Hiển thị các bài đăng có nhãn đất nước. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đất nước. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2023

BÁO CHÍ GÓP PHẦN QUAN TRỌNG VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Nhân kỷ niệm 98 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2023), chiều 14/6, tại Hà Nội, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì cuộc gặp mặt, làm việc với lãnh đạo các cơ quan báo chí chính trị chủ lực, đánh giá một số nét nổi bật trong thông tin, tuyên truyền từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay; chỉ đạo, định hướng trọng tâm thông tin, tuyên truyền thời gian tới.

Cùng dự cuộc gặp mặt có đồng chí Lâm Phương Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chánh Văn phòng Thường trực Văn phòng Trung ương Đảng; đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; đồng chí Lê Ngọc Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam; đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội nhà báo Việt Nam; đại diện lãnh đạo 12 cơ quan báo chí chính trị chủ lực.

Tại cuộc gặp mặt, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, công tác thông tin, tuyên truyền việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị, những sự kiện, vấn đề quan trọng, tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước được các cơ quan báo, đài, nhất là các cơ quan báo chí chính trị chủ lực, quan tâm tích cực, chủ động triển khai bài bản, chất lượng, tạo được điểm nhấn, lan tỏa mạnh mẽ, góp phần định hướng dư luận xã hội.

Các báo, đài có nhiều đổi mới, sáng tạo trong việc truyền tải nội dung thông tin, đa dạng hóa hình thức thể hiện, sử dụng các công cụ truyền thông hiện đại để tiếp cận nhiều đối tượng độc giả, khán giả. 12 cơ quan báo chí chính trị chủ lực đã tích cực triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng phóng viên, biên tập viên, cán bộ, người làm báo cả về trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, thực hiện Chuyên đổi số báo chí, thực sự là những cơ quan báo chí đi đầu, gương mẫu trong việc xây dựng môi trường văn hóa trong cơ quan báo chí...

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, từ nay đến cuối nhiệm kỳ Đại hội XIII, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta còn rất nhiều việc phải triển khai, trong đó có những nhiệm vụ cần tập trung thực hiện với tinh thần quyết liệt, quyết tâm cao, nỗ lực vượt bậc. Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa yêu cầu 12 cơ quan báo chí chính trị chủ lực phải bám sát các nhiệm vụ chính trị và tình hình thực tiễn đất nước, tập trung thông tin, tuyên truyền sâu rộng, tạo điểm nhấn nổi bật đối với một số nội dung trọng tâm: Tổng kết, đánh giá kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng từ đầu nhiệm kỳ đến nay; phương hướng, nhiệm vụ giải pháp từ nay đến cuối nhiệm kỳ. Tăng lượng phủ sóng, cập nhật thường xuyên, đầy đủ, toàn diện tin, bài, hình ảnh về các kỳ họp Trung ương, Quốc hội, Chính phủ; xây dựng chuyên mục, chuyên đề phản ánh đậm nét, sinh động và hiệu quả về những nội dung chính, quan trọng của các kỳ họp. Nêu bật những kết quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống; khẳng định công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được chỉ đạo mạnh mẽ, bài bản, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt, có bước đột phá, để lại dấu ấn nổi bật, tạo sự đồng thuận cao trong toàn xã hội. Thông tin tuyên truyền sâu sắc các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; nhận định, đánh giá tích cực của cộng đồng quốc tế về những nỗ lực của Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài; các hoạt động tích cực của Việt Nam khi trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025. Báo Nhân Dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam tăng cường hơn nữa hỗ trợ các cơ quan báo đảng, đài phát thanh - truyền hình địa phương về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật, để hệ thống báo đảng, đài phát thanh - truyền hình cả nước nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả thông tin tuyên truyền.

Nhân kỷ niệm 98 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa gửi những lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến các đồng chí lãnh đạo cơ quan báo chí; ghi nhận, đánh giá cao những đóng góp quan trọng của hệ thống báo chí cả nước, trong đó có 12 cơ quan báo chí chính trị chủ lực; khẳng định Đảng, Nhà nước luôn tạo điều kiện để báo chí phát huy vai trò, vị thế, hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ chính trị được giao.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa tin tưởng, bằng tình cảm, trách nhiệm, trí tuệ, hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy những kinh nghiệm, bề dày truyền thống, nỗ lực đổi mới, sáng tạo, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, hiện thực hóa các mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra


Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

ĐẢNG, MÙA XUÂN VÀ VẬN NƯỚC

Với người dân Việt Nam, mùa xuân luôn thiêng liêng và ấm áp. Mùa xuân gắn với Tết Nguyên đán - Tết cổ truyền của dân tộc, mở đầu năm mới âm lịch. Mùa xuân là mùa cây cối đâm chồi, nảy lộc, nở hoa và là mùa của niềm tin, hy vọng.

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có rất nhiều sự kiện trọng đại xảy ra vào mùa xuân. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa xuân (ngày 3-2-1930) đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường xây dựng và phát triển của dân tộc ta. Từ mùa xuân năm ấy, vận nước đã thay đổi. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, dân tộc Việt Nam tiếp tục tạo lập thêm nhiều mùa xuân huy hoàng, khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ.

Có lẽ hiếm có dân tộc nào trên thế giới khi nói đến Đảng cầm quyền, người dân lại dùng hai chữ “Đảng ta”. Hai chữ đó thật thiêng liêng, tự hào, gắn sâu trong tâm thức của các thế hệ người Việt 93 năm qua. 93 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phấn đấu không ngừng, luôn xứng đáng là “người đày tớ, người lãnh đạo thật trung thành của nhân dân”, “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng ghi nhận.

Sau mùa xuân thành lập Đảng, đến mùa xuân năm 1931 là sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương vào ngày 26-3-1931, tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ngày nay. Đây là tổ chức chính trị - xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.

Mùa xuân năm 1941, Bác Hồ kính yêu trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Giữa một vùng núi non trùng điệp với muôn hoa đua sắc và lòng người rưng rưng, lắng đọng trong giờ phút Bác Hồ đặt bước chân đầu tiên lên đất mẹ tại cột mốc 108 (Pác Bó - Cao Bằng) trong sắc hoa Xuân rực rỡ sau bao năm xa Tổ quốc đã trở thành cảm hứng vô tận cho sự ra đời bài thơ “Mùa Xuân năm 1941” của nhà thơ Tố Hữu: Ôi sáng Xuân nay, Xuân bốn mốt/Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/Bác về... im lặng. Con chim hót/Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ...”.

Điện Biên Phủ - chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân đội nhân dân Việt Nam, là đòn tiến công tiêu diệt lớn nhất, điển hình nhất của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giáng đòn quyết định đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp được tổ chức vào mùa xuân năm 1954 (chiến dịch kéo dài từ ngày 13-3 đến ngày 7-5-1954).

Trận Ấp Bắc là trận chống càn điển hình của quân và dân miền Nam Việt Nam đánh bại lực lượng càn quét của ngụy quân Sài Gòn được cố vấn Mỹ chỉ huy, báo hiệu sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ diễn ra vào mùa xuân năm 1963 (2-1-1963). 5 năm sau, vào dịp Tết Mậu Thân (năm 1968), quân dân miền Nam nhất tề tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở 64 thành phố, thị xã và nhiều vùng nông thôn rộng lớn, tiến công hàng loạt căn cứ quân sự, đánh trúng các sào huyệt, cơ quan đầu não quan trọng của quân Mỹ và quân Ngụy, là đòn quyết định giáng vào chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.

