chủ của nhân dân lao động, vì nhân dân lao động, thể hiện ở việc bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động; thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ XHCN có nội dung toàn diện, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi người lao động và công việc quản lý nhà nước và xã hội thông qua hai hình thức, đó là: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.

Nhìn từ bản chất của hai nền dân chủ, chúng ta thấy rõ ràng dân chủ XHCN ưu việt hơn hẳn. Do đó việc Việt Nam lựa chọn nền dân chủ XHCN là điều không cần phải tranh luận.

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

THỰC CHẤT CỦA KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

Khủng hoảng kinh tế là sự biến động và làm gián đoạn quá trình tái sản xuất xã hội, phá hoại các tỷ lệ cân đối của nền kinh tế.

Từ đầu thế kỷ XIX khi đại công nghiệp cơ khí xuất hiện, quá trình tái sản xuất của CNTB bị lâm vào những cuộc khủng hoảng kinh tế một cách chu kỳ.

Khủng hoảng kinh tế tư bản chủ nghĩa là khủng hoảng sản xuất “thừa”. Biểu hiện của nó là hàng hoá sản xuất không tiêu thụ được, công nhân bị thất nghiệp, xí nghiệp phải đóng cửa, thị trường xã hội rối loạn. “Thừa” hàng không có nghĩa là đã bão hòa với nhu cầu xã hội mà chỉ thừa so với sức mua của quần chúng lao động.

Khả năng khủng hoảng kinh tế đã tiềm tàng trong sản xuất hàng hoá giản đơn. Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, khủng hoảng kinh tế trở thành hiện thực. Nguyên nhân cơ bản sâu xa của khủng hoảng kinh tế dưới chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa tính chất và trình độ xã hội hoá cao của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Những biểu hiện chính của mâu thuẫn đó gồm:

1. Mâu thuẫn giữa tính có tổ chức, có kế hoạch trong từng xí nghiệp với tính chất tự phát vô chính phủ của sản xuất xã hội nhất là trong giai đoạn tự do cạnh tranh. Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản hiện đại mặc dù có sự can thiệp, điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư bản thông qua các kế hoạch và chương trình kinh tế nhưng nền tảng của nền kinh tế của xã hội tư bản vẫn không thay đổi. Do đó, các tỷ lệ cân đối của nền kinh tế vẫn bị phá vỡ vì nó phục tùng trước hết lợi ích của các tập đoàn tư bản độc quyền. Nhà nước tư sản hiện đại phải phục tùng ý chí của giai cấp tư sản.

2. Mâu thuẫn giữa xu hướng mở rông sản xuất vô hạn của chủ nghĩa tư bản và sức mua có hạn của quần chúng

3. Mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Đặc điểm của sản xuất TBCN là sự tách rời giữa tư liệu sản xuất và người lao động. Tư liệu sản xuất thì tập trung trong tay giai cấp tư sản còn người công nhân ngoài sức lao động của mình không còn gì để kiếm sống. Sự tách rời 2 yếu tố đó của sản xuất biểu hiện rõ rệt trong khủng hoảng kinh tế. Lúc này tư liệu sản xuất không được sử dụng còn người lao động không có việc làm.

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

NHẬN DIỆN MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG – XÃ HỘI

Mô hình này được thực hiện thành công ở khá nhiều nước Tây-Bắc Âu, điển hình là Đức (quê hương của mô hình KTTT - xã hội), Thụy Điển, Na Uy và Phần Lan. Xét theo tính chất đặc trưng, mô hình này còn có mặt ở một số nước khác, như: Đan Mạch, Hà Lan, Pháp và Bỉ với những mức độ khác nhau.

