Hiển thị các bài đăng có nhãn kiểm soát. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kiểm soát. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

MỘT SỐ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Trong xây dựng cơ chế, đồng chí Tổng Bí thư nhắc đến rất nhiều như: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước có hệ thống pháp luật hiện đại, chặt chẽ, và thực hiện nghiêm minh. Vì thế, cần phải “đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật và tổ chức thi hành nghiêm túc, bảo đảm đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước nhanh và bền vững”. Cần “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường... khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Trước hết, tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở thống nhất nhận thức đây là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chú trọng xây dựng, hoàn thiện các thể chế, chính sách để giải quyết hiệu quả, hài hòa mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội. Đặc biệt, phải tạo được những bước đột phá thực sự về thể chế để giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, rất thiết thực và cụ thể”.

Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu “các cơ quan nội chính đã thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược, đề xuất với Đảng, Nhà nước nhiều chủ trương, chính sách lớn về lĩnh vực nội chính, phòng, chống tham nhũng và cải cách tư pháp”; “thực hiện tốt vai trò là nòng cốt trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, tạo môi trường hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển đất nước”.

Trong tổ chức thực hiện cơ chế, đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu phải “khắc phục bằng được sự yếu kém, chậm trễ trong công tác lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chủ trương, luật pháp, chính sách, thực thi công vụ. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực; nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Tiếp tục thực hiện chiến lược cải cách tư pháp; nâng cao uy tín và hiệu quả của hoạt động tư pháp”.

Đặc biệt, người kiểm soát quyền lực cũng phài chịu sự kiểm soát quyền lực: “Để hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra, giám sát trong bối cảnh hiện nay, điều quan trọng quyết định là phải tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra; phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Các cơ quan kiểm tra cùng với các cơ quan nội chính, thanh tra, điều tra, kiểm sát, xét xử phải thật sự là những “thanh bảo kiếm” sắc bén, có phẩm chất đạo đức trong sáng, trong sạch, chí công vô tư, có dũng khí đấu tranh ngăn chặn những việc làm sai trái, lợi ích nhóm, mưu lợi cá nhân. Cán bộ kiểm tra phải là những chiến sĩ kiên cường, có bản lĩnh, nắm chắc các cơ chế, chính sách, Điều lệ Đảng, các quy chế, quy định của Đảng và Nhà nước; đặc biệt phải có dũng khí đấu tranh, chính trực và hơn ai hết phải liêm, phải sạch. Không liêm, không sạch thì không nói được ai, không kiểm tra, giám sát, không kỷ luật được người khác. Phải chống tiêu cực ngay trong các cơ quan và cá nhân những người làm công tác chống tiêu cực. Phải không ngừng nâng cao trình độ, kiến thức; luôn phấn đấu, rèn luyện tác phong công tác, không kiêu ngạo, không say sưa với thành tích, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, tâm huyết, kiên quyết và trách nhiệm cao trong nghề nghiệp; phải thực sự gương mẫu trong cuộc sống và công tác, thực sự công tâm, khách quan, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải là những “Bao Công” trong thời đại mới. Nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát trong thời gian tới hết sức nặng nề. Cán bộ kiểm tra luôn phải đối mặt, đấu tranh với những sai phạm, tiêu cực của đồng chí, đồng đội và cả những người thân; luôn phải đấu tranh với chính mình để không phạm phải những cám dỗ đời thường. Đó là thách thức không nhỏ”.

Để xây dựng được đội ngũ “Bao Công” nêu trên, đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu phải“Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng. Xây dựng, hoàn thiện các quy chế, quy định để ngăn ngừa có hiệu quả sự tác động tiêu cực, không lành mạnh vào hoạt động của các cơ quan này. Đặc biệt, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng thật sự có bản lĩnh, thật sự liêm chính, trong sạch; không chịu bất cứ sức ép không trong sáng nào của tổ chức, cá nhân; bất cứ sự cám dỗ, mua chuộc nào của những kẻ phạm tội. Có chính sách đãi ngộ hợp lý, tạo động lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng nỗ lực phấn đấu, toàn tâm, toàn ý với công việc. Tôi đã nhiều lần nói: Phải phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực!”.

Với những kết quả nổi bật về phòng, chống tham nhũng trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, với tinh thần không ngừng, không nghỉ trước nguy cơ tham nhũng của Đảng duy nhất cầm quyền, những nội dung kiểm soát quyền lực chính trị trong cuốn sách có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, là những chỉ dẫn quan trọng để các tổ chức đảng, đảng viên và nhân dân cùng hệ thống chính trị thực hiện trong thời gian tới./.

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CẦN QUÁN TRIỆT TRONG VIỆC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Một là, phải xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, khoa học, hiệu lực và hiệu quả.

Đồng chí Tổng Bí thư cho rằng, để kiểm soát tốt quyền lực chính trị thì trước hết phải xây dựng được thể chế đầy đủ, chặt chẽ, làm căn cứ để thực hiện phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Người có chức, có quyền không thể tham nhũng được nếu có các quy định pháp lý chặt chẽ, đầy đủ, công khai, minh bạch và được kiểm tra, giám sát thường xuyên. Vì vậy, đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu phải “tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng”.

Hai là, phải thực hiện đúng pháp luật và kiểm tra thường xuyên.

Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu các cơ quan chức năng của cả hệ thống chính trị phải “tích cực, chủ động, tham mưu có hiệu quả cho Đảng lãnh đạo, chỉ đạo, đồng thời là lực lượng chủ công trong công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm kịp thời, nghiêm minh, góp phần hiện thực hóa và khẳng định quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.

Ba là, phải xử lý kỷ luật nghiêm minh những sai phạm.

Đồng chí Tổng Bí thư nhiều lần khẳng định rõ và nhất quán quan điểm: “Công tác phát hiện và xử lý tham nhũng được chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống tham nhũng, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng. Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu cán bộ: “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào”. “Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm. Kỷ luật một vài người để cứu muôn người và sẽ còn phải tiếp tục làm quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới”.


NỘI DUNG CHÍNH CỦA KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Kiểm soát quyền lực chính trị đương nhiên phải bằng cơ chế và tổ chức thực thi cơ chế. Cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị là hệ thống các thiết chế tổ chức thực hiện và phương thức vận hành để kiểm soát quyền lực trong thể chế chính trị nhằm làm cho các quy định về quyền và thực hiện quyền lực chính trị được thực hiện đầy đủ và đúng đắn. Nội dung của kiểm soát quyền lực chính trị cũng chính là việc xây dựng cơ chế, thể chế và thực thi cơ chế, thể chế đó trên thực tiễn.

Mặc dù được đề cập trong các bài viết khác nhau, không có điều kiện để lý giải đầy đủ hệ thống các thiết chế và phương thức vận hành để kiểm soát quyền lực trong thể chế chính trị nhưng đồng chí Tổng Bí thư cũng đã tập trung đề cập khá đầy đủ. Đó là các cơ chế tự kiểm soát quyền lực (đối với từng chủ thể), kiểm soát lẫn nhau và kiểm soát của nhân dân đối với nhà nước; đề cập khá đầy đủ các chủ thể được giao quyền lực chính trị và thực thi quyền lực chính trị:

Đối với Đảng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo để Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật nhưng khi đó có luật pháp, Đảng lại là lực lượng tiên phong, gương mẫu trong thực hành pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình. Đảng kiểm soát quyền lực của nội bộ Đảng (theo Điều lệ Đảng) đồng thời kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ (theo pháp luật).

Lịch sử dân tộc hơn 92 năm qua đã minh chứng, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Với kinh nghiệm và quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định:“Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tuỵ, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.

Đối với Nhà nước, với vị trí trung tâm của quyền lực chính trị, Nhà nước được tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.