Mùa xuân năm 1973, sau nhiều thất bại thảm hại, Chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt mọi hành động ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ngày 27-1-1973, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari lập lại hòa bình tại Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975, cả dân tộc Việt Nam bừng bừng khí thế cho cuộc tổng tiến công chiến lược. Mở đầu là chiến dịch Tây Nguyên (từ 4-3 đến 24-3-1975). Kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (26-4 đến 30-4-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Có một sự trùng hợp khá lý thú của lịch sử, các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng ta thường được tổ chức vào mùa xuân. Sau mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta lại đem đến cho đất nước những mùa xuân ấm áp, sinh chồi nảy lộc. Đại hội lần thứ nhất của Đảng diễn ra vào mùa xuân năm 1935 tại Ma Cao, Trung Quốc. Gần đây nhất là Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng diễn ra vào mùa xuân năm 2021.

Trong các sự kiện về Đảng ta, mùa xuân và vận nước của Việt Nam không thể không nhắc đến các sự kiện diễn ra trên mảnh đất cách mạng Tuyên Quang. Từ khi có Đảng, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang một lòng một dạ sắt son theo Đảng, xây dựng phong trào, phát triển, củng cố cơ sở cách mạng vững chắc; tiến hành thắng lợi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cấp xã, cấp châu đầu tiên trong cả nước. Khi tình hình thế giới biến động mau lẹ, có lợi cho cách mạng Việt Nam, Bác Hồ đã chỉ thị phải chọn ngay một địa bàn để làm căn cứ lãnh đạo cách mạng cả nước. Tân Trào, Tuyên Quang, mảnh đất hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, có dân tốt, cơ sở cách mạng tốt, địa hình tốt, thuận tiện làm một trung tâm liên lạc với miền xuôi, miền ngược và nước ngoài, đã được chọn làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước.

Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng được tổ chức tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang vào mùa xuân năm 1951 (từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951). Đây là một trong những sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước trưởng thành mới về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng. Đảng từ bí mật trở lại hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển cách mạng.

Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, vào mùa xuân năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại Tuyên Quang để lãnh đạo toàn dân kháng chiến kiến quốc. Ngày 2-4-1947, Người về đến làng Sảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Một lần nữa, Thủ đô Khu Giải phóng năm xưa đã trở thành Thủ đô Kháng chiến, là nơi ở, làm việc của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương.

Sau 7 năm Bác Hồ rời Tuyên Quang về Hà Nội, vào mùa xuân năm 1961 (trong 2 ngày 19 và 20-3-1961), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang vô cùng xúc động được đón Người về thăm. Bác đã đến thăm xóm Hợp Hòa 2, xã Lưỡng Vượng (thị xã Tuyên Quang), Trung đoàn 246, Nông trường Sông Lô, Trường Thiếu nhi vùng cao, Trường Sư phạm cấp I Bình Thuận, Trường Bổ túc văn hóa tỉnh, Trường Đảng tỉnh Tuyên Quang. Người đến dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ III; nói chuyện với nhân dân Tuyên Quang tại sân vận động thị xã; thăm và nói chuyện với nhân dân Tân Trào (Sơn Dương)…

Thực hiện lời căn dặn của Bác khi Người về thăm Tuyên Quang, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn đoàn kết thống nhất, phấn đấu không ngừng và đạt nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt trong năm 2022 vừa qua với sự tăng trưởng kinh tế cao, diện mạo từ đô thị tới nông thôn được đổi thay khởi sắc, đời sống nhân dân được cải thiện.

Mùa xuân năm 2023 này là mùa xuân thứ 93 kể từ ngày Đảng ta ra đời và là mùa xuân thứ ba thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Năm 2022 vừa khép lại với những thành tựu toàn diện của Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội, đối ngoại, an ninh quốc phòng, đặc biệt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, kinh tế đạt tăng trưởng ở mức cao nhất trong nhiều năm qua, vượt qua mọi dự báo lạc quan nhất, tạo đà cho hầu hết các lĩnh vực khác bứt phá… Cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được những thành công lớn, tạo bước chuyển mạnh mẽ. Không còn vùng cấm, không có ngoại lệ. Liên tục các cán bộ vi phạm, kể cả cán bộ cấp cao bị “đưa ra ánh sáng”, bị xử lý đúng người, đúng tội thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước, được nhân dân đồng tình, ủng hộ cao. Qua đó, thể hiện nhất quán quan điểm “nói đi đôi với làm” trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.

Dẫu vẫn còn không ít khó khăn, thách thức, song kết quả của những nỗ lực trong năm vừa qua là tiền đề rất quan trọng cho vận nước vào năm 2023 này.

Với nhân dân, Đảng ta luôn là mùa xuân của dân tộc.

Theo: ĐỖ PHÚ THỌ

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VỀ PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Đại hội VI (năm 1986) nêu tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN. Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh theo con đường XHCN, điều quan trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển, chiến thắng những lực cản đối với công cuộc xây dựng CNXH. Vì thế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Đảng ta xác định phương hướng cơ bản là xây dựng nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân, vì dân; thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại; không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; thiết lập từng bước quan hệ sản xuất XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu; phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN; tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa; thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh; thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam; nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng XHCN ở nước ta.

Đại hội XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó xác định phương hướng cơ bản là: Một là, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Sáu là, xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất. Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VỀ NỘI DUNG XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Đại hội VI của Đảng năm 1986 xác định nội dung với nhiệm vụ của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ là: sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo đảm nhu cầu quốc phòng và an ninh. Đại hội VII (năm 1991), Đảng ta xác định nội dung cơ bản là: Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Do nhân dân lao động làm chủ. Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

Đến Đại hội XI của Đảng năm 2011, Đảng ta nêu nội dung xây dựng CNXH gọn và rõ hơn: Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân do Đảng lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. 

NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VỀ MỤC TIÊU XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Về mục tiêu, từ Đại hội VI (năm 1986) đến nay, dù cách diễn đạt khác nhau, nhưng tựu chung Đảng ta đều xác định rõ được mục tiêu xây dựng CNXH ở nước ta trong thời kỳ quá độ. Cụ thể là: Đại hội VI xác định: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường tiếp theo. Đại hội VII (năm 1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó xác định: Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của CNXH, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước XHCN phồn vinh. Đại hội XI thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định: Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của CNXH với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước XHCN ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: “Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”.

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

TĂNG CƯỜNG ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “… phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chỉ có thể được hiện thực hóa bằng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Đây là cơ sở để nhận thức và giải quyết tốt vấn đề có tính nguyên tắc của phát triển và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

TẬN DỤNG THỜI CƠ, ĐƯA ĐẤT NƯỚC ĐI LÊN

Xuân Nhâm Dần 2022 thắp lên cho chúng ta kỳ vọng về một năm mới tươi sáng hơn sau một năm Tân Sửu 2021 đầy gian khó, đau thương, thử thách do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Ngay những ngày đầu xuân, đội tuyển bóng đá nam và đội tuyển bóng đá nữ đã có những chiến tích lịch sử làm nức lòng nhân dân cả nước, nhân lên niềm tin về một năm mới tốt lành, thắng lợi.

Lúc thử thách gian nguy nhất mới thấy hết được sức sống của một quốc gia, dân tộc. Mặc dù trong suốt mấy tháng ròng, nhiều tỉnh, thành phố phải thực hiện giãn cách xã hội khiến kinh tế tăng trưởng âm vào quý III-2021, một điều hiếm lạ trong suốt hơn 35 năm đổi mới.

