Hiển thị các bài đăng có nhãn hiến pháp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hiến pháp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 31 tháng 1, 2024

HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NĂM 2013 QUY ĐỊNH CÁC QUYỀN CƠ BẢN CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ NHƯ THẾ NÀO?

Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định: 1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc;3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình; 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.

Điều 42 quy định: Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp.

Điều 58 quy định: 1. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc; quyền của đồng bào dân tộc thiểu số trong việc dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình, và trách nhiệm của Nhà nước trong việc phát triển vùng đồng bào dân tộc. 2. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

Điều 61 quy định: Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. 

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2022

THẾ NÀO LÀ “DÂN CHỦ” THEO CÁC CON RẬN???

Trong chuyến công du sang Mỹ,thủ tướng Phạm Minh Chính đã nêu rõ quan điểm của Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền. Ngay sau đó, các đối tượng phản động đã lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, bóp méo phát biểu của Thủ tướng.

Những luận điệu cũ rích của chúng đó là xuyên tạc Điều 4 Hiến pháp, chúng cho rằng “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” thì quyền lực sẽ nằm toàn bộ trong tay Đảng. Thế nhưng, chúng lại không để cập tới việc Đảng là đại diện của nhân dân lao động, giai cấp công nhân và toàn dân tộc.

Chúng cho rằng nhân dân Việt Nam không có quyền bầu cử, không có quyền tự do bày tỏ quan điểm và giám sát xã hội. Chúng lấy ví dụ là ba đối tượng Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, ba đối tượng này thuộc Hội Nhà báo độc lập, một hội nhóm được tạo ra chuyên phục vụ xuyên tạc, định hưởng sai dư luận.

Chúng cho rằng ba đối tượng trên bị bắt là do Đảng ta độc tài, không cho người dân lên tiếng. Chúng đang cố tình áp đặt ý chí của nhân dân Việt Nam là ý chí thể hiện qua 3 con người trên. Những hành động chống phá cực đoan của 3 đối tượng trên là bằng chứng rõ nhất cho khái niệm “dân chủ” của các đối tượng.

Nhà nước ta khuyến khích người dân lên tiếng chống tiêu cực, tham nhũng. Những vấn đề nhức nhối ngoài xã hội được xử lý một phần là nhờ ý kiến của nhân dân. Gần đây nhất đó là việc đề xuất không để môn Lịch sử là một môn học bắt buộc, sau những phản hồi của dư luận, đề xuất trên đã được nghiên cứu lại.

Chẳng có người dân nào muốn kéo đất nước “đi lùi”, chỉ có những đối tượng lúc nào cũng mang danh vì dân chủ nhưng lại có mưu đồ chống phá đất nước mà thôi.

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

5 BẢN HIẾN PHÁP CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1946 ĐẾN NAY

1. Hiến pháp năm 1946. Ngày 9/11/1946, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, tuyên bố nước Việt Nam độc lập từ Bắc đến Nam, theo chế độ dân chủ nhân dân, quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo; các quyền tự do dân chủ được đảm bảo.

2. Hiến pháp năm 1959. Ngày 31/12/1959, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp sửa đổi. Hiến pháp năm 1959 đã phát huy tinh thần của Hiến pháp năm 1946, đồng thời phản ánh đầy đủ tình hình thực tế của chế độ ta do cuộc cách mạng phản đế, phản phong thắng lợi đã mang lại, phản ánh đúng đắn con đường đang tiến lên của dân tộc.

3. Hiến pháp năm 1980. Ngày 18/12/1980, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI đã thông qua Hiến pháp. Với 12 chương, 147 điều, Hiến pháp năm 1980 đã xác định bản chất giai cấp của Nhà nước ta là Nhà nước chuyên chính vô sản, có sứ mệnh lịch sử là thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, động viên và tổ chức nhân dân xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

4. Hiến pháp năm 1992. Ngày 15/4/1992, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp. Hiến pháp năm 1992 là sản phẩm trí tuệ của toàn dân, thể hiện ý chí và nguyện vọng của đồng bào cả nước, là bản Hiến pháp của Việt Nam trong tiến trình đổi mới.

5. Hiến pháp năm 2013. Ngày 28/11/2013 tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây cũng là bản Hiến pháp vừa kế thừa được các giá trị to lớn của các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992, vừa thể chế hóa các quan điểm, phương hướng, nội dung phát triển đã được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội./. 

BA NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA HIẾN PHÁP NĂM 1946 CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Ngày 20/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 34-SL về việc thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của Chính phủ lâm thời gồm 7 người là: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy (tên của vua Bảo Đại sau khi thoái vị), Đặng Thái Mai, Vũ Ngọc Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Nhiệm vụ của Ủy ban: nghiên cứu xác định mô hình, xây dựng cấu trúc của một bản Hiến pháp dân chủ hoàn toàn mới, vừa đảm bảo tính lâu dài, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở nước ta.

Tháng 11/1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và Bản dự thảo Hiến pháp được công bố cho toàn dân thảo luận. Người dân Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho Bản dự thảo Hiến pháp với những nội dung thể hiện mơ ước và khao khát ngàn đời về độc lập dân tộc, về các quyền và tự do của con người Việt Nam. Ngày 9/11/1946, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Ba nguyên tắc cơ bản của bản Hiến pháp 1946 được trình bày gồm lời nói đầu: 1. Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo; 2. Bảo đảm các quyền tự do dân chủ; 3. Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Bản Hiến pháp 1946 của nước ta, có 7 chương, 70 điều. Chương I quy định chính thể của Việt Nam là Dân chủ cộng hòa. Chương II quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân, xác nhận sự bình đẳng về mọi phương diện của tất cả công dân Việt Nam trước pháp luật. Chương III quy định về nghị viện nhân dân. Chương IV quy định về Chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc. Chương V quy định phương diện hành chính, bộ, tỉnh, huyện, xã; quy định về cơ quan hành chính (ủy ban hành chính và hội đồng nhân dân) các cấp. Chương VI quy định về cơ quan tư pháp bao gồm tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp. Chương VII quy định về việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó có quyền phúc quyết Hiến pháp của dân.

  Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “... một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông... Bản hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do… Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”.

Thứ Tư, 20 tháng 10, 2021

TÔN TRỌNG QUYỀN TỰ DO, TÍN NGƯỠNG CỦA NHÂN DÂN TRÊN CƠ SỞ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC

Suốt nhiều năm qua, các thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng từ “tự do” trong cụm từ “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” của hệ thống pháp luật Việt Nam để tổ chức các hoạt động chống phá, hòng gây mất ổn định chính trị-xã hội.

Để thực hiện mưu đồ ấy, các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn nhằm tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước; hậu thuẫn về vật chất, tinh thần cho các đối tượng chống đối, đưa tôn giáo ở Việt Nam trở thành lực lượng chính trị “đối trọng” với Đảng. Chúng xác định lấy “tự do tôn giáo” làm “ngòi nổ” để chống phá Việt Nam. 