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2018

BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA LÀ KHÔNG THAY ĐỔI

Các nhà kinh điển Mác – Lênin chỉ rõ, nhà nước bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và nó chỉ ra đời từ khi xã hội có sự phân chia giai cấp; giai cấp nào thì nhà nước đó, hay nói cách khác: nhà nước mang bản chất của giai cấp sinh ra nó và phục vụ lợi ích của giai cấp ấy. Tuy nhiên, các nhà tư tưởng của giai cấp thống trị bóc lột lại luôn tìm cách che đậy, xuyên tạc bản chất giai cấp của nhà nước. Trước những biến đổi, thích nghi của nhà nước tư bản chủ nghĩa hiện nay, các học giả tư sản càng ra sức tuyên truyền quan điểm: nhà nước tư bản hiện đại đã thay đổi bản chất, đã khắc phục được hạn chế của nhà nước “cổ điển” trước đây để trở thành nhà nước phi giai cấp, “siêu giai cấp”, “nhà nước phúc lợi chung”, “nhà nước nhân dân tự do”, … thỏa mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của xã hội và bảo đảm được phúc lợi cho mọi người. Những quan điểm đó đã không phản ánh đúng bản chất vốn có của nhà nước tư sản mà còn che đậy, xuyên tạc bản chất đích thực của nhà nước; lừa bịp quần chúng nhân dân, làm chệch hướng mục tiêu đấu tranh giai cấp, biện hộ cho sự tồn tại của nhà nước, giai cấp thống trị.
Tại sao có thể khẳng định như vậy? Vì, trên cơ sở phân tích một cách lô-gic và khoa học, khách quan về tính tất yếu sự ra đời của nhà nước, chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định, nhà nước mang bản chất của giai cấp sinh ra nó; công cụ chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế dùng để thống trị, áp bức các giai cấp khác trong xã hội. Ph. Ăngghen viết: “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác, điều đó, trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ”. Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, không có nhà nước phi giai cấp, nhà nước chung chung của mọi giai cấp, mà nhà nước luôn mang bản chất, phục vụ cho giai cấp sinh ra nó.
Nhà nước tư bản chủ nghĩa là công cụ duy trì nền thống trị của giai cấp tư sản đối với nhân dân lao động, dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư. Điển hình như ở Mỹ hiện nay, từ khi lên nắm quyền, Tổng thống Donald Trump đã ban hành hàng loạt các chính sách, như: Luật cải cách thuế và quy định hủy bỏ một phần Đạo luật Chăm sóc y tế giá rẻ (Obamacare),… đã làm cho bất công xã hội gia tăng khi chỉ làm lợi cho những người giàu và siêu giàu, còn những người nghèo và trung lưu thì càng nghèo đi. Ngoài ra, với việc đảo ngược hàng trăm văn bản dưới thời kỳ Tổng thống B. Obama về môi trường, năng lượng, các chính sách mới của ông Trump được cho là phục vụ những ông chủ doanh nghiệp giàu có, đặt lợi nhuận lên trên yếu tố môi trường, an toàn cũng như sức khỏe của người dân. Do đó, không chỉ là thu nhập giàu nghèo, văn hóa, ý thức hệ, nước Mỹ còn đang chứng kiến sự chia rẽ về tôn giáo, sắc tộc,… khi tâm lý thù địch, chủ nghĩa da trắng thượng đẳng, phân biệt chủng tộc,… có xu hướng gia tăng nhiều nơi ngay trên đất Mỹ. Thượng nghị sĩ Bernie Sanders và 18 chính trị gia khác đã công bố thư ngỏ kêu gọi hành động để giảm mức chênh lệch giàu nghèo “đáng tủi hổ” ở nước Mỹ. Các chính trị gia này cũng đồng ý với nhận định của Liên hợp quốc, rằng: 1.500 tỷ USD giảm thuế của chính quyền Trump “hoàn toàn chỉ làm lợi cho người giàu, trong khi đẩy dân nghèo lún sâu vào cảnh khốn cùng”.
Như vậy, dù có che giấu dưới những hình thức tinh vi và bị khúc xạ qua những “lăng kính” như thế nào đi chăng nữa thì bản chất của nhà nước tư bản chủ nghĩa cũng không hề thay đổi, vẫn là công cụ bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Khẳng định vấn đề này để thống nhất nhận thức rằng: bản chất giai cấp của nhà nước là nhân tố quan trọng, quyết định đến đường lối xây dựng đất nước, mang lại sự công bằng, cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, chứ không phải “nhà nước nào, chế độ nào cũng được”. Nhà nước xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn, đang xây dựng là chế độ ưu việt, hơn hẳn nhà nước tư bản chủ nghĩa. Đó là tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dùng để cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xã hội mới, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ Sáu, 20 tháng 4, 2018

