Hiển thị các bài đăng có nhãn tham gia. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tham gia. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2022

VIỆT NAM KHÔNG THAM GIA LIÊN MINH QUÂN SỰ, KHÔNG LIÊN KẾT VỚI NƯỚC NÀY ĐỂ CHỐNG NƯỚC KIA, KHÔNG CHO NƯỚC NGOÀI ĐẶT CĂN CỨ QUÂN SỰ HOẶC SỬ DỤNG LÃNH THỔ VIỆT NAM ĐỂ CHỐNG LẠI NƯỚC KHÁC

Như chúng ta cần xác định rõ, tất cả các liên minh quân sự đều bắt nguồn từ việc chia sẻ lợi ích. Không một quốc gia nào sẵn sàng hy sinh vì quốc gia khác mà không có lợi ích của mình. Mục đích sâu xa khi các đối tượng kêu gọi nhằm lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, đặc biệt là liên minh với các quốc gia phương Tây, đưa Việt Nam vào quỹ đạo lệ thuộc để tiến hành thay đổi chế độ chính trị và bản chất xã hội của chúng ta. Nếu không thực hiện đường lối quốc phòng độc lập, tự chủ, chính bản thân chúng ta sẽ bị chuyển hóa, lệ thuộc. Các luồng thông tin sai lệch được các đối tượng đưa ra nhằm kêu gọi, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự; đặc biệt, là liên minh với các quốc gia khác và từng bước làm lệch lạc ý nghĩa trong chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ của Việt Nam. Để tránh việc lệ thuộc, tăng cường tiềm lực, thế trận và lực lượng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII đã khảng định: “Tăng cưòng tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, ván hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh vối kinh tế, văn hóa, xã hội và đốì ngoại”.

Hiện nay, trật tự thế giới đa cực, các mối quan hệ quốc tế trở nên phức tạp hơn bao giờ hết; ranh giới giữa đối tượng và đối tác luôn luôn tồn tại và đan xen lẫn nhau. Trong cùng một chủ thể có những khía cạnh là đối tác để chúng ta tranh thủ hợp tác cùng phát triển, nhưng cũng có khía cạnh là đối tượng để đấu tranh. Việc nghiêng vào bất cứ phe nào, phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào cũng không phải là lựa chọn thích hợp. Đại hội XIII đã khảng định: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác tạo thế đan xen lợi ích và thái độ tin cậy. Kiên quyết đấu tranh, lầm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của đất nước”. Như vậy, chỉ có phát huy sức mạnh độc lập, tự chủ mới là cách thức tối ưu nhất để bảo vệ Tổ quốc.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

VIỆT NAM THAM GIA VÀ NGHIÊM TÚC THỰC HIỆN CÁC NGHĨA VỤ, CAM KẾT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản.

Việt Nam có những đóng góp tích cực trong việc thành lập Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền, Ủy ban ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của phụ nữ và trẻ em, thông qua tuyên bố Nhân quyền ASEAN.
Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Nhiều lãnh đạo các nước thời điểm đó ca ngợi tinh thần trách nhiệm, sự năng động của Việt Nam. Việt Nam đã đóng góp nhiều giá trị vào sự tiến bộ của nhân loại trong bảo đảm quyền con người.

Với mong muốn đóng góp hiệu quả hơn nữa vào các nỗ lực chung của thế giới nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất được ASEAN đề cử.

Gần 10 năm sau nhiệm kỳ đầu tiên tại Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc trên mọi mặt đời sống xã hội và việc tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 thể hiện quyết tâm, sự chủ động, tích cực và trách nhiệm của Việt Nam trong thúc đẩy quyền con người ở khu vực và trên thế giới.

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

MUỐN THAM GIA NGHĨA VỤ QUÂN SỰ VÀ PHỤC VỤ LÂU DÀI TRONG QUÂN ĐỘI CẦN LÀM GÌ?

I. Thứ nhất về việc muốn tham gia nghĩa vụ quân sự?

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 148/2018/TT-BQP ngày 04-10-2018 quy định về tiêu chuẩn tuyển quân như sau:

Điều 4. Tiêu chuẩn tuyển quân

1. Tuổi đời:

a) Công dân từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi.

b) Công dân nam được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo thì tuyển chọn và gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

2. Tiêu chuẩn chính trị:

a) Thực hiện theo Thông tư liên tịch số 50/2016/TTLT-BQP-BCA ngày 15-4-2016 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Bộ trưởng Bộ Công an quy định tiêu chuẩn chính trị tuyển chọn công dân vào phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

b) Đối với các cơ quan, đơn vị và vị trí trọng yếu cơ mật trong Quân đội; lực lượng Tiêu binh, Nghi lễ; lực lượng Vệ binh và Kiểm soát quân sự chuyên nghiệp thực hiện tuyển chọn theo quy định của Bộ Quốc phòng.

3. Tiêu chuẩn sức khỏe:

a) Tuyển chọn những công dân có sức khỏe loại 1, 2, 3 theo quy định tại Thông tư liên tịch số 16/2016/TTLT-BYT-BQP ngày 30-6-2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.

b) Đối với các cơ quan, đơn vị, vị trí quy định tại Điểm b, Khoản 2 Điều này, thực hiện tuyển chọn bảo đảm tiêu chuẩn riêng theo quy định của Bộ Quốc phòng.

c) Không gọi nhập ngũ vào Quân đội những công dân có sức khỏe loại 3 tật khúc xạ về mắt (cận thị 1,5 diop trở lên, viễn thị các mức độ); nghiện ma túy, nhiễm HlV, AIDS.

4. Tiêu chuẩn văn hóa:

a) Tuyển chọn và gọi nhập ngũ những công dân có trình độ văn hóa lớp 8 trở lên, lấy từ cao xuống thấp. Những địa phương có khó khăn không đảm bảo đủ chỉ tiêu giao quân thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định được tuyển chọn số công dân có trình độ văn hóa lớp 7.

b) Các xã thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; đồng bào dân tộc thiểu số dưới 10.000 người thì được tuyển không quá 25% công dân có trình độ văn hóa cấp tiểu học, còn lại là trung học cơ sở trở lên.

