Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN Ở THẾ KỶ XXI

Liệu giai cấp vô sản ở thể kỷ XXI có còn đại diện cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa và còn là chủ thể trong việc hiện thực hoá chủ nghĩa xã hội như trước đay nữa hay không? Luận giải về tính khách quan của XHCN trong bối cảnh của CNXH ở cuối thế kỷ XX thoái lui trên diện rộng – là công việc đặc biệt khó khăn và đầy trách nhiệm. Dựa vào qui luật kinh tế của xã hội đương thưòi, K. Marx đã kết luận về tính tất yếu của sự chuyển hoá xã hội TBCN lên xã hội XHCN. Kết luận này vẫn còn là một thực tế khoa học cho tới tận ngày nay.
Trong nền sản xuất công nghiệp, với sự bá chủ của công nghiệp dựa vào kỹ thuật cơ khí là chính, giai cấp vô sản (đặc biệt là những công nhân lao động chân tay) luôn chiếm vị trí hàng đầu. Pháp triển công nghiệp không chỉ có nghĩa là gia tăng sản phẩm và số lượng công nhân, mà còn kéo theo sự tập trung hoá nhanh chóng máy móc và những công nhân phục vụ máy móc đó. Quyền lợi của người công nhân và sự tập trung hoá công nhân trong nền sản xuất công nghiệp đã làm cho giai cấp vô sản trở thành động lực trí truệ và là người thực hiện cuộc đấu tranh vì CNXH. Chính trong giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật công nghiệp của lực lượng sản xuất, giai cấp vô sản đã thực hiện bước đột phá mang tính chất XHCN trong hệ thống quan hệ sản xuất tư bản trên thế giới. Ở giai đoạn này đã diễn ra ba đợt khủng hoảng chung của CNTB, nhưng khi đó, CNXH đã không đủ khả năng chiến thắng CNTB trên qui mô toàn thế giới.
 Trên thực tế, những bứt phá mạnh mẽ nhất trong chuỗi mắt xích của CNTB lại được thực hiện tại những nước tiền công nghiệp hoặc mới ở giai đoạn đầu công nghiệp. Chính quyền lực của công nghiệp đã làm cho những nước xây dựng CNXH không đủ sức vượt qua thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH. Cho tới cuối nhứng năm 1980, Liên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN Đông Âu chưa ra khỏi giai đoạn chuyển tiếp giữa 2 hình thái xã hội nói trên. Ở những nước này mới chỉ có xã hội tiền XHCN. Cũng trong những năm 80 của thế kỷ XX, phong trào cộng sản ở các nước tư bản phát triển đã suy yếu căn bản, biểu hiện ở qui mô và tính gay gắt của các phong trào bãi công giảm sút; đại diện của các Đảng Cộng sản trong nghị viện ở các nước Tây Âu giảm; hiện tượng khủng hoảng của các Đảng Cộng sản đã có ảnh hưởng nghiêm trọng không chỉ đối với các tiến trình trong nước, mà cả quốc tế. Thực trạng đó là kết quả của hai tác nhân mới có ý nghĩa lịch sử toàn thế giới.
Một là, các nước tư bản phát triển ở một chừng mực nào đó đã đưa được tính đối kháng của quan hệ bóc lột ra ngoài biên giới của chúng, chuyển nó thành, mâu thuẫn Bắc – Nam. Sự chênh lệch về trình độ của lực lượng sản xuất đã cho phép tư  bản xuyên quốc gia không chỉ thiết lập ách thống trị về mặt kinh tế, chính trị và tinh thần theo kiểu chủ nghĩa thực dân mới đối với phía Nam, mà về căn bản còn tư sản hoá được giai cấp vô sản đất nước mình, biến họ thành những người cùng tham gia bóc lột đối với các vùng kém phát trtiển về kinh tế. Sự thất bại tạm thời của CNXH ở Liên Xô một lần nữa làm cho sự bóc lột những người công nhân làm thuê ở các nước kinh tế phát triển Tây Âu tăng thêm. Dường như một mô hình mới của sự phát triển TBCN đã hình thành. Phân tích mô hình này, Ramon Montovani (Đảng Phục hưng cộng sản Italia) nhận xét, “ở phía Nam” là những nước tuy có nhiều đầu tư lớn của tư bản nước ngoài và sự gia tăng đáng kể tổng sản phẩm trong nước, nhưng lại không mở rộng được thị trường nội địa và không nâng cao được thu nhập cho người dân; không chỉ là sự cách biệt ngày càng tăng giữa người giàu và người nghèo, mà còn là sự gia tăng tuyệt đối con số đói nghèo ở những nước miền Nam này; thậm chí ở nước giàu, nạn thất nghiệp, nghèo đói, căng thẳng xã hội vẫn tăng lên. Đây là tình trạng xung đột trung tâm – ngoại vi ở cấp độ toàn cầu, khu vực, quốc gia và địa phương – cục bộ. Trong “mô hình mới của sự phát triển TBCN” giai cấp vô sản ở các nước giàu vẫn chỉ là “công nhân quí tộc” thôi.
Hai là, cuộc đấu tranh vì CNXH của giai cấp vô sản ở các nước Tây Âu suy yếu, do hình thức bóc lột lao động của tư bản đã biến đổi, giá cả sức lao động tại các nước giàu tăng vọt. Công nghệ sản xuất được đẩy nhanh; sự ứng dụng đại trà công nghệ tin học vào sản xuất; cơ sở vật chất kỹ thuật đang được tin học hoá…; tất cả những yếu tố đó là nền tảng cho bước nhảy vọt về chất trong sự phát triển lực lượng sản xuất. Trong hệ thống lực lượng sản xuất, máy tính sẽ thực hiện chức năng là “người lao động bán phần”. Như vậy sẽ không cần đến sự tập trung hoá lực lượng sản xuất nữa. Và do đó, nội dung lao động của một bộ phận đáng kể những người công nhân làm thuê đã thay đổi về cơ bản- máy tính hoá đã làm cho lao động trở thành trí óc là chính. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin không chỉ tạo ra bước nhảy về chất trong nội dung lao động, mà còn kéo theo những hậu quả tâm lí - xã hội khác, có tác động quan trọng đến diện mạo của giai cấp vô sản trong thời kỳ mới. Một mặt, việc trí thức hoá lực lượng công nhân làm thuê có khả năng tạo ra ảo tưởng tâm lí về sự phi vô sản hoá lực lượng làm thuê. Mặc khác, nó làm cho sự khác biệt giữa những người “cổ cồn xanh” và “cổ cồn trắng” (tức là về nội dung của lao động) không còn mang tính nguyên tắc nữa. Một khi sự phân biệt đó biến mất thì sự phân biệt trong mối quan hệ đối với tư liệu sản xuất sẽ hiện ra rõ nét. Điều đó có nghĩa là sự đối kháng giữa kẻ bóc lột và người bị bóc lột, giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản sẽ tăng lên mạnh hơn.
Từ phân tích trên, cú thể khẳng định rằng đã có đủ cơ sở để nhìn nhận giai cấp vô sản ở thế kỷ XXI  là “động lực trí tuệ và đạo đức”, và là “người thực thi” bước quá độ từ CNTB lên CNXH. Thứ nhất, nhờ tin học hoá quá trình sản xuất vật chất và tinh thần mà lao động xã hội mang tính tập thể trở thành cái phổ biến. Điều đó đang làm mâu thuẫn cố hữu của CNTB (mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của lao động và hình thức chiếm hữu tư nhân) thêm sâu sắc và biến nó thành mâu thuẫn đối khảng giữa tính chất phổ biến của lao động với hình thức chiếm hữu tư nhân. Giai cấp vô sản mới được “vũ trang” bằng máy tính để chống lại giai cấp tư sản xuyên quốc gia. Thứ hai, máy tính hoá sản xuất dẫn đến việc tăng khả năng giao tiếp giữa những người vô sản có cùng chung lợi ích, vì khi đó vô sản có cùng chung lợi ích, vì khi đó giao tiếp không đòi hỏi phải có “sự tiếp xúc”. Do vậy, phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản mới có điều kiện chuyển mạnh mẽ từ “trạng thái tự phát” lên “tự giác”. Thứ ba, chính giai cấp tư sản đóng góp phần gắn kết giai cấp vô sản mới, mà cụ thể là giúp hình thành nên chủ nghĩa tập thể và tinh thần đoàn kết của những người vô sản mới.
Với những lý do đó, giai cấp vô sản mới sẽ đại diện cho tư tưởng XHCN và là chủ thể xây dựng CNXH trong thế kỷ XXI; vận mệnh của họ là giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa lao động và tư bản.
Tuy nhiên, do tính chất không đồng đều trong sự phát triển của các vùng khác nhau trên thế giới, ở ngưỡng cửa thế kỷ XXI, sẽ vẫn tồn tại ba nhóm nước với các mối quan hệ giữa các giai cấp và các mâu thuẫn đặc trưng riêng của từng nhóm.
Nhóm thứ nhất là các nước giàu “miền Nam”, đủ sức “đưa” sự đối kháng của quan hệ bóc lột “ra ngoài”, tức là đẩy về ngoại vi. Giai cấp tư sản thuộc nhóm này cố gắng “mua chuộc” giai cấp vô sản dân tộc để duy trì sự phát triển “bình yên” của CNTB. Song, nguy cơ phá sản hệ thống tài chính quóc tế hoặc nguy cơ không thoả thuận được về nguyên tắc phân chia thế giới giữa các trung tâm tư bản như Mỹ, Tây Âu và Đông Nam Á rất có thể sẽ làm chấm dứt sự phát triển “bình yên” ấy.
Nhóm thứ hai là các nước thuộc thế giới thứ ba, nơi mới chỉ bắt đầu quá trình công nghiệp hoá. Với các nước thuộc nhóm này, đâu tranh giải phóng dân tộc vẫn là xu hướng chủ đạo của cuộc đấu tranh giai cấp. Trong giai đoạn cao trào, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc được bổ sung XHCN; còn lúc thoái trào thì nó trở lại vòng “thân thuộc” của thế giới quan tư sản và tiểu tư sản dân tộc. Tuy nhiên việc ứng dụng công nghệ máy tính trong sản xuất sẽ góp phần làm hồi sinh tình đoàn kết giai cấp đã được hình thành trong nửa đầu và giữa thế kỷ XX giữa giai cấp vô sản ở chính quốc và ở thuộc địa.
Nhóm thứ ba gồm các nước đang quá độ từ phương thức sản xuất công nghiệp sang phương thức sản xuất “máy tính hoá”. Tác giả cho rằng, đặc điểm của các nước thuộc nhóm này là giai cấp vô sản ở đó chiếm ưu thế về số lượng. Trong cuộc đấu tranh vì xu hướng phát triển XHCN nhất thiết phải dựa vào họ, đó là tất yếu lịch sử. Xét về mặt lịch sử, giai cấp vô sản công nghiệp sẽ phải nhường lại vai trò tiên phong cho giai cấp vô sản mới (“được vũ trang bằng máy tính”, điều đó có nghĩa là các công nhân “cổ cồn trắng” sẽ có vai trò tích cực hơn “cổ cồn xanh”).