Những năm gần đây, các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch nhằm tách quyền “tự do” ra khỏi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam thể hiện dưới các hình thức: Chống phá thông qua việc ra các đạo luật, nghị quyết từ ngoài nước; lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng sự mở rộng về dân chủ, nhân quyền của Nhà nước Việt Nam để tiến tới quốc tế hóa vấn đề tôn giáo, hòng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Việt Nam; tăng sức ép với Việt Nam qua thể chế hóa các vấn đề về tự do tôn giáo, tín ngưỡng nhạy cảm, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền, vu khống về tự do tôn giáo ở Việt Nam... Chúng xúi giục, kích động số phần tử phản động trong tôn giáo người Việt ở nước ngoài tổ chức các hoạt động chống phá về tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam; tổ chức một số cuộc mít tinh, biểu tình do các hội, nhóm mang danh tôn giáo hải ngoại nhằm đưa ra những yêu sách đòi Việt Nam thực thi cái gọi là "các quyền tự do tôn giáo". Để đi sâu hơn, chúng hỗ trợ, kích động và chỉ đạo một số linh mục cực đoan trong nước đẩy mạnh hoạt động chống phá. Bên cạnh đó, các cơ quan đại diện chính thức của một số nước phương Tây thông qua đại sứ quán, lãnh sự quán đã có những hoạt động công khai, hoặc bí mật ủng hộ số đối tượng cực đoan nói trên. Họ trực tiếp, hoặc cử người đi điều tra, nắm những sai sót, sơ suất trong thực hiện chính sách tôn giáo của Việt Nam ở các địa phương, cơ sở để lợi dụng chống Đảng và Nhà nước, tố cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, cấm đoán tôn giáo, đàn áp giáo sĩ...

Thực tế cho thấy, được sự chỉ đạo và hỗ trợ của các thế lực thù địch, một số linh mục cực đoan đã viết và tán phát nhiều tài liệu đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận những thành quả cách mạng mà nhân dân Việt Nam đã giành được qua các cuộc kháng chiến của dân tộc. Họ đòi hỏi xã hội phải thừa nhận vai trò của tôn giáo như vai trò của chính quyền trong việc điều hành xã hội... Những hoạt động nói trên tuy chưa phải phổ biến, song nó cho thấy tính chất thâm hiểm và xảo quyệt trong việc chống phá cách mạng Việt Nam, kích động, chia rẽ bà con giáo dân với cấp ủy đảng, chính quyền ở cơ sở, gây bất hòa giữa những người theo đạo và không theo đạo, làm phương hại đến khối đại đoàn kết toàn dân và lợi ích chung của dân tộc.

Ở các tỉnh miền núi, chúng lợi dụng việc đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn trong đời sống sinh hoạt và phát triển kinh tế, nhận thức còn hạn hẹp để truyền đạo trái phép, hòng lôi kéo, tập hợp quần chúng. Thời gian qua nổi lên là hiện tượng lôi kéo đồng bào dân tộc đi theo đạo Tin lành Đề-ga; đạo Dương Văn Mình... Thông qua việc giảng đạo, các đối tượng lồng ghép những vấn đề chính trị để chống lại đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Cụ thể, họ kích động đồng bào dân tộc thiểu số không thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình, không tham gia các tổ chức chính trị ở địa phương, không tham gia các hoạt động do cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai... nhằm lôi kéo đồng bào ra khỏi sự quản lý của chính quyền, vô hiệu hóa chính quyền cơ sở.

Những vấn đề dẫn ra ở trên cho thấy, cuộc đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo đang đặt ra thật sự cấp bách. Bởi sự chống phá của các thế lực thù địch thông qua vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo có tác động trực tiếp đến sự ổn định chính trị, làm suy giảm những thành tựu của sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Vì vậy, việc đấu tranh với các thế lực thù địch lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới đất nước là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân ta. Điều đó đòi hỏi sự kiên quyết, kiên trì vào cuộc của cả hệ thống chính trị, của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có đồng bào tôn giáo.

Để đập tan những âm mưu, thủ đoạn phản động, trước hết phải nhận thức rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề tôn giáo mà cụ thể là chiêu bài lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng, từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác, kịp thời đấu tranh hiệu quả với mọi âm mưu và hoạt động chống phá của chúng. Cần phải hiểu rằng, cuộc đấu tranh chống hoạt động lợi dụng tôn giáo và âm mưu “diễn biến hòa bình” trong khu vực và trên thế giới ngày nay sẽ còn nhiều biến động phức tạp, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại trong đó có Việt Nam vẫn tiếp tục là mục tiêu chống phá của chủ nghĩa đế quốc. Trong những năm tới, vấn đề tôn giáo, dân chủ và nhân quyền vẫn tiếp tục là mục tiêu tiến công, chống phá của các thế lực thù địch, cần phải đặc biệt quan tâm.

 Phải xác định rõ đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng của các thế lực thù địch chính là giữ vững được sự ổn định bên trong; linh hoạt, mềm dẻo giải quyết hài hòa các lợi ích giữa đồng bào theo đạo và đồng bào không theo đạo trên cơ sở lợi ích chung của cả cộng đồng dân tộc. Trong đó khẳng định việc đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và phải lấy đó làm điểm tương đồng để đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc và tập hợp các lực lượng cho cuộc đấu tranh ấy. Cần phải thực hiện các biện pháp để đấu tranh chống âm mưu và hoạt động lợi dụng tôn giáo, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng nhưng vẫn thực hiện tốt mục tiêu, đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, ngày càng thu hút bạn bè quốc tế theo tinh thần “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.

Để có cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh này, chúng ta cần xây dựng được "thế trận lòng dân" vững chắc. Trong đó phải chú trọng xây dựng được niềm tin với nhân dân, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; hướng các chức sắc, chức việc tôn giáo vào việc vừa phụng sự đạo giáo, vừa phục vụ sự hưng thịnh của quốc gia, dân tộc. Để làm được điều đó phải dựa chắc vào dân, tổ chức liên kết nhân dân thành một khối đoàn kết, thống nhất, phát huy dân chủ và sức mạnh tổng hợp của nhân dân, nhất là trong đồng bào có đạo, định hướng cho đồng bào luôn hành động theo mục tiêu sống tốt đời, đẹp đạo. Bên cạnh đó chúng ta phải phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền các địa phương, thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế-xã hội mà trực tiếp là chính sách dân tộc, tôn giáo; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân trên tất cả vùng, miền của Tổ quốc. Làm tốt những vấn đề trên chắc chắn chúng ta sẽ tạo ra được một khối đoàn kết thống nhất giữa Đảng với nhân dân và trong các tầng lớp nhân dân với nhau mà không một thế lực nào có thể phá vỡ.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

ÂM MƯU CỦA QUAN ĐIỂM ĐÒI “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI

Thực chất âm mưu của quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội là kết hợp “diễn biến hòa bình” với thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam.

Với việc đưa ra quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội, một số người đã đánh tráo khái niệm “dân sự quản lý quân sự” với “dân sự hóa” Quân đội; họ đánh đồng việc dân sự quản lý quân sự với biến việc của quân sự thành việc của dân sự, làm cho người khác hiểu sai về bản chất vấn đề.