KHỦNG HOẢNG KINH TẾ LUÔN LÀ BẠN ĐỒNG HÀNH CỦA KINH TẾ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

Bất kỳ khủng hoảng nào cũng chỉ xuất hiện khi bị mất thăng bằng, bị mất cân đối giữa những phần cấu thành sự thống nhất. Trong phạm trù kinh tế thì khủng hoảng xuất hiện khi thăng bằng giữa cầu và cung của hàng hóa hoặc dịch vụ  bị mất. Có bao nhiêu lý thuyết về kinh tế, thì có bấy nhiêu loại khủng hoảng kinh tế. Và gần như tất cả các lý thuyết đều nói là không thể tránh khỏi khủng hoảng kinh tế được. Nó là một phần của hệ thống kinh tế và sẽ chỉ biến mất khi chúng ta xóa bỏ luật lệ kinh tế theo kiểu mẫu thị trường và kế hoạch.
Trường phái tự do chủ nghĩa khẳng định rằng kinh tế có tính chất chu trình, có thời kỳ phát triển và đổ vỡ, bởi vì nhu cầu tiêu dùng và đầu tư có dạng sóng. Còn chủ nghĩa Mác khẳng định rằng khủng hoảng tài chính là thuộc tính cần thiết của chủ nghĩa tư bản, vì mục tiêu chính trong hệ thống của chủ nghĩa tư bản đã khởi sự là phải thu lợi nhuận. Mô tả dưới dạng sơ đồ thì nó thể hiện câu chuyện như sau: mức độ sản xuất hàng hóa tăng lên và vượt nhu cầu tương ứng khả năng thanh toán thực tế, dẫn tới chuyện phải cho vay tiền để mua hàng hóa với mục tiêu tăng cầu. Nợ nần dần dần tích lũy, tiền-hàng hóa không cho vay được nữa và sự sản xuất rút ngắn lại vì không cần thiết. Bắt đầu qúa trình sa thải nhân viên-công nhân với quy mô lớn, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, mức độ sung túc trong cuộc sống và sinh hoạt sụt giảm.
 Chu kỳ như thế này của hệ thống kinh tế chủ nghĩa tư bản là định lý. Những thời kỳ phát triển mạnh mẽ và suy sụp chuyền từ tay nọ sang tay kia. Các nhà bác học đã cố gắng tìm hiểu lý do của những khủng hoảng từ lâu, nhưng chưa có kết qủa. Mỗi trường hợp là một câu chuyện khác nhau. “Theo bản chất của vòng tuần hoàn công nghiệp, thì một khi vòng tuần hoàn đã được người ta phát động, tất nhiên nó sẽ được tiếp tục cứ lặp đi lặp lại mãi theo chu kỳ. Ở thời kỳ tiêu điều, sản xuất giảm xuống đến mức mà nó đã đạt được trong vòng tuần hoàn trước, và đó lại là một nền sản xuất mà bây giờ người ta đã có một cơ sở kỹ thuật đích đáng. Trong thời phồn vinh – tức là thời kỳ trung gian – nền sản xuất tiếp tục phát triển trên cơ sở đó. Trong thời kỳ sản xuất quá thừa và đầu cơ, việc sản xuất đã huy động các lực lượng sản xuất đến mức tối đa, đến mức vượt ra khỏi các giới hạn tư bản chủ nghĩa của quá trình sản xuất” (C. Mác : tư bản tiếng Nga, Mạc tư khoa, 1955 q.III tr 505)