Theo đó, Quốc hội thực hiện giám sát tối cao việc tuân theo pháp luật, nghị quyết của Quốc hội. Hội đồng nhân dân các cấp giám sát việc tuân theo pháp luật và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Đồng chí Tổng Bí thư đề nghị Quốc hội: “Tiếp tục đổi mới, bổ sung các đạo luật ở các lĩnh vực trọng điểm có ý nghĩa then chốt, có tính khả thi cao, rạo ra sự bứt phá về phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, nhất là giám sát chuyên đề… chú trọng giám sát lĩnh việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát”.

Kiểm toán nhà nước kiểm soát việc chấp hành pháp luật đối với cơ quan nhà nước về sử dụng tài chính, tài sản công. Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý theo pháp luật. Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân. Ngoài những yêu cầu về năng lực quản lý đất nước về mọi mặt của Chính phủ để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: “Kiên quyết loại bỏ những phần tử hư hỏng, thoái hoá về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cục bộ, ưu ái tuyển dụng người nhà, người thân không đủ tiêu chuẩn. Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức”.

Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các thành viên của Mặt trận thực hiện giám sát và phản biện mang tính xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Nhân dân cũng giám sát Đảng, (Đảng chịu sự giám sát của Nhân dân - Hiến pháp), giám sát cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước, góp ý xây dựng Đảng, Nhà nước. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng có vai trò quan trọng trong giám sát việc thực thi pháp luật đối với cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước. Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội không chỉ làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, đoàn viên mà còn phải “Tiếp tục chú trọng tham gia sâu hơn, toàn diện, hiệu quả hơn và động viên nhân dân tích cực tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Phát huy vai trò tích cực trong tham gia kiểm soát quyền lực, giám sát để quản lý xã hội công khai, minh bạch”.

VAI TRÒ CỦA KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

Thể chế chính trị ở nước ta có những nét đặc thù: Đảng Cộng sản Việt Nam là lược lượng duy nhất được nhân dân thừa nhận giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Nhà nước quản lý xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và phục vụ lợi ích của nhân dân; Nhân dân làm chủ thông qua các hình thức dân chủ và đại diện. Các thành tố trong hệ thống chính trị đều thống nhất về mục tiêu phấn đấu vì lợi ích của nhân dân. Đây là nét khác biệt với các thể chế chính trị khác bởi họ bảo vệ trước hết cho lợi ích của giai cấp cầm quyền.

Đồng chí Tổng Bí thư giải thích rõ bản chất của chế độ chính trị của nước ta: “Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, là hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quan là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ… Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội”. Nhân dân tin tưởng uỷ quyền, trao quyền lực chính trị cho Đảng, cán bộ, công chức nhà nước trở thành công bộc của nhân dân. Vì thế, Tổng Bí thư yêu cầu phải:“Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực”.

TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ

Xã hội nào muốn tồn tại, phát triển cũng đều phải được quản trị bằng hệ thống chuẩn mực đạo đức xã hội và bằng hệ thống luật pháp, nhất là trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng diễn đạt thật dung dị, dễ hiểu, dễ nhớ về tính tất yếu phải thực hiện những chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật ở mỗi thể chế chính trị: “Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hoà thuận hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp (nếp nhà): “Trên kính dưới nhường”, tôn ti trật tự, không thể vô lễ, vô phép, “cá mè một lứa”, “thượng hạ bằng đẳng”...; không có cái kiểu “Nhà kia lỗi phép con khinh bố/Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng” như cụ Tú Xương đã từng phê phán; như thế là một gia đình vô phúc. Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có “nội quy”; một tổ chức, đoàn thể phải có “quy chế”, có “điều lệ”...”; Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước”.

Như vậy, quyền lực trong thể chế chính trị là vấn đề không thể thiếu để duy trì trật tự xã hội, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng nhưng quyền lực chính trị cũng có xu hướng bị lạm dụng để vun vén lợi ích cá nhân bởi những người được trao nắm quyền. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhân cử ra để duy trì trật tự pháp lý đó cũng có thể lạm quyền, lộng quyền và vi phạm pháp luật và vì thế, cũng cần phải có chế tài xử lý nghiêm minh để xã hội thực sự công bằng, thể hiện thượng tôn pháp luật. Vì vậy, kiểm soát quyền lực chính trị là tất yếu khách quan đối với bất cứ thể chế chính trị nào.


KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC – “THANH BẢO KIẾM NHIỆM MÀU” PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

Trong điều kiện đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm vấn đề kiểm soát quyền lực khi trao cho cán bộ, đảng viên. Bởi vì, “Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư”. Do đó, nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha” bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”. Theo Hồ Chí Minh, muốn kiểm soát quyền lực phải có hai điều: “Một là việc kiểm soát phải có hệ thống, phải thường xuyên làm. Hai là, người đi kiểm soát phải là những người rất có uy tín”.

Để kiểm soát quyền lực thì việc lựa chọn cán bộ phụ trách kiểm tra, giám sát, kiểm soát là yêu cầu quan trọng bậc nhất. Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải chú trọng lựa chọn những người biết đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, phải có tinh thần “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và “ít lòng tham muốn vật chất”, không vì cảnh nghèo mà thay lòng đổi dạ sinh ra bất liêm. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc. Theo Người, đây chính là căn cứ quan trọng bậc nhất trong đánh giá, lựa chọn cán bộ đảm trách công tác kiểm tra, giám sát. Đồng thời, phải lựa chọn những người có đủ uy tín, kinh nghiệm, năng lực trình độ để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực. Không phải gặp việc gì, gặp ai cũng có thể phái đi kiểm tra, giám sát, kiểm soát được. Do đó, Hồ Chí Minh cho rằng: cán bộ phụ trách công tác kiểm tra trước hết phải là người lãnh đạo và “người lãnh đạo cần phải có một nhóm cán bộ nhiều kinh nghiệm và giàu năng lực để giúp mình đi kiểm tra”. Trong công tác kiểm tra, người lãnh đạo cần chú trọng xây dựng một đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và phải chịu trách nhiệm đối với công tác kiểm tra của mình. Đồng thời, Hồ Chí Minh phê phán rất nghiêm khắc những người lãnh đạo, cán bộ kiệm tra mắc bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy: “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”.

Song song với việc lựa chọn cán bộ, để đảm bảo công tác kiểm tra, kiểm soát quyền lực thực sự là “thanh bảo kiếm nhiệm màu” trong phòng, chống tham nhũng đòi hỏi phải có phương pháp đúng, nghĩa là kiểm tra, kiểm soát phải có hệ thống và sát thực tiễn. Mục đích của việc kiểm tra, kiểm soát quyền lực nói chung, trong đấu tranh phòng chống tham nhũng nói riêng là “để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”, tuyệt nhiên không phải là hành động “bới bèo ra bọ, quét nhà ra rác” rồi tìm cách hạ uy tín, hạ bệ nhau. Đối tượng kiểm tra theo Hồ Chí Minh bao gồm: Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác - mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy. Trong quá trình kiểm tra không nên chỉ căn cứ vào các báo cáo, mà phải sâu sát thực tiễn đi đến tận nơi. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, hiệu quả công việc chính là thước đo đánh giá kết quả sử dụng quyền lực ủy thác. Thông qua công tác kiểm tra để xem những nghị quyết đó đã thực hành được đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, nhân dân có ra sức tham gia hay không. Trên cơ sở đó vừa phát huy ưu điểm, phát hiện cái mới, cái tốt hơn nhằm điều chỉnh phương thức lãnh đạo sát hợp hơn; đồng thời, ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện quan liêu, xa dân, không sâu sát thực tiễn trong tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Ngoài ra, để kiểm tra, kiểm soát quyền lực không chỉ dựa vào lực lượng chuyên trách mà quan trọng nhất cần phải dựa vào tai mắt của nhân dân. Trên thực tế, hầu hết các vụ việc tham nhũng đều do nhân dân phát hiện và tố giác. Muốn phát huy vai trò của nhân dân trong kiểm tra, kiểm soát quyền lực, theo Hồ Chí Minh, Đảng phải giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân; phải công khai mọi hoạt động của Nhà nước; phải hình thành các thiết chế dân chủ để mọi người dân “biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”. Đây chính là cơ sở để người dân tham gia kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, của mọi cán bộ, đảng viên trong Nhà nước. Trên cơ sở đó, các hành vi tham nhũng dù tinh vi đến đâu cũng không thể che mắt nhân dân. Cán bộ phụ trách công tác kiểm tra phải thường xuyên gần gũi dân, lắng nghe dân, bảo vệ dân và học hỏi dân để phát hiện tiêu cực, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng.