II. Thứ hai về vấn đề thanh niên có nguyện vọng phục vụ lâu dài trong quân đội, thì điều kiện như thế nào?

* Trường hợp thứ nhất, thanh niên cần đăng ký thi tuyển vào các trường Quân đội. Đối với thí sinh là thanh niên ngoài Quân đội đăng ký sơ tuyển và mua hồ sơ sơ tuyển tại Ban tuyển sinh quân sự cấp huyện (quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh thành phố trực thuộc trung ương), nơi thí sinh đăng ký hộ khẩu thường trú (gọi chung là Ban tuyển sinh quân sự cấp huyện); đối với thí sinh là quân nhân đang tại ngũ đăng ký sơ tuyển và mua hồ sơ sơ tuyển tại đơn vị cấp trung đoàn hoặc tương đương (gọi chung là Ban tuyển sinh quân sự cấp trung đoàn). Khi đăng ký sơ tuyển, thí sinh phải đăng ký xét tuyển nguyện vọng 1 (nguyện vọng cao nhất) vào trường nộp hồ sơ sơ tuyển. Các trường Quân đội và trường Công an đều chỉ xét tuyển đối với thí sinh đăng ký nguyện vọng 1 (nguyện vọng cao nhất). Hàng năm, Bộ Quốc phòng có văn bản hướng dẫn công tác tuyển sinh quân sự. Công tác tuyển sinh quân sự năm 2021 được Báo Quân đội nhân dân Điện tử đăng tải chi tiết tại đây, bạn có thể tham khảo thêm.

* Trường hợp thứ hai, sau khi quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự và muốn chuyển sang phục vụ theo chế độ quân nhân chuyên nghiệp thì căn cứ theo quy định tại Điều 14 Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng số 98/2015/QH13 ngày 26-11-2015, cụ thể như sau:

1. Đối tượng tuyển chọn:

a) Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong trường hợp thay đổi tổ chức, biên chế mà chức vụ đang đảm nhiệm không còn nhu cầu bố trí sĩ quan;

b) Hạ sĩ quan, binh sĩ hết thời hạn phục vụ tại ngũ, đang phục vụ trong ngạch dự bị của quân đội;

c) Công nhân và viên chức quốc phòng.

2. Đối tượng tuyển dụng:

Công dân Việt Nam không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này, thường trú trên lãnh thổ Việt Nam, đủ 18 tuổi trở lên.

3. Điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn, tuyển dụng gồm:

a) Có phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe, lý lịch rõ ràng và tự nguyện phục vụ quân đội;

b) Có văn bằng, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ phù hợp với chức danh của quân nhân chuyên nghiệp.

4. Hình thức tuyển chọn, tuyển dụng là xét tuyển hoặc thi tuyển. Trường hợp tốt nghiệp đại học hệ chính quy loại giỏi, xuất sắc hoặc có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ bậc cao thì được tuyển chọn, tuyển dụng thông qua xét tuyển.

Như vậy bạn căn cứ vào điều kiện nêu trên để xác định nguyện vọng chuyển sang phục vụ theo chế độ quân nhân chuyên nghiệp.

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC SỰ THAM GIA CHỐNG DỊCH COVID-19 CỦA QUÂN ĐỘI

Những ngày gần đây, trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện những bài viết xuyên tạc khi cho rằng, quân đội vào thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là để trấn áp dân ra đường; rằng, đối diện với công an, quân đội là dân chứ có phải là giặc đâu mà cầm súng…Đây thật sự là những luận điệu xuyên tạc của những người không chỉ bất nhân mà còn độc ác, bởi họ chỉ mong chúng ta sẽ thất bại trong chống dịch.

Sự thật là, suốt quá trình xây dựng và phát triển, quân đội không những chỉ làm nhiệm vụ chính yếu của mình là huấn luyện, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mà còn thường xuyên giúp đỡ nhân dân khi đối mặt với thiên tai, thảm họa. Hình ảnh quân đội gặt lúa giúp dân trong bão lũ, sơ tán người dân đến các điểm an toàn trong mưa bão, tìm kiếm người dân gặp nạn, mất tích là những hình ảnh quen thuộc ở Việt Nam. Và, việc quân đội tham gia phòng, chống dịch Covid-19 ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Nam lần này cũng chính là sự tiếp nối của tinh thần gắn bó mật thiết giữa quân và dân.

Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam đã trải qua mấy tháng oằn mình chống dịch nhưng dịch bệnh vẫn diễn biến vô cùng phức tạp. Tất cả các cơ quan của hệ thống chính trị cho tới mỗi người dân đều đã và đang đối diện với những khó khăn chồng chất. Các lực lượng tuyến đầu ở thành phố và các tỉnh đã và đang làm việc hết sức mình không quản ngày đêm. Tuy nhiên, việc thực hiện giãn cách dài ngày nhưng chưa mang lại hiệu quả như mong muốn đã làm cho một bộ phận người dân rất lo lắng. Hình ảnh từng đoàn người ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh liều mình chạy hàng ngàn km bằng xe máy về quê với bao gian nan đã phản ảnh được sự khốc liệt của dịch bệnh và sự lo lắng ấy. Mệnh lệnh sống còn trong lúc này là phải quyết khống chế được dịch bệnh. Đó không chỉ là quyết tâm và mục tiêu cao nhất của thành phố Hồ Chí Minh, của các tỉnh đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh mà còn của cả đất nước.

Vì vậy, quyết định đưa lực lượng quân đội để cùng phối hợp với các địa phương tham gia chống dịch ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh nhằm nâng cao hơn nữa giãn cách xã hội, khống chế dịch bệnh, ngăn ngừa những yếu tố bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là vô cùng đúng đắn và cần thiết. Hơn nữa, sự vào cuộc và có mặt của quân đội trở thành một điểm tựa tinh thần rất lớn đối với người dân. Hình ảnh những chiến sĩ quân đội, công an, dân quân cùng các lực lượng khác xuất hiện ở những con hẻm phân phát lương thực, thực phẩm cho người dân đã giúp cho mọi người cảm thấy an tâm hơn.

Thực tế là, tất cả những quân nhân thực hiện các nhiệm vụ khác như: khám chữa bệnh, tham gia vận chuyển, cung ứng hàng hóa tới người dân; phụ trách việc hỏa táng, nhang khói và vận chuyển tro cốt nạn nhân mất vì Covid-19 thì không mang súng. Chỉ những quân nhân được giao nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, điều tiết giao thông, bảo đảm an toàn xã hội mới đeo súng bên mình. Những quân nhân mang súng là những người đang thực hiện nhiệm vụ đặc biệt - nhiệm vụ chống “giặc” Covid-19.