Khi vai trò và sứ mệnh của công nghệ máy tính, cũng như sứ mệnh của giai cấp vô sản mới tăng lên thì ý nghĩa của cuộc đấu tranh giai cấp dưới hình thức hệ tư tưởng càng tăng mạnh. Khi đã xuất hiện hệ thống kiểu như Internet thì sẽ không thể có một xã hội đóng kín về tư tưởng. Việc sử dụng rộng rãi máy tính đã hạn chế mạnh khả năng của nhà nước trong việc kiểm soát thông tin – tư tưởng. Đây chính là một nét mới của cuộc đấu tranh giai cấp. Nền sản xuất áp dụng công nghệ máy tính đòi hỏi những thay đổi về cấu trúc và tổ chức chính trị của những người lao động. Bên cạnh một đảng tiên phong được tổ chức tốt, có thể sẽ xuất hiện một mạng lưới gồm các tổ chức chính trị thống nhất trong mặt trận tổ quốc- dưới sự lãnh đạo của đảng. Cách mạng vô sản là một tất yếu vì “Dù thế nào đi chăng nữa, thì việc chuyển sang phương thức sản xuất công nghệ mới – máy tính hóa, đã đánh dấu một giai đoạn mới trong sự khủng hoảng chung của CNTB và chỉ bằng cách tạo ra cái nền tảng của CNXH mới có thể giải quyết được sự khủng hoảng ấy”.