Như vậy, Các cuộc khủng hoảng đều diễn ra theo một trình tự đại thể như nhau, cho dù lĩnh vực và quốc gia hứng chịu đầu tiên, mức độ mạnh yếu, phạm vi lan tỏa, độ dài thời gian có thể khác nhau. Tóm lại, khủng hoảng kinh tế lặp đi lặp lại như một quy luật khách quan, vận hành theo một cơ chế đại thể như nhau với một số khác biệt tùy theo bối cảnh từng nước và từng thời kỳ. Cái khác căn bản là ngày nay, dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, tính tùy thuộc giữa các quốc gia quá chặt chẽ, đứng trước hiểm họa chung các nước đều phải cụm lại đối phó. Do đó, khủng hoảng đỡ nghiêm trọng hơn và không đưa tới chiến tranh thế giới.

Thứ Tư, 29 tháng 3, 2017

VÌ SAO PHẢI XÓA BỎ CHẾ ĐỘ TƯ HỮU

Chế độ tư hữu khiến cho con người bị tha hóa trên hai phương diện: một là, sự tha hóa của người công nhân trong sản phẩm lao động của anh ta; và hai là, sự tha hóa của người công nhân “trong bản thân hành vi sản xuất, trong bản thân hoạt động sản xuất”.
Ở phương diện thứ nhất, biểu hiện của sự tha hóa là, sản phẩm do lao động của người công nhân làm ra không những không thuộc về anh ta, mà còn “đối lập với lao động như một thực thể xa lạ, như một lực lượng không phụ thuộc vào người sản xuất”. “Người công nhân sản xuất càng nhiều của cải, sức mạnh và khối lượng sản phẩm của anh ta càng tăng thì anh ta càng nghèo”. “Người công nhân càng tạo ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thành một hàng hóa càng rẻ mạt. Thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trị thì thế giới con người càng mất giá trị”(1). Nói chung, anh ta làm ra càng nhiều vật phẩm thì số vật phẩm anh ta có thể chiếm hữu được càng ít và anh ta bị chính sản phẩm do mình làm ra – tư bản – thống trị càng mạnh.
Ở phương diện thứ hai, “sự tha hóa của công nhân trong sản phẩm của anh ta không chỉ có ý nghĩa là lao động của anh ta trở thành một vật phẩm, có được sự tồn tại bên ngoài, mà còn có ý nghĩa là lao động của anh ta tồn tại ở bên ngoài anh ta, không phụ thuộc vào anh ta, xa lạ với anh ta, và lao động ấy trở thành một lực lượng độc lập đối lập với anh ta, có nghĩa là đời sống mà anh ta truyền cho vật phẩm, chống lại anh ta như một đời sống đối địch và xa lạ”(2). Điều đó cũng có nghĩa là, trong lao động, đáng ra người công nhân khẳng định mình thì anh ta lại thấy mình “phủ định mình”, đáng ra người công nhân phải cảm thấy mình sung sướng thì anh ta lại “cảm thấy mình khổ sở”, đáng ra người công nhân “phát huy một cách tự do nghị lực thể chất và tinh thần” của mình thì anh ta lại cảm thấy mình đang “làm kiệt quệ thân thể của mình và phá hoại tinh thần của mình”.
Đến đây, câu hỏi đặt ra là, nếu sản phẩm người công nhân làm ra không thuộc về anh ta thì thuộc về ai? Tại sao trong quá trình lao động, người công nhân “cảm thấy mình bị tách khỏi bản thân mình”, cảm thấy lao động của mình là “lao động cưỡng bức” và chỉ xem lao động là “một phương tiện để thỏa mãn những nhu cầu khác” chứ không xem lao động là nhu cầu?
Câu trả lời là: sản phẩm do người công nhân làm ra thuộc về địa chủ và nhà tư bản – “những vị thần có đặc quyền và ăn không ngồi rồi và ở đâu cũng đều ở trên công nhân và định pháp luật cho công nhân”(3), bởi họ là những người nắm giữ tư liệu sản xuất. C.Mác gọi những người này là “những người sở hữu”. Còn người công nhân, trong thực tế, chỉ nhận được một phần rất nhỏ – “cái mà không có nó thì tuyệt đối không thể được: chỉ đúng cái cần thiết để người công nhân tồn tại – không phải như một con người mà như một công nhân và không phải để người công nhân duy trì loài người, mà duy trì giai cấp nô lệ – giai cấp công nhân”(4); bởi người công nhân không có sở hữu về tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt xã hội nên phải làm thuê để nhận một khoản tiền công ít ỏi, không tương xứng với lao động của anh ta từ những người sở hữu.