Như vậy, các luận điệu xuyên tạc về sự vào cuộc của quân đội trong phòng, chống dịch Covid-19 hiện nay không thể phủ nhận được sự thật, những âm mưu thâm độc đằng sau những luận điệu tráo trở, lật lộng của chúng là tội ác phải được nhìn nhận đúng đắn và kiến quyết đấu tranh loại bỏ.

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2021

ĐẬP TAN ÂM MƯU LỢI DỤNG QUÂN ĐỘI THAM GIA CHỐNG DỊCH GIÚP DÂN ĐỂ CHỐNG PHÁ

Lợi dụng việc Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị tăng cường các lực lượng tham gia phòng chống dịch Covd-19 trên địa bàn TPHCM và các tỉnh, thành phía Nam. Ngay lập tức trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện nhiều bài viết, cho rằng: Quân đội là phải canh gác bảo vệ biên giới; rằng đối diện với công an, quân đội là dân chứ có phải là giặc đâu mà cầm súng giương nòng lên; rằng cho quân đội vào là để trấn áp dân ra đường”,…Nhưng thực chất, đây là những luận điệu xuyên tạc của bọn phản động, chống đối không có lương tâm, chỉ muốn lợi dụng dịch bùng phát để chống phá, gây rối, tạo tâm lý hoang mang trong dư luận và làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và quân đội, để xã hội bạo loạn, người dân lầm than. Nhưng chúng hoàn toàn sai lầm và không bao giờ thực hiện được thủ đoạn đó, bởi vì:

Thứ nhất, Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh, vì vậy tình quân dân được ví như cá với nước. Mặt khác, một trong những chức năng, nhiệm vụ của quân đội là đội quân công tác, làm công tác dân vận. Vì thế, quân đội không những chỉ làm nhiệm vụ huấn luyện, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mà còn thường xuyên giúp đỡ nhân dân phát triển kính tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, giúp nhân dân khắc phục khó khăn khi thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, đó là nhiệm vụ của quân đội. Hình ảnh quân đội dầm mưa sơ tán người dân đến các điểm an toàn trong mưa bão, tìm kiếm người dân gặp nạn, mất tích trong mua lũ là những hình ảnh quen thuộc ở Việt Nam. Hiện nay, đại dịch Covid - 19 đang diễn biến phức tạp, lan rộng ra hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đảo lộn cuộc sống, đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người dân, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Do đó, quân đội tham gia phòng chống dịch Covid-19 ở TPHCM và các tỉnh, thành lần này là thực hiện nhiệm vụ của đội quân công tác, phát huy phẩm tốt đẹp của người lính “Cụ Hồ”, là sự tiếp nối tinh thần đoàn kết gắn bó giữa quân và dân trong thời bình.

Thứ hai, TPHCM và các tỉnh phía Nam đang phải oằn mình chống dịch nhưng dịch bệnh vẫn diễn biến vô cùng phức tạp. Các lực lượng tuyến đầu ở TPHCM và các tỉnh đã gần như kiệt sức. Việc thực hiện giãn cách dài ngày nhưng chưa mang lại hiệu quả như mong muốn đã làm cho một bộ phận người dân rơi vào khủng hoảng tâm lý trầm trọng. Nhiều người đã chạy hàng ngàn km từ TPHCM và các tỉnh phía nam để về quê tránh dịch, cho thấy sự khốc liệt của dịch bệnh và tâm lý lo lắng của nhân dân. Vì thế, nhiệm vụ lúc này là phải khống chế, ngăn chặn được sự lây lan của dịch bệnh, đưa cuộc sống trở lại bình thường, ổn định cuộc sống cho người dân. Đó không chỉ là quyết tâm và mục tiêu cao nhất của TPHCM, của các tỉnh, thành đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh mà còn của cả đất nước. Do đó, quyết định đưa lực lượng quân đội để cùng phối hợp với các địa phương tham gia chống dịch ở TPHCM và các tỉnh, thành nhằm nâng cao hơn nữa giãn cách xã hội, khống chế dịch bệnh, ngăn ngừa những yếu tố bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là vô cùng đúng đắn và cần thiết.

Thứ ba, thực tế cho thấy, chỉ những quân nhân được giao nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, điều tiết giao thông, bảo đảm an toàn xã hội mới đeo súng bên mình. Tất cả những quân nhân thực hiện các nhiệm vụ khác như khám chữa bệnh, tham gia vận chuyển, cung ứng hàng hóa tới người dân.... không mang súng. Những quân nhân mang súng là những người đang thực hiện nhiệm vụ đặc biệt - nhiệm vụ chống “giặc” Covid-19. Vì thế, có thể khẳng định rằng tất cả luận điệu xuyên tạc về việc quân đội tham gia giúp dân phòng chống dịch Covid-19 trên các trang mạng xã hội trong thời gian gần đây không chỉ là những luận điệu xuyên tạc với những âm mưu thâm độc mà còn là tội ác muốn làm thay đổi bản chất giai cấp công nhân của quân đội./.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

QUÂN ĐỘI THAM GIA SẢN XUẤT, XÂY DỰNG KINH TẾ LÀ PHÙ HỢP VỚI THỰC TIỄN NƯỚC TA

Thực tiễn cho thấy, trong suốt 76 năm qua, Quân đội ta luôn thực hiện tốt cả 3 chức năng "đội quân chiến đấu", "đội quân công tác" và "đội quân sản xuất", được Đảng, Nhà nước và nhân dân đánh giá cao.

Trước hết, tất cả các đơn vị quân đội đều thực hiện tăng gia sản xuất. Ngay cả những nơi đóng quân trong điều kiện rất khắc nghiệt như ở các đảo xa, bộ đội vẫn trồng rau xanh, chăn nuôi gia súc, gia cầm và hải sản để cải thiện bữa ăn. Nhờ hoạt động tăng gia sản xuất, chất lượng bữa ăn của bộ đội được cải thiện rõ rệt, góp phần nâng cao thể lực và hiệu quả huấn luyện, học tập của cán bộ, chiến sĩ.