Mặc dù chế định “dân sự quản lý quân sự” ở các nước tư sản không thực hiện được (như đã đề cập ở trên), song những người đưa ra quan điểm “dân sự hóa” Quân đội không bao giờ đề cập tới sự thật này. Họ ra sức ca ngợi và cổ súy cho pháp lý và đời sống luật pháp tư sản theo hướng cái gì cũng “tốt đẹp”, “thiên đường”; làm cho người ta tưởng việc “dân sự hóa” quân đội của nhà nước tư sản là tốt đẹp, dễ làm, nhà nước xã hội chủ nghĩa cứ theo thế mà làm. Đây là thủ đoạn chính trị tinh vi, kết hợp giữa “diễn biến hóa bình” với thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam. Thực chất mục đích của quan điểm cổ vũ “dân sự hóa” Quân đội theo hướng pháp lý “dân sự quản lý quân sự” của nhà nước tư sản là nhằm tác động, thay đổi đường lối, cơ chế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; nguyên tắc hoạt động quốc phòng là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Như vậy, mục đích chính trị cuối cùng của quan điểm cổ súy “dân sự hóa” Quân đội, không phải cái gì khác hơn là nhằm loại bỏ quyền lãnh đạo Quân đội và hoạt động quốc phòng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước hiến định. Đây là một âm mưu, thủ đoạn nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch - một thủ đoạn, âm mưu tinh vi, xảo quyệt, từ đánh tráo khái niệm, đến tiêm nhiễm, thẩm thấu tư tưởng, chuyển hóa cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội và hoạt động quốc phòng, cuối cùng là kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam. Bởi vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ mưu đồ của họ; cảnh giác, đề phòng, ngăn ngừa, đấu tranh bác bỏ tư tưởng, quan điểm sai trái này.

Thứ Năm, 23 tháng 9, 2021

PHÊ PHÁN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN PHỦ NHẬN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Ở Việt Nam, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhanh chóng nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tiến hành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, giành độc lập cho dân tộc, xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

 Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu hòng bác bỏ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với Nhà nước và xã hội, họ rêu rao rằng, ở Việt Nam không có “pháp trị”, chỉ có “đảng trị”. Đây là thủ đoạn nham hiểm của các lực lượng chống đối Đảng Cộng sản lãnh đạo các nước XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu thập niên 80 của thế kỷ trước. Hiện nay, một số đối tượng vẫn cổ xúy cho thủ đoạn trên mà nếu không đấu tranh thì có thể để lại những hậu quả khôn lường đối với đất nước, đối với xã hội, đối với người dân khi vai trò lãnh đạo của Đảng bị đặt ngoài Hiến pháp. 

Những người có lương tri trên thế giới không thể không nhớ đến sự kiện Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã năm 1991, khi mà những người dân chủ cấp tiến hả hê vì vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã bị đặt ngoài hiến pháp, khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô năm 1977 (sửa đổi, bổ sung năm 1988) bị phá bỏ. Trên đất nước đó, sau những biến cố thăng trầm, chính Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin trong cuộc gặp các đảng phái chính trị của Nga tại Điện Kremlin ngày 23-9-2016, cho rằng sự kiện Liên Xô sụp đổ không chỉ là thảm họa địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ 20 mà rất có thể là cả trong lịch sử chính trị thế giới, để lại những hậu quả có tính toàn cầu về tư tưởng, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh.


Thứ Tư, 19 tháng 5, 2021

KIÊN QUYẾT KHÔNG BẦU NHỮNG NGƯỜI KHÔNG ĐỦ TIÊU CHUẨN VÀO QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Hội đồng nhân dân (HĐND) quyết định các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND. Công dân nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp. Quyền bầu cử và ứng cử là của công dân, là quyền được hiến định và việc thực hiện các quyền này phải theo quy định của pháp luật. 

Do vị trí đặc biệt quan trọng của Quốc hội và HĐND nên những người tham gia ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định theo quy định của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Trong đó, các tiêu chuẩn cơ bản đối với ứng viên là: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ ĐBQH; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm...

Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20-6-2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã yêu cầu: “Kiên quyết không giới thiệu ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước”.

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

KHÔNG CÓ LUẬT BAN HÀNH NÀO ĐI NGƯỢC LỢI ÍCH CỦA NHÂN DÂN

Lập hiến và lập pháp là một trong những hoạt động quan trọng nhất của Quốc hội (QH) Việt Nam. Chức năng này đã được thể hiện xuyên suốt qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013. Ngoài Hiến pháp năm 1946 quy định nguyên tắc chung “Nghị viện nhân dân đặt ra các pháp luật”, thì cả 4 bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định QH là cơ quan lập hiến và lập pháp. Hiến pháp năm 2013 (hiện hành) đã khẳng định, QH là cơ quan làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, làm luật, sửa đổi luật; thực hiện quyền lập hiến, lập pháp.

Lý giải về vấn đề nêu trên, PGS, TS Lê Minh Thông, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của QH cho rằng, quyền lập pháp được giao cho QH xuất phát từ vị trí đặc biệt của QH trong cấu trúc quyền lực Nhà nước Việt Nam. Bởi QH là cơ quan thực hiện dân chủ đại diện cao nhất của nhân dân. So với cơ quan thực hiện quyền hành pháp, quyền tư pháp trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, QH với vai trò là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) là đại biểu cao nhất cho cử tri toàn quốc thể hiện ý chí, nguyện vọng và lợi ích của cử tri cả nước. Các ĐBQH vừa là đại biểu của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, các vùng lãnh thổ, vừa là đại biểu của cả nước, thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ lợi ích của dân tộc và đất nước. Mọi quyết định của QH trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân không chỉ do nhân dân ủy quyền, mà còn nhân danh nhân dân-chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, thể hiện ý chí của nhân dân và vì quyền, lợi ích của người dân. Về thực chất tính tối cao của quyền lực QH xuất phát từ quyền chủ thể tối cao của nhân dân đối với quyền lực nhà nước. Với vị trí đặc biệt như vậy, hoạt động lập pháp của QH chính là xuất phát từ ý chí, nguyện vọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, không thể có chuyện các luật, nghị quyết của QH ban hành lại đi ngược lợi ích của nhân dân.

Thực tế 75 năm qua, QH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã ban hành hàng nghìn luật, nghị quyết, pháp lệnh nhưng chưa có luật, nghị quyết, pháp lệnh nào đi ngược lại với lợi ích của nhân dân.

Có một số người phát biểu trên mạng xã hội cho rằng “quy trình làm luật ở Việt Nam không theo luật và chẳng giống ai”. Có lẽ họ đã không biết được quy trình xây dựng luật tại Việt Nam chặt chẽ và công khai, minh bạch theo quy định của Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Quy trình này bao gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn. Hằng năm, trên cơ sở đề nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền trình dự án luật, pháp lệnh, UBTVQH lập và trình QH xem xét, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Trên cơ sở chương trình đó, UBTVQH phân công, chỉ đạo, đôn đốc và giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện chương trình này. Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của QH có trách nhiệm thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện các dự án luật trên cơ sở ý kiến của các ĐBQH, ý kiến của nhân dân, các chuyên gia, đối tượng chịu tác động, các cơ quan, tổ chức hữu quan, UBTVQH với tư cách là cơ quan chuẩn bị và chủ trì kỳ họp QH có trách nhiệm cho ý kiến đối với các dự án luật. Giữa hai kỳ họp, các đoàn ĐBQH cũng tổ chức các hội nghị để trao đổi, thảo luận và lấy ý kiến của các đối tượng có liên quan. Với một số dự án luật quan trọng, phức tạp, UBTVQH còn tổ chức hội nghị các ĐBQH chuyên trách và các chuyên gia đóng góp. Ý kiến của ĐBQH là cơ sở quan trọng, mang tính quyết định trong việc hoạch định chính sách, chỉnh lý và hoàn thiện từng nội dung của dự án luật.