Trên cơ sở kết quả kiểm tra cần phải công khai trừng trị cán bộ, đảng viên đã tha hóa, biến chất, suy thoái để răn đe, cảnh tỉnh và nêu gương “tự chỉnh đốn” trước quần chúng. Theo Hồ Chí Minh, Đảng không dũng cảm cắt bỏ ung nhọt, sâu bệnh sẽ rất khó để phòng ngừa tham nhũng. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh bác đơn xin ân giảm án tử hình của Đại tá, Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu được coi là điển hình của tinh thần “thượng tôn” pháp luật, đức trị kết hợp với pháp trị - thực sự có sức mạnh răn đe đối với những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, tha hóa quyền lực vào thời điểm lúc bấy giờ.

Thứ Tư, 15 tháng 12, 2021

THÍCH ỨNG AN TOÀN, LINH HOẠT, KIỂM SOÁT CÓ HIỆU QUẢ DỊCH COVID – 19

Đại dịch COVID-19 đã và đang thay đổi cách sống, làm việc và kết nối của con người trong xã hội. "Trạng thái bình thường mới" do đại dịch COVID-19 đặt ra những vấn đề mới cho quản lý trên bình diện quốc gia và toàn cầu, đòi hỏi phải có những điều chỉnh chính sách thích hợp và khôn khéo. Chính sách ứng phó trong "trạng thái bình thường mới" do dịch COVID-19, lấy phục hồi và phát triển kinh tế là trung tâm nhưng để phát triển bền vững thì con người và môi trường mới là cái đích và nền tảng mà Đảng và Nhà nước ta đã nhiều lần khẳng định.

Trong gần 2 năm qua, Việt Nam phòng, chống đại dịch COVID-19 trong điều kiện bị động; hầu như toàn bộ trang thiết bị, máy móc, sinh phẩm, vaccine và thuốc chữa bệnh đều phải nhập khẩu; nền kinh tế còn khó khăn; các biện pháp công nghệ cũng chưa bảo đảm; việc phân cấp, phân quyền còn không ít bất cập. Tuy nhiên, Việt Nam đang xây dựng hướng dẫn thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch bệnh COVID-19. Với việc Chính phủ đề ra 6 nguyên tắc phải quán triệt sâu rộng trong toàn bộ hệ thống xã hội: Y tế là trụ cột, là trung tâm; kinh tế là cơ sở, là nền tảng; dữ liệu khoa học, công nghệ là then chốt; ổn định chính trị-xã hội là trọng yếu và thường xuyên; vaccine, thuốc chữa bệnh và ý thức người dân là điều kiện tiên quyết; an toàn để sản xuất, sản xuất phải an toàn. Phải kết hợp hài hòa giữa tổng thể và cụ thể, giữa phổ biến và đặc thù, chính sách chung nhưng tổ chức thực hiện phải linh hoạt, phù hợp đặc thù từng nơi, từng thời điểm.

Chính phủ đang khẩn trương xây dựng hướng dẫn tạm thời để thực hiện chủ trương chuyển trạng thái từ "không COVID" sang "thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát có hiệu quả dịch COVID-19". Tuy nhiên, do chính sách có phạm vi rộng lớn, song lại khoanh hẹp đến tận phường, xã, thị trấn, đến tổ dân phố, ấp, bản, thôn và tác động tới toàn bộ các đối tượng là nhân dân, doanh nghiệp… nên phải có bước đi thận trọng, chắc chắn, rõ đến đâu làm đến đó, vừa làm vừa bổ sung, sơ kết, đúc rút kinh nghiệm rồi hoàn thiện dần. Để chiến thắng đại dịch COVID chúng ta cần phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, vừa điều chỉnh cho kịp thời, phù hợp. Để làm được điều này, cần phải tổ chức thu thập dữ liệu cho đầy đủ, khách quan. Đồng thời, cần tiếp cận nhanh chóng thông tin, dữ liệu và tri thức của thế giới trong phòng, chống dịch COVID-19. Các giải pháp trong phòng, chống đại dịch COVID-19 trong "trạng thái bình thường mới" cần được xây dựng và thực hiện một cách tổng thể, đồng bộ từ chính hệ thống các thiết chế xã hội có liên quan, đó là: thiết chế y tế, thiết chế pháp luật, thiết chế chính trị, thiết chế kinh tế, thiết chế gia đình, thiết chế giáo dục, thiết chế đạo đức, thiết chế văn hóa, thiết chế khoa học-công nghệ, thiết chế truyền thông, thiết chế dư luận xã hội…

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2021

THÍCH ỨNG AN TOÀN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Trong phạm vi nhất định, có thể nói, hạn chế là khó tránh khỏi, nhất là khi diễn biến dịch bệnh trong nước cũng như trên thế giới còn rất phức tạp. Tuy nhiên dựa vào một vài thiếu sót đó, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí đã cố tình bóp méo, xuyên tạc nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong phòng, chống dịch bệnh.

Bằng việc áp dụng Nghị quyết 128/NQ-CP về Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” (Nghị quyết 128), từ ngày 11/10 đời sống của người dân trên cả nước cơ bản đã trở lại trạng thái bình thường mới. Dịch COVID-19 được phân loại theo bốn cấp độ tương ứng với các mầu xanh, mầu vàng, mầu cam, mầu đỏ trên quy mô từ cấp xã, nên mỗi địa phương có thể tự chủ động thực hiện đánh giá cấp độ dịch dựa trên tỷ lệ ca mắc mới tại cộng đồng/số dân/thời gian, độ bao phủ vắc-xin, khả năng thu dung, điều trị các tuyến. Đến nay cơ bản tất cả 63 tỉnh, thành phố trên cả nước đã triển khai đúng với tinh thần chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Y tế về công bố cấp độ dịch, phục hồi sản xuất, lưu thông hàng hóa, từ đó đem lại nhiều kết quả khả quan. Có thể nói đây là một bước tiến về tư duy trong phòng, chống dịch, hình thành sự thống nhất trên toàn quốc, không còn tình trạng cục bộ ở từng địa phương, giải tỏa các yếu tố từng gây trở ngại trong đời sống nhân dân, ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội. 

Sau gần một tháng thực hiện Nghị quyết 128, dựa trên tình hình thực tế riêng, các địa phương ban hành kế hoạch thích ứng, phương án phòng, chống dịch cũng thay đổi linh hoạt theo thời điểm, trong đó có vấn đề cần quan tâm nhất là kiểm soát lượng người từ vùng dịch trở về. Sau khi Nghị quyết 128 được áp dụng, hàng trăm nghìn người từ TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh Bình Dương, Long An,… trở về các tỉnh phía nam, miền trung, miền bắc, dẫn đến xuất hiện nhiều F0 ở nhiều địa phương. Thực tế này yêu cầu mỗi địa phương phải linh hoạt trong phòng, chống dịch, không thể chủ quan, lơ là trong kiểm tra, giám sát, kiểm soát người mới trở về, đồng thời tổ chức tốt việc xét nghiệm, cách ly và các biện pháp khác không để dịch lây lan ra cộng đồng. Những người đã tiêm đủ hai mũi vaccine được theo dõi sức khỏe tại nhà, xét nghiệm theo quy định, và thực hiện tốt 5K, tùy điều kiện mà người chưa tiêm được tiến hành cách ly tại nhà hay tập trung, luôn có sự giám sát của chính quyền, cơ quan y tế địa phương. Cách làm này thực sự đã mang lại hiệu quả, người dân giảm căng thẳng tâm lý, chính quyền cũng không phải sử dụng quá nhiều nguồn lực phòng, chống dịch. Với cách thức chống dịch mới theo tinh thần Nghị quyết 128, yếu tố sống còn, tiên quyết là năng lực quản lý, giám sát của mỗi địa phương. Thực tế cho thấy địa phương nào không chủ quan, “thả lỏng” thì dù lúc đầu tình hình phức tạp nhưng sau đó do chủ động phòng, chống nên dịch bệnh đã nhanh chóng bị khống chế, bảo đảm an toàn đời sống của người dân, cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh. 