Nhưng khi Chính phủ kịp thời thực hiện chủ trương rất đúng đắn, phù hợp với sự thay đổi của tình hình, chuyển nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 sang trạng thái thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả thì kinh tế đất nước lập tức tăng trưởng 5,22% trong quý IV, để rồi mức tăng trưởng cả năm 2021 đạt 2,58%-một kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh ngặt nghèo.

Đặc biệt, hiệu quả từ hoạt động ngoại giao vaccine mang đến hiệu quả cao trong công tác phòng, chống dịch Covid-19. Đến nay, Việt Nam nằm vào nhóm nước có số mũi tiêm vaccine nhiều nhất thế giới và tỷ lệ người dân tiêm đủ mũi vaccine đạt tới 73,9%. Đây là kết quả của một chiến lược chống dịch đúng đắn và sẽ là tiền đề thuận lợi cho việc tự tin mở cửa bình thường trở lại. Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình này.

Mục tiêu của chương trình là góp phần đưa nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, không lỡ nhịp với tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu, đồng thời tạo nền tảng và điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2025 và các năm tiếp theo.

Để đạt được mục tiêu trên, nghị quyết đã đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đúng đắn để mở cửa nền kinh tế; bảo đảm an sinh xã hội; hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; cải cách thể chế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Trong đó, nhiều chính sách đột phá, rất thiết thực. Từ đó, các dự báo trong nước và quốc tế đều đưa ra cái nhìn lạc quan về kinh tế Việt Nam năm 2022, với mức tăng trưởng có thể lên tới 7%.

Để các chính sách có thể đi ngay vào cuộc sống, tạo hiệu quả trên thực tế thì mỗi cán bộ, công chức, lãnh đạo doanh nghiệp, từng người lao động cần bắt tay ngay vào công việc của năm mới. Có thể thấy, một không khí làm việc miệt mài, hiệu quả, trách nhiệm thể hiện rõ ở mọi cấp, mọi ngành, từ Trung ương đến địa phương và ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nhiệm vụ trọng tâm trước mắt vẫn phải tiếp tục thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Các cấp ủy đảng, chính quyền, địa phương cần chủ động trong mọi tình huống, có phương án ứng phó kịp thời trước những biến chủng mới của đại dịch; tuyệt đối không chủ quan, để rồi bị động, bất ngờ; đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh; chăm lo đời sống nhân dân, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Chúng ta ngày càng cảm nhận rõ hơn những giá trị của văn hóa truyền thống đối với tiến trình phát triển của một quốc gia, dân tộc. Lịch sử đã chứng minh, sức sống của một dân tộc không chỉ được đo đếm bằng thước đo kinh tế, trình độ khoa học-công nghệ, quốc phòng, an ninh, mà chiều sâu văn hóa mới là yếu tố bảo đảm cho sự trường tồn. Văn hóa chính là “mã định danh” để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Bản chất của việc gìn giữ và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc chính là nhằm tạo môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển con người-nguồn tài nguyên vô giá của đất nước.

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Những thành tích xuất sắc của toàn quân trong năm qua đã thể hiện trách nhiệm chính trị rất cao của Quân đội ta trước Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân. Bước sang năm Nhâm Dần 2022, toàn quân tiếp tục ra sức thực hiện thắng lợi những chủ trương lớn về quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội nhân dân, bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, phát huy cao độ phẩm chất cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, mãi mãi xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Năm Nhâm Dần mang lại kỳ vọng về một sức mạnh đột phá. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tăng cường hơn nữa khối đoàn kết, quyết tâm hơn nữa, chung sức, đồng lòng, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ, đưa đất nước đi lên.

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

KHÁT VỌNG PHỒN VINH, HẠNH PHÚC VÀ SỨC MẠNH TIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN TRƯỚC YÊU CẦU MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC

Năm 2021, đánh dấu chặng đường 35 năm đổi mới của đất nước. Những thành quả đạt được từ trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước đã cho phép Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam hướng đến khát vọng lớn hơn là phồn vinh, hạnh phúc. Khát vọng phồn vinh, hạnh phúc chính là sự kết tinh bản lĩnh, trí tuệ của Đảng dựa trên sự đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước. Đó không phải là khát vọng giản đơn, xuôi chiều, mà được bồi đắp trên cơ sở phân tích, dự báo, lường đoán kỹ lưỡng những thời cơ, thuận lợi có thể nắm bắt, phát huy; đồng thời tỉnh táo cân nhắc, tính toán những khó khăn, thách thức bên ngoài, những yếu kém, trở ngại bên trong cần phải kiên quyết khắc phục, thích ứng, vượt qua. Đó cũng là sự vận dụng phương châm dĩ bất biến ứng vạn biến, nhạy bén chớp thời cơ, chủ động ứng phó với nguy cơ, chuyển hóa nguy cơ thành vận hội phát triển.

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc mang sức sống hiện thực được hình thành, bồi đắp trên một cơ tầng khoa học về lộ trình hướng đích, bước đi được dự liệu rõ ràng và là sự kế thừa, hoàn thiện những mục tiêu đã được xác định từ những giai đoạn trước. Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúcgắn liền với quá trình xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và giá trị chuẩn mực, cùng sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới gắn liền với phát huy đồng bộ hệ động lực phát triển: Dân chủ xã hội chủ nghĩa; đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và cuộc bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp cho thấy, quần chúng nhân dân đã sẵn sàng hành trang, tâm thế để cùng Đảng, Nhà nước bước vào vận hội mới. Do vậy, để phát huy được tối đa sức mạnh niềm tin của nhân dân vào quá trình hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thiết nghĩ cần phải chú trọng đến các định hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, cần nâng tầm và đặt đúng vai trò, vị trí của niềm tin nhân dân trong chiến lược phát triển. Phải xem sức mạnh niềm tin nhân dân là động lực của sự phát triển quốc gia. Động lực này không chỉ là kết quả từ sự kiến tạo niềm tin của nhân dân, của mỗi người lao động, của các doanh nghiệp đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lí, quản trị hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước; mà còn là sự kiến tạo niềm tin và trách nhiệm cao cả của Nhà nước đối với nhân dân với tư cách là chủ nhân, chủ thể phát triển của xã hội, của đất nước. Đó còn là sự kiến tạo niềm tin dựa trên các mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, giữa các chủ thể với nhau trong cộng đồng quốc gia, dân tộc, kết tụ ở việc luôn đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết.

Động lực này sẽ được xác lập dựa trên những nền tảng đường lối, chủ trương, định hướng phát triển đúng đắn của của Đảng, Nhà nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; trên nền tảng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân, một hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sách quản lí, quản trị phát triển hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch; một nền hành chính liêm chính, tinh thần trách nhiệm cao trước dân; trên nền tảng một đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức “thực đức, thực tài”, thực sự công bộc, đặt lợi ích của nhân dân, lợi ích phát triển của đất nước lên trên hết. Động lực này sẽ phát huy cao độ khi thực hành dân chủ xã hội rộng rãi gắn liền với thực thi kỉ cương phép nước, “sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”; tôn trọng, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của của mỗi con người, của nhân dân và của tất cả các chủ thể trong xã hội. Có được động lực niềm tin thì tất cả mọi người dân trong xã hội mới vững tâm mang tất cả tâm huyết, nguồn lực, trí tuệ, tài năng của mình ra để cống hiến cho sự phát triển chung của đất nước và dân tộc. Động lực này cũng là sự kết tinh, kết tụ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội khát vọng chấn hưng đất nước của mỗi con người, của toàn dân tộc với sự lãnh đạo của Đảng và quản lí của Nhà nước. Có thể nói, niềm tin của quần chúng nhân dân chính là thước đo quý giá nhất đối với năng lực lãnh đạo của Đảng, khả năng quản lí đất nước của Chính phủ và là một động lực to lớn nhất, chính yếu nhất cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Thứ hai, cần chú trọng xây dựng cơ sở để nhân dân kí thác niềm tin và thể hiện tình yêu đối với đất nước. Xưa nay, niềm tin và tình yêu Tổ quốc luôn sẵn có nơi mỗi người dân Việt và nó được duy trì, phát triển dựa trên tư duy của nhà quản lí. Tuy nhiên nếu niềm tin và lòng yêu nước không được định hình dựa trên nền tảng, quan điểm và cả những định hướng cụ thể thì sẽ rất dễ bị tổn thương và lợi dụng. Trường hợp nêu trên đã từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam và rõ nhất là qua âm mưu của các nhà truyền giáo ở thời kì cận đại… Và ngày nay trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, niềm tin và tình yêu quê hương, đất nước cũng cần phải được định hình dựa trên những cơ sở thật sự cụ thể nếu ko sẽ bị lợi dụng để phục vụ cho các toan tính cá nhân hoặc các tổ chức đối lập, chống đối. Điều này sẽ tạo nên những hệ lụy và hậu quả vô cùng to lớn đối với sự an nguy của đất nước.