Theo trình tự này, QH đã nắm trọn quyền lập pháp, từ khâu xây dựng chương trình, trình dự án, lấy ý kiến góp ý, thẩm tra, chỉnh lý và thông qua luật. Quy trình xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay cũng tương đồng và phù hợp với quy trình xây dựng luật ở nhiều quốc gia trên thế giới. Vì thế, ý kiến một số người cho rằng QH chỉ là cơ quan thông qua luật là không có cơ sở lý luận và thực tiễn. Thực tế cho thấy, nếu so sánh giữa dự án luật trình QH với các dự án luật đã được các cơ quan của QH thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện và QH thông qua thì chất lượng được nâng cao, phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhất là về các chính sách, cả về mặt nội dung cũng như hình thức văn bản. 

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2020

VÔ PHÁP SAO GỌI LÀ CÓ… “LÝ TƯỞNG”?!

Ngay sau khi Phạm Đoan Trang (42 tuổi, trú tại quận Đống Đa, TP Hà Nội, tạm trú tại quận 3, TP Hồ Chí Minh) bị Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hà Nội khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam" theo Điều 88, Bộ luật Hình sự 1999 và tội "Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam" theo Điều 117, Bộ luật hình sự 2015, một số đối tượng phản động, bất mãn, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã lên mạng xã hội đăng các dòng trạng thái và bài viết xuyên tạc, đánh "hỏa mù" nhằm gây sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước. Các đài nước ngoài phát bằng tiếng Việt cũng có những bài viết, video phỏng vấn một số đối tượng chống đối để xuyên tạc, vu khống Nhà nước ta đàn áp những người bất đồng chính kiến, vi phạm nhân quyền... với mục đích là vận động các tổ chức quốc tế, các chính phủ gây sức ép với Nhà nước Việt Nam thả Phạm Đoan Trang.

Đây là thủ đoạn cũ, đã được các đối tượng chống đối "thuộc bài" sau mỗi lần cơ quan chức năng Việt Nam áp dụng các biện pháp tố tụng đối với những công dân vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, lại có một số người muốn thể hiện bản thân, muốn gây sự chú ý để hút "like" trên mạng xã hội, hoặc vì những lý do khác đã đăng những bình luận thiếu trách nhiệm, lệch lạc về nhận thức, cổ xúy cho những hành vi vi phạm pháp luật, đi ngược lại lợi ích chung của đất nước.

"Với tôi Phạm Đoan Trang là một người sống có lý tưởng... Người có lý tưởng là người nhìn thấy mục đích cao cả trong cuộc sống của mình, vì mục đích ấy mà người ta có thể dám đánh đổi sự an bình, hạnh phúc của bản thân... Ở Việt Nam, những con người sống có lý tưởng cao cả thực sự rất ít... Phạm Đoan Trang đã tạo được một hình ảnh đẹp trong lòng mọi người... Trang không đẹp về hình thức, ít nói, thầm lặng, khiêm tốn nhưng rất kiên định, quả quyết, dũng cảm trên con đường mình đã chọn..." - đó là bình luận rất lệch lạc của Đ.B.C - một võ sư Karate trên trang Facebook của mình. Dĩ nhiên, một bình luận như vậy của một người khá nổi danh như Đ.B.C, có mối quan hệ rộng cả trên "thế giới ảo" lẫn đời thực sẽ tạo ra sự lan truyền khá lớn.

Bất luận là thế nào, một người vi phạm pháp luật thì không thể gọi người đó là có "lý tưởng" được. Chấp hành pháp luật luôn là thước đo về đạo đức, ý thức và nhân cách sống của mỗi con người.

Bàn về chủ đề này, tôi chợt nhớ đến "Hoa hướng dương" Lê Thanh Thúy, cũng là một người trẻ trạc tuổi với Phạm Đoan Trang. Thúy không may mắc bệnh ung thư, nhưng với nghị lực sống, cô đã biến những ngày cuối đời mình trở thành những ngày có ý nghĩa. Chương trình "Ước mơ của Thúy" đã trở thành nhịp cầu nhân ái của xã hội kết nối yêu thương với những người không may mắc bệnh hiểm nghèo. Thúy đã lan tỏa nghị lực sống, lan tỏa ước mơ, lý tưởng của tuổi trẻ cho những người cùng cảnh ngộ và cho những bạn trẻ bằng thông điệp: Hãy sống có ích, đừng để lãng phí thời gian sống của mỗi đời người bằng những việc làm vô nghĩa. Bản thân cô, dù không biết "ra đi" lúc nào, nhưng vẫn quyết tâm tốt nghiệp chương trình trung học phổ thông và ước mơ thi vào đại học...  Như vậy, lý tưởng sống của Lê Thanh Thúy thật đáng ngưỡng mộ mà những người trẻ, có sức khỏe cũng không dễ làm được. Đơn cử một trường hợp của Thúy trong rất nhiều những tấm gương trẻ sống có hoài bão, có lý tưởng. Vậy mà, Đ.B.C lại viết rằng: "Ở Việt Nam, những người sống có lý tưởng cao cả thật sự rất ít"?

Phạm Đoan Trang có được may mắn là xuất phát điểm tốt hơn Thúy rất nhiều. Trang sinh ra trong một gia đình mà bố, mẹ, anh trai đều làm việc trong cơ quan nhà nước. Bản thân Trang được ăn học đến nơi đến chốn. Sau khi tốt nghiệp Đại học Ngoại thương Hà Nội, Trang được tuyển vào làm phóng viên của một số tờ báo điện tử có uy tín, rồi chuyển sang làm báo hình... Tuy nhiên, sau khi tự ý xuất cảnh ra nước ngoài không được cơ quan chủ quản cho phép, trở về, Trang bắt đầu "tự diễn biến", lập trang web, thông qua đó để cấu kết với một số tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài xuyên tạc, chống phá các chủ trương, chính sách của Nhà nước; kích động, cổ xúy các hành vi chống đối, kêu gọi biểu tình... Gần đây, Trang viết và tán phát một số cuốn sách có nội dung tuyên truyền xuyên tạc thực trạng dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam; bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động lật đổ chính quyền.

Kết cục của cái gọi là "lý tưởng sống" đó của Phạm Đoan Trang là gì? Là đánh mất sự nghiệp, đánh mất tương lai, gây sự thất vọng cho gia đình. Đồng thời, Trang còn phải bị trả giá bởi sự trừng phạt của pháp luật. Vậy kết cục đó đâu có tốt cho Trang và xã hội?

Nếu ai đó gọi mục đích chống phá Nhà nước của Phạm Đoan Trang là "lý tưởng" thì cái "lý tưởng" đó cũng đâu có đúng với nội hàm của hai từ "lý tưởng" là hướng tới mục đích tốt nhất, cao đẹp nhất đối với bản thân, gia đình và xã hội.