Một vấn đề quan trọng để bảo đảm thích ứng dịch bệnh tình hình mới là bao phủ vaccine, vì đây là một trong các tiêu chí để phân loại cấp độ dịch ở từng địa phương. Theo thống kê trên Cổng thông tin tiêm chủng quốc gia, đến nay cả nước đã tiêm được hơn 85 triệu liều vaccine. 62 trong số 63 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ người dân trong độ tuổi được tiêm ít nhất 1 liều vaccine đạt từ 50% trở lên. Có 54 địa phương đạt tỷ lệ phủ mũi 1 là 70% trở lên. Đầu tháng 11 bắt đầu triển khai chương trình tiêm vaccine cho trẻ em từ 12 tuổi đến 17 tuổi, hiện đã có 6 địa phương đang tiêm cho đối tượng này. Theo chỉ đạo của Bộ Y tế, từ đầu tháng 11, sẽ đẩy nhanh tốc độ tiêm vaccine khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên, vì đây là các khu vực hiện đang xuất hiện một số ổ dịch phức tạp, độ phủ vaccine chưa cao. Ngoài ra, các địa phương cũng cam kết chuẩn bị đủ cơ sở vật chất, hệ thống điều trị, giường bệnh cho tình huống xuất hiện nhiều ca nặng để kiểm soát dịch, giảm tối đa số người chết; đồng thời xác định nâng cao năng lực điều trị cho cán bộ, nhân viên y tế là tiêu chí quan trọng quyết định việc nâng hoặc hạ cấp mức độ dịch ở mỗi địa phương.

Song song với chiến lược thích nghi an toàn chống dịch là chiến lược khôi phục, phát triển kinh tế, đó là hai nội dung cốt lõi của Nghị quyết 128. Bên cạnh các giải pháp phòng, chống dịch linh loạt, việc mở cửa để tổ chức sản xuất, kinh doanh đã góp phần giảm nỗi lo lắng và sức ép tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi giúp người dân, doanh nghiệp trở lại hoạt động có hiệu quả, giúp kinh tế dần phục hồi. Tất nhiên, trong khi tình hình dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, khó lường, các doanh nghiệp không thể hoàn toàn chủ động, nhưng quy chiếu những quy định của Nghị quyết 128 vào tình hình cụ thể, mỗi địa phương, doanh nghiệp có thể chủ động hoạch định kế hoạch hoạt động, phần nào yên tâm sản xuất, kinh doanh. Nghị quyết 128 được ví như đã mở ra “cánh cửa”, cho phép doanh nghiệp trong mọi tình huống, diễn biến của dịch vẫn có thể sản xuất, chỉ cần đáp ứng tốt yêu cầu phòng, chống dịch trên địa bàn. Có thể thấy gần một tháng qua, việc lưu thông hàng hóa cơ bản thông suốt, nhiều doanh nghiệp đã sản xuất trở lại, đây được xem là cơ hội tăng tốc để đạt hiệu quả tối đa trong những tháng cuối năm.

Như vậy, một thời gian dài sau khi làn sóng thứ tư dịch COVID-19 bùng phát (từ cuối tháng 4), nhiều tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách theo các Chỉ thị 15, 16, 19 kéo dài gây khó khăn cho cuộc sống của người dân, ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế, thì việc thay đổi phương án chống dịch linh hoạt và duy trì sản xuất, kinh doanh là việc làm kịp thời, cần thiết. Tuy nhiên, quan điểm của Chính phủ và Bộ Y tế rất cụ thể, và cả nước cần thông suốt nguyên tắc thích ứng không có nghĩa chủ quan, lơ là phòng, chống dịch mà là phòng, chống dịch với tinh thần mới. Theo đó, dù không phải “chôn chân” tại chỗ như trước, người dân và doanh nghiệp vẫn phải chịu sự kiểm soát một cách khoa học, chặt chẽ, linh hoạt của chính quyền. Chính vì thế, cần phải nhìn thẳng vào một thực tế cần nhanh chóng khắc phục là trong khi đa số địa phương triển khai tốt Nghị quyết 128 thì ở một vài địa phương vẫn tồn tại tình trạng chưa thống nhất từ trên xuống dưới, còn thiếu đồng bộ trong chỉ đạo, thực hiện phòng, chống dịch, đáng chú ý là tình trạng trì trệ, thiếu sáng tạo, thiếu linh hoạt, chống dịch như là theo bản năng, không dựa trên cơ sở khoa học, các yếu tố dịch tễ… 

Trong phạm vi nhất định, có thể nói, hạn chế là khó tránh khỏi, nhất là khi diễn biến dịch bệnh trong nước cũng như trên thế giới còn rất phức tạp. Tuy nhiên dựa vào một vài thiếu sót đó, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí đã cố tình bóp méo, xuyên tạc nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong phòng, chống dịch bệnh. Như sau khi Nghị quyết 128 được ban hành, một số phương tiện truyền thông ở nước ngoài lập tức cho rằng đó là thể hiện “thất bại” của Việt Nam trong phòng, chống dịch, hoặc vin vào một vài trường hợp cá biệt để “bé xé ra to” cho rằng chống dịch ở Việt Nam có tình trạng “trên bảo dưới không nghe”! Họ vẫn sử dụng thủ đoạn quen thuộc: một mặt cố tình phủ nhận thành quả phòng, chống dịch của Việt Nam; một mặt thổi phồng một vài hạn chế để suy diễn, quy kết làm ảnh hưởng tới uy tín của Việt Nam, và tác động làm giảm lòng tin của nhân dân. 

Trong quá trình triển khai Nghị quyết 128, bên cạnh việc tổ chức tập huấn quy mô cho lực lượng chống dịch ở các địa phương, Thủ tướng Chính phủ thường xuyên tổ chức nhiều cuộc họp trực tuyến để trực tiếp đánh giá, biểu dương, phê bình, chấn chỉnh. Việc làm này là bình thường và cần thiết, thể hiện sự sâu sát của một Chính phủ vì dân, hàng ngày, hàng giờ sát cánh cùng nhân dân, kiểm soát dịch bệnh. Phải khẳng định, trong gần hai năm dịch bệnh hoành hành, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã làm hết sức mình, cùng nhân dân chống chọi, đẩy lùi dịch bệnh trong điều kiện muôn vàn khó khăn, và đó là điều không thể phủ nhận. Đặc biệt, các kết quả khả quan đạt được từ khi áp dụng Nghị quyết 128 trong thời gian qua cho thấy Đảng, Nhà nước luôn lấy lợi ích của người dân, doanh nghiệp lên hàng đầu trong hoạch định chính sách. Chính phủ luôn có giải pháp phù hợp từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể để phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi đại dịch. Nghị quyết 128 xác định mục tiêu sống còn là bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của người dân, hạn chế đến mức thấp nhất số ca mắc bệnh nặng, đặc biệt là số người chết do COVID-19, từng bước khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội, thực hiện mục tiêu kép, đưa cả nước chuyển sang trạng thái bình thường mới sớm nhất có thể, qua đó củng cố, tăng cường niềm tin của toàn dân. Với hàng loạt giải pháp cụ thể được hướng dẫn kỹ càng cho các địa phương, có thể thấy, Chính phủ và các cấp, các ngành, địa phương luôn ưu tiên hàng đầu công tác kiểm soát dịch bệnh, không để lây lan bùng phát trong cộng đồng. Bám sát diễn biến thực tế, vừa làm vừa điều chỉnh, rút kinh nghiệm, bổ sung hoàn thiện sao cho phù hợp với tình hình là cách phòng, chống dịch sáng suốt, thông minh, nhờ đó mọi khó khăn đều được giải quyết kịp thời, nhanh chóng điều chỉnh, xử lý hiệu quả vấn đề bất cập nảy sinh trong bối cảnh mới. Đó là cơ sở để vừa qua Tổ chức Y tế thế giới đánh giá cao cách tiếp cận toàn dân trong phòng, chống dịch COVID-19 của Việt Nam. Dù trước mắt dịch COVID-19 còn diễn biến khó lường, thời điểm hiện tại nhiều địa phương đang phải đối mặt nguy cơ bùng phát dịch trong cộng đồng, nhưng với sự tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành liên quan và các địa phương, của các lực lượng tuyến đầu, đặc biệt là vai trò của toàn dân, cùng với các kinh nghiệm phòng, chống dịch đã tích lũy, chúng ta hoàn toàn tin tưởng công tác phòng, chống dịch COVID-19 ở Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục tạo ra những chuyển biến tích cực, cuộc sống mọi mặt của người dân Việt Nam được ổn định và phát triển./.