Thời gian qua, thực hiện chủ trương của Đảng, các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ hoạt động kinh tế đơn thuần đã được chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, thoái vốn, cổ phần hóa... Các doanh nghiệp còn lại do quân đội quản lý đều đang tham gia thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Tuy nhiên, trong điều kiện bình thường, sản xuất phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của các doanh nghiệp này chỉ đạt một phần công suất thiết kế của dây chuyền công nghệ và năng lực lao động, sản xuất của công nhân, thu nhập thấp rất khó giữ chân người lao động. Để tránh lãng phí nguồn lực, việc kết hợp nhiệm vụ xây dựng kinh tế để tạo thêm việc làm, thu nhập cho người lao động, tăng nguồn thu để đóng góp thêm vào ngân sách nhà nước, tạo nguồn lực đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ để quay lại phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tốt hơn là rất cần thiết. Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp quân đội triển khai thực hiện nhiệm vụ theo hướng kết hợp, lưỡng dụng đều đã phát huy hiệu quả, thực sự “giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân”, đóng góp rất lớn cho ngân sách nhà nước. Các doanh nghiệp quân đội đóng góp vào ngân sách nhà nước khoảng 41.000 tỷ đồng mỗi năm, tạo công ăn việc làm cho khoảng 145.000 lao động, trong đó có nhiều thương hiệu hàng đầu, đóng góp ngân sách hàng đầu và cũng đi đầu trong đổi mới công nghệ trong đội ngũ các doanh nghiệp Việt Nam. Điển hình như Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel), Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, Tổng công ty Trực thăng Việt Nam... 

Mô hình đoàn kinh tế-quốc phòng được xây dựng từ năm 1999, đến nay đã có nhiều đoàn kinh tế-quốc phòng ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo. Các đoàn kinh tế-quốc phòng là lực lượng tại chỗ giúp dân xóa đói, giảm nghèo; tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng; giúp nhân dân tiêu thụ nông sản; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp phần bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc... Các đoàn kinh tế-quốc phòng có vai trò quan trọng trong công cuộc gìn giữ an ninh trật tự, an toàn xã hội, phát triển kinh tế-xã hội ở những địa bàn đặc biệt khó khăn mà hầu như không có doanh nghiệp nào ngoài quân đội muốn đầu tư. Có thể nói, các đoàn kinh tế-quốc phòng, các doanh nghiệp quân đội ở địa bàn khó khăn, là điển hình trong thực hiện 3 chức năng của quân đội, vừa lao động sản xuất, vừa làm công tác vận động quần chúng và cũng là đội quân chiến đấu khi có tình huống.  

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

VIỆT NAM THAM GIA LỰC LƯỢNG “MŨ NỒI XANH” – HOÀN THIỆN LUẬT PHÁP CHO MỘT CHỦ TRƯƠNG

Có lẽ đã từ rất lâu mới có một nghị quyết của Quốc hội được thông qua với tỷ lệ tuyệt đối, 100% đại biểu có mặt tham gia biểu quyết (455/455 đại biểu). Đó chính là Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (GGHB LHQ), được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ mười vừa qua.

Kết quả trên đã cho thấy đánh giá cao của đại biểu Quốc hội, cũng như dư luận xã hội đối với tính cần thiết và sự hiệu quả của việc cử các cá nhân, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tham gia lực lượng GGHB LHQ. Việc nghị quyết được thông qua đã tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, cơ chế, chế độ chính sách cho các đơn vị, quân nhân tham gia hoạt động này. Kết quả trên cũng đã xóa tan những nghi ngại, những xuyên tạc về việc Việt Nam tham gia vào lực lượng "mũ nồi xanh".

Có một số ý kiến thắc mắc: Tại sao Việt Nam lại tham gia lực lượng GGHB LHQ để gây tốn kém ngân sách, mệt nhọc, rủi ro cho lực lượng vũ trang ở nơi đất khách quê người, trong khi ngay trong nước, bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm quốc phòng, an ninh thì vẫn còn nhiều nhiệm vụ cần huy động LLVT nhân dân, ví dụ như bão lũ, thiên tai, dịch bệnh ngày càng khắc nghiệt, nhiều vùng tại nước ta vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi di chứng chiến tranh như ô nhiễm bom mìn, chất độc dioxin... Cũng lại có ý kiến vu cáo rằng, việc Việt Nam đưa LLVT ra nước ngoài là tham gia liên minh quân sự, đi xâm lược nước khác. 

Đầu tiên, cần khẳng định rằng, tham gia lực lượng GGHB LHQ với quân phục có chiếc mũ nồi xanh-là tham gia vào nỗ lực toàn cầu, hoàn toàn chính danh, chính nghĩa trong việc bảo vệ hòa bình thế giới. Hoạt động GGHB LHQ ra đời từ năm 1948, là một cơ chế đặc biệt được LHQ giao cho Hội đồng Bảo an LHQ thành lập dưới hình thức các phái bộ nhằm giúp tạo điều kiện chấm dứt xung đột và GGHB, thông qua việc triển khai các lực lượng do các nước thành viên đóng góp đặt dưới sự chỉ huy của LHQ. Trong suốt 72 năm qua, lực lượng "mũ nồi xanh" đã giữ vai trò quan trọng trong việc giám sát các thỏa thuận hòa bình, góp phần ngăn chặn lửa chiến tranh ở nhiều điểm nóng trên thế giới. Đến nay, đã có 125 nước đóng góp quân cho lực lượng "mũ nồi xanh".

Khi tham gia lực lượng GGHB LHQ, Việt Nam vẫn luôn bảo đảm các nguyên tắc trong chiến lược quốc phòng là không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Vì vậy, ý kiến vu cáo rằng, Việt Nam tham gia lực lượng GGHB LHQ là tham gia liên minh quân sự để chiếm đóng nước khác là hoàn toàn sai về bản chất.

Việt Nam tham gia lực lượng GGHB LHQ theo từng giai đoạn, từng bước thực hiện rất thận trọng, theo khả năng đáp ứng về lực lượng, để hạn chế rủi ro, tiết kiệm tối đa kinh phí bảo đảm. Ngay từ năm 1993, Việt Nam đã lập tổ nghiên cứu các hoạt động GGHB của LHQ và cũng đã có những đóng góp về tài chính cho hoạt động này của LHQ. Hiến pháp năm 2013 đã quy định rằng Hội đồng Quốc phòng và An ninh quyết định việc LLVT nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Như vậy, Nghị quyết về tham gia lực lượng GGHB LHQ có căn cứ từ Hiến pháp. Ngày 23-11-2012, Bộ Chính trị đã thông qua Đề án tổng thể về việc Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ (gọi tắt là Đề án tổng thể). Ngày 5-12-2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án QĐND Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ giai đoạn 2014-2020 và những năm tiếp theo. Ngày 30-10-2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Công an nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ giai đoạn 2014-2020 và những năm tiếp theo. Đây là những chủ trương quan trọng để Bộ Quốc phòng và Bộ Công an chuẩn bị nguồn lực, đặc biệt là nhân sự để tham gia theo lộ trình đã được nêu trong Đề án tổng thể. Đến ngày 27-5-2014, Trung tâm GGHB Việt Nam chính thức được thành lập (năm 2018 trở thành Cục GGHB Việt Nam) trực thuộc Bộ Quốc phòng, đồng thời cử hai sĩ quan đầu tiên của QĐND Việt Nam tham gia lực lượng GGHB của LHQ tại Nam Sudan, trên cương vị là quan sát viên quân sự của LHQ.

Từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã tham gia lực lượng GGHB LHQ theo hình thức từ cá nhân đến đơn vị. Đối với hình thức cá nhân, Việt Nam đã cử 50 lượt sĩ quan tham gia tại hai phái bộ là Cộng hòa Trung Phi, Nam Sudan và trụ sở LHQ. Đối với hình thức đơn vị, Việt Nam đã cử hai lượt bệnh viện dã chiến cấp 2, với 126 sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia. Các lĩnh vực mà Việt Nam đã và đang tham gia trong lực lượng GGHB LHQ là: Tham mưu, hậu cần, quân y, quan sát viên quân sự. Hiện nay, LHQ đang tiếp tục đề nghị Việt Nam cử thêm lực lượng và mở rộng sang các lĩnh vực khác như: Công binh, cảnh sát, quan sát viên và giám sát bầu cử. Nghị quyết về việc tham gia lực lượng GGHB LHQ đã được Quốc hội thông qua quy định các lĩnh vực mà Việt Nam tham gia bao gồm: Tham mưu; hậu cần; kỹ thuật; thông tin, liên lạc; công binh; quân y; cảnh sát; kiểm soát quân sự; quan sát viên quân sự; quan sát viên và giám sát bầu cử; các lĩnh vực khác do Hội đồng Quốc phòng và An ninh quyết định. Đây là những lĩnh vực mà chúng ta hoàn toàn có đủ điều kiện, khả năng và nguồn lực để bảo đảm. Nghị quyết nêu rõ, về xây dựng lực lượng, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các bộ, ngành liên quan lập kế hoạch trung hạn và dài hạn về xây dựng lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Chính phủ trình Hội đồng Quốc phòng và An ninh quyết định việc cử, điều chỉnh, rút lực lượng Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ.

Hiện nay, Chính phủ đang chỉ đạo Bộ Quốc phòng chuẩn bị triển khai lực lượng công binh thuộc QĐND Việt Nam tham gia hoạt động GGHB LHQ (quân số khoảng 320 người). Bộ Công an cũng sẽ cử lực lượng tham gia hoạt động này trong thời gian tới.

Về tài chính, việc tham gia lực lượng GGHB LHQ không hề tạo ra gánh nặng đối với ngân sách nhà nước. Với nguồn tiền bồi hoàn của LHQ (hơn 4,8 triệu USD) và sự hỗ trợ của quốc tế (hơn 20 triệu USD) đã góp phần giảm đáng kể ngân sách nhà nước đầu tư cho việc tham gia hoạt động GGHB LHQ của Việt Nam. Có thể nói, đầu tư của Việt Nam cho hoạt động này không lớn, nhưng hiệu quả lại rất cao.

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2020

CẢNH GIÁC VỚI KIỂU SUY DIỄN, QUY CHỤP NGUY HIỂM

Người Việt Nam ta vốn có phẩm chất, truyền thống "thương người như thể thương thân", sẵn sàng tương thân tương ái, "lá lành đùm lá rách". Thế nên mỗi khi vùng, miền nào bị thiên tai, hoạn nạn là cả nước lại hướng về, cùng tương trợ, giúp đỡ đồng bào vượt qua gian khó. Lần này cũng vậy, khi bão lũ, sạt lở đất gây thiệt hại nặng nề về người và của ở miền Trung, không chỉ Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang và cấp ủy, chính quyền các địa phương, các tổ chức chính trị-xã hội đều nỗ lực vào cuộc, khẩn trương ứng cứu nhân dân, mà đồng bào cả nước cũng tích cực giúp đỡ nhân dân miền Trung bằng những việc làm thiết thực, ý nghĩa. Những ngày này, rất nhiều tổ chức, cá nhân đứng ra quyên góp, ủng hộ bà con vùng bão lũ, từ các cụ già tới em nhỏ đều tích cực hưởng ứng, tham gia. Trong đó, một số người nổi tiếng mà điển hình là ca sĩ Thủy Tiên đã quyên góp được số tiền lớn để giúp đỡ người dân vùng lũ. Đây là một việc làm rất đáng trân trọng, hoan nghênh, được dư luận ghi nhận, đánh giá cao.

Có lẽ bản thân những "người của công chúng" khi đứng ra quyên góp làm việc thiện cũng xuất phát từ tấm lòng nhân ái. Họ phát huy lợi thế được nhiều công chúng mến mộ để kêu gọi cộng đồng ủng hộ nhằm giúp đỡ đồng bào vùng thiên tai, chứ không phải để "cạnh tranh" với trách nhiệm của chính quyền và các cơ quan chức năng, bởi mỗi tổ chức, cá nhân có những chức năng, nhiệm vụ khác nhau và mọi sự so sánh đều khập khiễng. Thế nhưng đáng tiếc là từ hành động của ca sĩ Thủy Tiên và một số người khác, trên mạng xã hội đã xuất hiện những ý kiến, bình luận mang tính so sánh thiếu khách quan. Đáng báo động là một số đối tượng cố tình lợi dụng sự việc này để suy diễn, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước bằng những luận điệu nguy hiểm, như: Một mình ca sĩ Thủy Tiên làm việc thiện hiệu quả hơn tất cả các cơ quan Nhà nước; cần giải tán các cơ quan làm công tác cứu trợ; thậm chí còn kích động "Đảng, Nhà nước rất thờ ơ"; đừng tin vào cán bộ, đảng viên (!)...

Những đối tượng này cố tình đưa lên mạng xã hội một số vụ việc cán bộ cơ sở có cách làm chưa hợp lý hoặc phạm sai lầm khi lạm dụng quyền hạn để sử dụng tiền, hàng cứu trợ sai mục đích từ nhiều năm trước để minh chứng cho nhận định đó. Từ đó, họ cho rằng, các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội đã làm nhân dân mất niềm tin và cần phải giải thể để trao nhiệm vụ tiếp nhận tiền, hàng cứu trợ cho các tổ chức xã hội dân sự. Mục đích cuối cùng của những đối tượng này không gì khác là thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo, quản lý xã hội của Đảng, Nhà nước ta. Trong thực tế, một số cán bộ, công chức có hành vi đáng lên án ấy chỉ là hiện tượng "con sâu làm rầu nồi canh" và các cơ quan chức năng đã rất kiên quyết xử lý các vi phạm theo đúng quy định của pháp luật. Từ sự việc trên có thể thấy, trên mạng xã hội hiện đang xuất hiện một số người có tư tưởng cực đoan, họ đang lợi dụng vào các sự kiện, sự việc để cố tình bôi nhọ, hòng phủ nhận sạch trơn sự quan tâm, chăm lo, cùng với những thành tựu to lớn trong công tác xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân, cũng như công tác phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta suốt những năm qua và trong đợt lũ lụt lịch sử vừa xảy ra ở miền Trung.


Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2020

QUÂN ĐỘI THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT LÀ MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG ĐÃ ĐƯỢC HIẾN ĐỊNH

Điều 68 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi năm 2013) ghi rõ: “... kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh...”. Điều đó cho thấy, việc kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là của toàn dân, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là ở nơi dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế của Quân đội cũng chính hướng tới mục tiêu đó.

Tuy nhiên, để hiểu tường tận vai trò, chức năng tham gia xây dựng kinh tế của Quân đội, cần có một cách nhìn khách quan, khoa học về vấn đề này. Trước hết, thuật ngữ “quân đội làm kinh tế” phải được hiểu dưới góc độ tham gia lao động sản xuất, xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội; không được hiểu với nghĩa kinh tế đơn thuần, dù doanh nghiệp đó sản xuất trong bất cứ lĩnh vực nào. Nhận thức sai lầm, ngộ nhận dù vô tình hay cố ý đối với thuật ngữ này chính là một sự đánh tráo khái niệm, nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Quân đội, gây sự hiểu nhầm trong xã hội, chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ Quân đội; giữa Quân đội và nhân dân.

Hơn nữa, mục tiêu tham gia lao động sản xuất, xây dựng phát triển kinh tế của Quân đội là: gia tăng sức mạnh của Quân đội và sức mạnh tổng hợp của quốc gia; góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trong đó có kinh tế quốc phòng; tận dụng tiềm lực, tiềm năng của đất nước về mọi mặt; từng bước nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khó khăn lại được tiến hành ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, nếu không có các đơn vị quân đội, các doanh nghiệp ngoài Quân đội khó có thể tiếp cận được. Ở khía cạnh này ta thấy, ngay từ đầu, vấn đề giữa lợi nhuận và sự toàn vẹn của lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân tộc đã được các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất trả lời một cách dứt khoát. Với thế mạnh của mình và về nguồn nhân lực, vật tư, trang thiết bị, Quân đội tham gia sẽ phải gánh vác những nhiệm vụ chính trị xã hội mà các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước cũng khó có thể đảm đương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, những nơi đời sống của nhân dân còn hết sức thiếu thốn, lạc hậu. Rõ ràng, tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội là một mệnh lệnh, một nhiệm vụ chính trị của Quân đội. Không chỉ tham gia lao động sản xuất đơn thuần, mà các đơn vị quân đội còn có thế mạnh là sử dụng nguồn lực có chất lượng của mình để tổ chức các lớp học văn hóa, giúp nhân dân nâng cao dân trí, xây dựng kết cấu hạ tầng, như: điện, đường, trường, trạm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, v.v. Có thể nói, những đóng góp của cán bộ, chiến sĩ các đoàn kinh tế - quốc phòng trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, kết hợp giữa phát triển kinh tế, xã hội với thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; giữa quân sự, quốc phòng với phát triển kinh tế, xã hội thời gian qua là rất lớn và không thể phủ nhận.

THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT LÀ MỘT CHỨC NĂNG CỦA QUÂN ĐỘI

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản, hoàn toàn khác với bản chất của quân đội các thể chế chính trị, xã hội khác, được thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân, quan hệ cán binh và thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả. Quân đội của các nước tư bản chủ nghĩa “là công cụ vững chắc nhất để duy trì chế độ cũ, là thành trì kiên cố nhất để bảo đảm cho kỷ luật tư sản và sự thống trị của tư bản, là nhà trường giáo dục một cách nô lệ và sự phụ thuộc của người lao động đối với tư bản”1. Đây là điểm khác biệt cốt yếu của quân đội tư sản với Quân đội ta. Quân đội của Việt Nam là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, mục tiêu chiến đấu của Quân đội là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia - dân tộc. Ngoài mục tiêu đó, Quân đội không có mục đích nào khác. Nhưng không vì thế mà phủ nhận vai trò của Quân đội trong tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội, mà cùng với chức năng của đội quân chiến đấu, Quân đội ta còn phải thực hiện tốt chức năng đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất.

Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, vấn đề quân đội tham gia lao động sản xuất luôn được các triều đại phong kiến Việt Nam vận dụng và phát huy hiệu quả vào công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc. Đó là chính sách “ngụ binh ư nông”. Điều căn bản cốt lõi của chính sách “ngụ binh ư nông” là gửi quân dự bị ở nông thôn, lao động, sản xuất tại địa phương, khi đất nước cần thì huy động họ trở thành binh lính thường trực bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” để vừa bảo đảm cho triều đình luôn duy trì một lực lượng cân đối giữa xây dựng kinh tế với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; giữa sản xuất và chiến đấu, hậu phương và tiền tuyến trong chiến tranh giữ nước, bảo đảm cho quân đội luôn có một đội quân thường trực có số lượng đủ mức cần thiết, tinh thông võ nghệ, sẵn sàng chiến đấu cao và quân dự bị đông đảo, dễ dàng huy động khi có chiến tranh. Chính sách này còn thể hiện mối liên kết hài hòa giữa quân sự và kinh tế (trước hết là nông nghiệp), giữa kinh tế và quân sự, có khả năng chuyển hóa nhanh nền kinh tế từ thời bình sang thời chiến và ngược lại. Nhờ thực hiện tốt chính sách này, mà đất nước ta dưới các triều đại phong kiến không những có số lượng quân thường trực phù hợp, đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc, mà còn có lực lượng dự bị hùng hậu, khi đất nước chưa huy động, họ góp phần tạo ra một lượng của cải vật chất to lớn phục vụ quốc kế dân sinh; đảm bảo vũ khí, trang bị và các nhu cầu thiết yếu khác cho quân đội cả trong thời bình lẫn thời chiến.

Hiện nay, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, ngân sách đảm bảo cho quốc phòng hạn hẹp, việc Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế đã tạo ra nguồn lực to lớn, đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội và cải thiện đời sống người lao động, củng cố niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, góp phần làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ năm 2000 đến nay, các đoàn kinh tế - quốc phòng đã đỡ đầu, đón nhận hơn 101.000 hộ dân vào sinh sống, lập nghiệp; xây dựng mới trên 536 điểm dân cư tập trung với hơn 32.000 hộ dân; xóa hơn 344 thôn, bản “trắng” đảng viên; củng cố, giúp hàng nghìn chi bộ, tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở đi vào hoạt động có nền nếp...

NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN ĐỂ QUÂN ĐỘI THAM GIA HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Trước tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn, Đảng ta chủ trương: “Tiếp tục đổi mới và sáng tạo trong lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế - xã hội”. Trong đó, chú trọng: “Phát triển vững chắc, hiệu quả công nghiệp quốc phòng, an ninh. Phát triển phù hợp doanh nghiệp có khả năng sản xuất sản phẩm lưỡng dụng. Từng bước hình thành tổ hợp công nghiêp quốc phòng với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp”. Cùng với việc tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, Quân đội cần tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng KTQP, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước. Trong đó, tập trung thực hiện tốt những định hướng cơ bản sau:

Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ sản xuất phát triển kinh tế quốc phòng. Toàn quân, nhất là cấp ủy, chỉ huy các đơn vị được giao nhiệm vụ xây dựng khu KTQP cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng khu KTQP. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ vị trí, ý nghĩa, yêu cầu, tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng, phát triển khu KTQP trong thời kỳ mới, cũng như vai trò của Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ này; từ đó, nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

Cùng với đó, tập trung chấn chỉnh tổ chức biên chế các đoàn KTQP, các doanh nghiệp quân đội phù hợp với chức năng, yêu cầu nhiệm vụ, theo hướng giảm khâu trung gian, giảm tối đa biên chế cơ quan để tăng cường quân số cho các đơn vị, đội sản xuất; thực hiện tốt việc điều chuyển đoàn KTQP về trực thuộc quân khu, nhằm thống nhất trong quản lý, chỉ đạo. Các đoàn KTQP chú trọng xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ chuyên môn kỹ thuật ở các cấp; đào tạo, tuyển dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số ở địa phương, trí thức trẻ tình nguyện. Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực về quản lý, phát triển kinh tế, kiến thức, kinh nghiệm về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, công tác vận động quần chúng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Đối với những đơn vị KTQP hoạt động trên các địa bàn chiến lược phải góp phần tăng nguồn lực cho quốc phòng, đóng góp ngân sách nhà nước và phục vụ cho các hoạt động chính sách xã hội, chính sách hậu phương quân đội... Thông qua các hoạt động đó, các doanh nghiệp quân đội góp phần xóa đói giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc trên các địa bàn chiến lược, biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Hai là, nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về“Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội”. Đây vừa là nhiệm vụ vừa là định hướng cơ bản, cần phải được quán triệt sâu sắc và nắm vững tư tưởng chỉ đạo: Lấy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh là mục tiêu hàng đầu; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội. Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. KTQP góp phần “khắc phục triệt để những sơ hở thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược”.

Ba là,tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu KTQP trên các địa bàn chiến lược vừa là giải pháp vừa là định hướng; đồng thời, là sự thể chế hóa quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong thực tiễn.

Bốn là,cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp quân đội, gắn với giữ vững, nâng cao năng lực sản xuất phát triển kinh tế. Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, sự chỉ đạo của Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt việc đổi mới, sắp xếp, phát triển các doanh nghiệp quân đội và đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Qua đó, góp phần giữ vững, nâng cao năng lực sản xuất quốc phòng, ổn định, phát triển kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Phát huy kết quả đạt được, trong thời gian tới, các doanh nghiệp quốc phòng cần quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp; trên cơ sở đó, tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 425-NQ/QUTW, trọng tâm là thực hiện tốt Đề án “Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội giai đoạn 2016 - 2020”. Các doanh nghiệp quân đội, các đoàn KTQP tập trung rà soát, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược sản xuất, kinh doanh phù hợp với mô hình hoạt động; tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng lực thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, kỷ luật của quân đội.

Năm là, ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế quốc phòng, thực hiện có hiệu quả chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng trên địa bàn chiến lược. Để khai thác, sử dụng hiệu quả các tiềm năng thành nguồn lực, động lực đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng, Nhà nước và các địa phương, đơn vị cần tập trung đầu tư nguồn lực thích đáng cho các doanh nghiệp KTQP mũi nhọn, có thế mạnh trên tuyến biên giới và ở các vùng ven biển, trên các đảo và quần đảo... Trong đó, ưu tiên xây dựng các trung tâm dịch vụ, phát triển các khu KTQP mạnh có đủ khả năng kết hợp phát triển kinh tế với tạo lập thế trận phòng thủ trên tuyến biên giới, ven biển; tập trung nguồn lực, khoa học, công nghệ, nguồn lao động để khai thác có hiệu quả các tiềm năng của từng địa phương; ưu tiên phát triển hạ tầng cơ sở kinh tế với quốc phòng trên các địa bàn chiến lược, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất của nhân dân trên các tuyến biên giới, các vùng biển, đảo.

Quá trình thu hút nguồn lực để phát triển KTQP trên các vùng biển, hải đảo đòi hỏi các ngành chức năng và địa phương phối hợp nghiên cứu, khảo sát tổng thể, xác định rõ tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng khu vực, đánh giá đúng, đủ các yếu tố tự nhiên cũng như xu thế phát triển. Việc quy hoạch phải tính đến sự kế thừa, phát triển, tính liên kết giữa các vùng, miền; phải kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, tạo lập thế trận phòng thủ vững chắc trên các hướng trọng điểm. 

Từ những đóng góp quan trọng của Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, Quân đội cần phải nghiên cứu những thành tựu của công nghiệp quốc phòng mang tính lưỡng dụng, để tận dụng các thành tựu của công nghiệp dân sự sang công nghiệp quốc phòng. Sự kết nối này sẽ tăng sức mạnh cho nền kinh tế đất nước và trực tiếp cho quốc phòng./.

QUÂN ĐỘI THAM GIA HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Từ thực tiễn lịch sử kháng chiến và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đã khẳng định những đóng góp quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh, Quân đội ta đã xây dựng các lâm trường, nông trường, các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng, rồi sau đó trở thành nòng cốt trên nhiều lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đến nay, trong Quân đội đã có một đội ngũ cán bộ, kỹ thuật, kỹ sư, công nhân viên quốc phòng, đáp ứng được không chỉ nhu cầu xây dựng quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại mà còn tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế có hiệu quả rõ rệt.

Sau khi đất nước thống nhất (1975), Quân đội nhanh chóng trở thành lực lượng xung kích, nòng cốt, tham gia đắc lực vào hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế - xã hội, nhất là tại các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Với gần 28 vạn cán bộ, chiến sĩ chuyển sang thực hiện nhiệm vụ quan trọng này đã hoàn thành nhiều chương trình, dự án trọng điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trên địa bàn cả nước.

Trong thời kỳ đổi mới, quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng được Đại hội VI đề ra: “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”, ngày 31-7-1998 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg giao nhiệm vụ cho Quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng các khu kinh tế quốc phòng (KTQP). Theo đó, ngày 1-8-1998, Đảng uỷ Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) ban hành Quyết định số 150/ĐUQSTW giao Quân đội làm nòng cốt trong phát triển KTQP. Nhờ những chủ trương đúng đắn của Đảng và chỉ đạo kịp thời của Chính phủ và Quân ủy Trung ương, hoạt động KTQP trong Quân đội đã mang lại nhiều kết quả rất đáng trân trọng. Không phải ngẫu nhiên đến Đại hội X, Đảng ta xác định: “Tiếp tục phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, xây dựng các khu quốc phòng - kinh tế với mục tiêu tăng cường quốc phòng - an ninh là chủ yếu, tập trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược và những khu vực nhạy cảm trên biên giới đất liền, biển đảo”. Quán triệt chủ trương của Đảng, ngày 25-9-2012, Quân ủy Trung ương ban hành Nghị quyết số 520-NQ/QUTW về “Lãnh đạo nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”, nêu rõ: “Toàn quân cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết, tiếp tục phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ trên mặt trận lao động sản xuất”. Đặc biệt, ngày 18-5-2017, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết 425-NQ/QUTW về: “Sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Quân đội đến năm 2020 và những năm tiếp theo” đã tác động mạnh mẽ đến việc nâng cao chất lượng của Quân đội tham gia xây dựng, phát triển kinh tế.

Nhìn chung, sau sắp xếp, đổi mới, hầu hết các doanh nghiệp quân đội giữ được ổn định và phát triển, tổ chức sản xuất phát triển kinh tế hiệu quả, từng bước hội nhập thị trường trong nước, khu vực và thế giới; sản xuất ngày càng nhiều sản phẩm chất lượng cao phục vụ quốc phòng và xã hội, tạo việc làm, thu nhập ổn định cho hàng vạn lao động và tăng thu nộp ngân sách nhà nước; góp phần phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố hậu phương quân đội...

Hiện nay, các doanh nghiệp quân đội đang có 37 dự án đầu tư ra nước ngoài (gồm cả doanh nghiệp quân đội đã cổ phần) với tổng số vốn đầu tư hơn 5,2 tỷ USD. Tiêu biểu là Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) đã được ghi nhận với 3 chỉ số quan trọng, là doanh nghiệp có chỉ số lợi nhuận tốt nhất, nộp thuế lớn nhất và có giá trị thương hiệu cao nhất Việt Nam (2,6 tỷ USD). Thương hiệu Viettel được xếp hạng thứ 49 trong tốp 50 thương hiệu viễn thông lớn nhất thế giới. Tổng Công ty Tân cảng Sài Gòn giữ vững vị trí khai thác cảng biển hàng đầu Việt Nam và cảng Cát Lái là một trong số 34 cảng biển hàng đầu thế giới về khối lượng hàng hóa thông quan. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp quân đội còn tích cực đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghệ mới, dịch vụ lưỡng dụng, để vừa sản xuất thiết bị, phương tiện, khí tài quân sự, vừa sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ dân dụng. Việc thực hiện các đơn hàng dân sự chính là cách để các doanh nghiệp quân đội tiếp nhận, chuyển giao, đổi mới công nghệ, rèn luyện kỹ năng, tay nghề, nâng cao nghiệp vụ, trình độ quản lý, đầu tư mở rộng sản xuất...

Tuy còn có những hạn chế, bất cập trong nhận thức và quá trình quản lý, triển khai thực hiện tiến độ dự án, việc sử dụng đất quốc phòng của một số doanh nghiệp chưa chặt chẽ làm cho mục tiêu xây dựng các khu KTQP chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, nhưng tổng thể những kết quả đạt được là có ý nghĩa quan trọng.

Nhiều doanh nghiệp quân đội đã xây dựng được những thương hiệu mạnh, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tham gia đầu tư có hiệu quả ra nước ngoài và là lực lượng dự bị mạnh cho quốc phòng; là đối tác kinh tế quốc tế có uy tín, tích cực trong công tác đối ngoại quốc phòng và hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020

SỰ THAM GIA TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH PHỤ NỮ, HÒA BÌNH VÀ AN NINH CỦA CÁC QUỐC GIA

Tại Liên hợp quốc nói chung và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nói riêng, các nước phát triển chủ yếu tập trung vào một số nội dung, như chống bạo lực tình dục trong chiến tranh, xung đột; trừng phạt các lực lượng vũ trang tại một số nước châu Phi (Xu-đăng, Công-gô, Ma-li...) vì những cáo buộc bạo lực tình dục đối với phụ nữ tại các khu vực có xung đột, chiến tranh, đề cao vai trò của Tòa án Hình sự quốc tế (ICC) trong điều tra, xét xử, thẩm quyền của Hội đồng Bảo an đưa vấn đề nêu trên ra ICC... Nhiều nước phương Tây, như Mỹ, Đan Mạch, Na Uy, Anh, Áo, Thụy Sỹ, Ca-na-đa... đã thông qua chương trình hành động quốc gia về phụ nữ, hòa bình và an ninh.