Chúng ta đang sống trong một xã hội an bình, đất nước ngày một phát triển. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày một được cải thiện và nâng cao. Thế hệ trẻ đang có một môi trường tốt để phát triển khả năng và trí tuệ của mình. Vậy nên, mong rằng, trước khi gõ bàn phím để đưa ra những bình luận, nhận xét trên mạng xã hội, Đ.B.C hay một ai đó muốn thể hiện "tư duy", "ý tưởng" khác người của mình cũng cần suy nghĩ một cách thấu đáo, có trách nhiệm. Đừng cổ xúy cho những hành vi vi phạm pháp luật chỉ để thể hiện bản thân mình. Đừng cố "tung hô" một nhân vật, mà nhân vật đó không bao giờ được giới trẻ lựa chọn là hình mẫu để noi theo.

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2020

CHIÊU CHỐNG PHÁ NGUY HIỂM CỦA RẬN CHỦ VIỆT TÂN

Có thể nói, trong những ngày này việc Bộ Chính trị thi hành kỷ luật ông Nguyễn Văn Bình (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, nguyên Bí thư Ban Cán sự đảng, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) bằng hình thức cảnh cáo đã thu hút sự quan tâm của dư luận.

Đám bồi bút, rận chủ Việt Tân cũng nhanh chóng lợi dụng vụ việc này để xuyên tạc, chống phá, cụ thể, ngày 8/11/2020, trên trang chủ Việt Tân đăng tải bài viết “Giơ cao đánh khẽ – Cảnh cáo Nguyễn Văn Bình” với nội dung cho: rằng việc kỷ luật ông Nguyễn Văn Bình là quá nhẹ, là một hiện tượng phe cánh của công tác nhân sự đại hội XIII của Đảng.

Chúng ta cần hiểu đúng sự việc, để tránh bị kẻ xấu lợi dụng:

Việc xử lý kỷ luật đối với ông Nguyễn Văn Bình diễn ra đúng trình tự: căn cứ Quy định số 102-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, xét bối cảnh tình hình, nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm và quá trình công tác, đóng góp của đồng chí đối với Đảng, Nhà nước, hình thức kỷ luật cảnh cáo đối với ông Bình đúng người, đúng việc chứ không phải nặng hay nhẹ.

Kết quả xử lý kỷ luật ông Bình được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình ủng hộ, vừa có tính chất nghiêm khắc, làm gương, vừa hợp tình, hợp lý.

Tuyệt đối không có hiện tượng bè phái, phe cánh trong việc xử lý kỷ luật ông Nguyễn Văn Bình; bởi những vi phạm của ông Bình ở mức nghiêm trọng cần phải xử lý kỷ luật theo đúng pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng, mỗi người dân Việt Nam đều sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có vi phạm cần phải xử lý kỷ luật là đương nhiên, không có ai ngoại lệ.

Quả đúng thật đám Việt Tân “không từ thủ đoạn” để “chọc gậy bánh xe”, mục đích nhằm hạ bệ uy tín của Đảng, Nhà nước, gây nhiễu loạn thông tin, “lèo lái” dư luận, xuyên tạc công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng.

Đây là một chiêu trò quen thuộc nhưng hết sức nguy hiểm, đòi hỏi mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác trong quá trình tiếp nhận thông tin./.


Thứ Hai, 16 tháng 11, 2020

ÂM MƯU BẮT NGUỒN TỪ LỢI ÍCH CÁ NHÂN

Có thể khẳng định chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Nhìn vào thực tế các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng đại đa số chức sắc tôn giáo, tăng ni, phật tử đã làm tốt việc đạo, việc đời, hướng dẫn tín đồ chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, lợi dụng đường lối, chính sách đổi mới, mở cửa và tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, một số đối tượng đứng đầu các giáo xứ, núp dưới chiêu bài "tự do tôn giáo" đã lái hoạt động tại các giáo xứ đi ngược với pháp luật và sự phát triển của đất nước.

Đến giờ, chắc hẳn nhiều người dân ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình) vẫn chưa hết bất bình và bức xúc khi nhắc tới một linh mục từng làm dậy sóng dư luận địa phương và cả nước cách đây khoảng hơn 2 năm bởi những việc làm coi thường luật pháp. Với tư cách là quản xứ, thay vì phải làm những điều đúng với chức phận của một cha xứ, linh mục này lại đến từng nhà giáo dân và các gia đình đảng viên giáo dân gốc giáo để xúi giục bỏ Đảng, yêu cầu tháo cờ Tổ quốc. Tiếp đó, trong năm 2019, linh mục này đã không ít lần kích động để bà con giáo dân nghỉ chạy thuyền phục vụ khách du lịch tại động Phong Nha-Kẻ Bàng nhằm gây sức ép với UBND tỉnh Quảng Bình tăng giá chạy thuyền, dù kiến nghị tăng giá cho đội thuyền của các giáo dân vẫn đang được các cấp xem xét. Nhưng rồi cũng rõ, bản chất những hành động ấy là hoàn toàn mang động cơ cá nhân, "đục nước béo cò", muốn biến giáo xứ thành “căn cứ” riêng nhằm mục đích vụ lợi kinh tế bản thân.

Hay như một linh mục quản xứ khác ở thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình từng lợi dụng vấn đề cải cách giáo dục để rao giảng trên nhà thờ nghiêm cấm học sinh đến trường, nếu phụ huynh nào không nghe lời sẽ bị xử lý, bị tẩy chay khỏi giáo xứ, không được đi lễ nhà thờ. Thậm chí, linh mục này còn cắt cử tay chân chặn đường, ném đá vào các học sinh nhằm ngăn cản các em đến trường. Cuối cùng mới vỡ lẽ, mục đích của những hành vi đó chỉ là để phục vụ mưu đồ chính trị cá nhân, nhằm gây sức ép với chính quyền địa phương và thể hiện vai trò “thủ lĩnh” trong giáo xứ.

Dư luận có lẽ cũng chưa thể quên một số linh mục cực đoan tại các giáo xứ ở hai huyện Bố Trạch và Quảng Trạch (tỉnh Quảng Bình) ngang nhiên lạm quyền để lấn chiếm đất công, làm đường, mở rộng khuôn viên nhà thờ, từ đó khiến tình hình tại địa phương có lúc đứng trước nguy cơ bất ổn, thậm chí xung đột. Gần đây, khi cả nước đang nêu cao tinh thần trách nhiệm, nỗ lực ngăn ngừa dịch Covid-19 lây lan, thì lại xảy ra sự việc một số linh mục ở các giáo xứ thuộc tỉnh Hà Tĩnh rung chuông tổ chức hành lễ, bất chấp Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản của Bộ Y tế cũng như địa phương về việc giãn cách xã hội, hạn chế tập trung đông người để phòng, chống dịch Covid-19...

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật về công tác tôn giáo, trong đó đưa ra những nguyên tắc cụ thể liên quan tới lĩnh vực này. Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất là: Quyền tự do tôn giáo không phải là vô hạn và Nhà nước giữ vai trò trung gian trong việc ngăn chặn tình trạng các tổ chức tôn giáo lạm quyền chính trị hoặc lạm quyền tự do tôn giáo để tranh giành ảnh hưởng, xâm phạm vào các quyền tự do dân sự khác của người dân; hoạt động của các tôn giáo phải tuân thủ theo hiến pháp, pháp luật...