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016

VAI TRÒ CỦA ASEAN TRONG DUY TRÌ HÒA BÌNH VÀ AN NINH KHU VỰC

Hợp tác chính trị - an ninh được đánh giá là mặt hợp tác thành công hơn cả của ASEAN trong những thập kỷ qua. Và chính ở lĩnh vực này, vai trò của tổ chức đối với các nước thành viên được thể hiện rõ rệt nhất. Điều được thừa nhận rộng rãi về vai trò của ASEAN đối với các nước thành viên trong 40 năm qua là việc xử lý ổn thỏa các mối bất đồng, tranh chấp giữa các nước thành viên, không để dẫn đến xung đột, tạo điều kiện xây dựng một môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác giữa các nước thành viên để từ đó giúp họ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, và xây dựng một khu vực Đông Nam Á thống nhất, vững mạnh trước các sức ép từ bên ngoài.
Xuất phát từ vị trí địa chính trị, địa chiến lược nên trước chiến tranh thế giới thứ 2 hầu hết các quốc gia Đông Nam Á (trừ Thái Lan) đều trải qua những thăng trầm lịch sử khác nhau, nhất là trong cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc. Chính vì vậy, mong muốn tạo lập môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển luôn là nguyện vọng thiết tha của nhân dân các nước ĐNA nói chung và của mỗi quốc gia thành viên nói riêng.
Trước yêu cầu của lịch sử, các nước trong khu vực đã tìm ra được tiếng nói chung thông qua việc thành lập Hiệp hội các quốc gia ĐNA (8.8.1967) trên cơ sở Tuyên bố Băng Cốc, với 5 nước thành viên ban đầu là Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Xingapo và Thái Lan; xây dựng các nguyên tắc, đưa ra các tuyên bố, cam kết thực hiện hướng tới mục tiêu vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực. Sau hơn 20 năm tồn tại, phát triển, tháng 10/1991 các nước trong khu vực đã ký kết“Hiệp định Pari - 1991”- Hiệp định hoà bình ở Campuchia, xóa bỏ mọi hiềm khích, quan ngại, nghi ngờ lẫn nhau giữa hai thái cực trong cùng một khu vưc, tạo ra một không gian địa - chính trị mới, đầy hứa hẹn về sự hợp tác vì hoà bình và phát triển. Tháng 12/1995 tại Băng Cốc đã diễn ra cuộc họp lịch sử đầu tiên của người đứng đầu Chính phủ 10 nước Đông Nam Á, chấm dứt thời kỳ Đông Nam Á bị phân chia thành hai nhóm đối lập nhau, thay vào đó là sự hoà hợp khu vực thống nhất, củng cố sự tin cậy lẫn nhau, đẩy mạnh quá trình tiến tới một ASEAN bao gồm 10 nước Đông Nam Á (ASEAN-10) và mở ra những khả năng mới cho hoà bình, ổn định, hợp tác chính trị và kinh tế ở khu vực. ASEAN đã đưa ra Tuyên bố về khu vực hoà bình, tự do và trung lập thông qua Hiệp ước (ZOPFAN) năm 1971; “Tuyên bố hoà hợp ASEAN – II” năm 2003, thể hiện rõ cố gắng của các nước ASEAN tranh thủ điều kiện hoà bình, để  phát triển và mong muốn không có sự can thiệp từ bên ngoài dưới bất cứ hình thức nào. Bên cạnh đó ASEAN luôn tuân thủ nguyên tắc chỉ đạo quan hệ quốc tế thông qua Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (gọi tắt là Hiệp ước Bali). Đặc biệt, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 13 (Cêbu – Philippin) tháng 11/2007, lãnh đạo mười nước trong khối ASEAN đã thống nhất thông qua Hiến chương ASEAN và cam kết thực hiện.
Tiếp đó, ASEAN đã tích cực triển khai Kế hoạch tổng thể về xây dựng Cộng đồng Chính trị-An ninh (APSC) trên tất cả các mặt, nhất là trên 14 lĩnh vực ưu tiên đã được xác định, cũng như các chương trình, kế hoạch công tác có liên quan khác (như ứng phó thiên tai, an ninh biển, chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia…). ASEAN đã tích cực thúc đẩy đối thoại và hợp tác tại các diễn đàn ở khu vực như ASEAN+1, ASEAN+3, ARF, ADMM+ và Cấp cao Đông Á (EAS) nhằm tăng cường xây dựng lòng tin, hợp tác vì hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực, cũng như ứng phó hiệu quả với các thách thức đang đặt ra. ASEAN cũng tiếp tục củng cố và phát huy mạnh mẽ vai trò và giá trị của các thỏa thuận, cơ chế và công cụ hợp tác vì hòa bình, an ninh và ổn định ở khu vực như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á phi Vũ khí hạt nhân (SEANWFZ)…
Gần đây, trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, thông qua các Hội nghị Cấp cao ASEAN-24 (năm 2014) và Cấp cao ASEAN-25, 26 (năm 2015) các nhà lãnh đạo ASEAN cho rằng hành động của Trung Quốc là nguy hiểm, vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS 1982), vi phạm Tuyên bố về ứng xử giữa các bên liên quan ở Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc là một bên ký kết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, an toàn hàng hải trên Biển Đông cũng như hòa bình, ổn định của khu vực, yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình tranh chấp, tuân thủ luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982, thực hiện đầy đủ DOC và sớm xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử của các bên liên quan ở Biển Đông (COC). Đây là bước chuyển biến, thể hiện sự đoàn kết và vai trò chủ động, trách nhiệm của ASEAN đối với hòa bình, ổn định và an ninh ở Biển Đông.
Đặc biệt, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 28, 29 diễn ra tại thủ đô Viêng Chăn – Lào, các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã ra một tuyên bố chung nhất trí áp dụng bộ quy tắc về tránh va chạm bất ngờ trên biển và thông qua tài liệu hướng dẫn về đường dây nóng giữa các quan chức cao cấp của các Bộ Ngoại giao về ứng phó với các sự cố khẩn cấp trên biển. Đây là những động thái mang tính tích cực, góp phần quan trọng vào giảm rủi ro, giảm va chạm trên biển, tạo bước tiến mới trong quan hệ ASEAN – Trung Quốc, góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực. Cũng tại Hội nghị này các nhà lãnh đạo ASEAN cũng đã đưa ra được một cái tuyên bố chung khá cứng rắn bày tỏ sự lo ngại về những hành động làm gia tăng căng thẳng như những hành động cải tạo, xây dựng trái phép trên các đảo và các đá trên biển Đông.
Như vậy, các nước thành viên ASEAN đã đạt được sự nhất trí cao trong nhiều vấn đề khu vực và quốc tế, tạo thành một thế mạnh của tổ chức trong quan hệ với các nước và khu vực khác. ASEAN đã được đánh giá là tổ chức hợp tác khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển và trở thành một diễn viên ngày càng được biết đến trên sân khấu khu vực và quốc tế. Tư cách thành viên của một tổ chức khu vực thành công, đại diện cho Đông Nam Á đã làm tăng thêm vị trí và thế mạnh mặc cả của các nước ASEAN trong quan hệ với các nước khác. 
Tuy nhiên, trước sức ép ly tâm chiến lược của các nước lớn, sắc thái chính trị khác nhau, nhận thức về lợi ích quốc gia – dân tộc cũng khác nhau nên ASEAN cũng đang đứng trước những thách thức không nhỏ trong việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực. Chẳng hạn như tại Hội nghị Cấp cao Asean lần thứ 28, 29. Khi kết thúc hội nghị các nhà lãnh đạo Asean đã ra được một bản tuyên bố chung rất dài và nói đầy đủ với hầu hết tất cả trừ hai điểm 1) không nhắc đến bất kỳ tên của một quốc gia nào cả, 2) không nhắc đến phán quyết của tòa vụ Philippin kiện Trung Quốc. Bản tuyên bố cũng nhấn rất mạnh về công ước về luật biển và luật pháp quốc tế, điểm đáng chú ý ở đâylà họ chỉ ghi nhận "một số lãnh đạo cấp cao bày tỏ lo ngại". Diễn đạt như vậy rất dễ dẫn đến hiểu lầm bởi trên thực tế tại các hội nghị Asean vấn đề biển Đông thực sự là mối quan ngại của tất cả các nước, nhưng ghi là một vài nước rất dễ dẫn đến hiểu lầm.
Vấn đề biển Đông không chỉ là thách thức an ninh lớn nhất trong khu vực Asean. Đây còn là những phép thử lớn đối với sức mạnh, sự đoàn kết của ASEAN; giới quan sát cho rằng đối với ASEAN làm thế nào để tận dụng được sự đồng thuận của khối để giảm thiểu các bất lợi trong khu vực. Chính thủ tướng Lý Hiển Long trong bài diễn văn nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày quốc khánh Xingapo đã nhấn mạnh rằng: Nếu Asean không thể giải quyết được một vấn đề lớn ngay trước cửa nhà ảnh hưởng trực tiếp đến các thành viên của mình, thì về lâu dài sẽ không ai xem trọng Asean.
Ngược lại, việc ASEAN tham gia giải quyết mâu thuẫn, ngăn ngừa xung đột ở khu vực sẽ đạt được ba mục đích:
1) Góp phần hiện thực hóa Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC).
2) Hạn chế khả năng ASEAN và các quốc gia thành viên rơi vào vòng xoáy cạnh trạnh địa - chính trị của các nước lớn; duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực mới đang hình thành.
3) Góp phần giảm thiểu thế độc quyền chiến lược của một số nước lớn, làm tăng phần hợp tác, chia sẻ lợi ích giữa các nước lớn cũng như giữa các nước lớn với các nước ASEAN. 
Kết quả đó sẽ góp phần củng cố môi trường hợp tác và an ninh khu vực, trong đó chủ quyền quốc gia dân tộc của các thành viên ASEAN sẽ được tôn trọng. Đây cũng chính là trách nhiệm và lợi ích chiến lược của tổ chức này.
Lời giải phụ thuộc vào nhận thức, sự đồng thuận, nỗ lực cố gắng chung của cả Cộng đồng cũng như mỗi thành viên Asean và rõ ràng trong bối cảnh hiện nay, ASEAN cần chủ động đưa ra các sáng kiến mới, tạo dựng các cơ chế, hình thức hợp tác hòa bình mới. Hơn lúc nào hết, ASEAN cần một quyết tâm và trách nhiệm chính trị cao hơn trong giải quyết các vấn đề an ninh khu vực. Riêng đối với vấn đề Biển Đông bên cạnh việc cần sớm cùng Trung Quốc đàm phán, ký kết về COC, ASEAN cần kiên trì đấu tranh tìm các giải pháp giải quyết tranh chấp. Trong đó:
i) ASEAN cần thống nhất, đoàn kết hơn nữa trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông, tránh ngón đòn chia để trị của Trung Quốc. Đồng thời cần nghiên cứu áp dụng bổ sung cơ chế đảm bảo thống nhất, phát huy trách nhiệm và kế thừa liên tục chính sách chung của ASEAN qua các nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN.
ii) Không né tránh giải quyết tranh chấp bằng luật pháp quốc tế. Trung Quốc luôn né tránh việc giải quyết vấn đề bằng luật pháp quốc tế, vì nước này muốn giữ thể diện, chủ trương giải quyết tranh chấp Biển Đông theo con đường song phương, loại trừ việc tham gia của bất kỳ bên thứ ba nào khác. Chính vì vậy, Trung Quốc né tránh dùng các cơ chế tài phán quốc tế, điều này chứng tỏ Trung Quốc yếu thế về cơ sở pháp lý trong các yêu sách chủ quyền phi lý của họ trên Biển Đông. ASEAN cần triệt để khai thác điểm yếu này của Trung Quốc.
iii) Chủ động tạo dựng cơ chế đàm phán đa phương. Sau những sự kiện liên tiếp từ tháng 5.2014 đến nay, lòng tin vào những cam kết của Trung Quốc đã suy giảm nghiêm trọng, vì vậy ASEAN cần tiếp tục kiên trì, kiên quyết đòi đàm phán đa phương với Trung Quốc để giải quyết các tranh chấp chủ quyền trên biển. Nhưng trước khi đàm phán đa phương với Trung Quốc, các nước ASEAN đòi chủ quyền ở Biển Đông cần tiến hành đàm phán đa phương với nhau nhằm giải quyết tất cả các tranh chấp về các vùng biển, cần xác định rõ phạm vi chủ quyền và quy chế pháp lý đối với các vùng biển, thềm lục địa và các đảo ở quần đảo Trường Sa để xác định phạm vi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi nước trên cơ sở UNCLOS 1982, cũng như thống nhất phương án đàm phán với Trung Quốc. 
Chắc chắn Trung Quốc sẽ coi đàm phán đa phương nội bộ các nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền ờ Biển Đông là cái gai và có thể gây thêm căng thẳng, phức tạp, thậm chí chiếm một số đảo, bãi chìm, làm đảo nhân tạo... nhưng thành công của đàm phán đa phương giữa các nước ASEAN có tranh chấp chủ quyền sẽ là minh chứng cho một cuộc đàm phán đa phương không có Trung Quốc tham gia mà vẫn giải quyết được các tranh chấp. Qua đây, các nước ASEAN sẽ có vị thế tốt hơn, làm cơ sở để thiết lập các điều khoản cho đàm phán tập thể sau này với Trung Quốc, cũng như kéo Trung Quốc vào đàm phán đa phương sau đó. Bên cạnh các hoạt động mang tính nội khối, ASEAN cần mở rộng hợp tác với các nước đối tác, các nước ngoài khu vực để từng bước giải quyết tranh chấp chủ quyền.
iiii) Xây dựng thỏa thuận đảm bảo tự do, an ninh hàng hải, hàng không trên biển Đông. Việc đảm bảo tự do, an toàn, an ninh hàng hải, hàng không là nhu cầu của tất cả các nước có lợi ích ở Biển Đông. ASEAN cần chọn chủ đề tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông là khâu đột phá. Nên có thể mời các quốc gia liên quan đến an toàn hàng hải, hàng không ở khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Ôxtrâylia tham gia đàm phán đa phương, xây dựng, ký kết một Thỏa thuận (hoặc Hiệp định) về đảm bảo an ninh hàng hải, hàng không ở Biển Đông. Điều đó sẽ tạo tiền lệ quan trọng, làm cho Trung Quốc không thể đứng ngoài lề các cuộc đàm phán cũng như không thể không tham gia điều ước quốc tế này nếu Trung Quốc nghiêm túc mong muốn giải quyết các tranh chấp. Như vậy, bằng cách đó, ASEAN và các nước trong khu vực có thể tạo tiền đề, xác lập các điều khoản cho cuộc đàm phán đa phương tương lai với Trung Quốc.
Ngoài ra, cần tận dụng các diễn đàn khu vực, quốc tế quan trọng khác. Ví dụ, thông qua diễn đàn An ninh khu vực (ARF), Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS), ADMM+, Đối thoại Shangri-La, Hội nghị G7. Nhiều tiếng nói ủng hộ giải quyết tranh chấp hòa bình và tự do hàng hải tại Biển Đông.
Nếu tình hình tiếp tục căng thẳng hoặc có những phát sinh phức tạp mới, ASEAN nên sẵn sàng đề nghị Tổng Thư ký Liên hợp quốc đưa ra thảo luận vấn đề này tại phiên họp Đại hội đồng Liên hợp quốc, để làm sáng tỏ chính nghĩa của mình, cũng như để cả thế giới thấy được hành vi vi phạm luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc của nước lớn.
Nói tóm lại, sau 40 năm tồn tại và phát triển với nhiều thăng trầm, ASEAN đã trở thành một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á, đã và đang tiếp tục phát huy vai trò trung tâm và sự ảnh hưởng ở khu vực và thế giới. Việc Cộng đồng ASEAN được thành lập ngày 31/12/2015, đã mở ra cho các quốc gia trong khu vực một trang sử mới với nhiều cơ thời cơ, vận hội mới cả về địa kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa xã hội của khu vực. Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp trên Biển Đông, sự gia tăng ảnh hưởng của các nước lớn và vấn đề lợi ích quốc gia của các nước thành viên … là những thách thức không nhỏ đối với ASEAN trong duy trì hòa bình, ổn định khu vực. Do đó, Cộng đồng ASEAN cần phải được xây dựng một cách thống nhất, đồng bộ chiến lược và quyết sách phát triển. Đặc biệt, trên phương diện Chính trị - An ninh đòi hỏi ASEAN phải có những tính toán khoa học, chặt chẽ và có được sự đồng thuận giữa các quốc gia trong Cộng đồng. Sự đóng góp một cách tích cực, chủ động của từng thành viên sẽ mang lại hiệu quả vì một khu vực ổn định, hòa bình, thịnh vượng và phát triển./.