Để xây dựng môi trường cho niềm tin hình thành và phát triển, thì trước hết phải được bắt nguồn từ việc Đảng, Nhà nước cần có những cơ chế, chính sách thực sự đúng đắn và phù hợp. Chúng ta cần quan tâm hơn nữa lợi ích, nguyện vọng của nhân dân; lấy lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền lợi căn bản của công dân làm mẫu số chung cho quá trình phát triển; phải xem trọng nhân dân với tư cách là chủ thể của việc tạo lập niềm tin trong xã hội… Phải chăm lo xây dựng con người phát triển toàn diện theo hướng trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, ý chí, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Phải tạo nên được những sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, niềm tin sâu sắc vào truyền thống lịch sử, vào văn hóa dân tộc. Phải gắn việc xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Phải nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức, khát vọng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế…

Thứ ba, cần gắn chặt vấn đề xây dựng, phát huy sức mạnh niềm tin với việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Có niềm tin mới có đoàn kết dân tộc. Sự phát triển hay suy giảm niềm tin luôn kéo theo tỉ lệ thuận tương ứng của tinh thần đoàn kết dân tộc. Do đó cần đặt mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc với việc củng cố và phát huy niềm tin trong quần chúng nhân dân. Việc gắn chặt niềm tin với tinh thần đoàn kết không chỉ cho phép tăng thêm sức mạnh nội lực trong quá trình phát triển, hội nhập sâu rộng với thế giới mà còn làm gia tăng thêm sức đề kháng cho quốc gia trong việc đập tan các hành động xâm lấn của kẻ thù và cả những âm mưu chống đối, chống phá nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”, chỉ có sức mạnh của tinh thần đoàn kết mới mang lại cho dân tộc một sự phát triển ổn định và thịnh vượng, mới giúp dân tộc thành công trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và niềm tin chính là mẫu số chung có giá trị cao nhất để thúc đẩy các thành viên trong xã hội xích lại gần nhau, đoàn kết, gắn bó keo sơn với nhau trong một chỉnh thể nhà nước, quốc gia thống nhất./.

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

NHỮNG CƠ HỘI ĐỂ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM HIỆN NAY

Việt Nam có bề dày truyền thống mấy nghìn năm lịch sử, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nhiều biến cố thăng trầm nên kết tinh và lắng đọng được nhiều giá trị văn hóa tích cực, như truyền thống yêu nước và lòng dũng cảm, khả năng thích ứng cao với sự thay đổi của hoàn cảnh, sự khoan dung, tinh thần cộng đồng, sự nhân ái, lạc quan và hồn hậu, trọng nghĩa tình, sự cần cù, siêng năng. Nền văn hóa hiện tại đang hướng đến việc kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu những giá trị mới, hướng tới tương lai. Trong điều kiện mới, nền văn hóa Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển, trong đó đáng chú ý là:

Một là, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế giúp văn hóa Việt Nam có được cơ hội quảng bá rộng rãi trên thế giới. Văn hóa Việt Nam phát triển trong bối cảnh công nghệ thông tin có những bước phát triển như vũ bão, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng mở ra khả năng giao lưu, hợp tác và phát triển toàn diện về văn hóa, nâng cao cơ hội quảng bá văn hóa Việt Nam ra toàn thế giới. Khoa học - công nghệ, truyền thông đại chúng phát triển mang đến cho người dân khả năng sáng tạo và thụ hưởng các sản phẩm văn hóa mới nhanh chóng, hiệu quả và có tính tương tác cao.

Hai là, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và nền kinh tế số tạo ra những thuận lợi cho sự phát triển văn hóa Việt Nam, giúp chúng ta khai thác tiềm năng kinh tế của văn hóa trên môi trường số. Công nghệ số, internet phát triển kéo theo khả năng tiếp cận các nội dung văn hóa trở nên dễ dàng và không bị giới hạn bởi các đường biên giới quốc gia, điều này cũng đòi hỏi sự khác biệt, độc đáo trong nội dung, ý tưởng của các sản phẩm văn hóa như là một ưu thế cạnh tranh quan trọng. Các nước phát triển trên thế giới đang chuyển nhanh sang nền kinh tế tri thức, kinh tế sáng tạo, công nghệ số hóa và sự số hóa các nội dung văn hóa. Những thay đổi này đã đem lại những cơ hội lớn về khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất, góp phần tạo ra các kênh phân phối, quảng bá sản phẩm mới, đòi hỏi những hành động nhạy bén và sự thích ứng liên tục với sự thay đổi của môi trường. Sự chuyển đổi kỹ thuật số và tinh thần kinh doanh đưa ra những cơ hội, khả năng và thách thức mới cho ngành văn hóa về phương thức hoạt động.

Ba là, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã và đang tạo ra sự tích cực xã hội và tích cực văn hóa cho người dân, là cơ hội thúc đẩy tinh thần tự quản, năng lực làm chủ của nhân dân trong việc tổ chức các hoạt động và sáng tạo văn hóa. Người dân ngày càng được khuyến khích tham gia vào các hoạt động xã hội và hoạt động văn hóa với tư cách như những nhân tố chủ động, từ hoạch định đến đánh giá các vấn đề xã hội và văn hóa, thậm chí là người đồng kiến tạo xã hội và văn hóa cùng với bộ máy nhà nước. Yếu tố nội sinh của sự phát triển xã hội và văn hóa được tăng lên cao, phần nào đó thể hiện vai trò tăng lên của người dân so với Nhà nước trong nhiều vấn đề xã hội và văn hóa.

Bốn là, chủ trương hội nhập quốc tế chủ động, tích cực, toàn diện của Đảng và Nhà nước tạo điều kiện cho văn hóa Việt Nam hội nhập và phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, văn hóa Việt Nam có cơ hội thuận lợi để tiếp thu tri thức, các nguồn lực và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và sáng tạo những giá trị văn hóa mới. Đặc biệt, công nghiệp văn hóa đang được định hướng là một trong những ngành trụ cột của kinh tế. Kinh tế đang trên đà phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện đã hình thành nên một thị trường tiêu dùng/hưởng thụ văn hóa với nhu cầu ngày càng lớn, là cơ sở quan trọng thúc đẩy văn hóa phát triển.

Sự phát triển văn hóa Việt Nam là nguồn lực nội sinh, là động lực phát triển bền vững đất nước. Vì vậy, cần tận dụng cơ hội để phát triển, đồng thời chủ động khắc phục những tồn tại, vượt qua được thách thức là cách thức tốt nhất để Việt Nam phát triển văn hóa, thực sự biến văn hóa trở thành động lực và mục tiêu cho sự phát triển đất nước.

THÀNH TỰU PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Việt Nam có nền một văn hóa phong phú, giàu bản sắc, được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử. Nguồn tài nguyên văn hóa Việt Nam dồi dào, đa dạng về loại hình và có giá trị cao trên nhiều phương diện, được công nhận cả ở tầm khu vực và quốc tế là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội. Hệ thống di sản văn hóa phong phú, cảnh quan kỳ vĩ và thơ mộng là những tài sản vô giá, có tiềm năng chuyển hóa thành những sản phẩm, dịch vụ độc đáo, đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế, thương mại cũng như tạo dựng thương hiệu, vị thế của văn hóa Việt Nam.

Trong những năm, Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng xây dựng nên văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Các giá trị văn hóa dân tộc tiếp tục được khẳng định và nâng tầm trong điều kiện mới. Hàng loạt những hoạt động văn hoá truyền thống dân tộc được phục hồi và có bước phát triển mới. Những lễ hội dân gian của các làng quê, của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam được khôi phục và tổ chức thường xuyên, một mặt thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Mặt khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuyên truyền giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, qua đó sáng tạo, bổ sung, phát triển nâng tầm giá trị bản sắc văn hoá, tăng cường tinh thần đoàn kết, ý thức gắn bó cộng đồng, nâng cao lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm trong gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Đồng thời, thông qua phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, nhiều sinh hoạt văn hóa cộng đồng đã từng bước được cải tạo phù hợp với nếp sống văn minh, tiến bộ.

Chúng ta không chỉ chú trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc, mà còn tiếp thu có chọn lọc nhiều loại hình, sinh hoạt văn hóa có xuất xứ từ nước ngoài. Hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng ta từng bước tiếp cận nền văn minh thế giới với trình độ và công nghệ hiện đại, tạo cơ sở tiền đề cho sáng tạo những giá trị mới, tự khẳng định mình trên trường quốc tế. Qua tiếp xúc, giao lưu, học hỏi sẽ làm giàu bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần phát triển đất nước lên một tầm cao mới, nâng vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Những giá trị tinh hoa văn hoá nhân loại được kế thừa phát triển sẽ tạo điều kiện cho thế hệ trẻ tiếp cận với nền văn minh trí tuệ, làm giàu tri thức, tích cực lao động, cống hiến làm giàu cho bản thân, cho cộng đồng và xã hội. Mỗi con người Việt Nam hiện nay đang có khát vọng làm giàu, xoá nghèo nàn lạc hậu, đảm bảo bình đẳng và công bằng xã hội, phấn đấu đưa nước ta phát triển, sánh vai các nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng được nâng lên tầm cao hơn, hiệu quả, thiết thực vì lợi ích và phẩm giá con người; gắn chặt yêu nước với yêu quí lao động chân chính, hiệu quả, tích cực làm giàu cho bản thân, quê hương và xã hội.

Thực tiễn cho thấy, văn hóa không chỉ đồng hành cùng dân tộc, hòa nhịp cùng với sự phát triển chung của dân tộc mà trên nhiều phương diện còn giữ vai trò tiên phong, thúc đẩy phát triển đất nước. Vì vậy, bảo vệ lợi ích dân tộc về văn hoá là một bộ phận hợp thành của lợi ích quốc gia; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vị thế văn hoá dân tộc trong cộng đồng văn hóa thế giới phải được coi là một nhiệm vụ có ý nghĩa trọng yếu. Đồng thời, nếu không hướng đến những mục tiêu phát triển rộng lớn, không đạt được nhịp độ và hòa nhập với sự phát triển chung như nhiều quốc gia trên thế giới thì Việt Nam, văn hóa Việt Nam sẽ bị chậm bước thậm chí sẽ phải đương đầu với nhiều thách thức trước những chuyển biến ngày càng mau chóng của văn minh nhân loại.

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

"KHÔNG! VỊ TRÍ CỦA TÔI LÀ Ở VIỆT NAM"

Những năm 1936 - 1938, bọn phản động Phrăng-cô, được phát xít Đức-Ý tiếp tay, gây ra cuộc nội chiến, tiến công chính quyền của Mặt trận Nhân dân Tây Ban Nha. Đất nước này chìm trong máu lửa. Ít lâu sau, Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp cũng bị lật đổ và bọn thực dân phản động Pháp lại ra tay khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng Đông Dương. Chuyến đi của anh Nguyễn phải hủy bỏ.

Trong khi chờ đợi một dịp khác, anh làm việc ở Nin Ca Pê, tức Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa, số nhà 25 đại lộ Tơ-véc-xkôi, từ phố lớn Tơ-véc-xkai-a rẽ vào khoảng vài trăm mét. Một ngôi nhà hai tầng với nhiều phòng nhỏ, yên tĩnh.

Đồng chí Men-man, phụ trách viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa thu xếp dành cho anh Nguyễn một phòng làm việc riêng nhìn xuống vưởn cây có những lối đi rải đá. Ở đây anh gặp các chiến sĩ cách mạng một số nước châu Á. Và nhờ đó, anh cũng biết thêm nhiều tình hình mới về cuộc đấu tranh đang diễn ra trên lục địa này.

Một hôm, giảng viên I. Cô-dơ-lốp, phụ trách hướng dẫn nhóm nghiên cứu sinh Ấn Độ ở Viện, hỏi anh :

– Này, đồng chí Lin, đồng chí làm việc nhiều quá ! Bảo vệ xong luận án, chắc đồng chí sẽ trở thành giáo sư và Viện chúng tôi sẽ có thêm một thầy dạy với nhiều kinh nghiệm thực tế !

Anh Nguyễn lắc đầu :

– Không ! Vị trí của tôi là ở Việt Nam. Dù tình hình diễn biến thế nào đi nữa, tôi cũng phải trở về Tổ quốc, cùng với nhân dân tôi giải phóng đất nước.

Một buổi chiều se lạnh tháng 10 năm 1938, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đáp xe lửa ở ga I-a-rô-láp-xki rời Mát-xcơ-va lần thứ ba. Con tàu đưa Người chạy về Phương Đông, trở về Tổ quốc, đi tới bình minh.

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021

TỔ QUỐC KHÔNG DÀNH CHO NHỮNG KẺ VÔ TRÁCH NHIỆM

Trong khi tất cả các địa phương đặc biệt là các tỉnh phía Nam của Tổ quốc đang gồng mình chống dịch, mỗi ngày có hàng nghìn trường hợp nhiễm mới thì vẫn còn 1 số đối tượng (không loại trừ phản động được giật dây) trở đứa nhỏ lấy bình phong đi gây rối khiêu khích các cán bộ ở các chốt dịch.

Khi bắt gặp tình huống trên, các lực lượng tại các chốt kiểm soát dịch làm đúng theo quy định nhưng những đối tượng này tỏ thái độ chống đối, chửi bới những người ở đây.

Điển hình như video clip đang được lan truyền trên mạng chốt kiểm dịch phát hiện một người phụ nữ đang chở 1 em nhỏ ra ngoài đường mặc kệ những quy định của chính quyền về việc giãn cách xã hội để phòng chống dịch bệnh Covid-19.

Thay vì trả lời các câu hỏi người phụ nữ này có vẻ đã được dạy bài bản bù lu bù loa khiêu khích chửi bới thậm tệ các cán bộ chốt dịch. Thậm chí khi cán bộ chốt nhắc nhở chị đang chống đối người thi hành công vụ và nếu chị không chấp hành chúng tôi sẽ cưỡng chế. Người phụ nữ này không những không thay đổi thái độ mà còn thách thức lực lượng làm nhiệm vụ.

Theo ghi nhận thì đây là lần thứ hai đối tượng này đến phá rối chốt kiểm soát và lần nào cũng mang theo con nhỏ. Cái kết cho người phụ nữ này thì ta đã rõ. Người trưởng chốt đã nghiêm túc xử lý đối với người chống đối và lập tức người phụ nữa này bị khống chế đưa về phường. Xin thưa rằng đối với những trường hợp như trên thì nhẹ thì bị xử phạt hành chính mà nặng thì bị truy tố hình sự tuỳ thuộc vào thái độ thành khẩn của người vi phạm.

Câu chuyện ở đây chúng ta muốn nói rằng người phụ nữ trên là ai? Có thể người phụ nữ đang được 1 số thế lực nào đó đằng sau trả tiền nhằm gây rối sau đó đăng lên mạng xã hội bôi nhọ xuyên tạc cho các lực lượng đang làm nhiệm vụ. Hoặc cũng có thể người phụ nữ trên đang mắc chứng bệnh kinh niên, bệnh “ngu”.

Tuy nhiên dù bản chất thế nào cũng xin được nhắc nhở cho 1 số thành phần như người phụ nữ trên rằng khi an nguy của đất nước bị đe dọa thì không kể người đó là ai, giới tính như thế nào, già hay trẻ nếu đi ngược lại với lợi ích của đất nước, của dân tộc thì chắc chắn sẻ bị xử lý nghiêm khắc. Cứ phải xử lý mạnh tay như này thì mới duy trì được kỷ cương, không để các đối tượng nhờn phát luật.

Hãy nhớ rằng Tổ quốc này không dành cho những kẻ vô trách nhiệm./.

Thứ Ba, 8 tháng 6, 2021

BÀI HỌC VỀ THÁI ĐỘ SỐNG TÍCH CỰC, CÓ TRÁCH NHIỆM CAO VỚI NHÂN DÂN, ĐẤT NƯỚC CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Ngày 05/6/1911 tại bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên hai mươi mốt tuổi Nguyễn Tất Thành chỉ với đôi bàn tay trắng, nhiệt huyết của tuổi trẻ và lòng yêu nước cháy bỏng đã có một quyết định mà ở độ tuổi ấy, trong bối cảnh ấy, ít có thanh niên Việt Nam dám thực hiện, đó là sang Marseille nước Pháp trên chiếc tàu buôn Latouche - Tréville, mở đầu cho một cuộc hành trình vô cùng khó khăn, vất vả và dài lâu để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”.

Đã 110 năm qua đi, nhưng ngày 05/6/1911 ấy đã, đang và vẫn sẽ là sự kiện có ý nghĩa to lớn, mở ra một trang mới tươi sáng trong lịch sử nước ta và để lại cho các thế hệ thanh niên Việt Nam nhiều bài học có giá trị và sâu sắc:

Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, Nguyễn Tất Thành cũng như nhiều thanh niên yêu nước khác đã có thái độ sống tích cực, trách nhiệm với bản thân, đất nước ngay từ khi tuổi đời còn rất trẻ. Thái độ ấy thể hiện ở tình yêu thương nhân dân cần lao đói khổ bị chà đạp dưới ách đô hộ thực dân và phong kiến tay sai; ở lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc; ở khát khao cống hiến để đất nước thoát cảnh lầm than, nhân dân thoát cảnh nô lệ, tủi nhục. Chính thái độ sống tích cực, trách nhiệm ấy đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành nhiệt tình tham gia vào các hoạt động đấu tranh chống thực dân Pháp từ rất sớm: đó là những lần làm liên lạc cho cụ Hoàng Thông (một chí sĩ yêu nước dạy học ở trường Quốc học Huế những năm đầu thế kỷ 20) với phong trào Đông Du, Duy Tân khi mới 17 tuổi; đó là lần tham gia biểu tình chống thuế cùng nhân dân các tỉnh Trung Kỳ khi bước sang tuổi 18 chưa lâu; đó là những bài giảng thấm đẫm tinh thần yêu nước, khát khao giải phóng dân tộc thoát khỏi vòng nô lệ trong những năm tháng dưới mái trường Dục Thanh; đó là quyết tâm đến Sài Gòn, một mình sang Pháp và một số nước khác ở để tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc… Tất cả cho thấy một tinh thần yêu nước nồng nàn, một khát khao giải phóng dân tộc mạnh mẽ được hun đúc bởi một thái độ sống tích cực, đầy trách nhiệm với nhân dân, với đất nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành.

Ngày nay, đất nước không còn trong cảnh nô lệ, lầm than như thời Nguyễn Tất Thành sống mà đang vươn mình mạnh mẽ để trở thành một đất nước ngày càng thịnh vượng và hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được mục tiêu ấy, đòi hỏi mỗi cán bộ, mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ phải luôn nung nấu khát vọng xây dựng đất nước ngày càng phát triển, giàu mạnh, đời sống của nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Muốn vậy, thế hệ trẻ ngày nay cần phải phát huy hơn nữa tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm cao với các công việc chung của đất nước, của xã hội cũng như trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; xây dựng và duy trì lối sống có trách nhiệm “mình vì mọi người” trước khi nghĩ đến “mọi người vì mình”.

Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

BÀI HỌC VỀ MẠNH DẠN TÌM RA NHỮNG LỐI ĐI MỚI VÌ SỰ PHÁT TRIỂN CHUNG CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Nguyễn Tất Thành tìm đường sang nước Pháp và các nước phương Tây không chỉ bởi muốn tìm hiểu những “bí ẩn” đằng sau những khẩu hiệu về tự do, bình đẳng, bác ái mà thực dân Pháp luôn rêu rao trong quá trình cai trị Việt Nam; không chỉ muốn tìm hiểu thêm những trào lưu tư tưởng mới mà còn bởi Nguyễn Tất Thành đã nhìn thấy những hạn chế của các phong trào đấu tranh theo các khuynh hướng yêu nước trước đó. Thế nên anh đã có sự sáng tạo, chọn con đường đi mới, đó là sang nước Pháp và các nước phương Tây để tìm con đường cứu nước, cứu dân.

Ngày nay, tinh thần dám đổi mới, sáng tạo đó vẫn rất cần thiết cho đất nước, đặc biệt là cho thế hệ trẻ bởi đây là những chủ nhân tương lai của đất nước; là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là trung tâm trong chiến lược phát triển toàn diện nguồn nhân lực chất lượng cao. Công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu đòi hỏi thế hệ trẻ không chỉ có nhiệt tình cách mạng, không chỉ cần nhanh nhạy mà còn phải luôn luôn đổi mới sáng tạo, tìm ra các cách thức mới, con đường mới, phương pháp mới phục vụ cho sự phát triển chung, đưa đất nước nhanh chóng sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong muốn.

Năm xưa, Nguyễn Tất Thành chịu cảnh tủi nhục, đau đớn khi nước mất nhà tan mà quyết tâm ra đi tìm được con đường cứu nước đúng đắn mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ngày nay, mặc dù đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu, vị thế trên trường quốc tế ngày càng được củng cố và nâng cao nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm lực của đất nước. Các nguy cơ đối với cách mạng nước ta đã được Đảng chỉ ra vẫn còn hiện hữu. Chính vì vậy, để thực hiện mục tiêu Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đặt ra quyết tâm đưa nước ta trở thành một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 1945; đòi hỏi sự tham gia của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Trong đó, nòng cốt phải là thế hệ trẻ với tinh thần đổi mới sáng tạo, dám nghĩ dám làm, vượt mọi khó khăn thử thách như tinh thần của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc năm xưa.

BÀI HỌC VỀ THÁI ĐỘ SỐNG TÍCH CỰC, CÓ TRÁCH NHIỆM CAO VỚI NHÂN DÂN, ĐẤT NƯỚC CỦA THANH NIÊN HIỆN NAY TỪ SỰ KIỆN NGUYỄN TẤT THÀNH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Ngày 05/6/1911 tại bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên hai mươi mốt tuổi Nguyễn Tất Thành chỉ với đôi bàn tay trắng, nhiệt huyết của tuổi trẻ và lòng yêu nước cháy bỏng đã có một quyết định mà ở độ tuổi ấy, trong bối cảnh ấy, ít có thanh niên Việt Nam dám thực hiện, đó là sang Marseille nước Pháp trên chiếc tàu buôn Latouche - Tréville, mở đầu cho một cuộc hành trình vô cùng khó khăn, vất vả và dài lâu để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”.

Đã 110 năm qua đi, nhưng ngày 05/6/1911 ấy đã, đang và vẫn sẽ là sự kiện có ý nghĩa to lớn, mở ra một trang mới tươi sáng trong lịch sử nước ta và để lại cho các thế hệ thanh niên Việt Nam nhiều bài học có giá trị và sâu sắc:

Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, Nguyễn Tất Thành cũng như nhiều thanh niên yêu nước khác đã có thái độ sống tích cực, trách nhiệm với bản thân, đất nước ngay từ khi tuổi đời còn rất trẻ. Thái độ ấy thể hiện ở tình yêu thương nhân dân cần lao đói khổ bị chà đạp dưới ách đô hộ thực dân và phong kiến tay sai; ở lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc; ở khát khao cống hiến để đất nước thoát cảnh lầm than, nhân dân thoát cảnh nô lệ, tủi nhục. Chính thái độ sống tích cực, trách nhiệm ấy đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành nhiệt tình tham gia vào các hoạt động đấu tranh chống thực dân Pháp từ rất sớm: đó là những lần làm liên lạc cho cụ Hoàng Thông (một chí sĩ yêu nước dạy học ở trường Quốc học Huế những năm đầu thế kỷ 20) với phong trào Đông Du, Duy Tân khi mới 17 tuổi; đó là lần tham gia biểu tình chống thuế cùng nhân dân các tỉnh Trung Kỳ khi bước sang tuổi 18 chưa lâu; đó là những bài giảng thấm đẫm tinh thần yêu nước, khát khao giải phóng dân tộc thoát khỏi vòng nô lệ trong những năm tháng dưới mái trường Dục Thanh; đó là quyết tâm đến Sài Gòn, một mình sang Pháp và một số nước khác ở để tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc… Tất cả cho thấy một tinh thần yêu nước nồng nàn, một khát khao giải phóng dân tộc mạnh mẽ được hun đúc bởi một thái độ sống tích cực, đầy trách nhiệm với nhân dân, với đất nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành.

Ngày nay, đất nước không còn trong cảnh nô lệ, lầm than như thời Nguyễn Tất Thành sống mà đang vươn mình mạnh mẽ để trở thành một đất nước ngày càng thịnh vượng và hạnh phúc theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện được mục tiêu ấy, đòi hỏi mỗi cán bộ, mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ phải luôn nung nấu khát vọng xây dựng đất nước ngày càng phát triển, giàu mạnh, đời sống của nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc. Muốn vậy, thế hệ trẻ ngày nay cần phải phát huy hơn nữa tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm cao với các công việc chung của đất nước, của xã hội cũng như trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; xây dựng và duy trì lối sống có trách nhiệm “mình vì mọi người” trước khi nghĩ đến “mọi người vì mình”.

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

KHÔNG THẾ XUYÊN TẠC KHÁT VỌNG VƯƠN LÊN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ra sức rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”...

Tầm nhìn, khát vọng phát triển của Việt Nam không phải dựa trên ý chí chủ quan như một số luận điệu rêu rao mà điều này được giới truyền thông quốc tế nhận định là có cơ sở. Báo The Washington Times (phiên bản báo in) của Mỹ ngày 9-4 vừa qua đăng bài viết đánh giá Việt Nam đã thành công trong việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhà nước; đồng thời nhận định Việt Nam có một quá trình phát triển kinh tế đáng kinh ngạc khi vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong hai thập kỷ qua. Mặt khác, Việt Nam đã có được sự ổn định về mặt chính trị, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người dân trong những năm tới.

Mới đây, nhiều hãng truyền thông uy tín tại Romania, như: Hãng thông tấn quốc gia Agerpres, Romaniatv.net, Republicatv.ro, Proarges.ro, Digi24.ro,... cũng nhận định, vào đầu nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 14 trên thế giới về dân số, quy mô nền kinh tế đứng thứ 48, nhưng đến nay, xếp hạng của Việt Nam đã tăng 11 bậc, đứng thứ 37 thế giới. Dù con đường phát triển còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng có cơ sở để tin tưởng Việt Nam từ ngưỡng thu nhập trung bình sẽ gia nhập nhóm nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Do đó, ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Những luận điệu sai trái đó nhất định sẽ bị phủ nhận hoàn toàn bởi niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, như lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045 “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: Tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta và dân tộc ta”.

Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021

ĐỘNG LỰC CHO SỰ PHÁT TRIỂN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

Bối cảnh quốc tế và những xu hướng phát triển của thời đại đặt yêu cầu phải phát huy chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí, khát vọng của toàn dân tộc cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã dự báo tình hình thế giới sẽ “…tiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường”. Đáng chú ý, Văn kiện đã chỉ rõ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt… Trong hoàn cảnh thế giới phát triển phụ thuộc lẫn nhau, lợi ích quốc gia, dân tộc là nhân tố quyết định để mỗi quốc gia dân tộc tham gia vào các mối quan hệ quốc tế, hội nhập quốc tế thành công. Ngoài tiềm lực kinh tế, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển của toàn dân tộc là chỗ dựa và điều kiện để mở rộng quan hệ hợp tác, hội nhập quốc tế. Trong điều kiện cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra gay gắt, phức tạp, tác động mạnh mẽ đến Việt Nam hiện nay, việc giữ vững độc lập, tự chủ, khơi dậy và phát huy ý chí tự cường, khát vọng phát triển của toàn dân tộc góp phần giữ vững môi trường hòa bình, tận dụng cơ hội và hóa giải những thách thức đối với độc lập, hòa bình và phát triển của dân tộc.

Trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội và khoa học, công nghệ hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển rất mạnh mẽ, tạo nên đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Vai trò của nhân tố con người, đặc biệt là tri thức, trí tuệ, sáng tạo có ý nghĩa quyết định để có sự phát triển đột phá, làm thay đổi vị thế quốc gia trên bản đồ thế giới. Chúng ta có quyền tự hào về một dân tộc Việt Nam thông minh, sáng tạo, một đội ngũ người lao động có trình độ học vấn khá cao, một môi trường phát triển và hội nhập quốc tế có nhiều thuận lợi nhờ thắng lợi của công cuộc đổi mới và đường lối đối ngoại đúng đắn…, giúp nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Đúng như khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII: “Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Và: “… Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn lúc nào hết, cần phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí, khát vọng phát triển trong toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh làm động lực cho sự phát triển trong giai đoạn phát triển mới. 