Cũng trong Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844, từ khái niệm lao động bị tha hóa được rút ra trong quá trình phân tích sự tha hóa của người công nhân, C.Mác đã chỉ rõ sở hữu tư nhân với tư cách sản phẩm của lao động bị tha hóa, Ông khẳng định, “một mặt, sở hữu tư nhân là sản phẩm của lao động bị tha hóa, và mặt khác, nó là phương tiện làm cho lao động bị tha hóa, là sự thực hiện sự tha hóa ấy”(5), C.Mác cũng chỉ ra cả “những người sở hữu” cũng bị tha hóa. Song, khác với hoạt động tha hóa ở người công nhân, sự tha hóa của “những người sở hữu” biểu hiện ra là “trạng thái tha hóa”(6). Trạng thái tha hóa này là: “Tư bản sợ tình trạng không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít, cũng như giới tự nhiên sợ chân không. Với một lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can đảm. Được bảo đảm 10 phần trăm lợi nhuận thì người ta có thể dùng tư bản vào đâu cũng được; được 20 phần trăm thì nó hoạt bát hẳn lên; được 50 phần trăm thì nó trở nên thật sự táo bạo; được 100 phần trăm thì nó chà đạp lên mọi luật lệ của loài người; được 300 phần trăm thì không còn tội ác nào là nó không dám phạm, dù có nguy cơ bị treo cổ”(7).
Tựu trung lại, chế độ tư hữu khiến cho con người trở nên xa lạ với chính mình và làm biến mất “tồn tại có tính chất người” của con người. Chế độ tư hữu khiến cho giá trị con người bị hạ thấp xuống chỉ bằng máy móc, khiến cho người công nhân “cảm thấy mình chỉ còn là con vật” trong những chức năng con người của anh ta, khiến cho “cái vốn có của súc vật trở thành chức phận của con người, còn cái có tính người thì biến thành cái vốn có của súc vật”(8). Do đó, “xóa bỏ chế độ tư hữu” là cần thiết và tất yếu. “Xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu” là một giải pháp để giải phóng con người, mà trước hết là những người công nhân không có sở hữu, khỏi ách thống trị của chế độ tư hữu và trả lại cho con người một đời sống đích thực thay vì một “đời sống bị tha hóa”.

Song, theo quan niệm của C.Mác, cần lưu ý rằng, chủ nghĩa cộng sản không xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà cụ thể là, xóa bỏ “chế độ sở hữu tư sản” – “biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột những người kia”(9). Theo nghĩa đó, lý luận về sự xóa bỏ “chế độ sở hữu tư sản” của chủ nghĩa cộng sản có thể được “tóm tắt” thành một luận điểm duy nhất là: “xóa bỏ chế độ tư hữu”. 
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.42. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.128.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.42, tr.129-130.
(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.42, tr.79.
(4) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.42, tr.79.
(5) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.42, tr.142.
(6) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.42, tr.145.
(7) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd.,  t.23, tr.1056.
(8) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.42. tr.133.
(9) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t. 4, tr.615.