Cảnh giác nhận rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch

Chống phá cách mạng Việt Nam là bản chất không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, hòng âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với toàn xã hội, chuyển hoá, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “không đánh mà thắng”. Sự chống phá đó được chúng tiến hành trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước ta, trong đó sử dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm “ngòi nổ”, tạo nguyên cớ, cùng với việc lợi dụng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng để đạt được mục tiêu trên.
Để thực hiện âm mưu đó, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng triệt để vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam bằng thủ đoạn chủ yếu sau: 
Một là, kích động mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo, lôi kéo quần chúng chống đối chính quyền nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Lợi dụng triệt để các vấn đề phức tạp nảy sinh trong quan hệ dân tộc để kích động tạo thành mâu thuẫn dân tộc là mũi nhọn đột phá của các thế lực thù địch. Đây là thủ đoạn có ý nghĩa chiến lược lâu dài, thâm hiểm nhằm chia rẽ các dân tộc Việt Nam, làm cho ta không tạo được sức mạnh tổng hợp, tiến tới tự suy yếu và đẩy mâu thuẫn giữa các dân tộc Việt Nam đến tình trạng căng thẳng, từ đó kích động xung đột dân tộc, sắc tộc ở nước ta.
 Hiện nay, các thế lực thù địch đã và đang dùng nhiều hình thức, thủ đoạn khác nhau, tập trung vào việc kích động gây chia rẽ các dân tộc thiểu số với nhau và với người Kinh, lôi kéo tập hợp bọn phản động, cơ hội, bất mãn trong các dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam, dùng “người dân tộc cai quản người dân tộc”; lôi kéo, mua chuộc tầng lớp trên, người cầm đầu các dòng họ lớn làm "ngọn cờ" tập hợp lực lượng, khống chế quần chúng tiến bộ và chống đối chính quyền cơ sở; lợi dụng trình độ hiểu biết có hạn, đặc điểm tâm lý và lịch sử hình thành, phát triển của mỗi dân tộc để tìm cách khoét sâu những mâu thuẫn, gây nghi kỵ, hận thù, chia rẽ; tuyên truyền tư tưởng dân tộc lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi; lợi dụng khó khăn (chủ yếu về kinh tế) và những tồn tại trong quá trình thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước để kích động, tạo ra sự đối lập giữa các dân tộc với nhau và với cách mạng. Kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, ly khai dân tộc; kích động chia rẽ quan hệ dân tộc, quan hệ lương - giáo và giữa các tôn giáo với nhau như: đòi “tự do tôn giáo”, “tự trị”, thành lập “Vương quốc Mông độc lập”, “nhà nước Đề Ga”, “quốc gia Khơme Crôm”… hòng làm chia rẽ, phá hoại, suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.
Xuyên tạc chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, gắn vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc” với “tự do tôn giáo” để chống phá nước ta. Bằng mọi con đường, biện pháp, đặc biệt là lợi dụng triệt để phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí… Các thế lực thù địch tổ chức in, ấn, tán phát, truyền bá các tài liệu xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, dưới danh nghĩa các “Kỷ yếu hội nghị tôn giáo”, “thông điệp", “Lời chứng”… của các tín đồ trong nước hoặc các tổ chức tôn giáo phản động lưu vong ở nước ngoài vu cáo “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, xuyên tạc chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, kích động tín đồ chống lại đường lối, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước. 
Lợi dụng và ủng hộ một số chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan, quá khích để kích động chia rẽ các tôn giáo, giữa tôn giáo với dân tộc, với Đảng và Nhà nước. Chúng ra sức đẩy mạnh các hoạt động ngầm, cổ súy các phần tử cực đoan trong các tôn giáo móc nối với nhau dự định cho ra đời tổ chức liên tôn giáo để hợp sức chống phá cách mạng. Vừa qua, Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Thích Quảng Độ (Phật giáo), Lê Quang Liêm (Phật giáo Hòa Hảo)… đã có những hoạt động như vậy nhằm chống phá cách mạng. Chúng kích động số bất mãn chống đối chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của ta; kích động tư tưởng ly khai, tự trị nhằm mục tiêu tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước, chính quyền. Lợi dụng những vấn đề lịch sử để lại như đất đai, nơi thờ tự để kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai, chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo v.v…Thủ đoạn này chúng sẽ tiếp tục sử dụng trong thời gian tới.
Hai là, lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo đẩy mạnh hoạt động tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam.
Trong những năm qua, với chính sách tôn giáo đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đại đa số các chức sắc tôn giáo yên tâm làm việc đạo, có tinh thần dân tộc, đồng tình với đường hướng “tốt đời, đẹp đạo”, có sự điều chỉnh theo hướng thích nghi, hợp tác với chính quyền để tăng cường truyền giáo. Tuy nhiên, có một số người mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, giữ thái độ cực đoan, quá khích gây tổn hại đến lợi ích dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân, thậm chí một số người ra mặt chống đối pháp luật. Những phần tử này đã lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng để tiến hành các hoạt động chống phá chính quyền trong vùng đồng bào có đạo. Đặc biệt là việc đòi phục hồi những tổ chức tôn giáo có từ thời Mỹ, Ngụy, kích động các tín đồ đấu tranh đòi lại đất đai mà trước đây các tổ chức tôn giáo đã hiến cho Nhà nước. Việc khiếu kiện và tranh chấp liên quan đến đất đai, cơ sở thờ tự của tôn giáo ở một số nơi tăng lên, có nơi gay gắt, phức tạp. Bên cạnh đó, các thế lực phản động bên ngoài cũng không ngừng gia tăng hoạt động bảo trợ cho hoạt động truyền đạo trái phép ở Tây Bắc, Tây nguyên và một số địa phương khác, cùng với sự xuất hiện các “đạo lạ”, tà đạo làm cho nhiều nơi mất ổn định xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống, lao động của nhân dân.
Lợi dụng hoạt động tôn giáo để tập hợp lực lượng, kích động đòi ly khai, tự trị, sử dụng hệ thống nhà nguyện làm nơi tụ tập lực lượng, sở chỉ huy để phối hợp hoạt động chống phá. Hiện nay, đáng chú ý là vấn đề “đạo hóa” dân tộc ở nhiều vùng dân tộc thiểu số ở nước ta. Đây là một trong những thủ đoạn thường xuyên, quen thuộc mà các thế lực thù địch đã sử dụng với nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Với các dân tộc thiểu số Việt Nam chưa theo một tôn giáo nào thì việc “đạo hóa” càng có ý nghĩa quyết định đến khả năng lôi kéo, tập hợp dân chúng và hình thành các “khung chính quyền” ngầm núp dưới vỏ bọc tôn giáo, sử dụng hệ thống nhà nguyện Tin Lành để chỉ huy, phối hợp các hoạt động chống đối. Với những toan tính đó, trong những năm tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục tăng cường đạo hóa dân tộc, nhất là truyền đạo Tin Lành với nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích chuyển hóa ý thức hệ tư tưởng của đồng bào các dân tộc từ lòng tin theo Đảng, theo cách mạng sang lòng tin vào đấng Cứu thế, làm thay đổi nếp sống văn hóa truyền thống bằng thứ văn hóa xa lạ, trên cơ sở đó dùng thần quyền để lừa bịp và tập hợp lực lượng, hình thành các nhóm phản động dưới vỏ bọc tôn giáo, tạo dựng ngọn cờ, chuẩn bị nguồn lực bên trong, khi hội đủ điều kiện thì kích động đồng bào các dân tộc gây bạo loạn, tạo cớ can thiệp, đặc biệt là ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên.
Lợi dụng giáo lý, giáo luật tôn giáo để kích động tín đồ chống lại chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Mỗi tôn giáo đều có những giáo lý, giáo luật cụ thể riêng, theo đó có các quy định tín đồ đến các cơ sở thờ tự để hành lễ, nghe giảng kinh kệ, đạo pháp… các linh mục, mục sư thay Chúa Trời giảng Kinh Thánh trong các ngày hành lễ; các Hòa thượng, Trưởng quản giảng về kinh kệ, Phật pháp… ở một số nơi đã xuất hiện việc lợi dụng các buổi hành lễ, cầu kinh, giảng đạo, làm sai tôn chỉ hành đạo, lồng các nội dung tuyên truyền nói xấu chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, làm cho tín đồ giảm lòng tin vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; mức độ cao hơn là làm theo sự điều khiển của các thế lực thù địch xâm hại lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của chính quần chúng tín đồ các tôn giáo.
Ba là, kích động đồng bào dân tộc thiểu số di cư trái phép đến các khu vực trọng điểm và vượt biên ra nước ngoài nhằm tạo sự bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo cớ để can thiệp vào nước ta.
Trong những năm qua, hiện tượng di cư ồ ạt của một bộ phận đồng bào người Mông ở các tỉnh phía Bắc vào một số huyện biên giới tỉnh Điện Biên, Lai Châu, nhất là vào các tỉnh Tây Nguyên. Hiện tượng này không chỉ thuần túy là vấn đề kinh tế, mà ẩn chứa sau nó là âm mưu chính trị thâm độc của các thế lực thù địch. Chúng đã triệt để lợi dụng tập quán du canh du cư của đồng bào các dân tộc thiểu số và nhu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội, để tìm cách hỗ trợ, chỉ đạo bọn phản động người dân tộc thúc đẩy, tạo “làn sóng” di cư trái phép đến một số địa bàn “trọng điểm” như: khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cũ của địch, các địa bàn chiến lược... Mặt khác, chúng còn ra sức lợi dụng phong tục tập quán, các mối quan hệ huyết thống dòng tộc, các hoạt động thăm thân, làm ăn buôn bán, sử dụng các đài phát thanh, băng, đĩa hình bằng tiếng dân tộc để tuyên truyền kích động và dùng tiền, vật chất để mua chuộc, lôi kéo người dân tộc vượt biên trái phép. Những hoạt động tuyên truyền, kích động, tổ chức di cư, vượt biên trái phép trên nhằm tạo sự bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, vừa có thể “đưa người dân tộc” về từng khu vực theo ý đồ chính trị của chúng để có điều kiện xây dựng căn cứ phản cách mạng, làm cho vấn đề dân tộc trở thành “ngòi nổ”, tạo ra những cái cớ để nước ngoài có thể can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam… Chỉ tính riêng trong 10 năm lại đây, trên cả nước đã xảy ra hơn 500 điểm nóng, trong đó có khoảng 30 điểm nóng lớn liên quan đến vấn đề dân tộc, tôn giáo. Điển hình là các vụ bạo loạn năm 2001, 2004 ở Tây Nguyên, tháng 5 năm 2011 ở Mường Nhé, Điện Biên có hàng ngàn người tham gia biểu tình, bạo loạn, chống đối chính quyền, đòi ly khai, tự trị. Trong thời gian tới, chúng tiếp tục “phát huy” thủ đoạn này để chống phá cách mạng nước ta.
Bốn là, lợi dụng những vấn đề lịch sử để tuyên truyền kích động đòi ly khai, tự trị và tìm cách luật pháp hóa, quốc tế hóa vấn đề dân tộc để can thiệp vào công việc nội bộ Việt Nam.
Vấn đề đào xới lịch sử dân tộc Việt Nam là thủ đoạn quen thuộc, thường xuyên của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam. Những năm gần đây, chúng triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, tổ chức các cuộc hội thảo về quyền con người, cái gọi là lễ mất đất (ngày 04 tháng 6), ngày thành lập FULRO (ngày 20 tháng 09), vấn đề người Thượng ở Tây Nguyên, vấn đề người Chăm, vấn đề người Khơmer Crôm, vấn đề người Mông... Để tìm cách luật pháp hoá, quốc tế hoá vấn đề dân tộc, tôn giáo, các phần tử phản động được sự giúp đỡ của nước ngoài đã tổ chức tổ chức các cuộc hội thảo, thu thập, tán phát tài liệu; đòi lập Văn phòng đại diện thường trực của Uỷ ban Nhân quyền Liên hợp quốc tại những địa bàn trọng điểm như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ để “giám sát” vấn đề người dân tộc; kết nạp một số tổ chức phản động vào làm thành viên của UNPO (Tổ chức Các quốc gia và dân tộc không có lãnh thổ), ban bố nhiều “bộ luật”, với chế tài mang tính áp đặt vô lý nhằm hỗ trợ, khích lệ tinh thần cho bọn phản động trong dân tộc đẩy mạnh hoạt động chống đối Việt Nam. Ngoài ra các thế lực thù địch còn hỗ trợ, chỉ đạo bọn phản động người người dân tộc lưu vong ở nước ngoài thành lập nhiều tổ chức dưới danh nghĩa nghiên cứu lịch sử, văn hoá các dân tộc nhằm khơi dậy những tồn tại trong quá khứ để kích động tư tưởng “ly khai”, “tự trị” của các dân tộc trên một số địa bàn chiến lược của ta.
Cùng với những thủ đoạn trên, các thế lực thù địch luôn lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của chúng ta trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo để kích động tư tưởng chống đối, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, tạo ra những nhân tố mất ổn định, gây rối, bạo loạn, biến vấn đề tôn giáo thành vấn đề chính trị. Chúng lợi dụng quyền được hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam để hoạt động chính trị nhằm tạo dựng “ngọn cờ”, công khai các tổ chức đối lập trong nước, tạo thành thế “đã rồi” để đòi quốc tế hoá, tạo cớ cho nước ngoài can thiệp vào công việc nội bộ nước ta. 
Năm là, lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, thăm thân, du lịch, các tổ chức phi chính phủ (NGO)...  để lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo chống phá chính quyền Việt Nam.
Đây là một trong những thủ đoạn mới mang tính hợp pháp, công khai mà các thế lực thù địch đã và đang sử dụng với mục đích hỗ trợ bọn phản động, cực đoan trên địa bàn hình thành các nhen nhóm tổ chức, tạo dựng “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng và tiến hành các hoạt động phá hoại. Thủ đoạn này rất tinh vi, khó nhận biết, bởi lẽ nó được núp dưới các hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện”... của các tổ chức NGO quốc tế, NGO tôn giáo. Sẽ không có gì phải lưu tâm khi các tổ chức này hoạt động theo đúng mục đích, tôn chỉ của nó. Vấn đề đáng chú ý là, các thế lực thù địch sử dụng những tổ chức này để thâm nhập vào các địa bàn chiến lược, khu vực nhạy cảm của nước ta để thu thập tình hình, báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; tiếp cận, chỉ đạo bọn phản động, cực đoan tiến hành các hoạt động tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, kích động đòi “tự trị, ly khai” nhằm gây mất ổn định và tạo cớ can thiệp.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện cả nước có hơn 500 tổ chức NGO hoạt động trên 64 tỉnh thành, trong đó có khoảng 200 tổ chức đã triển khai nhiều dự án trên nhiều lĩnh vực và địa bàn nhạy cảm. Trong các tổ chức này có không ít tổ chức quan hệ chặt chẽ với Tin Lành. Tại Tây Nam Bộ, lợi dụng vấn đề thăm thân, du lịch, làm từ thiện, hợp tác, phát triển kinh tế, các thế lực phản động đã xâm nhập về các chùa Khơmer làm từ thiện và tán phát băng đĩa có nội dung tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, kích động người Khơmer đòi “tự trị, ly khai”. Tại Tây Nguyên, lấy danh nghĩa các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các thế lực thù địch tìm cách xâm nhập địa bàn để nắm tình hình, hỗ trợ, kích động biểu tình, bạo loạn, vượt biên trái phép sang Campuchia gây mất ổn định chính trị-xã hội hai nước…
Sáu là, hỗ trợ, chỉ đạo lực lượng phản động trong các dân tộc, các tôn giáo  sống ở nước ngoài xây dựng các tổ chức để tập hợp lực lượng, xâm nhập, phá hoại trên các địa bàn chiến lược, nhạy cảm ở nước ta.
Nuôi dưỡng, chỉ đạo lực lượng phản động người dân tộc thiểu số lưu vong ở nước ngoài và mua chuộc, lôi kéo, hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước, tạo dựng “ngọn cờ”, hình thành các tổ chức phản động để tập hợp lực lượng phá hoại cách mạng Việt Nam là thủ đoạn quen thuộc, xuyên suốt của các thế lực thù địch. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, tính đến nay có hơn 100 tổ chức của người dân tộc thiểu số Việt Nam ở nước ngoài, nhiều nhất là ở Mỹ, sau đó là ở Pháp, Canađa... Đáng chú ý, một số tổ chức mang đậm màu sắc dân tộc phản động như: Liên đoàn Khơmer Campuchia Crôm thế giới, Mặt trận dân tộc giải phóng Khơmer Campuchia Crôm; tổ chức quân sự, Văn hoá - Chính trị, Trí thức Mông, Trung tâm nghiên cứu văn hoá Mông; Quỹ người Thượng (MFI), Hiệp hội người Thượng Đêga (MDA); Trung tâm Thái học, Văn phòng Chămpa quốc tế (IOC), Hội bảo tồn văn hoá Chămpa... Chúng còn hỗ trợ thành lập các đài phát thanh như VOK (Khơmer Campuchia Crôm), RFA (Châu Á tự do), đài Đề Ga và in ấn báo chí, tạp chí, tài liệu (Champakha, VIJAYA…) bằng tiếng dân tộc, tán phát băng đĩa có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “chiếm đất”, “đàn áp, kìm kẹp người dân tộc thiểu số”, “vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế”… nhằm kích động tư tưởng đòi “tự trị”, “ly khai” “chia nhỏ”, “xé lẻ” Việt Nam. 
Gần đây, ba tổ chức người dân tộc thiểu số (Chăm, Thượng Khơmer) tại hải ngoại  đã thành lập tổ chức chung mang tên Hội đồng tối cao các dân tộc bản địa Việt Nam (SCIP-YVN). Cầm đầu các tổ chức trên phần lớn là những phần tử cực đoan, từng là nguỵ quân, nguỵ quyền cũ, có nhiều nợ máu với cách mạng. Chúng đã, đang và tiếp tục móc nối, câu kết chặt chẽ với nhau và với bọn phản động trong nước để tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng nước ta trong vùng đồng bào dân tộc. Các tổ chức trên ra sức tuyên truyền tư tưởng chống phá cách mạng Việt Nam và tập hợp lực lượng, khuếch trương thanh thế, tạo sự chú ý của dư luận quốc tế đối với các hoạt động của chúng, qua đó tìm cách “quốc tế hoá, luật pháp hoá” vấn đề người dân tộc thiểu số ở Việt Nam, nhất là người Thượng Tây Nguyên, người Khơmer ở Tây Nam Bộ, người Mông ở Tây Bắc, người Chăm ở Tây Trung Bộ...
 