Hội Vũ (nhandan.vn)

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ QUYỀN LỰC

Một là, cụ thể hóa các biểu hiện tha hóa quyền lực đối với từng vị trí, lĩnh vực công tác, trước hết là của cán bộ lãnh đạo, quản lý để biết và thực hiện, tự phòng tránh không mắc phải sự tha hóa quyền lực dù là nhỏ nhất là cách tốt nhất để phòng ngừa với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

Hai là, thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực theo nguyên tắc quyền hạn đi đôi với trách nhiệm, mọi quyền lực đều phải được kiểm soát. Xây dựng quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể, cá nhân, bảo đảm phải rõ quyền, đủ quyền, đúng quyền và thực quyền. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế phản biện, chất vấn, giải trình để bảo đảm công khai, minh bạch; xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm hoặc đùn đẩy, né tránh, trả thù, trù dập. Nghiên cứu xây dựng quy định phát huy vai trò, trách nhiệm, quyền của các đại biểu dự đại hội đảng các cấp trong suốt cả nhiệm kỳ, trước hết là quyền chất vấn, kiểm tra, giám sát đối với các cấp ủy viên do mình bầu ra. Xây dựng các quy định về báo cáo công việc liên quan đến công tác cán bộ (tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng....) của cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền các cấp. Hoàn thiện và đổi mới các quy định của Đảng, trước mắt cần làm rõ, cụ thể hóa nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng ta. 

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống mẫu mực, trình độ, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII về công tác cán bộ. 

Khi xem xét về sự tha hóa quyền lực của cán bộ, đảng viên đều phải xét từ góc độ hai phía, người có quyền lực và đối tượng chịu sự tác động của quyền lực đó. Trong thực tế, sự tha hóa quyền lực thường xảy ra giữa cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có chức vụ, quyền hạn trong hệ thống chính trị, nhất là của người đứng đầu các cơ quan đảng, nhà nước với cán bộ, đảng viên dưới quyền thuộc phạm vi lãnh đạo, quản lý mà thường qua đó các bên đều có lợi ích nhất định. Do đó, việc lựa chọn cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền... từ cấp Trung ương đến cơ sở là cực kỳ quan trọng, quyết định tới kết quả hoạt động của cả hệ thống chính trị theo đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. 

Bốn là, đổi mới, sắp xếp, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII. Đặc biệt, cần quy định hạn chế cấp hàm và cấp phó tối đa của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là cấp phó trong nội bộ các cơ quan đảng. Nếu quá nhiều cấp hàm và cấp phó sẽ khó cho việc kiểm soát quyền lực mà hiệu lực, hiệu quả công tác sẽ không cao. Đồng thời, rà soát và sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, trong đó cần quy định rõ ràng nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền của tập thể, của người đứng đầu và từng cấp phó, công chức, viên chức, nhân viên để mọi người thực hiện đúng với vị trí công việc của mình, nhất là ở những nơi “nhất thể hóa” bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong việc kiểm soát quyền lực. Trong đó, cần đẩy mạnh kiểm tra, giám sát công tác cán bộ và cán bộ theo hướng đồng bộ hóa các quy định của Nhà nước theo chủ trương, quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm. Thực hiện đồng thời cấp trên kiểm tra, giám sát cấp dưới; kiểm tra, giám sát nội bộ, giám sát từ dưới lên; giám sát chéo giữa các cơ quan, tổ chức, giám sát của nhân dân.

Sáu là, tăng cường hợp tác trao đổi kinh nghiệm về phương thức cầm quyền và việc kiểm soát quyền lực với các đảng cầm quyền trên thế giới. Đảng phải chú trọng xây dựng bộ máy rất tinh gọn, không bao biện, làm thay chính quyền; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, lấy tư tưởng dân chủ chỉ đạo toàn bộ quá trình hoạt động của đảng; bảo đảm hoạt động cầm quyền và hiệu quả cầm quyền của đảng phản ánh lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng nhân dân. Tuần tự thúc đẩy dân chủ trong các khâu bầu cử, ra quyết sách, quản lý và giám sát. Lấy phát triển dân chủ trong đảng để dẫn dắt dân chủ trong chính quyền và xã hội.
Ngay từ những ngày đầu thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra những biểu hiện của sự tha hóa quyền lực. Trong bài “Sao cho được lòng dân” đăng trên Báo Cứu quốc ngày 12-10-1945, với bút danh Chiến Thắng, Người đã viết: “Thứ nhất, dân ghét các ông chủ tịch, các ông ủy viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng…”./.

Thứ Ba, 5 tháng 10, 2021

KHÔNG ĐƯỢC TỰ MÃN!

Tạp chí Hậu cần năm 1958 đã ghi lại một câu chuyện: Sáng chủ nhật ngày 7/9/1958, Bác Hồ đến thăm một đơn vị hậu cầu. Bác vào ngay nhà ngủ. Bác kiểm tra nội vụ và khen là tốt. Bác xuống nhà ăn… Khi có lệnh tập hợp đơn vị, Bác hỏi: “Các chú nuôi được bao nhiêu lợn? Trồng được bao nhiêu rau?”, một đồng chí nói: “Thưa Bác, chúng cháu nuôi được nhiều lắm ạ, lợn trăm con, còn rau bảo đảm một trăm phần trăm cho đơn vị ăn”. Bác bảo: “Như vậy chưa đủ, các chú còn phải nuôi nhiều hơn nữa, tăng gia nhiều hơn nữa, không được tự mãn là "nhiều lắm". Xung quanh các chú còn đơn vị bạn. Các chú tăng gia được, nếu quý thì đem biếu, đem cho, nếu không thì đem bán. Các chú phải tiết kiệm. Lẽ ra đơn vị các chú chi tiêu một tháng 12 triệu thì làm thế nào chỉ tiêu một nửa hay hơn một chút. Ai cũng như thế, đơn vị nào cũng như thế thì chúng ta sẽ có thêm nhiều nhà máy”. Rồi Bác hỏi: “Muốn tiến lên xã hội chủ nghĩa, các chú phải làm gì?”. “Thưa Bác, phải lao động ạ!”. “Các chú còn phải làm nhanh, nhiều, tốt, rẻ nữa. Thí dụ: Mỗi bộ quần áo các chú mặc may hết 5.000 đồng thì làm thế nào chỉ hết 2.500 đồng hay 3.000 đồng, chứ không làm nhanh hóa chậm, nhiều hóa ít, rẻ thành đắt, tốt thành xấu”…[1]

Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc cán bộ, đảng viên phải khiêm tốn, tuyệt đối tránh kiêu ngạo, tự mãn. Trong tác phẩm Người cách mạng mẫu mực đăng trên báo Thanh niên, số 61, năm 1926, Người viết: “Không kiêu ngạo. Kẻ kiêu ngạo thì xa lánh nhân tâm quần chúng và tạo cho mình kẻ thù. Người cách mạng mẫu mực phải khiêm tốn, khoan hòa, lượng thứ, can đảm khi sa cơ, bình tĩnh khi thắng thế, không bao giờ được quên rằng cuộc đời mình và sự nghiệp của mình thuộc về toàn nhân loại chứ không thuộc về mình”. Đây không chỉ là tư cách, đạo đức của một người cách mạng mà còn là của tất cả mọi người.

Trong bài Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn, đăng trên báo Nhân dân, số 194, ngày 13/6/1954, Hồ Chí Minh cắt nghĩa bệnh kiêu ngạo và chỉ ra hậu quả của nó: “Kiêu ngạo là: Khi công tác có ít nhiều thành tích, ít nhiều thắng lợi, thì lên mặt anh chị, lên mặt công thần. Rồi đối với việc học tập thì lười biếng, không ra sức nâng cao trình độ của mình. Trong công tác thì xem thường nhân dân, xa rời quần chúng. Ở trong Đảng thì không thực hiện chế độ dân chủ tập trung, không tuân theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo. Phớt kỷ luật và chính sách của Đảng và của Chính phủ. Khinh rẻ ý kiến của cấp dưới. Xem thường chỉ thị của cấp trên. Không muốn chịu kiểm tra, không muốn nghe phê bình. Thân với những kẻ xu nịnh tâng bốc mình. Xa tránh những người tính trực nói thẳng... Kết quả của bệnh kiêu ngạo là: thoái bộ, xuống dốc, rồi đi đến bất mãn, hủ hóa”.

Tại hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất đợt II, ngày 8/2/1955 của Đoàn “Thái Nguyên - Bắc Giang”, Bác Hồ chỉ rõ: “Tự mãn thì không tiến bộ được nữa; không tiến bộ tức là thoái bộ, mà thoái bộ thì không làm tròn nhiệm vụ”. Trong diễn văn khai mạc lớp lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc, ngày 7/9/1957, Người cũng nêu: “Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một trong học tập”… Những lời dặn dò đó bao hàm cả trong học tập, sinh hoạt, công tác và trong việc xây dựng nhân cách của cán bộ, đảng viên nói riêng và người cách mạng nói chung.

Chống bệnh tự mãn, kiêu ngạo là vấn đề thời kỳ nào cũng cần quan tâm thực hiện. Khi có chút thành tích, công lao thì căn bệnh này lại càng dễ bộc phát hơn. Phát biểu ra mắt Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, ngày 1/2/2021, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở các đồng chí Ủy viên Trung ương mới được bầu: “Tuyệt đối không được chủ quan, không được tự mãn, không được kiêu ngạo và càng phải khiêm tốn, học tập, làm mọi công việc để xứng đáng với sự tin cậy của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân”. Đây cũng thực sự là lời dặn dò đối với tất cả các cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng.

Hiện nay, công tác phòng chống dịch Covid-19 vẫn được thực hiện khẩn trương, quyết liệt. Một số địa phương đã đạt được những kết quả quan trọng, bước đầu kiểm soát được dịch bệnh, ổn định được đời sống người dân, từng bước phục hồi kinh tế, bắt đầu trạng thái bình thường mới. Tuy nhiên, khó khăn vẫn còn ở phía trước. Bởi về yếu tố khách quan, biến chủng Delta rất nguy hiểm với khả năng lây lan nhanh, trong khi nhiều nước trên thế giới dịch vẫn diễn biến phức tạp. Về chủ quan, một số địa phương vẫn còn tình trạng dịch bệnh căng thẳng, khả năng miễn dịch cộng đồng chưa đạt, các nguồn lực chống dịch bị giảm sút nghiêm trọng, đời sống nhân dân có nơi bị kiệt quệ…, nên năng lực phòng chống dịch có thể không còn nguyên vẹn. Do đó, dù phấn khởi với các kết quả nhưng tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, càng không được tự mãn, mất cảnh giác. Đặc biệt, từng đơn vị và các cá nhân đã có nhiều đóng góp trong công tác chống dịch thì nay phải tiếp tục công tác phòng dịch và các nhiệm vụ thường xuyên khác, không được tự mãn.

Tại TPHCM và nhiều địa phương khác, ngày sau khi dịch cơ bản được kiểm soát, việc phục hồi kinh tế cần được thực hiện khẩn trương, tích cực. Công việc này đòi hỏi cán bộ các cấp phải thực sự cầu thị, lắng nghe, ghi nhận các ý kiến của người dân, doanh nghiệp… nhằm xử lý kịp thời các yêu cầu trong điều kiện mới. Do đó, cán bộ cần phải khiêm tốn, biết chắt lọc thông tin từ phản ánh của dư luận, chọn cho được những hiến kế hợp lý và ghi nhận các vấn đề người dân quan tâm…

Suy cho cùng, vượt qua được một chặng đường khó khăn là một thành công, nên xem đó là động lực và cơ sở để vượt qua tiếp các thử thách khác, tuyệt đối không được “ngủ quên trên chiến thắng”, không được say sưa, tự mãn. Yêu cầu của thực tiễn ngày nhiều, ngày cao thì sự nỗ lực của cả hệ thống ngày càng lớn, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn các nguyện vọng của nhân dân.

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

VIỆT NAM ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CHỐNG COVID-19 THẾ NÀO?

Ứng dụng truy vết, camera AI, bản đồ dịch tễ và thiết bị theo dõi... giúp việc kiểm soát và khoanh vùng dịch bệnh nhanh chóng.

1. Ứng dụng

Việt Nam hiện có 3 ứng dụng khai báo y tế phổ biến và hỗ trợ truy vết trong trường hợp người dùng bị lây nhiễm. Đó là Bluezone, Ncovi và Vietnam Health Declareation (VHD).

Ncovi và VHD là ứng dụng khai báo sức khỏe tự nguyện dành cho người Việt Nam và khách nhập cảnh. Dựa trên dữ liệu được người dùng chia sẻ, hệ thống y tế sẽ biết được các trường hợp cần chú ý để hỗ trợ nhanh nhất.

Bluezone là ứng dụng hỗ trợ truy vết sử dụng sử dụng công nghệ sóng Bluetooth. Smartphone cài ứng dụng Bluezone có thể giao tiếp với nhau trong khoảng cách hai mét, ghi nhận sự tiếp xúc gần vào lúc nào và trong bao lâu qua công nghệ định vị Bluetooth năng lượng thấp.

Khi có một ca nhiễm Covid-19 mới, cơ quan y tế nhập dữ liệu F0 này vào hệ thống. Hệ thống sau đó gửi dữ liệu F0 đến các smartphone khác trong cộng đồng Bluezone. Lịch sử tiếp xúc F0 trong 14 ngày trước đó sẽ được phân tích, đối chiếu và nếu trùng khớp, Bluezone sẽ cảnh báo cho người dùng có nguy cơ lây nhiễm, đồng thời hướng dẫn họ liên hệ với cơ quan y tế để nhận trợ giúp.

2. Camera giám sát từ xa

Các công ty lớn như Viettel, VNPT đã lắp hàng chục nghìn camera ở các khu cách ly. Camera giám sát từ xa sẽ giúp các cơ sở cách ly giảm nhân sự giám sát tại chỗ. Các cơ quan quản lý phòng chống dịch có thể theo dõi toàn bộ hoạt động tại các khu vực có gắn camera từ hệ thống quản lý 24/24 giờ.

Các hệ thống camera sử dụng điện toán đám mây để lưu dữ liệu, đồng thời bảo mật tốt hơn. Các tính năng chính của hệ thống camera là giám sát trực tiếp (live view), xem lại (play back), phân quyền người dùng (nhóm người dùng), bảo vệ dữ liệu người dùng, ghi log truy cập, lưu trữ theo quy định của Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống Covid-19. Các tính năng nâng cao sẽ được cập nhật theo yêu cầu thực tế.

3. Vòng tay giám sát

Sản phẩm do G-Innovations phát triển có nền tảng khá giống vòng đeo tay sức khỏe hiện nay. Tuy nhiên, các tính năng, quản lý được tùy chỉnh để phù hợp với nhiệm vụ chính là quản lý người thuộc diện cách ly.