Bởi vậy, hành động của các linh mục nói trên xét cho cùng đã vi phạm nguyên tắc “lạm quyền”, tự do tôn giáo một cách quá trớn, muốn biến các giáo xứ thành “vương quốc” riêng, lạc nhịp với tinh thần, nguyên tắc thượng tôn pháp luật mà bất cứ công dân-giáo dân nào ở Việt Nam cũng như trên thế giới phải thực hiện.

ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO – CHỦ TRƯƠNG XUYÊN SUỐT VÀ NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

Sinh thời, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến đồng thuận và đoàn kết, theo Người: "Dân ta xin nhớ chữ đồng: đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh"; "Biết đồng sức, Biết đồng lòng. Việc gì khó làm cũng xong", "Sử ta dạy ta bài học này: Lúc nào dân tộc ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn".

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng Cộng sản Việt Nam, 90 năm lãnh đạo đất nước, đều thống nhất quan điểm là phải xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp, tôn giáo. Tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân tộc. Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Việt Nam là quốc gia đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa. Mỗi một tộc người có một niềm tin, tín ngưỡng và cách bày tỏ đức tin khác nhau. Như vậy, trên lý thuyết, để có được sự đồng thuận, đoàn kết tôn giáo là khó khăn. Song, thực tiễn ở Việt Nam, đoàn kết tôn giáo là một truyền thống rất tự nhiên, rất tập tục thể hiện trên các điểm sau: tín đồ của tôn giáo này có thể thực hiện hành vi cúng lễ của các tôn giáo khác. Người Việt vừa có thể đến chùa lễ Phật, vừa đến đền lễ Thánh, đến phủ lễ Mẫu... Tín đồ tôn giáo vừa có thể tham gia những buổi lễ trọng của tôn giáo mình nhưng vẫn có thể tham gia các lễ hội dân gian, thành kính cúng lễ trước các Thánh, Thần hay tri ân những người hy sinh vì dân vì nước.

Mặc dù, nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt là đa phương, nhiều chiều, trong một làng, một xã có thể có nhiều vị thần hoàng làng và thần làng nào làng ấy thờ, thánh làng nào làng ấy cúng, nhưng mọi thánh thần “chung sống” cạnh nhau, đều bình đẳng, cùng đồng tôn, không xung đột, mâu thuẫn hay phân kháng. Tín đồ khác đạo vẫn cùng nhau chung lưng đấu cật xây dựng quê hương đất nước.

Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Giê su có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giê su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết”.

Hồ Chí Minh nói như vậy có nghĩa, Phật Thích Ca, Khổng Tử hay Giê su đều là các bậc đại trí của xã hội đương thời khi đó, học thuyết của họ đều chủ trương xây dựng một xã hội đại đồng không còn áp bức, lý tưởng của họ đều muốn giải thoát chúng sinh, mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại.

Xét cho đến cùng, mục tiêu và lý tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tôn giáo là như nhau, chỉ khác nhau ở con đường và cách thức hành động để đạt đến mục tiêu đó. Người vô thần hay người tôn giáo đều giống nhau trong thái độ và nghĩa vụ trước các vấn đề của cuộc sống, đều khát khao một cuộc sống yên bình, có khác chăng là ở cách thức biểu đạt mà thôi.  

Ở Việt Nam, chưa lúc nào, người cộng sản chủ trương tiêu cực về tôn giáo. Thời kỳ đầu khi mới thành lập Đảng Cộng sản, quan điểm tả khuynh về tôn giáo của Quốc tế Cộng sản, của nước Nga Xô Viết (những đầu thế kỷ XX) đã ảnh hưởng rất mạnh đến nhận thức và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Không khí đấu tranh về đảng phái, về tư tưởng, về lập trường giai cấp ở Việt Nam cũng khá gay gắt. Một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân nhìn nhận về tôn giáo thuần tuý từ góc độ chính trị, hiểu một cách nông cạn tôn giáo là sai lầm, lạc hậu, mê tín. Người dân theo tôn giáo do chịu ảnh hưởng của thế giới quan duy tâm và hữu thần nên dễ bị mê muội.

Tuy nhiên, những năm 30, 40 của thế kỷ XX, Lê Hồng Phong, Tr­ường Chinh với tư cách là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương đã có nhiều bài viết đả phá những quan điểm, nhận thức lệch lạc về tôn giáo khi đó.

Trong tập sách Gốc rễ của tôn giáo được viết năm 1933, Lê Hồng Phong (bút danh Hải An) đã phủ định thẳng thừng và trực diện các quan điểm, nhận định như “Nếu không thủ tiêu tôn giáo trong quần chúng thì cách mạng không thể thắng lợi được”, hay “tín đồ tôn giáo phần lớn đi theo chủ nghĩa đế quốc”.

Năm 1946, với bài viết Đánh đổ khuynh hư­ớng sai lầm. Đừng xâm phạm tới tín ng­ưỡng của dân, Trường Chinh chỉ rõ, ngư­ời mác xít tuy không cổ súy những hủ tục, nhưng vấn đề là phải “giáo dục cho dân biết tại sao mê tín là sai, hủ tục là dở. Và dù vậy cũng không thể hấp tấp cấm đoán. Nếu vì cải cách phong tục và tôn giáo mà chia gây chia rẽ nhân dân hoặc làm cho dân hiểu lầm cách mạng, oán ghét chính quyền mới, thì đó là một tội không thể tha thứ đ­ược”.

Hồ Chí Minh thì nhắc lại nhiều lần, Việt Minh (tức người cộng sản) không bao giờ chống đạo hay phản đối tôn giáo, sự xích mích nhỏ giữa đồng bào có đạo và không có đạo là vì đạo đức giáo hóa chưa được phổ cập, không ảnh hưởng đến sự đại đoàn kết của dân tộc.

Hiến pháp đã quy định, tín ngưỡng tự do, ai khiêu khích tôn giáo là làm sai Hiến pháp sẽ bị xử phạt. Người cộng sản cũng không chủ trương phế bỏ tôn giáo và các yếu tố thờ cúng của nó. Người Cộng sản làm cách mạng, đấu tranh chống kẻ thù là để đem lại độc lập tự do cho nước nhà, cũng là để cho văn hóa, chính trị, kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo đều được phát triển tự do.

Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam dù tuyên bố theo chủ nghĩa duy vật và vô thần nhưng trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp quy về tôn giáo của Nhà nước vẫn ghi nhận những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của tôn giáo. Thậm chí khẳng định sự tồn tại lâu dài và tương đồng về lý tưởng của tôn giáo với chủ nghĩa xã hội “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”.

Từ trước cho đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn tin dùng những vị Bộ trưởng là trí thức tôn giáo như Nguyễn Mạnh Hà, Ngô Tử Hạ, Vũ Đình Tụng. Mời các chức sắc Công giáo như giám mục Lê Hữu Từ, Giám mục Hồ Ngọc Cẩn làm cố vấn tối cao cho Chính phủ (1945), Linh mục Phạm Bá Trực làm Phó ban Thường trực Quốc hội (năm 1946), ông Cao Triều Phát (chủ tịch Hội Cao Đài cứu quốc 12 phái hiệp nhất) làm Cố vấn Ủy ban kháng chiến hành chính Nam bộ.