Xây dựng các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để chống phá. Các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách hỗ trợ, khuyến khích xây dựng các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo cả ở nước ngoài và trong nước để chống phá cách mạng Việt Nam như: “Tổ chức Đoàn Kết Thiên Chúa giáo Toàn cầu”; “Uỷ ban tự do tôn giáo quốc tế cho Việt Nam”, “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất hải ngoại”, “Liên đoàn Công giáo người Việt ”... các tổ chức này đang chuyển hướng hoạt động vào trong nước. Chúng ra sức cổ suý, hỗ trợ các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo ở trong nước để chống phá như: Tin Lành Đề Ga (ở Tây Nguyên), Tin Lành Vàng Chứ trong vùng đồng bào Mông (ở Tây Bắc), Thìn Hùng trong vùng đồng bào Dao (ở Tây Bắc)...
Cuối năm 2010, nhóm linh mục thuộc dòng Chúa Cứu thế và một số tín đồ trí thức Công giáo tại Hà Nội đã lập nhóm “Công đoàn danh nhân - trí thức Công giáo” (gọi tắt là “Doanh - Trí Công giáo”) do luật sư Lê Quốc Quân lãnh đạo. Đây là một tổ chức tôn giáo hoạt động theo mô hình của một tổ chức xã hội - nghề nghiệp, có tính thế tục cao. Nhóm này có tham vọng xây dựng “Công đoàn doanh - Trí Công giáo” tập trung  tuyên truyền, kích động, khoét sâu những mâu thuẫn, bất cập giữa người dân với chính quyền, sau đó đứng ra bảo vệ giáo dân và dân oan để lôi kéo, xây dựng họ thành lực lượng đối lập trong xã hội Việt Nam.
Hoạt động chống phá quyết liệt của các tổ chức phản động đội lốt tôn giáo cho thấy, các thế lực thù địch đã và đang tìm mọi cách tập hợp lực lượng trong số những người hoạt động tôn giáo bất hợp pháp; kích động, lừa mị và lôi kéo những nhóm sinh hoạt đạo mà không có sự quản lý của chính quyền địa phương để biến thành tổ chức phản động và tổ chức quần chúng bị lợi dụng; móc nối lực lượng phản động ở trong nước với các tổ chức phản động ở nước ngoài. Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục sử dụng thủ đoạn này để chống phá cách mạng Việt Nam
***
Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay là đa dạng, với tính chất rất nguy hiểm, vừa công khai, hợp pháp, vừa bí mật, bất hợp pháp cả trong nước và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội với nhiều tổ chức, nhiều lực lượng… để đi đến mục tiêu cao hơn là loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, chia Việt Nam thành nhiều “quốc gia” trong sự khống chế của chúng. Những thủ đoạn chống phá đó của các thế lực thù địch đã làm cho cuộc sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo, vùng sâu, vùng xa ở nước ta đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, các thủ đoạn chống phá đó của chúng có đạt được mục tiêu hay không còn phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn, sự chủ động tiến công của ta.