Vòng tay giám sát có 2 bản: G-Track Bluetooth và G-Track GPS đều chống nước chuẩn cao IPx8 và chịu được va đập mạnh. Cảm biến xuất hiện trên cả hai thiết bị là cảm biến đeo (phát hiện vòng bị tháo khỏi tay), đo thân nhiệt, đếm bước chân, tình trạng hoạt động. Thiết bị có thể phát hiện các thay đổi về độ cao, nhờ vậy ghi lại được cả quá trình di chuyển giữa các tầng chung cư, hỗ trợ việc truy vết tốt hơn. Thời lượng pin của cả hai sản phẩm đều là 30 ngày.

4. Camera AI

Hệ thống AI trong camera của công ty BA GPS phát hiện người không đeo khẩu trang và gửi cảnh báo thời gian thực cho nhà quản lý.

Tính năng giám sát người không đeo khẩu trang này được triển khai miễn phí trên các xe vận tải hành khách từ tháng 6. Cụ thể, hệ thống phân tích kết nối với camera trên xe để lấy dữ liệu hình ảnh, sau đó AI sẽ tự động phân tích, đánh dấu ô đỏ và gửi cảnh báo về đơn vị vận tải mỗi khi phát hiện có hành khách hoặc nhân viên nhà xe không đeo khẩu trang, hoặc đeo khẩu trang không đúng cách. Công nghệ giúp doanh nghiệp vận tải nhắc nhở từ xa và kịp thời nếu phát hiện trường hợp vi phạm, giảm lây lan dịch bệnh trong môi trường đông người và khó truy vết.

BKAV sử dụng camera AI giúp kiểm soát người nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Bình thường, người trực hệ thống sẽ phải quan sát màn hình 24/7 để phát hiện người xâm nhập bất hợp pháp. Đồng thời, hệ thống camera an ninh truyền thống cũng phải thiết lập tốn kém về hạ tầng để đáp ứng nhu cầu này. Trong khi đó, camera AI có thể được lập trình để đưa ra mệnh lệnh về trung tâm điều hành ngay khi phát hiện có người xâm nhập bất hợp pháp, từ đó giảm thiểu sức người. Ngoài ra, hạ tầng cho hệ thống này cũng được cắt giảm, bởi toàn bộ thông tin được xử lý trực tiếp từ camera. Ngoài ra camera AI còn hỗ trợ giám sát cho các doanh nghiệp như cảnh báo tự động khi khoảng cách giữa hai người đứng xếp hàng không đủ 2 mét, nhận diên khuôn mặt.

5. Bản đồ Covid

Nhiều hệ thống bản đồ về tình hình dịch bệnh Covid-19 được xây dựng bởi chính quyền các tỉnh thảnh phố hay các công ty tại Việt Nam cho cho phép người dân có thể xem những điểm cách ly tập trung, các vùng cách ly y tế và chốt kiểm soát dịch bệnh hiển thị trên bản đồ theo thời gian thực. Tùy thuộc từng khu vực, bản đồ có thể hiển thị danh sách bệnh nhân theo số hiệu hoặc chữ viết tắt, cùng thông tin cá nhân cơ bản như năm sinh, giới tính, tình trạng sức khoẻ và nơi đang điều trị.

Bản đồ số hiển thị rất cụ thể, trên màn hình có chú thích cho từng biểu tượng như vùng cách ly, khu vực nhà bệnh nhân, chốt kiểm soát dịch... để người dân dễ dàng nắm bắt thông tin và không di chuyển đến các khu vực này. Mục tiêu của bản đồ là giúp người dân có thể biết rõ về tình hình dịch Covid-19 tại khu vực mình sống./.

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC, KỶ LUẬT NGHIÊM MINH - LIỆU PHÁP LÀM TRONG SẠCH BỘ MÁY

Quyền lực không được kiểm soát một cách nghiêm ngặt là “điều kiện” để không ít cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu cầu lợi ích cá nhân, trục lợi, làm giàu bất chính. Quyền lực không bị quản chế khiến nhiều người cố chạy chức, chạy quyền để hưởng “lợi”.

Trong thời gian gần đây, nhiều sự vụ liên quan đến vấn đề cán bộ và công tác cán bộ mà cụ thể là vấn nạn chạy chức, chạy quyền; thao túng quyền lực; lạm quyền, tiếm quyền, lộng quyền; vấn đề tham nhũng và vi phạm các quy định của Đảng và Nhà nước của một bộ phận cán bộ khiến dư luận hết sức bất bình và ít nhiều làm xói mòn niềm tin của nhân dân. Phát biểu tại Hội nghị trực tuyến cuối năm của Chính phủ với các địa phương sáng 28-12-2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã phải nghẹn lòng và “khổ tâm, đau xót” khi nói đến 113 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị kỷ luật.

Trước đây một năm, Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị về việc Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền được ban hành và như một “cú đấm thép”, một loại “vacxin” đối với vấn nạn này nhưng rõ ràng vẫn cần sự quyết tâm hơn nữa trong công tác giám sát quyền lực, góp phần làm trong sạch hệ thống chính trị trong tình hình mới.

Công bằng mà nói, từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến công tác cán bộ. Nhiều chủ trương, nghị quyết, cơ chế chính sách đã ra đời và từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, với quyết tâm “nhốt quyền lực trong lồng thể chế”.

Thế nhưng lần này, có thể nói Quy định số 205-QĐ/TW là một quyết tâm chính trị lớn từ Bộ Chính trị đủ sức răn đe và có tác dụng cảnh giới cao, chắc chắn sẽ khắc phục được những hiện tượng lệch lạc của cán bộ, đưa quyền lực vào đúng quỹ đạo của nó với bản chất là “quyền lực công”, “vì nhân dân phục vụ”, mang lại niềm tin cho nhân dân, đặc biệt trong bối cảnh cả nước đang thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30-5-2019 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Theo kết quả của một cuộc khảo sát mới đây, khi được hỏi “Điều gì khiến ông/bà mất niềm tin nhất trong cuộc sống”, thì “nạn chạy chức, chạy quyền”, “vấn nạn tham nhũng”, “đạo đức xã hội xuống cấp” và “cán bộ quan liêu, xa dân” là những nguyên nhân dẫn đến mất niềm tin cao nhất (tỷ lệ lần lượt là 68,5%; 69,7%; 44,1%, 37,9%).

Điều này cho thấy, nếu quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ thì hiện tượng lệch lạc trong sử dụng quyền lực của cán bộ như chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, lãng phí, quan liêu,... sẽ gây mất niềm tin của nhân dân, thậm chí có nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Nguyên nhân chính của những vấn nạn nói trên chủ yếu ở khâu kiểm soát quyền lực. Quyền lực được giao quá lớn nhưng không kiểm soát một cách chặt chẽ và có hiệu quả dễ dẫn đến tự tung, tự tác, thậm chí coi thường luật pháp; đề bạt, cất nhắc theo kiểu “thân hữu”, kiểu “quà tặng” với tốc độ “Thánh gióng”.

Quyền lực không được kiểm soát một cách nghiêm ngặt cũng là “điều kiện” để không ít cán bộ lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mưu cầu lợi ích cá nhân, trục lợi, làm giàu bất chính. Quyền lực không bị quản chế khiến nhiều người cố chạy chức, chạy quyền để hưởng “lợi”.

Như vậy, Quy định số 205-QĐ/TW như là một “quyền uy”, một cơ chế chế ước quyền lực để kiểm soát các chủ thể quyền lực, kiểm soát hành vi của cán bộ (nhất là người đứng đầu cấp ủy), kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, kiểm soát hiện tượng chạy chức chạy quyền.

Cần phải nhấn mạnh rằng, không có một khái niệm quyền lực chung chung mà quyền lực luôn gắn với chủ thể quyền lực. Như vậy, kiểm soát quyền lực xét đến cùng là kiểm soát hành vi sử dụng quyền lực của chủ thể.

Người có quyền lực thường có thể (cả khách quan và chủ quan) vượt qua giới hạn quyền lực được giao nếu không có cơ chế kiểm soát quyền lực một cách chặt chẽ, nghiêm khắc. Từ đó có thể khẳng định, muốn không lạm quyền, lộng quyền thì phải khống chế quyền lực, lý luận và thực tiễn cũng đã chứng minh một nguyên tắc: “quyền lực tuyệt đối làm tha hóa tuyệt đối”.

Quy định số 205-QĐ/TW đã “điểm mặt” những hành vi chạy chức, chạy quyền gắn với công tác cán bộ đã khiến không ít người “có tật giật mình” và đây là cơ hội để “tự tiêm cho mình một loại vacxin miễn nhiễm với căn bệnh chạy chức, chạy quyền”.

“Tập trung, dân chủ” là một trong những nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng nhưng thực tế cho thấy nhiều lãnh đạo đã “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ” và bị kỷ luật. Nguyên nhân chủ yếu là cố tình hiểu sai quy trình, bản chất, mục đích của nguyên tắc tập trung dân chủ, hiểu sai về quyền lực. Nhưng nguyên nhân sâu xa hơn chính là công tác kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện. Do đó, để thực hiện tốt Quy định số 205-QĐ/TW, cần phải tiến hành đồng bộ một số nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, cần tăng cường vai trò của thông tin đại chúng trong tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội. Thời gian qua, truyền thông đại chúng đã đóng góp tích cực vào công tác tuyên truyền, phát hiện những sai phạm và lên án những hành vi lệch lạc của cán bộ, công chức trong đó có hiện tượng tham nhũng, lãng phí, chạy chức, chạy quyền, quan liêu, xa dân; tuy nhiên, cần nghiêm túc nói rằng, nhiều lúc còn “sa đà” vào những mặt trái của xã hội mà thiếu sự “cân bằng” trong phản ánh những mặt tốt, nhân tố tích cực của xã hội.

Bên cạnh những cán bộ “hư hỏng”, biến chất vẫn còn nhiều lắm những cán bộ thanh liêm, hết lòng hết sức vì nhân dân phục vụ. Bên cạnh hiện tượng chạy chức, chạy quyền thì cũng có những con người, bằng nỗ lực, phấn đấu và cả sự hy sinh của mình làm tốt vai trò được Đảng và Nhà nước giao.

Bên cạnh những “cậu ấm, cô chiêu”, những “Thánh gióng” trong công tác cán bộ thì cũng không ít lãnh đạo đã công tâm, công chính, vì tổ chức mà phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, cất nhắc những cán bộ tốt, vừa có đức, vừa có tài. Do đó, truyền thông đại chúng cần phải tích cực hơn nữa, chú ý nhiều hơn nữa về những thành tựu trong công tác cán bộ; tuyên dương những cán bộ tốt nhiều hơn nữa nhằm định hướng tốt cho dư luận.

Thứ hai, cần thực hiện đúng cơ chế công khai, minh bạch trong công tác tuyển dụng cán bộ, tăng cường phương thức thi tuyển cạnh tranh. Việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, cất nhắc cán bộ có thể tiến hành nhiều kênh, đa dạng hóa phương thức. Thế nhưng, để giảm thiểu tối đa hiện tượng “chạy chức, chạy quyền” thì cần phải công khai, minh bạch để “trao quyền lực đúng người”.

Bên cạnh đó, cần phải tăng cường công tác thi tuyển một cách sòng phẳng theo kiểu cạnh tranh để “sàn” được người tài. Đặc biệt, đối với những vị trí công việc cần những cán bộ có tố chất, năng lực gì thì phải có phần thi liên quan đến yêu cầu đó để ứng viên có cơ hội thể hiện hiểu biết, năng lực của mình; trình bày các chương trình hành động mà vị trí công việc đòi hỏi.

Bằng cách này chắc chắn sẽ hạn chế tối đa những “cậu ấm, cô chiêu” hay “con ông cháu cha” không đáp ứng được yêu cầu mà lại chiếm giữ những vị trí lãnh đạo (thậm chí lãnh đạo chủ chốt), làm phương hại đến tổ chức, gây mất niềm tin trong nhân dân.

Thứ ba, cần xử lý thật nghiêm những hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền; hành vi tham nhũng, lãnh phí. Chạy chức, chạy quyền là nguồn cơn của tham nhũng, lãng phí. Một khi ai đó đã xác định “chạy” nghĩa là không chỉ mong muốn có “quyền” mà thực chất là mong muốn có “lợi”, mà muốn có lợi nhanh thì chỉ có tham nhũng, trục lợi.

Trong thời gian qua, chúng ta đã phát hiện, xử lý không ít cán bộ tha hóa, biến chất. Điều này đã tạo nên dư luận tốt và từng bước nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Kết quả khảo sát trên cho thấy, 97,6% số người được hỏi cho biết “rất tin tưởng” vào vai trò lãnh đạo của Đảng là chỉ báo cho thấy niềm tin của nhân dân vào Đảng.

Tuy vậy, vẫn còn không ít những hành vi bao che, tiếp tay cho chạy chức chạy quyền; hành vi tham nhũng, lãng phí chưa được phát hiện và xử lý. Do đó, để Quy định số 205-QĐ/TW đi vào cuộc sống cần chế tài nghiêm khắc, xử lý thật nghiêm minh hơn nữa những cán bộ suy thoái, biến chất; những người “biết nhân sự có hành vi chạy chức, chạy quyền nhưng che giấu, thỏa hiệp, không xử lý theo thẩm quyền hoặc không báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý” hay “trực tiếp hoặc gián tiếp hỗ trợ, môi giới cho nhân sự thực hiện các hành vi chạy chức, chạy quyền”.

Thứ tư, cần khen thưởng kịp thời, có cơ chế bảo vệ những người phản ánh, tố cáo đúng các hành vi chạy chức, chạy quyền hay bao che, tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Thông thường, hiện tượng chạy chức, chạy quyền được phát hiện trước tiên ngay trong các tổ chức đó, thế nhưng, vì nhiều lý do mà nhiều người “ngại” không dám tố cáo.

Tâm lý chung của một người dám tố cáo hành vi xấu, không đúng của người khác khi họ cảm thấy an toàn, đủ niềm tin và không tổn hại đến bản thân, tổ chức. Muốn vậy, phải hình thành cơ chế và phương thức an toàn cho người phát hiện, tố cáo những hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, cần có những khen thưởng kịp thời, đúng mực để động viên, khích lệ những cá nhân phát hiện, tố cáo sai phạm trong công tác cán bộ.

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2020

PHẢI KIỂM SOÁT CHẶT CHẼ ĐƯỢC QUYỀN LỰC

Một là, cụ thể hóa các biểu hiện tha hóa quyền lực đối với từng vị trí, lĩnh vực công tác, trước hết là của cán bộ lãnh đạo, quản lý để biết và thực hiện, tự phòng tránh không mắc phải sự tha hóa quyền lực dù là nhỏ nhất là cách tốt nhất để phòng ngừa với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ PHÒNG VÀ CHỐNG SỰ SUY THOÁI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Một là, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng, coi thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và các Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về “Những điều đảng viên không được làm”, Quy định 101-QÐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” và Quy định số 08-QĐi/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” theo chương trình toàn khóa và chủ đề hằng năm là giải pháp căn cốt để thực hiện kiểm soát quyền lực trong Đảng, trong cả hệ thống chính trị.

KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC ĐỂ PHÒNG VÀ CHỐNG SỰ SUY THOÁI CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, việc nhận diện đúng về quyền lực, tha hóa quyền lực, kiểm soát quyền lực để ngăn chặn, phòng và chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của đảng viên không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đến đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp đã được triển khai từ Trung ương đến cơ sở.

QUYỀN LỰC VÀ CÁCH THỨC ĐỂ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC

Quyền lực “là quyền hành và thế lực mạnh, đủ để quyết định các công việc: nắm quyền lực trong tay- dùng quyền lực ép người ta phải nghe theo, làm theo”; còn kiểm soát quyền lực là “kiểm tra, xem xét, nhằm ngăn ngừa những sai phạm các quy định” và đặt quyền lực “trong phạm vi quyền hành và trách nhiệm” của những người đã được giao/phân công/ủy nhiệm thực thi quyền lực.