Phát huy chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước trong giai đoạn mới là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và mỗi người dân để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên xác định 5 quan điểm chỉ đạo công cuộc đổi mới hiện nay, trong đó, quan điểm về động lực phát triển nêu rõ: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”.  Để thực hiện quan điểm này, Nghị quyết yêu cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam. Bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.

Để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trong thời kỳ mới, cần tập trung thực hiện hiệu quả một số giải pháp sau:

Một là, khơi dậy, nhân lên, phát huy giá trị, sức mạnh nội sinh của ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ chính ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc khi được khơi dậy, nhân lên, phát huy phù hợp sẽ tạo ra sức mạnh muôn người như một. Trong giai đoạn hiện nay, làm cho ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trở thành ý chí, khát vọng phát triển của mỗi người con đất Việt là trách nhiệm của Đảng, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải thể hiện rõ ý chí, khát vọng của mình, gương mẫu, làm lan tỏa, nhân lên ý chí, khát vọng phát triển của toàn dân tộc.

Hai là, để ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trở thành nguồn nội lực phát triển của đất nước, cần tập trung tuyên truyền, khẳng định những thành tựu rất đáng tự hào, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đạt được. Những thành tựu đó cũng là kết quả của sự phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của toàn dân tộc trước đây cũng như trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, chúng ta thêm tin tưởng, tự hào, quyết tâm; thêm cơ sở khẳng định sự đúng đắn của con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

Ba là, tiếp tục tháo gỡ những nút thắt trong cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý văn hóa, quản lý con người... Xóa bỏ triệt để cơ chế bao cấp, xin - cho, tạo điều kiện để tất cả các thành phần kinh tế, mỗi gia đình, cá nhân, địa phương… đều có cơ hội phát triển, làm giàu cho mình cho đất nước. Ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc chỉ có thể được phát huy trên nền tảng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân. Điều này phải được coi là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc.

Bốn là, muốn phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc trong bất kỳ thời đại nào cũng phải dựa vào dân; tin vào sức mạnh phi thường của quần chúng nhân dân. Sự đồng lòng của nhân dân là điều kiện tiên quyết để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc. Trong tình hình mới hiện nay, sự lãnh đạo đúng đắn, nhạy bén của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ; sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài là điều kiện để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam./.

VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA Ý CHÍ, KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG TOÀN DÂN TỘC

Ý chí là khả năng vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích, là sức mạnh tinh thần to lớn, là động lực cổ vũ con người đứng lên, vượt qua những rào cản trên con đường phấn đấu để đạt được mục đích. Ý chí giúp con người phát huy được sức mạnh bên trong của mỗi cá nhân, đôi khi đến mức độ phi thường. Ý chí của một cộng đồng dân tộc dựa trên sự thống nhất về tư tưởng, có lợi ích chung, tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn của dân tộc trong giành, bảo vệ nền độc lập cũng như trong xây dựng, phát triển đất nước.

Khát vọng là những mong muốn tốt đẹp của con người với sự thôi thúc mạnh mẽ từ bên trong để đạt được những mong muốn ấy. Cũng như ý chí, khát vọng có vai trò, ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi người, gắn với mục đích sống, nuôi dưỡng những hoài bão lớn lao trong họ… Khát vọng chung của nhiều cá nhân trong xã hội tạo thành khát vọng xã hội và đến lượt nó, khi đã hình thành, vận động và phát triển, khát vọng xã hội có tác dụng lôi cuốn mọi cá nhân, vượt qua những chần chừ, dao động, tính toán thiệt hơn…, để tham gia thực hiện thành công khát vọng chung của xã hội.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc trước hết vào ý chí và khát vọng sống, tồn tại và phát triển của cộng đồng dân tộc, tự mình cố kết lại để bảo vệ mình trước sức mạnh của tự nhiên, của các thế lực bên ngoài muốn thôn tính, đô hộ, áp bức, đồng hóa dân tộc. Lịch sử đã chứng minh không hiếm dân tộc, nền văn minh trên thế giới bị đồng hóa, bị tiêu diệt trong quá trình biến thiên lâu dài của lịch sử, khi không có sự đoàn kết toàn dân tộc, thiếu ý chí, khát vọng độc lập, tự cường và phát triển.

Thực tế lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh rất rõ vai trò của ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển. Hòn đá thề trên đỉnh núi Hy Cương, Phú Thọ nói lên ý chí, khát vọng độc lập của Vua Hùng và Thục Phán, về sự đoàn kết, thống nhất để chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập. Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đền nợ nước, trả thù nhà. Triệu Thị Trinh hùng hồn khẳng định: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người"…

Trong những khúc quanh của lịch sử, cộng đồng dân tộc đã sinh ra những vĩ nhân, nhìn xa, trông rộng, như Nguyễn Trường Tộ, Vũ Duy Thanh… với tư tưởng cải cách, đổi mới để phát triển, xây dựng đất nước độc lập, hùng cường trước hiểm họa xâm lược từ các nước tư bản phương Tây. Lịch sử lâu dài của dân tộc đã chứng tỏ, ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc là nguồn nội lực xã hội khổng lồ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những thành tựu và bài học kinh nghiệm của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước 35 năm qua một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của ý chí, khát vọng phát triển đất nước trong toàn dân tộc. Bài học kinh nghiệm quý giá nhất của công cuộc đổi mới là dựa vào sức dân, phát huy tinh thần và ý chí khát vọng của nhân dân trong chiến tranh cách mạng vào xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường hòa bình. Kết quả của công cuộc đổi mới không chỉ thể hiện bằng những thành tựu về kinh tế, xã hội, mà còn là bài học về phát huy ý chí, khát vọng phát triển, xây dựng đất nước ta phồn vinh, hạnh phúc, để “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy ý chí, khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc gắn liền với tư tưởng của Người về cuộc đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc, “trước làm cách mạng quốc gia, sau làm cách mạng thế giới”; với tinh thần chủ động, tự lực cánh sinh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Ngay sau khi giành được nền độc lập, Người đặt tên nước Việt Nam gắn với các cụm từ “dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc” và trong lời dặn trước lúc đi xa Người mong muốn “tột bậc” về một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Tháng 9/1945, ngay sau khi nước nhà được độc lập, Người viết thư cho học sinh, sinh viên trong ngày khai trường năm học đầu của nước Việt Nam mới, trong đó có đoạn: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. Thể hiện ý chí và vai trò của tự lực, tự cường trong quan hệ quốc tế, Người dặn: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”.

Tháng 5/1965, khi tròn 75 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động viết bản Di chúc, để lại những lời dặn tâm huyết nhất cho Đảng và nhân dân ta. Về khát vọng phát triển của dân tộc, Người viết: “…Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!” và đến ngày thắng lợi, chúng ta sẽ xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về ý chí và khát vọng phát triển đất nước gắn liền với tấm gương và sự nêu gương về trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minhkhi đã trở thành người lãnh đạo cao nhất đã nhấn mạnh đầy đủ, thẳng thắn nhất về mong muốn của mình khi trả lời các nhà báo: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

Toàn bộ cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ ý chí và khát vọng của Người cho độc lập dân tộc và phát triển. Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó... Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích, làm cho ích quốc lợi dân”. Trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phóng viên báo Granma (Cuba), vào ngày 14-7-1969, Người nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”.

Ý chí, khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập của Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân, hùng cường cho dân tộc và sự hy sinh, cống hiến trọn đời của Người cho niềm mong ước ấy là tấm gương mẫu mực về trách nhiệm của mỗi người Việt Nam trong bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là góp phần hiện thực hóa tư tưởng của Người trong công cuộc Đổi mới của Đảng và nhân dân ta hiện nay.