Lợi dụng tệ tham nhũng để chống phá cách mạng Việt Nam - thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch

     Tham nhũng đang là một vấn nạn chung của toàn cầu, không riêng một quốc gia nào. Để phòng, chống tệ nạn này, Đảng, Nhà nước ta có quyết tâm chính trị rất cao, triển khai quyết liệt, đảm bảo cho Luật Phòng, chống tham nhũng (năm 2005) đi vào đời sống xã hội, góp phần cảnh tỉnh, răn đe, loại dần tệ nạn này. Song trớ trêu thay, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội không thấy rõ điều đó, mà còn lợi dụng vấn đề này để chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước của nhân dân ta.
     Những người thường xuyên tiếp xúc internet hẳn không xa lạ với những thông tin, bài viết có nội dung đề cập đến hiện tượng tham nhũng ở Việt Nam được đăng tải trên các blog, facebook, wesite,… của một số hội, nhóm “xã hội dân sự” và các cá nhân tự xưng là những nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền”, “vì dân”, “vì nước”, v.v. Nhìn vào những thông tin, bài viết của các hội, nhóm, cá nhân trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nó thường mang nặng sự suy diễn chủ quan, tô vẽ, thổi phồng, thậm chí xuyên tạc trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Để lôi kéo người dân “tin tưởng” vào các luận điệu xuyên tạc, các hội, nhóm, nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền” thường lợi dụng những vụ án tham nhũng liên quan đến cán bộ, đảng viên đã xảy ra hoặc những sự việc tiêu cực trong xã hội để suy diễn, quy kết “do tham nhũng” và thổi phồng cho đó là tình trạng “phổ biến”, “bản chất” của chế độ xã hội chủ nghĩa, một “căn bệnh” do cơ chế độc đảng lãnh đạo, do “năng lực quản lý yếu kém” của Nhà nước, v.v. Chúng suy diễn rằng, có sự “bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí” của lãnh đạo, chính quyền các cấp nên nó mới lộng hành như vậy. Nguy hiểm hơn, để truyền tải rộng rãi các thông tin xuyên tạc tới người dân, chúng còn lập riêng một số website, blog để đăng tải bài viết, hình ảnh xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ về đời tư, sự minh bạch của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta.
     Mục đích trên của chúng nhằm vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo “hoài nghi” về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội. Đi đôi với luận điệu xuyên tạc trên của các nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền” là những lời hô hào, xúi giục nhân dân “đoàn kết”, “đứng lên đấu tranh đòi tự do, dân chủ”; kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi: “Cương lĩnh”, “thể chế chính trị”, “mô hình lãnh đạo”, thực hiện “đa nguyên, đa đảng”, v.v.
     Cùng với các hội, nhóm “xã hội dân sự”, nhà hoạt động “dân chủ, nhân quyền”, còn phải kể đến một số tổ chức mang danh quốc tế. Họ luôn tự cho mình cái quyền đi “phán xét” tình hình tham nhũng ở các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam và thường kỳ đưa ra cái gọi là “Báo cáo tham nhũng toàn cầu”. Đáng chú ý, khi đề cập đến thực trạng tham nhũng ở Việt Nam, các bản “báo cáo” này thường dựa trên những quan điểm chủ quan, thiếu cơ sở, mang tính phiến diện, phản ánh sai lệch tình hình; đưa ra những đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện “quyền tự do” cho người dân để “nâng cao hiệu quả” chống tham nhũng và kêu gọi “cho phép các tổ chức xã hội dân sự” tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng, v.v.
     Như vậy đã rõ, các tổ chức hội, nhóm, cá nhân trên đang cố tình muốn sử dụng vấn đề tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam làm “công cụ”, “ngọn cờ tiên phong” để thực hiện ý đồ xấu, chống phá Việt Nam. Thực chất, đó chỉ là những tổ chức, cá nhân có quan điểm, tư tưởng phiến diện, lệch lạc được các thế lực thù địch, phản động “hậu thuẫn”, cổ vũ, đội lốt “trách nhiệm” với “vận mệnh” của dân tộc, của đất nước để chống lại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta hiện nay. Đây rõ ràng là chiêu trò, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nhằm gây “nhiễu loạn” chính trị - xã hội, nhằm xóa bỏ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
     Như chúng ta biết, tham nhũng là một hiện tượng xã hội, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, kể cả ở nước nghèo và nước giàu, quốc gia phát triển, đang phát triển hoặc kém phát triển; không phân biệt do một đảng hay do đa đảng lãnh đạo.
     Ở Việt Nam, ngay từ khi xây dựng chính quyền cách mạng (năm 1945), Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ đã nhận diện, thẳng thắn chỉ ra các hiện tượng tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, v.v. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của Chính phủ”. Người cho đó là: “Kẻ thù khá nguy hiểm, vì nó không mang gươm mang súng, mà nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta”. Tham nhũng còn gây ra tác hại làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với bộ máy và công chức, viên chức nhà nước, triệt tiêu động lực cơ bản nhất của sự phát triển. Người luôn nghiêm khắc nhắc nhở mọi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”; “… một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.        Quán triệt tinh thần đó, trong văn kiện của Đảng tại các kỳ đại hội đều cảnh báo về tệ nạn này, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khóa VII) của Đảng nêu: “Nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội là một trong bốn nguy cơ trước mắt của đất nước”. Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) của Đảng đánh giá: “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành,… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước,…”. Nhiều văn bản, như: Chỉ thị 64-CT/TW của Ban Bí thư (khóa VI), Chỉ thị 15-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VII) “Về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng”; Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Chỉ thị 50-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng”,… đã đi vào cuộc sống, trở thành phương thuốc hữu hiệu ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng. Khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 được ban hành, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XII) đã ra Nghị quyết 1039/2006/NQ-UBTVQH11, ngày 28-8-2006, về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Nghị quyết 294A/2007/NQ-UBTVQH12, ngày 27-9-2007, về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 13/2007/QĐ-TTg, ngày 24-01-2007, về việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và quy chế hoạt động của Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Các cơ quan bảo vệ pháp luật, như: Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao,… đã thành lập những đơn vị chuyên trách về phòng, chống tham nhũng.
     Cùng với các chủ trương, văn bản pháp luật phòng, chống tham nhũng, Đảng, Nhà nước ta đã có những hành động cụ thể nhằm vạch mặt, kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất và có hành vi tham nhũng. Theo thống kê của Thanh tra Chính phủ, năm 2015, ngành Thanh tra đã phát hiện 100 vụ, 172 đối tượng có hành vi tham nhũng và liên quan đến tham nhũng với số tiền 40,7 tỷ đồng. Cơ quan điều tra các cấp đã thụ lý điều tra 351 vụ án, 813 bị can phạm tội về tham nhũng, khởi tố mới 178 vụ, 317 bị can; thu hồi, nộp ngân sách nhà nước trên 103 tỷ đồng và 2.887 m2 đất. Viện kiểm sát các cấp thụ lý giải quyết 323 vụ/806 bị can về các tội danh tham nhũng, truy tố 310 vụ/697 bị can; tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 260 vụ, 577 bị cáo về tội danh này. Riêng quý II năm 2016, có 04 trường hợp người đứng đầu bị kết luận là thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng, đã xử lý kỷ luật 02 người, xử lý hình sự 02 người; phát hiện 07 vụ, 08 đối tượng có hành vi tham nhũng và liên quan đến tham nhũng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thụ lý điều tra 148 vụ, 354 đối tượng tham nhũng và liên quan đến tham nhũng, v.v.
     Thời gian qua, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam tiếp tục khẳng định và quyết tâm đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Gần đây, tại phiên họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kết luận: “Cần tập trung chỉ đạo xử lý một số vụ án tham nhũng kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; tài liệu, chứng cứ chắc đến đâu xử lý đến đó, sau đó điều tra xử lý tiếp nhằm tạo sự lan tỏa và chuyển biến tích cực trong phát hiện, xử lý tham nhũng”. Trong báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV nêu rõ: “kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính và trong xã hội chưa nghiêm; năng lực, phẩm chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng tham nhũng còn nghiêm trọng, xảy ra nhiều vụ tham nhũng lớn trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng, đất đai,...”. Tiếp xúc với cử tri thành phố Hải Phòng, ngày 03-8-2016, Thủ tướng đã cảm ơn các ý kiến tâm huyết, thẳng thắn của cử tri về các vấn đề còn khó khăn, tồn tại của đất nước và khẳng định quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Chính phủ; đồng thời nhấn mạnh “không có vùng cấm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng”.
     Như vậy, Đảng, Nhà nước ta không phủ nhận tham nhũng đã và đang tồn tại ở Việt Nam; là vấn đề nhức nhối, gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với xã hội, trực tiếp phá hoại công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, “tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống,… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi” đã làm giảm sút niềm tin của nhân dân, làm sai lệch các chủ trương, chính sách của Đảng, dẫn đến nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Để ngăn chặn tệ nạn này, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn thể hiện rõ quan điểm và quyết tâm không bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí; kiên quyết đấu tranh loại trừ những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, tham nhũng và loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội, không để tham nhũng cản trở công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thực tế trên là bằng chứng xác thực nhất bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phiến diện, chủ quan, lệch lạc, thù địch đang cố tình lợi dụng vấn đề tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam để thực hiện mục đích, ý đồ xấu./.
Nguồn: http://tapchiqptd.vn/