Rất nhiều chức sắc các tôn giáo hiện nay tham gia đại biểu Quốc Hội và Hội đồng nhân dân các cấp như: Hòa Thượng Thích Chơn Thiện, Hòa Thượng Thích Thạch Huôi, Thượng tọa Thích Bảo nghiêm, Thượng tọa Thích Thanh Quyết, Linh mục Trần Mạnh Cường, Linh mục Lê Ngọc Hoàn, Nguyễn Tấn Đạt (Phó Ban trị sự Phật giáo Hòa Hảo), Trần Văn Huynh (Chánh phối sư, Chánh Hội trưởng Ban Cai quản Cao Đài Bạch Y)…

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2020

GIỚI HẠN CỦA LIVESTREAM “CHỐNG THAM NHŨNG”

Thời gian gần đây, khi vào Facebook hoặc các nền tảng mạng xã hội, chúng ta bắt gặp những video được một số người dân quay bằng điện thoại thông minh phát trực tiếp (livestream) từ trụ sở tiếp công dân với lời lẽ gay gắt tố cáo người này, người nọ vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực...

Điều đáng nói là những thông tin tố cáo kiểu trên chưa được cơ quan chức năng xác định đúng sai, nhưng người "lai-trim" đã tự cho mình được quyền qui kết gây hiệu ứng không tốt trên mạng xã hội. Việc làm này cần phải được xử lý nghiêm theo qui định của pháp luật.

Đ.V, ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội khá nổi tiếng trên trang "T.D" bởi tần suất livestream liên tục trên trang mạng này. Đây là một trang mạng được lập ra và "chạy" trên nền tảng facebook nên có thể chia sẻ, bình luận, bấm "like", tạo hiệu ứng lan tỏa đến rất nhiều người sử dụng facebook.

 Với danh nghĩa livestream để "cộng đồng mạng giám sát" việc thực thi công vụ của cán bộ tiếp công dân khi giải quyết khiếu nại, tố cáo của Đ.V; nhưng thực tế, khi xem một vài video, thấy rằng, Đ.V không chú tâm vào việc trình bày nội dung mấu chốt khiếu nại, tố cáo của mình, mà chủ yếu là tự diễn thuyết, dẫn dắt câu chuyện để thuyết minh tạo hiệu ứng thu hút người xem cho video livestream là chính.

Trong vai là người "chống lại cả một đường dây tiêu cực", Đ.V tố cáo hết người này đến người khác nhưng không đưa ra được chứng cứ mà đã tự qui kết, gắn mác cho họ là tham nhũng, tiêu cực, vi phạm này nọ... Ngay cả những người hàng xóm của Đ.V cũng bị anh ta livestream đưa lên mạng với những suy diễn thiếu căn cứ, vi phạm đời tư cá nhân.

Điều đáng nói là, những video livestream của Đ.V đã thu hút được khá nhiều người xem. Nhiều người không có thông tin hai chiều đã vội đưa ra những bình luận qui chụp, cổ xúy Đ.V là "người hùng" chống tham nhũng; còn những kẻ bất mãn, cơ hội thì lợi dụng để công kích chính quyền.

Trường hợp của Đ.V không phải là cá biệt, có lẽ nhận thấy sự "biến tướng" của một số cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ của công dân để ghi hình, đưa lên mạng xã hội phục vụ những mục đích không đúng pháp luật, UBND TP Hà Nội đã ban hành nội qui tiếp công dân, trong đó có qui định không cho phép người dân quay phim, chụp hình khi chưa có sự đồng ý của cán bộ tiếp công dân.

Qui định này đã gây ra những ý kiến trái chiều. Người thì đồng tình vì cho rằng, công dân có quyền giám sát cán bộ thực thi công vụ nhưng ngược lại, cán bộ cũng có quyền bảo vệ hình ảnh cá nhân theo pháp luật dân sự; công dân không thể tự do làm điều mình muốn khi quyền ấy lại xâm phạm đến quyền cá nhân của người khác... Những người theo quan điểm phản đối cho rằng, nếu phải xin phép cán bộ tiếp dân mới được ghi hình, chụp hình sẽ làm hạn chế quyền giám sát của người dân, không ngăn chặn được thái độ cửa quyền, nhũng nhiễu, tiêu cực...

Về phía cán bộ tiếp công dân, biết là người dân đang ghi hình để livestream trực tiếp trên mạng xã hội với mục đích công kích cá nhân, cơ quan, tổ chức một cách thiếu căn cứ nhưng cũng rất khó ngăn cấm họ, bởi người dân cho rằng, họ làm những gì pháp luật không cấm. Có người còn viện dẫn Điều 8 Hiến pháp qui định: “cán bộ, công chức, viên chịu sự giám sát của Nhân dân” để đấu lý với cán bộ tiếp công dân...

Thực ra, từ khi thành lập nước đến nay, với bản chất là "Nhà nước của dân, do dân và vì dân", trong quá trình xây dựng Hiến pháp và pháp luật, Nhà nước ta luôn coi trọng quyền tự do, dân chủ của công dân; trong đó có quyền giám sát cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước.

Tuy nhiên, trước đây, khi các thiết bị số và mạng xã hội chưa phát triển, người dân cũng có thể giám sát bằng các hình thức khác nhau. Hiện nay, điện thoại thông minh kết nối internet trở nên thông dụng thì mạng xã hội trở thành một kênh thông tin quan trọng để cơ quan chức năng phát hiện, xử lý những vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức cũng như các hiện tượng tiêu cực khác trong xã hội.

Trở lại vấn đề có nên cho phép hay không việc công dân livestream tại trụ sở tiếp công dân trên mạng xã hội? Theo chúng tôi, chúng ta không thể đi ngược lại với xu thế công nghệ của thời đại 4.0, vì ghi hình để làm căn cứ đấu tranh cũng là một cách giám sát việc thực thi công vụ. Song lúc nào thì được ghi hình, cách ghi hình như thế nào để không làm ảnh hưởng đến cán bộ và hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, địa điểm nào cấm không được phép ghi hình... thì cần có qui định cụ thể để người dân và cơ quan nhà nước căn cứ vào đó mà thực hiện.

Tuy nhiên, bất luận là thế nào, chúng ta cũng không chấp nhận việc một số cá nhân lợi dụng quyền tự do dân chủ, lợi dụng "quyền giám sát" của công dân để xuyên tạc sự thật, tự ý qui chụp, cắt ghép hình ảnh kết luận thay cơ quan nhà nước, gây ra những hiệu ứng không tốt trên mạng xã hội. Điều 16, Luật An ninh mạng có qui định về phòng ngừa, xử lý thông tin  trên không gian mạng, trong đó nghiêm cấm việc đưa nội dung làm nhục, vu khống người khác; đưa thông tin bịa đặt, sai sự thật, xâm phạm đến danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nghị định 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 3-2-2020 cũng đã có chế tài xử phạt các vi phạm trong lĩnh vực này...

Vì vậy, đối với những trường hợp đưa thông tin tố cáo tham nhũng, tiêu cực cần có bằng chứng rõ ràng, bên cạnh việc làm "video clip" để tố cáo tiêu cực, người dân cần có đơn gửi tới các cơ quan có thẩm quyền để đề nghị xem xét giải quyết khiếu nại - tố cáo của mình.

Chỉ có cơ quan chức năng mới có quyền kết luận người đó có tham nhũng, tiêu cực, vi phạm pháp luật hay không. Khi chưa có kết luận cuối cùng, người dân không được phát ngôn qui chụp, khẳng định, làm thay việc giải quyết khiếu nại - tố cáo của cơ quan nhà nước. Khi đến cơ quan Nhà nước, người dân cần có thái độ hòa nhã, lịch sử, thể hiện văn hóa nơi công sở; không được gây mất trật tự, dùng điện thoại dí vào mặt cán bộ tiếp dân để ghi hình, chụp ảnh thể hiện sự thiếu ý thức tôn trọng người khác.

Về phía cơ quan nhà nước, khi tiếp công dân cần căn cứ vào Luật tiếp công dân. Cán bộ tiếp công dân cần có thái độ lịch sự, văn hóa, ứng xử đúng mực với người dân, đồng thời cũng có quyền từ chối không tiếp nếu công dân có hành vi đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị, người tiếp công dân, vi phạm nội qui tiếp công dân.

QUỐC HỘI – NƠI GẶP GỠ CỦA “Ý ĐẢNG, LÒNG DÂN”

Mỗi quốc gia đều có một chế độ chính trị phù hợp với lịch sử, văn hóa và điều kiện kinh tế-xã hội của mình. Chế độ chính trị mà toàn thể dân tộc Việt Nam đang đồng lòng, nỗ lực xây dựng là chế độ chính trị pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, hướng tới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là vấn đề cốt lõi, hết sức rõ ràng của chế độ chính trị nước ta. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được quy định rõ trong Hiến pháp của Việt Nam, mà mới nhất là Hiến pháp năm 2013 (Điều 4 của Hiến pháp năm 2013), phù hợp với ý chí của toàn dân tộc, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Trước khi được thông qua, dự thảo Hiến pháp năm 2013 đã được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi toàn dân, bằng nhiều hình thức phong phú, cả ở trong nước và ở nước ngoài. Kết quả lấy ý kiến cho thấy, đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, người dân đều đồng tình như dự thảo Hiến pháp và cho rằng mục tiêu, lý tưởng của Đảng không có gì khác hơn là lợi ích của dân tộc, đất nước và nhân dân.

Hiến pháp năm 2013 cũng quy định rõ: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Quốc hội do nhân dân bầu ra, là cơ quan nhà nước cao nhất thực hiện quyền lực của nhân dân. Chỉ Quốc hội mới có quyền thể chế ý chí, nguyện vọng của nhân dân thành Hiến pháp và pháp luật, thành các quy định chung mang tính chất bắt buộc phải tuân thủ đối với mọi tầng lớp trong xã hội.

Hiến pháp đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Điều này không hề làm mất đi vai trò của Quốc hội. Bởi quyền lực nhà nước ở nước ta là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng đó là sự lãnh đạo có nguyên tắc và theo quy định. “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4, Hiến pháp năm 2013). Như vậy, mối quan hệ giữa Đảng và Quốc hội vẫn là mối quan hệ biện chứng, hai chiều, nghĩa là Đảng lãnh đạo hoạt động của Quốc hội, nhưng sự lãnh đạo đó vẫn phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không thể đứng trên, đứng ngoài Hiến pháp và pháp luật đã được Quốc hội thông qua. Đảng lãnh đạo nhưng luôn tôn trọng và phát huy vai trò của Quốc hội, không áp đặt, không làm thay, mà định hướng nội dung và phương thức hoạt động của Quốc hội. Đảng lãnh đạo, chứ Đảng không điều hành công việc của Quốc hội.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

XÉT XỬ THÀNH VIÊN NHÓM “HIẾN PHÁP” VỀ TỘI PHÁ RỐI AN NINH

Ngày 31/7, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra xét xử vụ án phá rối an ninh đối với 8 bị cáo tham gia nhóm “Hiến Pháp” bao gồm: Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, Hoàng Thị Thu Vang, Đỗ Thế Hóa, Hồ Đình Cương, Ngô Văn Dũng, Trần Thanh Phương, Đoàn Thị Hồng và Lê Quý Lộc.

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2020

NGÀI ĐẠI SỨ ANH ĐỊNH BAN PHÁT DÂN CHỦ CHO VIỆT NAM?

Mới đây, sau khi Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh xét xử các đối tượng phản động mang tên nhóm “Hiến pháp”, trên trang Twitter của mình, Gareth Ward, Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam đã viết: “Tôi rất lo ngại về bản án nặng nề dành cho 8 nhà hoạt động nhân quyền đã bị xử hôm 31 Tháng Bảy vừa qua. Tôi hy vọng VN sẽ thay đổi cách tiếp cận đối với những người tìm cách thúc đẩy tự do ngôn luận và một nền truyền thông tự do, và thấy những điều này không bị đe dọa mà nó sẽ có lợi cho sự phát triển VN cũng như làm cho đất nước VN sẽ ngày càng mạnh mẽ hơn.”

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

QUYỀN, NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN CỦA CÁ NHÂN, CÔNG DÂN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Môi trường mạng là không gian rộng lớn, cá nhân, công dân và bất kỳ cơ quan, tổ chức nào cũng đều có thể tự do bày tỏ quan điểm chính kiến, kết nối trao đổi với nhau. Đó là quyền tự do của cá nhân: quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin (tự do tìm kiếm, tiếp nhận và trao đổi thông tin) trên môi trường mạng. Đây là quyền tự do cơ bản của công dân được pháp luật quốc tế, Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tôn trọng và bảo vệ.

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

TIẾP TỤC HOÀN THIỆN QUY TRÌNH XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM

Có thể nói hệ thống pháp luật Việt Nam kể từ thời điểm đổi mới đất nước năm 1986 đến nay đã phát triển không ngừng và còn phải tiếp tục hoàn thiện. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHVBQPPL mà Quốc hội vừa thông qua sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Theo đó, cơ quan trình dự án luật được quyền bảo vệ quan điểm của mình trong toàn bộ quá trình soạn thảo và trình thông qua dự án luật. Còn cơ quan thẩm tra, dù đó là các ủy ban của Quốc hội hay UBTVQH thì phải làm đúng chức năng của cơ quan thẩm tra, giúp Quốc hội xem xét, thậm chí có thể đề nghị Quốc hội không thông qua một dự án luật là điều hoàn toàn có thể xảy ra nhưng không nên làm thay và tước đi quyền của cơ quan soạn thảo dự án luật.  

THÀNH QUẢ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM LÀ ĐIỀU KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Lập hiến và lập pháp là một trong những hoạt động quan trọng và đặc trưng nhất của Quốc hội Việt Nam. Chức năng này đã được thể hiện xuyên suốt qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013. Ngoài Hiến pháp năm 1946 quy định nguyên tắc chung “Nghị viện nhân dân đặt ra các pháp luật”, thì cả 4 bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định Quốc hội là cơ quan lập hiến và lập pháp. Qua mỗi bản Hiến pháp, cơ chế thực hiện chức năng lập pháp của Quốc hội được kế thừa, phát triển và ngày càng được làm rõ hơn.