Hiển thị các bài đăng có nhãn thời cơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thời cơ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

THỜI CƠ VÀ THUẬN LỢI CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Về tổng thể, xét trên cả bình diện thế giới và trong nước, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay diễn ra trong điều kiện có những thời cơ và thuận lợi to lớn đan xen với nhiều khó khăn, thách thức.

Việt Nam quá độ lên CNXH là phù hợp với qui luật phát triển khách quan của lịch sử và nguyện vọng của nhân dân ta. Vì vậy, Việt Nam đã và đang nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới và đông đảo bạn bè quốc tế. Hiện nước ta đã có quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang kiên định thực hiện có hiệu quả mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng cách mạng đã được tôi luyện qua các thời kỳ cách mạng. Thời kỳ quá độ lên CNXH nước ta đã chuyển sang chặng đường phát triển mới: thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã vạch rõ: “Chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản: có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng dày dặn kinh nghiệm lãnh đạo; dân tộc ta là một dân tộc anh hùng; nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, có truyền thống đoàn kết và nhân ái, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình thành và phát triển của kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển”. Hơn nữa, con đường đi lên CNXH của Đảng và nhân dân ta ngày càng sáng rõ. Mục tiêu, đặc trưng, những phương hướng cơ bản và những quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc tiếp tục được bổ sung, cụ thể hoá, phát triển với những nhận thức quan trọng. Đó chính là những yếu tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Một thuận lợi cơ bản trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay là chúng ta có những tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên, vị trí địa lý, nguồn lao động dồi dào của thời kỳ dân số vàng, những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc, nền văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc các dân tộc, ý chí và nghị lực của con người Việt Nam. Đây là những lợi thế so sánh trong hội nhập phát triển của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên; nguồn nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật cao, lành nghề. Đây là tiền đề quan trọng để đất nước ta tiếp thu, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới, là cơ hội lớn để Việt Nam thu hút đầu tư, chuyển giao khoa học công nghệ.

Cùng với đó, thành tựu, kinh nghiệm của thời kỳ đổi mới đã tạo ra cho đất nước thế và lực mới, có sức mạnh tổng hợp to lớn về nhiều mặt. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.Điều đó tạo ra cho đất nước thời cơ và vận hội mới, nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Những năm tới là giai đoạn kinh tế nước ta tiếp tục phục hồi, lấy lại đà tăng trưởng sau thời kỳ suy giảm. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên. Nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình. Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, an sinh xã hội có nhiều tiến bộ. Tình hình chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ XHCN, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố và phát huy. Nước ta mở rộng giao lưu, nâng tầm hợp tác với các nước lớn, với các nước khắp năm châu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế phát triển và thu hút vốn đầu tư, khoa học công nghệ tiên tiến của các nước.

Bên cạnh đó, tình hình thế giới và những đặc điểm của thời đại hiện nay đã mở ra thời cơ lớn để nước ta có thể phát triển nhanh và bền vững, tạo những điều kiện thuận lợi cho nước ta quá độ đi lên CNXH. Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn. Trật tự thế giới mới theo xu hướng đa cực ngày càng rõ. Các nước tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền, lãnh thổ của nhau. Cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội tiếp tục phát triển dù có những khó khăn, phức tạp. Một số nước kiên định con đường XHCN đã tiến hành cải cách, đổi mới và thu được nhiều thành tựu phát triển như Trung Quốc, Cu Ba. Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế đã có sự phục hồi và phát huy ảnh hưởng trên con đường đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ.

Loài người đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với nền tảng công nghệ kỹ thuật số, nền kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ. Mặc dù có những “cấm vận” với một vài quốc gia nhưng toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ, tác động đa chiều đến các nước, mang tính vừa hợp tác vừa cạnh tranh, tùy thuộc vào nhau. Quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu rộng. Kinh tế thế giới tuy còn nhiều khó khăn sau đại dịch Covid - 19 và bất ổn chiến tranh, xung đột nhưng sẽ phục hồi. Sự phát triển của cách mạng khoa học, công nghệ và đặc điểm giai đoạn hiện nay của thời đại đã tạo ra cơ hội thuận lợi để nước ta tiếp cận với nguồn vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý kinh tế - xã hội tiên tiến của thế giới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã chủ động nắm bắt xu thế quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội với các nước, các tổ chức quốc tế, đem lại thời cơ thuận lợi để Việt Nam xây dựng cơ sở kinh tế - xã hội của CNXH, có điều kiện phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Vì vậy, chúng ta cần nắm bắt thời cơ, tranh thủ các cơ hội quốc tế thuận lợi để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trên cơ sở độc lập, tự chủ, nhằm phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tăng cường vị thế và tiềm lực đất nước. Có như vậy, nước ta mới có thể rút ngắn thời gian phát triển trong chặng đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

TẬN DỤNG THỜI CƠ, ĐƯA ĐẤT NƯỚC ĐI LÊN

Xuân Nhâm Dần 2022 thắp lên cho chúng ta kỳ vọng về một năm mới tươi sáng hơn sau một năm Tân Sửu 2021 đầy gian khó, đau thương, thử thách do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Ngay những ngày đầu xuân, đội tuyển bóng đá nam và đội tuyển bóng đá nữ đã có những chiến tích lịch sử làm nức lòng nhân dân cả nước, nhân lên niềm tin về một năm mới tốt lành, thắng lợi.

Lúc thử thách gian nguy nhất mới thấy hết được sức sống của một quốc gia, dân tộc. Mặc dù trong suốt mấy tháng ròng, nhiều tỉnh, thành phố phải thực hiện giãn cách xã hội khiến kinh tế tăng trưởng âm vào quý III-2021, một điều hiếm lạ trong suốt hơn 35 năm đổi mới.

Nhưng khi Chính phủ kịp thời thực hiện chủ trương rất đúng đắn, phù hợp với sự thay đổi của tình hình, chuyển nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 sang trạng thái thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả thì kinh tế đất nước lập tức tăng trưởng 5,22% trong quý IV, để rồi mức tăng trưởng cả năm 2021 đạt 2,58%-một kết quả đáng khích lệ trong bối cảnh ngặt nghèo.

Đặc biệt, hiệu quả từ hoạt động ngoại giao vaccine mang đến hiệu quả cao trong công tác phòng, chống dịch Covid-19. Đến nay, Việt Nam nằm vào nhóm nước có số mũi tiêm vaccine nhiều nhất thế giới và tỷ lệ người dân tiêm đủ mũi vaccine đạt tới 73,9%. Đây là kết quả của một chiến lược chống dịch đúng đắn và sẽ là tiền đề thuận lợi cho việc tự tin mở cửa bình thường trở lại. Cùng với đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình này.

Mục tiêu của chương trình là góp phần đưa nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, không lỡ nhịp với tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu, đồng thời tạo nền tảng và điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2021-2025 và các năm tiếp theo.

Để đạt được mục tiêu trên, nghị quyết đã đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đúng đắn để mở cửa nền kinh tế; bảo đảm an sinh xã hội; hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng; cải cách thể chế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Trong đó, nhiều chính sách đột phá, rất thiết thực. Từ đó, các dự báo trong nước và quốc tế đều đưa ra cái nhìn lạc quan về kinh tế Việt Nam năm 2022, với mức tăng trưởng có thể lên tới 7%.

Để các chính sách có thể đi ngay vào cuộc sống, tạo hiệu quả trên thực tế thì mỗi cán bộ, công chức, lãnh đạo doanh nghiệp, từng người lao động cần bắt tay ngay vào công việc của năm mới. Có thể thấy, một không khí làm việc miệt mài, hiệu quả, trách nhiệm thể hiện rõ ở mọi cấp, mọi ngành, từ Trung ương đến địa phương và ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Nhiệm vụ trọng tâm trước mắt vẫn phải tiếp tục thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Các cấp ủy đảng, chính quyền, địa phương cần chủ động trong mọi tình huống, có phương án ứng phó kịp thời trước những biến chủng mới của đại dịch; tuyệt đối không chủ quan, để rồi bị động, bất ngờ; đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh; chăm lo đời sống nhân dân, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Chúng ta ngày càng cảm nhận rõ hơn những giá trị của văn hóa truyền thống đối với tiến trình phát triển của một quốc gia, dân tộc. Lịch sử đã chứng minh, sức sống của một dân tộc không chỉ được đo đếm bằng thước đo kinh tế, trình độ khoa học-công nghệ, quốc phòng, an ninh, mà chiều sâu văn hóa mới là yếu tố bảo đảm cho sự trường tồn. Văn hóa chính là “mã định danh” để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Bản chất của việc gìn giữ và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc chính là nhằm tạo môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển con người-nguồn tài nguyên vô giá của đất nước.

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Những thành tích xuất sắc của toàn quân trong năm qua đã thể hiện trách nhiệm chính trị rất cao của Quân đội ta trước Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân. Bước sang năm Nhâm Dần 2022, toàn quân tiếp tục ra sức thực hiện thắng lợi những chủ trương lớn về quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội nhân dân, bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, phát huy cao độ phẩm chất cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, mãi mãi xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Năm Nhâm Dần mang lại kỳ vọng về một sức mạnh đột phá. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tăng cường hơn nữa khối đoàn kết, quyết tâm hơn nữa, chung sức, đồng lòng, phát huy cao độ tinh thần yêu nước, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tận dụng thời cơ, đưa đất nước đi lên.

Thứ Ba, 10 tháng 8, 2021

NIỀM TIN VỮNG CHẮC VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

Nước ta quá độ lên CNXH tuy không còn có sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước XHCN như trước, nhưng trong giai đoạn mới của thời đại, khi cách mạng khoa học-công nghệ và toàn cầu hóa đời sống thế giới, tất cả các nước đều ở trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, không một nước nào sống biệt lập mà có thể phát triển được. Sự hợp tác kinh tế với các nước bằng nhiều hình thức sinh động trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau dưới bất kỳ hình thức nào, sẽ tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý, phục vụ cho việc phát triển kinh tế đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của CNXH. Đó cũng là một khả năng thực tế mà chúng ta đã và đang cố gắng tận dụng, đưa nước ta hòa nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, không chỉ có thời cơ mà còn có cả những thách thức, những nguy cơ. Trong hợp tác kinh tế với các nước, nhất là với các nước tư bản phát triển, là những trung tâm kinh tế, kỹ thuật hùng mạnh, họ có thể lợi dụng ưu thế về vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để gây sức ép đối với chúng ta, nhất là trong những lúc chúng ta gặp khó khăn, buộc chúng ta phải chấp nhận những điều kiện có lợi cho họ, hòng lái chúng ta đi chệch khỏi định hướng XHCN. Mặc dù hòa bình, hợp tác, phát triển là xu hướng của thời đại nhưng còn một xu hướng khác đối lập là xu hướng cường quyền, áp đặt. Mưu toan của các thế lực cường quyền, hiếu chiến đang thể hiện trong các điểm nóng trên nhiều khu vực của thế giới, đang là những mưu toan độc chiếm các vùng biển đảo, xâm phạm độc lập, chủ quyền của nước khác.

Đó là những thách thức, những nguy cơ mà chúng ta cần có sự nhận thức sâu sắc và tỉnh táo, không một chút mơ hồ, mất cảnh giác, để có những chủ trương, biện pháp ngăn ngừa, đối phó hữu hiệu. Chúng ta thực hiện phương châm vừa hợp tác, vừa đấu tranh trên cơ sở giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc về mục tiêu chiến lược và mềm dẻo linh hoạt về sách lược. Đấu tranh không phải để phá vỡ hợp tác mà để phát triển sự hợp tác. Phải biết khéo tận dụng thời cơ, tranh thủ quan hệ với các nước lớn trong xu hướng đa cực hóa để mở rộng sự hợp tác vừa có lợi, vừa bảo vệ được mình và chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Một vấn đề nữa cũng không kém phần quan trọng là khi nước ta hội nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới, chúng ta cũng chịu sự tác động hai chiều tích cực và tiêu cực đến kinh tế của nước ta. Tác động tích cực khi kinh tế khu vực và kinh tế thế giới ổn định phát triển, tác động tiêu cực khi kinh tế thế giới và kinh tế khu vực rơi vào trì trệ khủng hoảng. Chúng ta cần có chính sách sử dụng tốt mặt tích cực và ngăn ngừa, hạn chế mặt tiêu cực, giữ cho nền kinh tế nước ta ổn định và phát triển. Đây là bài học thực tế đã xử lý trước những tác động tiêu cực của cơn khủng hoảng tài chính-tiền tệ và khủng hoảng kinh tế trong khu vực và thế giới trong thời gian qua.

Như vậy, từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên XHCN bỏ qua chế độ TBCN theo quan điểm của V.I.Lênin, người đã có đóng góp to lớn vào lý luận về sự “phát triển rút ngắn” và Chính sách kinh tế mới (NEP). Nó đã được thực tiễn khảo nghiệm mà ngày nay Đảng ta đang vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Xuất phát từ tình hình như thế, chúng ta có thể tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đang trong tư thế vươn tầm, kiên định con đường đã lựa chọn, đã có đủ sức lực và trí tuệ để tiến bước cùng thế giới, tiến cùng thời đại; nhất định thực hiện được mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

THÀNH TỰU, THỜI CƠ VÀ VẬN HỘI MỚI

Nhìn lại sau hơn 35 năm đổi mới, từ một quốc gia lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, Việt Nam đã vươn lên thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển. Tiềm lực và quy mô kinh tế ngày càng tăng lên, quy mô GDP đến năm 2020 ước đạt 268,4 tỉ USD, tăng khoảng 1,4 lần so với năm 2015; GDP bình quân đầu người năm 2020 ước đạt khoảng 2.750 USD/người, gấp khoảng 1,3 lần so với năm 2015. Tỉ trọng chi đầu tư phát triển tăng lên mức 27 - 28%, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh, đạt mức kỷ lục là 39 tỉ USD (năm 2019), tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hoá tăng 1,7 lần. Năng suất lao động đến năm 2020 tăng gần 1,5 lần so với năm 2015, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2016 - 2020 ước đạt 5,8%/năm. Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao. Từ một quốc gia nông nghiệp lạc hậu Việt Nam đã trở thành một một thị trường mới nổi với trọng tâm là sản xuất thương mại, tham gia vững chắc vào thị trường thế giới qua chính sách thương mại tự do và chào đón các nhà đầu tư nước ngoài. Những năm gần đây, đặc biệt là năm 2020, Chính phủ đã thực hiện tốt việc giảm nợ công, tăng dự trữ ngoại hối và tạo ra môi trưởng thuận lợi hơn cho các doanh nhân khởi nghiệp.

Trên mặt trận ngoại giao, nhiều rào cản bị phá rỡ đã đưa Việt Nam đến gần với thế giới. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, tham gia nhiều thỏa thuận thương mại tự do quan trọng như Hiệp định thương mai tự do Việt Nam liên minh Châu Âu  EVFTA, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP, Hiệp định đối tác toàn diện khu vực RCEP… Từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới, Việt Nam đã khẳng định vị thế mới trên trường quốc tế, trở thành thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế, thiết lập quan hệ mở rộng với 189 quốc gia thành viên Liên hợp quốc và hơn 500 tổ chức phi chính phủ, xây dựng mạng lưới 30 đối tác chiến lược và đối tác toàn diện, trong đó có 17/20 nước thành viên G20 và toàn bộ các nước ASEAN

Trong lĩnh vực quốc phòng an ninh, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và lợi ích quốc gia – dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Nền quốc phòng toàn dân đang trở nên ngày càng vững mạnh, toàn diện; đã có được những bước phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Việt Nam đã tự nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất và cung cấp nhiều loại vũ khí, nhiều tàu quân sự. Việt Nam từng bước đóng vai trò tham gia tích cực, cử sĩ quan tham gia các phái bộ quân sự, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Bầu không khí xã hội dân chủ, cởi mở hơn; dân trí được nâng cao; con người Việt Nam năng động, sáng tạo hơn, tính tích cực cá nhân, tính tích cực xã hội được phát huy. Những nhân tố mới, giá trị mới của văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế từng bước được định hình trong đời sống, góp phần bồi đắp tinh thần dân tộc, củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Quyền tự do sáng tạo, truyền bá văn hóa, văn học, nghệ thuật được tôn trọng; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt tâm linh của nhân dân được pháp luật bảo vệ và được tôn trọng, bảo đảm trên thực tế. Công tác xã hội, thu hút các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục được đẩy mạnh. Mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng về quy mô, cơ sở vật chất được tăng cường.

Nhiều dự báo cho thấy những thuận lợi như sau đại dịch COVID-19 trọng tâm kinh tế đang chuyển dịch từ Tây sang Đông và Việt Nam đang được hưởng lợi từ sự chuyển dịch đó. Báo cáo tháng 12-2020 của Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật Bản JCER dự báo quy mô nền kinh tế Việt Nam sẽ vượt qua Đài Loan vào năm 2035 và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á, chỉ sau Indonexia. Dự báo khác cho rằng năm 2020 Việt Nam với dân số gấp 2 lần Hàn Quốc có tổng quy mô nền kinh tế đạt 300 tỷ USD, so với tổng quy mô nền kinh tế Hàn Quốc là 1,65 nghìn tỷ USD thì khoảng cách vẫn còn lớn. Nhưng nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm duy trì ở mức 7,5% thì dự kiến đến năm 2040, tổng quy mô nền kinh tế Việt Nam có thể bắt kịp hoặc vượt qua Hàn Quốc, trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 ở Châu Á.

Trang Asianmediacetre.org.vn ngày 18/1 cho rằng việc gọi nền kinh tế Việt Nam là “con hổ Châu Á” có vẻ sáo rỗng nhưng nếu duy trì mức tăng trưởng 7% trong thập kỷ tới Việt Nam cũng sẽ đi theo quỹ đạo giống như những  “con hổ Châu Á” Hồng Kông, Singaope, Hàn Quốc và Đài Loan trước đây. Theo báo cáo của tổ chức Economist Intelligence Unit (EUI) của Anh, Việt Nam nổi lên như một cơ sở sản xuất chi phí thấp, đánh bại cả Ấn Độ, thậm chí Trung Quốc về các chỉ số, bao gồm chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài, kiểm soát ngoại thương và hối đoái. Trong khi Việt Nam đạt 6 trên thang điểm 10 trong chính sách FDI thì cả Ấn Độ và Trung Quốc đều đạt điểm 5,5, về kiểm soát ngoại thương và hối đoái Việt Nam đạt 7,3 trong khi Trung Quốc là 6,4 và Ấn Độ là 5,5. Tham gia các hiệp định thương mai tự do mang đến cho Việt Nam nhiều lợi thế. Ví dụ như theo hiệp định EVFTA, nhóm hàng sản xuất giày dép sang EU phải chịu mức thuế 30% được giảm xuống 0% từ tháng 8/2020. Thời cơ và dư địa phát triển đang ủng hộ những nỗ lực và quyết tâm của Việt Nam.

Những thành công khá toàn diện trên nhiều mặt, lĩnh vực của sự nghiệp đổi mới không thể tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, những năm qua Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện toàn diện, đồng bộ. Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn được đẩy mạnh; hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển. Bộ máy của hệ thống chính trị để tinh gọn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động được thực hiện với quyết tâm chính trị cao, đạt được kết quả quan trọng, rõ nét. Nhiều quy chế, quy định về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền, phân cấp, tăng cường kiểm tra, giám sát trong công tác cán bộ được rà soát, điều chỉnh, bổ sung và ban hành mới.

Dư luận quốc tế đánh giá cao về Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, cho rằng đây là sự kiện quan trọng không chỉ của Việt Nam mà còn trong cả khu vực. Global Time cho rằng Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ bầu ra ban lãnh đạo mới để tiếp tục chính sách ngoại giao độc lập hóa, đa phương hóa và đa dạng hóa. Quỹ Chính trị Konrad của Đức cho rằng bất kể nhân sự ở các vị trí lãnh đạo cao nhất có thể thay đổi thế nào thì Đảng Cộng sản Việt Nam cũng sẽ tiếp tục lãnh đạo đất nước một cách vững chắc. Việt Nam tiếp tục ổn định chính trị thông qua kết nối đa phương và song phương. Các thỏa thuận thương mại sẽ tiếp tục giúp Việt Nam thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tờ FAZ ngày 23/1 đăng bài viết với nhan đề “Đảng Cộng sản Việt Nam định vị mình thế nào trong tương lai” cho rằng các vị trí lãnh đạo cho thấy sự tiếp nối liên tục. Một thế hệ trưởng thành trong thời kỳ kinh tế mở cửa đang phấn đấu mạnh mẽ hơn bao giờ hết, có nhiều khả năng đương đầu với những thách thức trong việc lãnh đạo đất nước vượt qua đại dịch và những khó khăn sắp tới. Tạp chí “Thế giới đa cực” của Nga ngày 20/1 đăng bài viết có tiêu đề “Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam - cột mốc lịch sử trong đời sống Việt Nam” bày tỏ tin tưởng Đại hội XIII của Đảng sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của Việt Nam theo hướng hiện đại. Tác giả bài viết cho rằng nội dung các dự thảo văn kiện trình Đại hội thể hiện tầm nhìn chiến lược và cách tiếp cận sáng tạo của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, cũng như quyết tâm của dân tộc Việt Nam phấn đấu xây dựng đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn", nhân dân được ấm no, hạnh phúc.

Những thành công, kinh nghiệm và phân tích nêu trên cho thấy tính hiện thực và khả thi của những mục tiêu và giải pháp được đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra, hiệu triệu, tập hợp toàn Đảng, toàn dân sẽ làm nên những kỳ tích như những con rồng, con hổ Châu Á đã làm được trước đó.