VỀ TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN

     Ngày 07/10/2016, Bộ Công an đã chính thức đưa tổ chức Việt Tân vào danh sách tổ chức Khủng bố và tin tức này ngay lập tức được nhiều báo chí, truyền hình trong nước cũng như nước ngoài đưa tin. Trong khi các trang mạng, Blog của tổ chức này cũng như của những tổ chức khác là ngoại vi hay có mối liên hệ mật thiết với Việt Tân ngay lập tức “giãy nẩy” lên như thể đang chân trần đi bộ bỗng dẫm phải gai thì các trang báo mạng lề phải của ta cũng đồng loạt đưa tin về sự kiện này một cách rất kịp thời. Qua đây có thể thấy rằng báo chí của ta đang dần sửa đổi lối viết quen thuộc là giật tít câu view gây sốc sang lối viết có “tâm” hơn rồi. Điều này là rất đáng hoan nghênh. Cớ sao các trang báo lề trái lại “giãy nẩy” lên như vậy? Bởi lẽ, Bộ Công an đã chọc đúng chỗ hiểm của bọn chúng - đó là khâu truyền thông, quảng bá hình ảnh hòng tạo ảnh hưởng chính trị cũng như huy động nguồn tài trợ cho bọn chúng. Điều gì cần thiết phải làm thì bắt buộc phải làm nhằm nâng cao cảnh giác của người dân không chỉ ở trong nước mà còn cả kiều bào ta ở nước ngoài đối với tổ chức khủng bố này.
     Về nguồn gốc lai lịch của tổ chức Việt Tân, bạn đọc có thể tham khảo trên mạng Internet (đương nhiên là trang chính thống hoặc chí ít cũng phải là Wikipedia), tác giả chỉ tóm lại rằng tổ chức này chính là đứa con hoang của “Mặt trận Thống nhất giải phóng Việt Nam” do Hoàng Cơ Minh - cựu sĩ quan quân đội ngụy quyền cầm đầu. Sau khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975 thì sang đầu thập niên 1980, Hoàng Cơ Minh gây dựng tổ chức này nhận sự tài trợ về tiền bạc, vũ khí cùng sự hỗ trợ của Mỹ đặc biệt là của CIA trong việc huấn luyện những phần tử của tổ chức này. “Mặt trận Thống nhất giải phóng Việt Nam” huấn luyện các thành viên của mình trong nhiều năm tại căn cứ đóng ở Thái Lan sau đó thực hiện 03 cuộc “Đông Tiến” về Việt Nam bằng cách vượt biên qua Campuchia bằng đường biển và đường bộ. Cả ba cuộc xâm nhập này đều bị lực lượng Công an chặn đứng, các phần tử của mặt trận đó tiêu diệt và Hoàng Cơ Minh cũng bị thiệt mạng trong quá trình xâm nhập này. Sau đó, những thành viên còn sống sót đã lưu vong sang Mỹ, đến năm 2004 công bố thành lập tổ chức “Việt Nam canh tân cách mạng đảng” tức Việt Tân ngày nay. Tuy nhiên, tổ chức này chưa bao giờ được Mỹ công nhận tư cách pháp nhân, có nghĩa là nó hoạt động bất hợp pháp tại Mỹ.
     Về bản chất, kể từ khi mới thành lập, tổ chức này chỉ hoạt động tại bang California, Mỹ và chủ yếu dựa vào nguồn lực tài chính là đóng góp của người dân Việt Nam tị nạn, chạy trốn sang Mỹ sau sự kiện 30/4/1975 vì họ từng làm việc cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa nên sợ bị miền Bắc trả thù. Ban đầu, Việt kiều tại đây bị chúng dùng thủ đoạn lừa đảo nên đã quyên góp tiền bạc cho chúng. Tuy nhiên, sau khi biết rõ âm mưu của chúng thì họ đã khước từ và không đưa tiền nữa thì ngay lập tức chúng trở mặt đem người tới dằn mặt, khủng bố, không cho họ làm ăn. Thậm chí, có những người từng làm việc cho chúng, viết báo ca ngợi chúng, khi biết về âm mưu của tổ chức này đã tuyên bố sẽ công khai các thông tin về chúng thì ngay lập tức bị thủ tiêu. Những thông tin này hoàn toàn có thật, bạn đọc có thể tìm thấy trên mạng Internet.

     Kể từ đó đến nay, chúng nhận sự tài trợ của nhiều tổ chức khác nữa, đẩy mạnh nhiều hoạt động chống phá Việt Nam, gây dựng ngọn cờ, phá hoại đất nước không chỉ về chính trị mà cả về kinh tế, văn hóa… Dưới chiêu bài hết sức nhân văn, cao đẹp chúng sử dụng chiến thuật “không chiến tự nhiên thành” bằng cách hạ uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm mất uy tín của Đảng với quần chúng nhân dân, từ đó dần dần lật đổ chế độ bằng một cuộc bạo động hết sức hòa bình không tiếng súng. Thật sự đây là âm mưu hết sức thâm độc và bài học lịch sử của Liên Xô đã là minh chứng rõ ràng nhất cho điều đó. Do vậy, khi Bộ Công an đưa tổ chức Việt Tân vào tổ chức Khủng bố, không khó hiểu khi chúng phản ứng mạnh mẽ như vậy. Tuy nhiên, đằng sau những lập luận, hướng lái dư luận đó, về bản chất chỉ là sự run sợ của chúng. Bởi lẽ, khi mà lòng dân không hướng về chúng, thì mọi sự tính toán của chúng cũng chỉ tan thành bọt nước mà thôi./.

Thứ Hai, 10 tháng 10, 2016

TẠI SAO CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA PHẢI CÓ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG MÁC-XÍT CHÂN CHÍNH?

          Ngay từ khi mới ra đời, giai cấp vô sản đã trở thành lực lư­ợng đối lập trực tiếp về quyền lợi với giai cấp t­ư sản và bị giai cấp tư­ sản bóc lột đến bần cùng. Do vậy, giai cấp vô sản luôn phản kháng quyết liệt và tổ chức các hoạt động đấu tranh chống lại giai cấp t­ư sản, chống lại chế độ áp bức t­ư bản chủ nghĩa. Xoá bỏ chủ nghĩa tư­ bản xây dựng xã hội mới tốt đẹp không có ngư­ời bóc lột ng­ười chính là sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân hiện đại.
          Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là một phát hiện vĩ đại của chủ nghĩa Mác- Lênin; thực hiện nó, biến nó trở thành hiện thực là trách nhiệm cao cả của phong trào cộng sản và công nhân thế giới. Tuy nhiên, để thực hiện đư­ợc sứ mệnh lịch sử cao cả đó thì giai cấp vô sản phải thành lập đ­ược chính đảng của mình và xây dựng nó thực sự trở thành đội tiên phong, bộ chỉ huy tham m­ưu chiến đấu của giai cấp.
          Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, ở đâu, lúc nào giai cấp vô sản xây dựng đ­ược chính đảng vững mạnh, thì phong trào đấu tranh của công nhân đi đúng hư­ớng và đạt hiệu quả, ng­ược lại nếu giai cấp vô sản không tổ chức ra đ­ược chính đảng, không quan tâm đến công tác xây dựng đảng thì phong trào trì trệ, khủng hoảng, thậm chí tan giã sụp đổ. Đây là vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Bằng quan điểm duy vật về lịch sử, Mác và Ăng Ghen đã luận chứng một cách khoa học về sự diệt vong không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tư­ bản, về tính tất yếu của sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang một hình thái kinh tế xã hội cao hơn là chủ nghĩa cộng sản, mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. Hai ông cũng đã chỉ ra rằng bước chuyển biến đó không phải diễn ra một cách tự phát mà bằng con đư­ờng cách mạng xã hội; đồng thời hai ông cũng chỉ rõ lực l­ượng thực hiện sự chuyển biến đó là giai cấp vô sản hiện đại. Việc xóa bỏ chủ nghĩa tư­ bản xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới ấy chính là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản; sứ mệnh lịch sử ấy không phải do ý muốn chủ quan của giai cấp vô sản, cũng không phải do ý muốn chủ quan của một giai cấp, một tầng lớp hay một cá nhân nào đặt ra, mà là do chính địa vị kinh tế- xã hội của giai cấp vô sản quy định.
Tuy nhiên, giai cấp vô sản muốn thực hiện đ­ược sứ mệnh lịch sử của mình thì phải tổ chức ra đư­ợc chính đảng cách mạng của giai cấp mình; chính đảng đó phải có đủ khả năng, phẩm chất lãnh đạo, hư­ớng dẫn phong trào cách mạng của công nhân. Đó cũng chính là điều kiện tiên quyết nhất, và quan trọng nhất bởi vì chỉ khi nào giai cấp vô sản tổ chức đ­ược ra chính đảng chính trị của mình, thì cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản mới chuyển từ đấu tranh tự phát, rời rạc thành cuộc đấu tranh tự giác, có tổ chức lãnh đạo, hành động thống nhất; và cũng chỉ khi đó thì giai cấp vô sản mới chuyển từ giai cấp “tự mình” thành giai cấp “vì mình”.

Trong tác phẩm “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản” V.I.Lênin đã khẳng định: “ Không có một đảng sắt thép đ­ược tôi luyện trong đấu tranh, không có một đảng đ­ược sự tín nhiệm của tất cả những phần tử trung thực trong giai cấp nói trên, không có một đảng biết nhận xét tâm trạng của quần chúng  và biết tác động vào tâm trạng đó thì không thể tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ấy được".
Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tr­ước khi chủ nghĩa Mác ra đời vốn là các phong trào lẻ tẻ, rời rạc lại mang tính tự phát, nên phát triển chậm chạp và không đạt hiệu quả; hoạt động đấu tranh của họ mới chỉ hướng vào đập phá máy móc, đòi hỏi quyền lợi kinh tế như­ các cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xi nê di (Đức), cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Ly Ông (Pháp), hoặc cải lương đòi giai cấp tư­ sản, chính phủ tư sản giảm bớt các chính sách hà khắc đối với mình như­ phong trào hiến chương ở Anh... Kết quả tất cả các phong trào trên đều bị thất bại và bị giai cấp t­ư sản đàn áp đẫm máu. Ngay cả khi chủ nghĩa Mác đã ra đời, đã từng bư­ớc thấm sâu vào phong trào công nhân, giai cấp công nhân đã phần nào có một vũ khí lý luận cách mạng, đã làm được cái mà tr­ước đây họ ch­ưa bao giờ mơ ­ước là họ đã “thực sự” trở thành ng­ười “làm chủ” xã hội trong thời gian ngắn ngủi ở công xã Pa ri (1872), như­ng niềm “hân hoan” ấy đã không tồn tại đư­ợc bao lâu lại phải chịu cảnh “đầu rơi máu chảy” d­ưới sự đàn áp của giai cấp t­ư sản phản động. Thất bại của công xã Pa ri một mặt do giai cấp công nhân Pa ri đã thiếu triệt để cách mạng, mặt khác quan trọng hơn là do giai cấp công nhân Pa ri ch­ưa có một chính đảng cách mạng. Lịch sử một lần nữa lại chứng minh rằng, nếu không thành lập đư­ợc chính đảng Mác xít thì phong trào công nhân không những không phát triển đư­ợc, mà còn phải chịu những thất bại thảm hại.

Lịch sử phong trào cũng đã chứng minh rằng; mặc dù giai cấp vô sản đã tổ chức ra đ­ược chính đảng của mình, như­ng lúc nào và ở đâu nếu đảng của giai cấp vô sản được xây dựng vững mạnh về chính trị t­ư t­ởng và tổ chức thì phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân mới phát triển mạnh và thu đư­ợc nhiều thành công; ngư­ợc lại nếu đâu, khi nào đảng của giai cấp công nhân không thường xuyên được xây dựng trong sạch, bị bọn cơ hội, xét lại lợi dụng, lũng đoạn thì ở đó phong trào sẽ không phát triển dc, thậm chí bị thất bại, Quốc tế II là một minh chứng.     
Nhận thức rõ vị trí vai trò của đảng mác xít đối với sự phát triển của phong trào công nhân, V.I.Lênin đã đấu tranh tích cực chống bọn cơ hội chủ nghĩa,vạch trần bản chất của chúng bảo vệ chủ nghĩa Mác và cùng những ngư­ời đảng viên trung kiên trong đảng dân chủ xã hội Nga đã từng b­ước đấu tranh thành lập ra tổ chức đảng kiểu mới, một Đảng thực sự cách mạng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác. Do ảnh h­ưởng tư­ tư­ởng của Lênin và Đảng Bôn-xê-vích Nga, trong thập niên thứ hai của thế kỷ XX đã ra đời hàng loạt các Đảng cộng sản theo tư­ tư­ởng đảng Mác xít kiểu mới như­: Đảng cộng sản Đức, Áo, Phần Lan, Ba Lan ( năm 1918); Mỹ, Ý (năm 1920)... Khi các Đảng công nhân đư­ợc củng cố, thì phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng đ­ược vực dậy, đỉnh cao của nó là cách mạng Tháng Mư­ời Nga 1917. Thắng lợi của cách mạng Tháng M­ười Nga vĩ đại đã mở ra cho nhân loại một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên hiện thực; mở ra một thời đại  mới  thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư­ bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Hồ Chí Minh khẳng định: “Giống nh­ư mặt trời chói lọi, cách mạng Tháng M­ười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người ch­ưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như­ thế”.
Sau thắng lợi của cách mạng Tháng M­ười Nga, dư­ới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Nga; giai cấp công nhân và nhân dân Nga đã bảo vệ đ­ược thành quả của cách mạng tr­ớc sự bao vây chống phá của chủ nghĩa đế quốc, hào hứng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đã thu được nhiều thành công, tạo ra sức mạnh để giành thắng lợi trong chiến tranh thế giới lần thứ II.
          Với những thành công vang dội ấy nó đã cổ vũ và thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ; các đảng cộng sản, dư­ới ngọn cờ của cách mạng Tháng M­ười Nga đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân n­ước mình làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, dẫn đến sự ra đời của một loạt các n­ước xã hội chủ nghĩa, hình thành lên hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh vào những năm 50, 60 của thế kỷ XX; hàng loạt nư­ớc thuộc địa sau khi giành chính quyền cũng chọn con đ­ường chủ nghĩa xã hội hoặc phát triển theo định h­ướng xã hội chủ nghĩa. Những năm 70- 80 của thế kỷ XX, những thành tựu to lớn của chủ nghĩa xã hội đã chứng thực đó là một xã hội tốt đẹp; đã luận giải tính đúng đắn của lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, trong đó có lý luận về sự lãnh đạo của Đảng vô sản, lý luận về xây dựng đảng và quy luật về mối quan hệ giữa xây dựng chính Đảng vô sản vững mạnh với sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
          Cuối thập kỷ 80, đầu 90 thế kỷ XX chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đã dẫn đến sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, để lại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế những tổn thất hết sức nặng nề. Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu có rất nhiều nguyên nhân nh­ưng một trong những nguyên nhân quan trọng có ý nghĩa quyết định đó là công tác xây dựng đảng không được trú trọng đúng mức, tạo cơ sở cho những phần tử cơ hội xét lại lũng đoạn Đảng, làm mất uy tín của Đảng với nhân dân. Sự sụp đổ đó để lại cho chúng ta nhiều bài học, một trong những bài học đó là phải th­ường xuyên làm tốt công tác xây dựng Đảng và tăng cư­ờng sự lãnh đạo của Đảng. Điều này một lần nữa chứng minh mối quan hệ giữa công tác xây dựng Đảng với sự phát triển và sinh tồn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế./.

GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC CHO THANH NIÊN HIỆN NAY

Thanh niên là người chủ tương lai của đất nước,vì vậy giáo dục, rèn luyện nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc để cho thanh niên là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Những năm qua, công tác giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc có nhiều đổi mới nên đã thu hút được nhiều thanh niên tham gia. Kết quả thu được là rất tích cực, đã góp phần hình thành lớp thanh niên thời đại mới vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên chưa thực sự vững tin vào độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giảm sút ý chí phấn đấu, vươn lên, ngại khó, ngại khổ; sống thực dụng, ích kỷ, vi phạm kỷ luật, pháp luật Nhà nước, coi nặng giá trị vật chất... Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, một phần do một bộ phận thanh niên chưa được trải nghiệm nhiều trong cuộc sống, lại thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống cùng với những tác động khách quan từ mặt trái của kinh tế thị trường, tệ quan liêu, tham nhũng và sự chống phá của các thế lực thù địch thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó có một bộ phận không nhỏ thanh niên. Trong khi đó công tác giáo dục chính trị tư tưởng đối với thanh niên chưa được các cấp, các ngành, các đoàn thể chính trị - xã hội quan tâm đúng mức, hiệu quả giáo dục chưa cao nhất là hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc.
Để định hướng nhận thức và hành động cách mạng cho nhân dân, nhất là lực lượng thanh niên một cách đúng đắn, việc giáo dục lý tưởng sống và trau dồi đạo đức, nhân cách nói chung, ý thức bảo vệ Tổ quốc chân chính nói riêng là vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay, trong đó cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:
Một là, nâng cao nhận thức trách nhiệm của toàn xã hội về giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên hiện nay.
Giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể chính trị xã hội cơ sở. Do đó, cấp ủy đảng các cấp cần xác định rõ nội dung giáo dục tuyên truyền. Phát huy sức mạnh của mọi tổ chức đoàn thể chính trị xã hội để giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên. Gắn công tác lãnh đạo nhiệm vụ chính trị, xây dựng các tổ chức cơ sở vững mạnh với công tác giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng, ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên. Lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn chặt chẽ để Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên.
Hai là, chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục nhằm nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên trong sự nghiệp cách mạng hiện nay.
Nội dung và phương pháp giáo dục có vị trí, vai trò quan trọng trong nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên, do đó cần phải đổi mới. Về nội dung giáo dục phải đúng, đủ những vấn đề cần chuyển tải, phải gắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ và phù hợp với tâm lý thanh niên. Về phương pháp tuyên truyền, giáo dục phải đa dạng, phong phú thông qua phương tiện thông tin đại chúng, pa nô, áp phích, báo chí, đài phát thanh, truyền hình, hoạt động văn hóa, văn nghệ, bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử và văn hóa, các lễ hội truyền thống, các ngày lễ, kỷ niệm dân tộc của Đảng, của địa phương, đơn vị. Phát huy vai trò của gia đình, nhà trường, cơ quan, đơn vị, địa phương,vì đây là môi trường thuận lợi nhất để những nội dung, phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc đến với thanh niên hiệu quả nhất. 
Ba là, xây dựng một môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, tạo điều kiện để thanh niên tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện mọi mặt trong đó có nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc.
Môi trường xã hội là nơi để thanh niên thể hiện sức trẻ của mình, là nơi để họ vận dụng những kiến thức, kỹ năng, sức sáng tạo vào thực hiện các nhiệm vụ chính trị, là nơi thể hiện tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ Tổ quốc của mình. Môi trường xã hội trong lành là điều kiện giúp thanh niên có nhận thức, thái độ, động cơ đúng đắn trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện phẩm chất, nhân cách vànhận thức rõ bổn phận, trách nhiệm của bản thân trước gia đình, địa phương, cơ quan, đơn vị, Tổ quốc và nhân dân.Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang tạo ra môi trường thuận lợi, mở ra cho thanh niên nhiều cơ hội mới, nhưng đồng thời cũng đem lại nhiều thách thức. Vì vậy, muốn tận dụng được cơ hội để phát triển và hòa nhập với thế giới, đồng thời lọc bỏ được những tác hại thì thanh niên Việt Nam phải tích cực tự học tập tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao trình độ mọi mặt, có như vậy đứng vững và phát triển.
Sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang xây dựng là rất to lớn, vẻ vang và cũng đầy khó khăn gian khổ. Để giữ vững độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội thì thanh niên Việt Nam những chủ nhân tương lai của đất nước phải được giáo dục, rèn luyện về mọi mặt, trong đó giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc.